Trận tập kích căn cứ Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ ở Đồng Dù của Đặc công Miền

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 2 năm 1969, bộ đội đặc công miền Đông Nam Bộ đã đánh thiệt hại nặng căn cứ lữ 2, bộ chỉ huy sư đoàn bộ Đọc thêm

Trận tiến công đổ bộ bãi biển Tà Lơn của Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ

Đêm 6 tháng 1 năm 1979, lữ đoàn 26 hải quân đánh bộ tham gia trận đổ bộ lên bãi biển Tà Lơn mở màn của chiến dịch giải phóng Campuchia trên Đọc thêm

Trận tiến công quận lỵ Lệ Thanh – Gia Lai của tiểu đoàn bộ binh 952 (B3)

Đêm 31 tháng 5 và ngày 1 tháng 6 năm 1965, tiểu đoàn bộ binh 952 (B3) đã bất ngờ tiến công tiêu diệt địch ở quận ly Lệ Thanh.   I. Đọc thêm

 

Chiến dịch tiến công Đắc Tô 1967

Dac To - Lan 1 - avata

Chiến dịch Đắc Tô năm 1967 (Chiến dịch Đắc Tô 1) là chiến dịch tiến công quân Mỹ của lực lượng vũ trang Tây Nguyên diễn ra trước và sát thời điểm quân và dân miền Nam mở cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968). 

 

 

 

PHẦN THỨ NHẤT
MẤY ĐIỂM CHÍNH VỀ BỐI CẢNH CHIẾN LƯỢC

I – ÂM MƯU VÀ Ý ĐỒ CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ SAU CUỘC PHẢN CÔNG MÙA KHÔ 1966-1967

Cuộc phản công chiến lược lần thứ 2 (10-1966 đến 6-1967) bị thất bại, toàn bộ chương trình kế hoạch đầy tham vọng do tướng Oét-mo-len (William C.Westmoreland) hoạch định, nhằm giành thắng lợi ở miền Nam trong hai năm đến hai năm rưỡi, buộc phải kết thúc với những kết quả hoàn toàn trái ngược so với dự tính ban đâu. “Tìm diệt” không được, “bình định” không xong, ngụy quân suy yếu (Oét-mo-len cho rằng trong số 161 tiểu đoàn ngụy lúc bấy giờ chỉ có 15 tiểu đoàn là thực sự chiến đấu được). Trước bối cảnh đó, các bộ máy quân sự trực tiếp chỉ huy và chỉ đạo chiến tranh bao gồm Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở miền Nam (MACV). Bộ tham mưu liên quân, Bộ tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương gây áp lực với chính quyền Giôn-xơn đòi tăng thêm quân. Ngày 22 tháng 6 năm 1967, tướng Oét-mo-len đề nghị hai phương án tăng quân Mỹ: Phương án tối thiểu tăng hai sư đoàn và hai lữ đoàn, đưa tổng quân Mỹ ở miền Nam lên 550.000. Phương án tối ưu tăng bốn sư đoàn và một lữ đoàn đưa tổng quân số lên 600.000 tên để có đủ sức đánh sang đất Lào và Cãm-pu-chia. Nếu Tổng thống Giônxơn chấp nhận phương án thứ nhất thì đến năm 1972 chiến tranh kết thúc; nếu Tổng thống chấp nhận phương án thứ hai thì đến năm 1970 là kết thúc chiến tranh.
Lúc này, phong trào chống chiến tranh trong nhân dân Mỹ lan rộng và ngày càng lên cao, thu hút rộng rãi các tầng lớp, kể cả các thống đốc bang, Thượng và Hạ nghị viện cũng phản đối chính sách xâm lược của Giôn-xơn ở Việt Nam.

Từ tình hình thực tế ở trong nước và trên thế giới, ý đồ của Mỹ là: Ra sức ổn định ngụy quân, ngụy quyền, tăng thêm quân Mỹ và chư hầu ở mức độ nhất định, giữ cho tình thế miền Nam Việt Nam sang năm 1968 – Năm bầu cử Tổng thống Mỹ, không bị đảo lộn, tiếp tục thực hiện chiến lược hai gọng kìm ở quy mô nhất định, giữ vững vị trí then chốt, đẩy ta vào thế bị động thông qua đàm phán buộc ta phải thương lượng trên thế mạnh của chúng. Đồng thời Giôn-xơn quyết định tăng thêm 55.000 quân Mỹ và coi đây là quấn số tối đa cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Trên cơ sở có quyết định tăng quân, thực hiện ý đồ chung, Oét-mo-len tiến hành điều chỉnh lại thế bố trí lực lượng, chuẩn bị kế hoạch mở cuộc phản công chiến lược lần thứ ba (mùa khô 1967-1968) trên hướng miền Đông Nam Bộ nhằm cải thiện tình hình, cố giữ thế giằng co, kéo dài cho tới khi bầu Tổng thống ở Mỹ (11-1968).

Ở Trung Trung Bộ, địch tập trung ngăn chặn xâm nhập của ta dọc biên giới Việt – Lào trọng điểm là Plây-cu, Kon Tum, tìm diêt chủ lực ta, phá căn cứ, hỗ trợ cho bình định dọc miền duyên hải. Ở phía bắc, chặn sự xâm nhập của ta qua khu phi quân sự và biên giới Việt – Lào. Thời gian phản công theo dự kiến của địch từ tháng 12 năm 1967 đến tháng 4 năm 1968.

Quy luật, thủ đoạn của địch vẫn là dựa vào ưa thế của máy bay trực thăng “nhảy cóc” vào các khu vực tác chiến, để tìm diệt chủ lực và phá các cuộc tiến công của ta.

 

II – CHỦ TRƯƠNG VÀ Ý ĐỊNH CHIẾN LƯỢC CỦA TA
Sau mùa khô 1966-1967, mặc dù đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh đến đỉnh cao trên cả hai miền Nam, Bắc, dốc sức ra quân phản công chiến lược, nhưng chúng vẫn bị quân và dân cả nước ta đanh cho thất bại nặng nề, đang lúng túng cả về quân sự và chính trị. Một số nước đồng minh của Mỹ cũng không dám công khai ủng hộ Mỹ trong quá trình tiến hành chiến tranh ở Việt Nam.

Về kinh tế, lợi dụng những khó khăn do chiến tranh Việt Nam gây ra, các nước tư bản tìm mọi cách cạnh tranh với Mỹ. Đồng đô la bị mất giá, khiến nước Mỹ càng chìm sâu trong sự khủng hoảng niềm tin vào giới cầm quyền v.v…

Tháng 5 năm 1967, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương: Gấp rút chuẩn bị mọi mặt, kịp thời nắm lấy thời cơ để giành thắng lợi lớn, buộc Mỹ phải chịu thua về quân sự.

Mục tiêu đặt ra là phải đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Yêu cầu phải kết hợp tiến công địch toàn diện cả quân sự, chính trị và ngoại giao. Biện pháp tác chiến chiến lược là kéo, giữ phần lớn chủ lực Mỹ, ngụy ra vùng rừng núi, tạo thế, tạo thời cơ tiến công vào chiến trường xung yếu là vùng đô thị.

Về quân sự, chuẩn bị những trận quy mô lớn, có hiệu suất để góp phần đẩy mạnh cho đấu tranh chính trị và ngoại giao. Đồng thời phải nghiên cứu các loại hình chiến dịch ở từng hướng chiến lược, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả ba thứ quân trên chiến trường.

Quán triệt và tổ chức thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, ngày 2 tháng 7 năm 1967, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị về việc nâng cao chất lượng của lực lượng vũ trang nhằm thực hiện mục tiêu, yêu cầu và biện pháp tác chiến chiến lược đã được xác định. Đồng thời, Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ cho các hướng chiến trường mở các đợt đánh địch, tạo nên sự chuyển biến về quân sự, có lợi cho ta, bất lợi cho địch.

Ở mặt trận Tây Nguyên được Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ tiến hành các đợt hoạt động trong Đông – Xuân 1967-1968, nhằm tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, thu hút lực lượng chủ lực cơ động của địch lên Tây Nguyên càng nhiều càng tốt, tạo điều kiện cho chiến trường đồng bằng Khu 5 và toàn miền diệt địch và chống phá bình định, sẵn sàng đánh bại cuộc phản công chiến lược lân thứ ba của Mỹ, ngụy.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9