Trận tập kích căn cứ Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ ở Đồng Dù của Đặc công Miền

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 2 năm 1969, bộ đội đặc công miền Đông Nam Bộ đã đánh thiệt hại nặng căn cứ lữ 2, bộ chỉ huy sư đoàn bộ Đọc thêm

Trận tiến công đổ bộ bãi biển Tà Lơn của Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ

Đêm 6 tháng 1 năm 1979, lữ đoàn 26 hải quân đánh bộ tham gia trận đổ bộ lên bãi biển Tà Lơn mở màn của chiến dịch giải phóng Campuchia trên Đọc thêm

Trận tiến công quận lỵ Lệ Thanh – Gia Lai của tiểu đoàn bộ binh 952 (B3)

Đêm 31 tháng 5 và ngày 1 tháng 6 năm 1965, tiểu đoàn bộ binh 952 (B3) đã bất ngờ tiến công tiêu diệt địch ở quận ly Lệ Thanh.   I. Đọc thêm

 

Chiến dịch tiến công Đắc Tô 1967

Dac To - Lan 1 - avata

II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH VỀ ĐỊCH, TA, ĐỊA HÌNH, THỜI TIẾT TRONG ĐỊA BÀN TÁC CHIẾN CHIẾN DỊCH ĐẮC TÔ

1. Về địch
Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định: Bước vào mùa khô năm 1967, quân địch ở Tây Nguyên (gồm lực lượng của vùng 2 chiến thuật, sư đoàn 22 ngụy và sư đoàn 4 Mỹ) ra sức thăm dò về hướng, mục tiêu tiến công mới của ta. Để phát hiện hướng hoạt động của ta, đầu tháng 10 địch đã tung thám báo, biệt kích ra nhiều hướng: Phía bắc chúng tăng cường sục sao vùng ngã ba biên giới, khu vực Pa Kha – Tà Xẻng. Ở vùng giữa, chúng tung biệt kích ra hướng sông Sa Thầy, ở phía nam địch lùng sục khu vực Ea Súp, bắc Mé Wan v.v… Nhưng địch vẫn chưa phát hiện được sự chuẩn bị chiến dịch của ta. Đến cuối tháng 10 năm 1967, một chiến sĩ cảnh vệ sư đoàn bộ binh 1 của ta đào ngũ đầu hàng. Địch phát hiện ta đang chuẩn bị mở chiến dịch ở bắc Kon Tum. Sư đoàn 4 Mỹ vội vã kết thúc cuộc hành quân Mác Ac-tơ (Mac Arthur) ở phía tây thị xã Plây-cu, chuyển hướng về vùng rừng núi Đắc Tô.

Ngày 2 tháng 11, lữ đoàn 1 Mỹ đến Đắc Tô, chúng thiết lập sở chỉ huy hành quân tại sân bay Đắc Tô. Ở Đắc Tô địch hình thành hai cụm quân:
- Cụm thứ nhất ở khu vực ngã ba đường số 14 và đường số 18, gồm trung đoàn 42 ngụy ở Tân Cảnh, quận lỵ Đắc Tô, sân bay Đắc Tô 1.
- Cụm thứ hai nằm dọc đường 18 cách ngã ba Tân Cảnh khoảng 4km về phía tây, gồm sở chỉ huy hành quân, cụm kho hậu cần của quân Mỹ và sân bay Đắc Tô 2.

Đắc Tô trở thành căn cứ quân sự trên tuyến phòng thủ cơ bản của địch ở bắc Tây Nguyên. Từ khi đến Tây Nguyên, quân Mỹ ra sức xây dựng đường số 18 thành tuyến ngăn chặn “đường Hồ Chí Minh” qua Nam Lào vào Tây Nguyên và khống chế vùng biên giới. Đang trong thời kỳ thực thi chiến lược “tìm diệt”, ý đồ của quân Mỹ là muốn mở rộng phạm vi chiếm đóng, chúng còn khả năng tập trung quân số để tổ chức phản kích. Do đó nếu ta khéo dụ địch, vẫn có thể đưa địch vào phương án ta chọn sẵn sàng tiêu diệt, vì thủ đoạn của địch vẫn dùng máy bay trực thăng đổ quân vào khu vực tác chiến.

2. Về ta
Ở Tây Nguyên, ngoài lực lượng địa phương của các tỉnh, lực lượng chủ lực cơ động của ta có sư đoàn 1, gồm 3 trung đoàn bộ binh (66, 320, 174) và các trung đoàn độc lập (trung đoàn 24, 33, 95 và trung đoàn pháo binh 40) trực thuộc Bộ tư lệnh Mặt trận. Qua hai năm đánh Mỹ, bộ đội ta đã rút được kinh nghiệm, tin tưởng đánh thắng Mỹ, khí thế đang lên và đã tìm ra được những cách đánh thích hợp.

Về bảo đảm hậu cần, chuẩn bị chiến trường, ta có thời gian tương đối dài (từ Xuân 1967), nhất là ở các khu vực địa hình trọng yếu, bảo đảm đủ đạn cho nhu cầu tác chiến (đạn cối 120mm, sơn pháo 75mm, cối 82mm…).

Tuy nhiên, trình độ chiến thuật của bộ đội ta vẫn còn hạn chế như: Chưa đánh tốt khi địch cụm lại phòng ngự dã ngoại, chưa quen vận dụng các hình thức chiến thuật mới như: “Vận động tiến công kết hợp chốt”, “Phòng ngự khu chốt chiến dịch”. Trình độ chỉ huy tác chiến tập trung của một số cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn… còn thiếu kinh nghiệm.

Nhân dân nơi địa bàn mở chiến dịch sống tập trung ở thị trấn và dọc đường số 14, phần đông là đồng bào các dân tộc ít người. Số người theo cách mạng thì sống trong rừng sâu. Nhiều nơi đồng bào bị địch dồn vào ấp chiến lược ở ven đường giao thông. Trong khu vực tác chiến chính của chiến dịch không có dân.

3. Địa hình, thời tiết
Đắc Tô là một quận của tỉnh Kon Tum, quận lỵ nằm trên ngã ba đường 14 và đường 18, cách thị xã Kon Tum khoảng 40km về phía bắc. Quận lỵ Đắc Tô nằm trong vùng thung lũng có bình độ trung bình 600m đến 700m, chiều dọc từ bắc xuống nam khoảng 7km, chiều ngang từ đông sang tây khoảng 8 đến 9km. Địa hình khu vực tác chiến bị chia cắt thành hai vùng phía bắc và phía nam bởi con sông Pô Cô và đường số 18.

Vùng phía bắc có quốc lộ 14 chạy qua, chia thành hai khu vực: Khu đông bắc có dãy Ngọc Van (Ngok Wan) cao 1416m và dãy Ngọc Sia (Ngọc Sie) có đỉnh cao 1556m. Khu vực tây bắc gồm các điểm cao của dãy Ngọc Tu (Suim Ngok Tu) đường bình độ trung bình từ 700 đến 900m.

Vùng phía nam và tây nam gồm các dãy núi cao từ 700m đến 1300m. Vùng này cũng bị chia làm đôi bởi hai con suối Đắc Klong và Đắc Kal. Phía đông suối Đắc Klong là dãy và các điểm cao trong đó có dãy Ngọc Bờ Biêng (Ngok Bơt Bêang) cao 1262m cách Đắc Tô khoảng 7km về phía tây nam. Phía bắc Ngọc Bờ Biêng có dãy Ngọc Tang cao 1089m. Phía tây bắc Ngọc Bờ Biêng là dãy Ngọc Rinh Rua cao 1001m, tiếp đó là dãy Ngọc Dơ Lang có các điểm cao 792, 758, 824, từ đó thấp dần xuống là bãi bằng thuộc Plei Lăng Lô Kram. Phía tây suối Đắc Klong và Đắc Kal là dãy Ngọc Kom Liệt (Ngok Kom Leat) cao 826m (cách Plây Cần 2km về phía nam). Phía nam suối Đắc Kal là dãy Ngọc Kring cao 882m, xa hơn khoảng 4km là điểm cao 875 có nhiều bãi le, tương đối bằng, tiện lợi cho việc đổ bộ đường không bằng máy bay trực thăng.

Nhìn chung, địa hình khu vực Đắc Tô khá hiểm trở, nhiều dãy núi cao có giá trị chiến dịch, chiến thuật, điển hình là dãy Ngọc Bờ Biêng. Nếu ta chiếm dãy điểm cao này, thì toàn bộ thung lũng Đắc Tô sẽ nằm trong tầm khống chế hỏa lực của pháo binh. Với địa hình hiểm trở đó ta có thể “nhử” địch vào những nơi đã chọn sẵn, tạo thời cơ đánh đòn tiêu diệt lớn. Mặt khác, khu vực Đắc Tô chưa diễn ra các hoạt động quân sự lớn của ta, nếu mở chiến dịch ở hướng này sẽ tạo được bất ngờ về không gian đối với địch. Địa hình ở đây vừa kín đáo vừa hiểm trở, ta ở thế cao hơn địch, nên có điều kiện uy hiếp chúng; còn địch muốn tiến công ta buộc phải đánh từ dưới đánh lên. Với ưu thế của địa hình, ta có thể loại bỏ hoàn toàn khả năng sử dụng cơ giới của địch trong khu vực tác chiến chủ yếu của chiến dịch. Điều khó khăn nhất cho hoạt động tác chiến của chiến dịch ở khu vực này là bảo đảm hậu cần, đặc biệt là gạo và đạn. Thời tiết ở Tây Nguyên lúc này đã vào cuối mùa mưa đầu mùa khô nên có thuận lợi cho ta về cơ động và bảo đảm tác chiến. Nhưng địch cơ động ứng chiến khi bị tiến công cũng sẽ nhanh hơn, đặc biệt là đổ bộ đường không bằng máy bay trực thăng.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9