Trận tập kích căn cứ Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ ở Đồng Dù của Đặc công Miền

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 2 năm 1969, bộ đội đặc công miền Đông Nam Bộ đã đánh thiệt hại nặng căn cứ lữ 2, bộ chỉ huy sư đoàn bộ Đọc thêm

Trận tiến công đổ bộ bãi biển Tà Lơn của Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ

Đêm 6 tháng 1 năm 1979, lữ đoàn 26 hải quân đánh bộ tham gia trận đổ bộ lên bãi biển Tà Lơn mở màn của chiến dịch giải phóng Campuchia trên Đọc thêm

Trận tiến công quận lỵ Lệ Thanh – Gia Lai của tiểu đoàn bộ binh 952 (B3)

Đêm 31 tháng 5 và ngày 1 tháng 6 năm 1965, tiểu đoàn bộ binh 952 (B3) đã bất ngờ tiến công tiêu diệt địch ở quận ly Lệ Thanh.   I. Đọc thêm

 

Chiến dịch tiến công Đắc Tô 1967

Dac To - Lan 1 - avata

III- QUYẾT TÂM VÀ NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA KẾ HOẠCH CHIẾN DỊCH

1. Phương châm chỉ đạo tác chiến

Căn cứ vào nhiệm vụ trên giao, trong chỉ đạo tác chiến, Bộ tư lệnh chiến dịch xác định:

Một là tích cực, chủ động, linh hoạt tạo thời cơ đưa địch vào thế trận ta đã chuẩn bị sẵn, tiêu diệt từng tiểu đoàn bộ binh Mỹ phản kích, phản đột kích ứng chiến bằng đường bộ và đổ bộ đường không, tiến tới đánh thiệt hại nặng đơn vị lớn hơn của chúng.

Hai là, đánh vào toàn bộ đội hình chiến dịch của địch bao vây chia cắt chiến dịch, đánh cả phía trước và phía sau, đánh vào các căn cứ hành quân chiến dịch của địch. Vận dụng chiến thuật linh hoạt, kiên quyết bám trụ, đánh gần, đánh chồng, đánh bồi của các binh chủng.

Ba là, bố trí đội hình có chiều sâu, có đội dự bị mạnh, có chốt chiến dịch, vây hãm, uy hiếp, buộc địch phải ra khu quyết chiến mà ta đã chuẩn bị để tiến công tiêu diệt chúng.

Bốn là, đánh tiêu diệt, lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, vừa đánh vừa xây dựng đơn vị.

Năm là, phối hợp chặt chẽ giữa quân sự với chính trị, tác chiến và địch vận. Đánh đô thị, hậu cứ, vùng ven, hỗ trợ phong trào quần chúng “diệt kìm kẹp”, giành dân, tạo bàn đạp mới để tiến công địch.

2. Chọn hướng, khu vực, đối tượng, mục tiêu tiến công của chiến dịch
Quyết tâm của Bộ tư lệnh chiến dịch là tập trung toàn bộ lực lượng vũ trang ba thứ quân mở chiến dịch tiến công trên địa bàn ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc. Hướng tiến công chính của chiến dịch là bắc Kon Tum. Hướng nghi binh, đồng thời là hướng phối hợp trực tiếp với hướng chính là Gia Lai. Hướng phối hợp thứ hai là Đắc Lắc. Trên hướng tiến công chính, Bộ tư lệnh chiến dịch chọn hai khu vực tiến công: Khu vực tiến công chủ yếu ở tây nam Đắc Tô (phía nam sông Pô Cô và đường số 18) từ Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Kom Liệt đến nam điểm cao 875 để tiêu diệt địch. Khu vực tiến công thứ yếu ở đông bắc Đắc Tô gồm các điểm cao của dãy Ngọc Van, Ngọc Sia, điểm cao 1423, 1030 và quận lỵ Đắc Tô, để đánh vào phía sau đội hình của địch, nhằm phân tán địch, hỗ trợ cho hướng chính.

Trong khu vực tiến công chủ yếu chia thành ba khu chiến:
- Khu chốt chiến dịch: Gồm các cụm chốt bộ binh và pháo binh ở Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Tang, uy hiếp địch ở Đắc Tô – Tân Cảnh và là nơi khêu ngòi để dụ kéo địch ra, tạo thời cơ diệt địch ngoài công sự.
- Khu chiến thứ nhất: Ở điểm cao 782, Plây – Lăng Lố – Kram và điểm cao 823, nhằm đánh bại các đợt phản kích và đòn phản đột kích thứ nhất của địch.
- Khu chiến thứ hai và là khu quyết chiến: Ở Ngọc Kom Liệt, Bãi Le, điểm cao 875. Điểm cao 875 là trọng điểm.
Ở các hướng nghi binh chiến dịch: Tỉnh Gia Lai tập trung lực lượng đánh địch trong khu vực Đức Cơ, thị xã Plây-cu và đường số 19. Tỉnh Đắc Lắc, tiến công tiêu hao, kìm giữ địch ở Mé Wan, bắc thị xã Buôn Ma Thuột.

3. Tổ chức và bố trí lực lượng chiến dịch
a. Hướng bắc Kon Tum trong dự kiến quyết tâm, Bộ tư lệnh nhận định: Khi ta công kích tiến công, lực lượng phản kích, phản đột kích của địch có thể tới 12 đến 16 tiểu đoàn; trong đó có 8 đến 10 tiểu đoàn Mỹ (2 đến 3 lữ đoàn), từ bốn đến sáu tiểu đoàn ngụy (khoảng 2 chiến đoàn). Địch có thể phản kích, phản đột kích trên hai đến ba hướng bằng đổ bộ đường không vào các khu chiến của ta. Khu chốt Ngọc Bờ Biêng, địch có thể sử dụng lực lượng từ một lữ đoàn (thiếu) đến một lữ đoàn. Khu vực Ngọc Dơ Lang, Ngọc Kom Liệt và điểm cao 875 có thể lên đến hai lữ đoàn. Do vậy tổ chức và bố trí lực lượng trên hướng tiến công chính của chiến dịch ở bắc Kon Tum gồm có: Lực lượng đánh khêu ngòi, lực lượng đánh địch ở khu trung tuyến chiến dịch, lực lượng đánh địch ở khu quyết chiến và lực lượng đánh sau lưng địch.

- Lực lượng đánh khêu ngòi gồm: Tiểu đoàn 6 của trung đoàn 24 (độc lập của Mặt trận), một đại đội sơn pháo 75mm (2 khẩu). Nhiệm vụ của bộ phận này là tổ chức cụm chốt chiến dịch trên các điểm cao ở Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Kon Kring, Ngọc Tang, dùng hỏa lực pháo binh đánh sân bay, sở chỉ huy hành quân, kho tàng của địch ở căn cứ Đắc Tô – Tân cảnh, đường số 14, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, buộc chúng phải phản ứng ra khu quyết chiến để sư đoàn 1 tiêu diệt.

Bố trí lực lượng: Đại đội 11 ở Ngọc Tang, Ngọc Bờ Biêng (một tiểu đội ở điểm cao 1021, một tiểu đội ở điểm cao 1089, một trung đội ở điểm cao 1124, có hai khẩu ĐKZ 75 ở 1089, một trung đội ở điểm cao 1338 và một tiểu đội làm nhiệm vụ tiền tiêu ở đồi Không Tên phía trước của điểm cao 1338, trận địa dự bị ở điểm cao 1262). Đại đội 13 ở Ngọc Kon Kring (một trung đội ở điểm cao 1294 cùng với hai khẩu sơn pháo 75mm, một trung đội ở điểm cao 1314 và điểm cao Không Tên ở nam 1314). Một đại đội làm lực lượng dự bị bố trí ở tây điểm cao 1294.

- Lực lượng đánh địch ở khu chiến của chiến dịch do sư đoàn 1 đảm nhiệm. Sư đoàn 1 do thượng tá Nguyễn Hữu An làm sư đoàn trường và thượng tá Hoàng Thế Thiện làm chính ủy. Sư đoàn 1 được tăng cường hai tiểu đoàn pháo mang vác (6 khẩu cối 120mm), một tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm. Nhiệm vụ của sư đoàn 1 là tác chiến tập trung tiêu diệt lực lượng lớn quân địch tại khu chiến hỗ trợ cho tiểu đoàn 6 giữ vững chốt chiến dịch, chuẩn bị sẵn sàng một lực lượng cơ động về hướng đông – đông bắc Đắc Tô – Tân Cảnh và hướng thị xã Kon Tum khi chiến dịch phát triển. Tổ chức bố trí lực lượng của sư đoàn 1 như sau:

Trung đoàn 320 ở khu vực Ngọc Dơ Lang, Ngọc Rinh Rua (khu trung tuyến của chiến dịch) sẵn sàng tiêu diệt và đánh thiệt hại cỡ tiểu đoàn Mỹ đổ bộ đường không bằng máy bay trực thăng; bẻ gãy đòn phản đột kích thứ nhất của địch. Buộc chúng phải ứng chiến lớn hơn và vào sâu trong trận địa mà ta đã chuẩn bị sẵn, tạo điều kiện thực hiện trận then chốt tiêu diệt lớn quân địch. Bố trí tiểu đoàn 4 ở điểm cao 782, tiểu đoàn 5 ở điểm cao 676, tiểu đoàn 6 ở nam điểm cao 1001, sở chỉ huy trung đoàn ở tây bác Ngọc Dơ Lang 2km.

Trung đoàn 66 và trung đoàn 174 ở khu quyết chiến chủ yếu của chiến dịch, sẵn sàng đánh bại cánh quân phản kích cỡ lữ đoàn của địch, bằng cách tổ chức một số điểm chốt trên các dãy điểm cao ở Ngọc Kom Liệt, Ngọc Kring, 882, 875, lấy chốt 875 làm trọng điểm. Kết hợp chốt với vận động tiến công và tập kích tiêu diệt từng đại đội, tiểu đoàn địch, tiến tới đánh quỵ lữ đoàn của chúng trong chiều sâu trận địa của ta. Bố trí cụ thể của hai trung đoàn như sau:

Trung đoàn 66 ở khu vực Ngọc Kom Liệt, Ngọc Kring: Tiểu đoàn 7 ở điểm cao 847, tiểu đoàn 8 ở nam điểm cao 823 khoảng 2 km, tiểu đoàn 9 ở điểm cao 796. Sở chỉ huy của trung đoàn ở tây nam điểm cao 823 khoảng 1km. Trung đoàn 66 có nhiệm vụ tiêu diệt cánh quân địch vào hướng Ngọc Kom Liệt.

Trung đoàn 174 (lực lượng dự bị của sư đoàn) bố trí ở dãy điểm cao 882, 875, tây Bãi Le. Tiểu đoàn 1 ở nam điểm cao 875 khoảng 2km; tiểu đoàn 2 ờ tây điểm cao 875 khoảng 2km có một đại đội chốt ở điểm cao 875; tiểu đoàn 3 ở bắc điểm cao 875 khoảng 2km, phái một đại đội chốt ở điểm cao 882. Sở chỉ huy của trung đoàn ở tây điểm cao 875.

Sở chỉ huy của sư đoàn 1 ở Ngọc Lang Grang.

Tiểu đoàn pháo hỏa tiễn ĐKB của Mặt trận do Bộ tư lệnh nắm để chi viện chung (chủ yếu cho sư đoàn 1) và sẵn sàng pháo kích vào thị xã Kon Tum khi cần thiết.

- Lực lượng đánh sau lưng địch (hướng thứ yếu) gồm trung đoàn 24 (thiếu tiểu đoàn 6) bố trí phía đông đông bắc Đắc Tô – Tân Cảnh, chiếm lĩnh dãy Ngọc Long Đra. Nhiệm vụ của trung đoàn 24 là đánh tập trung tiêu diệt từng tiểu đoàn ngụy, từng đại đội Mỹ dùng lối đánh nhỏ, pháo kích tiêu diệt, tiêu hao rộng rãi quân địch, uy hiếp Tân Cảnh, khống chế sân bay Đắc Tô, đường số 14 đoạn nam – bắc Tân cảnh, làm bàn đạp tiến công Tân Cảnh từ phía đông. Tích cực kiềm chế và tập kích vào các vị trí pháo binh của địch, uy hiếp sau đội hình của địch.

Bố trí cụ thể: Tiểu đoàn 4 dùng 1 đại đội chốt ở điểm cao 1034; lực lượng còn lại đứng chân ở phía bắc điểm cao 1034. Tiểu đoàn 5 và sở chỉ huy trung đoàn ở đông nam dãy núi Ngọc Wan, tổ chức sẵn sàng 2 điểm chốt ở điểm cao 1374 và Ngọc Sia.

Tỉnh đội Kon Tum có tiểu đoàn 304 bộ đội địa phương tỉnh, 2 đại đội đặc công, 1 đại đội pháo, 1 đại đội công binh (thiếu), bố trí ở phía đông bắc thị xã Kon Tum. Có nhiệm vụ tiêu hao từng đại đội Mỹ, đánh phá giao thông, kiềm chế và tập kích các trận địa pháo, cùng với trung đoàn 24 đánh phá hậu phương chiến dịch của địch, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh diệt “kìm kẹp”, giành dân.

b. Hướng Gia Lai, có nhiệm vụ hỗ trợ rất quan trọng với hướng tiến công chính. Trên cơ sở tiêu diệt nhiều sinh lực địch, tích cực tiến công, uy hiếp thị xã Plây Cu và đường giao thông huyết mạch của địch, giam chân và thu hút khoảng lữ đoàn Mỹ, thực hành nghi binh, giữ bí mật bất ngờ cho chiến dịch.

Bố trí lực lượng: Trung đoàn 95 (3 tiểu đoàn bộ binh) được tăng cường tiểu đoàn bộ binh 101, một tiểu đoàn pháo hỗn hợp 18 khẩu (6 ĐKZ 75mm, 4 cối 82mm, 4 cối 120mm, 4 ĐKB); bố trí ở hướng Chư Pa cỡ trung đoàn (thiếu) gồm tiểu đoàn 101 và một tiểu đoàn của trung đoàn 95. Có nhiệm vụ đánh tập trung, tiêu diệt từng đại đội. Tích cực pháo kích, dùng các thủ đoạn tiêu hao có ý định và tiêu hao rộng rãi quân địch. Tích cực nghi binh lừa địch, kiềm chế giam chân buộc địch phải đối phó. Đồng thời sẵn sàng cơ động lực lượng về hướng nam đường 19 hoặc hướng huyện 4 (Chư Pah) khi cần.

Tại huyện 4 (Chư Pah), tiểu đoàn 1 của trung đoàn 95 thực hiện các trận đánh tiêu diệt, tiêu hao cả quân Mỹ và quân ngụy. Phối hợp với các trận pháo kích của ĐKB vào thị xã Plây Cu, uy hiếp địch từ phía tây bắc Plây Cu (đường số 14 Plây Cu – Kon Tum) tạo bàn đạp và uy hiếp thị xã Kon Tum từ phía nam, để phối hợp với toàn chiến trường.

Ở hai huyện 3 (Mang Yang) và 6 (nam huyện Mang Yang), trung đoàn 95 dùng một tiểu đoàn phối hợp với tiểu đoàn 97 và hai đại đội công binh của tỉnh Gia Lai, cùng dân quân du kích địa phương tổ chức thành mặt trận đánh phá giao thông trên đường 19, làm gián đoạn vận chuyển của địch, diệt sinh lực đồng thời uy hiếp thị xã Plây Cu từ hướng đông. Tiểu đoàn đặc công của tỉnh đẩy mạnh các hoạt động tác chiến đánh phá các căn cứ sở chỉ huy, hậu cần, sân bay của Mỹ ở thị xã Plây Cu.

c. Hướng Đắc Lắc, Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định địch có nhiều sơ hở, ta cần tích cực và mạnh dạn tiến công tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực trong khi chúng tập trung và đối phó với hướng chính của ta, giải phóng một số khu vực làm bàn đạp, để uy hiếp quân địch trong thị xã.

Trung đoàn 33 (thiếu) bố trí ở tây bắc Buôn Ma Thuột, trực tiếp uy hiếp khu vực Quảng Nhiêu, kéo hút trung đoàn 45 ngụy ra ngoài căn cứ để tiêu diệt và sẵn sàng tiêu diệt, tiêu hao quân Mỹ hoặc Nam Triều Tiên đến ứng cứu, giải tỏa. Tích cực chuẩn bị địa bàn và tạo điều kiện để khi có thời cơ sẽ tăng cường thêm lực lượng phát triển chiến dịch.

Tiểu đoàn bộ đội tỉnh, tích cực đánh phá giao thông, diệt bọn ngụy quân, ngụy quyền ở nam – bắc đường số 21, hỗ trợ phong trào địa phương phá ấp giành dân. Hai đại đội đặc công và đại đội cối 82mm của tỉnh, tích cực luồn sâu đánh phá sân bay, kho tàng trong hậu phương địch ở thị xã Buôn Ma Thuột.

Trong quyết tâm và kế hoạch tác chien, Bộ tư lệnh và cơ quan chiến dịch dự kiến: Ở hướng tiến công chính, trước khi chiến dịch mở màn, nếu địch đã chiếm dãy núi tây – tây nam Đắc Tô – Tân cảnh, thì tiểu đoàn 6 vẫn phải tranh thủ chiếm một số điểm cao xen kẽ với địch và thực hành tiến công. Đây cũng là một cách khêu ngòi, dụ địch ra khu chiến của sư đoàn 1 để đánh diệt. Quá trình tiến công, nếu chiến dịch diệt gọn từ một đến hai tiểu đoàn Mỹ trong đợt đầu thì địch sẽ đưa thêm lực lượng vào chiến đấu với ta ở khu vực quyết chiến. Nếu ta tiêu diệt hoặc tiêu hao thêm một đến hai tiểu đoàn Mỹ nữa, sẻ có hai khả năng xảy ra:

Khả năng thứ nhất: Địch đưa thêm từ một đến hai lữ đoàn Mỹ và một số tiểu đoàn ngụy để đánh rộng ra, nhưng khả năng này có ít. Nếu địch cố đưa thêm nhiều quân cơ động lên Tây Nguyên, thì ta sẽ thu hút và giam chân được lực lượng lớn quân địch, đồng thời có thời cơ tiêu diệt sinh lực địch lớn hơn, tạo điều kiện cho các chiến trường khác hoạt động.

Khả năng thứ hai: Địch co về phòng ngự, giữ một số khu vực nhất định, khả năng này có nhiều. Chúng có thể chiếm giữ Tân Cảnh, các điểm cao tây-tây nam Tân Cảnh, để án ngữ khống chế, hình thành khu vực phòng ngự ở Bắc Kon Tum.

Phương hướng xử trí:
Một là, để một lực lượng nhỏ kiềm chế địch ở khu tây nam Tân Cảnh, thường xuyên uy hiếp, buộc địch phải đối phó, ta đánh nhỏ, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận của chúng.
Hai là, mở hướng tiến công mới ở bắc đường số 14, dùng một trung đoàn bộ binh, tăng cường một tiểu đoàn pháo mang vác (cối, ĐKZ) vượt qua đường 14 giữa Đắc Siêng và Đắc Mót, cùng trung đoàn 24 (thiếu) tiến công Tân Cảnh từ hướng đông hoặc hướng bắc.
Ba là, dùng một lực lượng nhỏ, được tăng cường hỏa lực, thọc sâu vào phía tây Tân Cảnh, mũi này có tác dụng trực tiếp chia cắt, phá thế phòng ngự của địch ở dãy điểm cao phía tây nam Tân Cảnh phối hợp chặt chẽ với hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch.
Bốn là, dùng từ một đến hai tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn pháo hỗn hợp (cối 82mm, ĐKZ) tiến vào hướng Kleng, uy hiếp thị xã Kon Tum từ hướng tây.
Làm được như trên sẽ phá vỡ được thế phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trên chiến trường Tây Nguyên.

4. Công tác chuẩn bị chiến dịch
Công tác tổ chức chuẩn bị chiến dịch Đắc Tô được tiến hành trong điều kiện hậu phương chiến dịch gần với hậu phương chiến lược, qua đường hành lang chiến lược 559. Song những khó khăn ta gặp phải trong quá trình triển khai công tác chuẩn bị không phải là ít. Khó khăn lớn nhất là bảo đảm vật chất trong đó gạo, đạn là trọng điểm; bởi địch mở nhiều cuộc hành quân quy mô nhỏ, hoạt động biệt kích kết hợp dùng không quân ngày, đêm đánh phá sâu vào hậu phương căn cứ của ta dọc tuyến biên giới và các tuyến vận tải từ biên giới vào nội địa ở Tây Nguyên. Việc bảo đảm quân số chiến đấu cũng gặp nhiều khó khăn do bộ đội liên tục hoạt động ở rừng núi, nên quân số ốm, sốt rét rất cao, ăn uống thiếu thốn nên tỷ lệ quân số tham gia chiến đấu và công tác ở các đơn vị thấp. Các chiến dịch trước, khi xuất phát hành quân chiến đấu có trung đoàn phải để lại hậu cứ từ 400 đến 600 người. Bệnh xá của sư đoàn 1 có thời gian phải điều trị tới 700 thương, bệnh binh, trong đó bình quân cứ bốn người vào điều trị, thì có ba người mắc bệnh sốt rét.

Trên cơ sở thực tế tình hình ở các đơn vị và nhiệm vụ được giao, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch triển khai công tác chuẩn bị tập trung vào những vấn đề then chốt sau đây:

a. Chuẩn bị chiến trường: Trước ngày N khoảng bốn tháng, các đoàn cán bộ của Mặt trận và sư đoàn bộ binh 1 đã thị sát chiến trường. Đến cuối tháng 8, cán bộ quân sự từ cấp tiểu đoàn trưởng trở lên từ Gia Lai đi trinh sát địa hình khu vực Đắc Tô. Trinh sát xong, ở lại chiến trường để đón bộ đội và tiến hành mọi công tác tổ chức, chuẩn bị chiến dịch.

b. Chuẩn bị lực lượng: Chiến dịch Đắc Tô được thực hiện theo phương châm: ”Ra sức tăng cường chất lượng, để chiến thắng số lượng đông của địch”. Việc tăng cường chất lượng bộ đội được tiến hành tích cực và toàn diện, cả về nâng cao chất lượng chính trị và huấn luyện kỹ chiến thuật.

Về chính trị: Trong điều kiện quân số không đông hơn địch, trang bị cũng không mạnh, bộ đội thường phải tác chiến dài ngày và quyết liệt, việc chuẩn bị sức mạnh tinh thần cho bộ đội trở thành vấn đề cực kỳ quan trọng để thắng địch. Với ý nghĩa đó, Đảng ủy Mặt trận đã ra nghị quyết: “Triển khai sâu rộng công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch trong giai đoạn chuẩn bị cũng như trong quá trình phát triển chiến dịch, làm cho cán bộ chiến sĩ thấu suốt ý nghĩa mục đích của chiến dịch, phát huy truyền thống và bản chất quân đội ta để vượt qua mọi khó khăn trở ngại, giữ vững niềm tin tất thắng”. Thường vụ Đảng ủy cũng ra nghị quyết về xây dựng chi bộ bốn tốt. Các buổi sinh hoạt đảng và đoàn được các cấp ủy đảng chỉ đạo chặt chẽ, với nhiều nội dung thiết thực như: đề cao kỷ luật chiến trường, đề cao tinh thần trách nhiệm và tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên gắn với việc phát huy dân chủ, bảo đảm tự do tư tưởng trong đơn vị. Phát hiện và giải quyết những vướng mắc về tư tưởng ngại khó ngại khổ, ngại hy sinh; phát huy lòng dũng cảm và ý chí căm thù giặc trong mỗi người, mỗi đơn vị. Căn cứ vào nhiệm vụ được giao, loại súng được sử dụng, tính toán chỉ tiêu diệt địch rồi hạ quyết tâm trước đơn vị. Phong tràọ tự nguyện đăng ký chỉ tiêu diệt Mỹ dấy lên rộng khắp trong toàn mặt trận, từ chiến sĩ nuôi quân đến đồng chí Tư lệnh chiến dịch. Những từ: “Đánh to”, “Thâng lớn”, “Diệt lữ đoàn Mỹ” được mọi người nhắc đến với quyết tâm và tin tưởng rất cao.

Công tác huấn luyện: Các đại đội, tiểu đoàn đều có thao trường tập chiến thuật tập kích, vận động tiến công kết hợp chốt, theo phương án diệt tiểu đoàn Mỹ. Để đạt được chỉ tiêu đã giao ước, ngoài giờ học tập chính thức, từng tổ ba người, từng tiểu đội tự động ra thao trường ôn luyện chiến thuật, chia thành các nhóm chốt điểm cao và vận động tiến công địch khi chúng đổ bộ đường không xuống hai bên sườn của chốt, kết hợp với ôn luyện kỹ thuật bắn các loại súng khi lên dốc và xuống dốc… Các đồng chí trong Bộ tư lệnh chiến dịch chia nhau xuống từng đơn vị giải quyết những vướng mắc, khó khăn mà chiến sĩ, đơn vị chưa giải quyết được. Tác phong sâu sát đó đã xây dựng được sự gắn bó mật thiết giữa cấp trên và cấp dưới, cơ quan và đơn vị, cán bộ và chiến sĩ trong suốt quá trình tác chiến chiến dịch.

c. Chuẩn bị đường trên các hướng chiến dịch:
Để mở chiến dịch trên hướng bắc Kon Tum, việc chuẩn bị đường sá mang ý nghĩa rất quan trọng, nhất là hệ thống đường xe thồ từ cửa khẩu VQ5 trên đất Căm-pu-chia đến vùng ba biên giới dài tới 200 km qua hàng trăm con suối, vượt hàng chục đèo cao, để phục vụ chiến dịch. Bộ tư lệnh chiến dịch đã sử dụng lực lượng công binh và vận tải, gấp rút sửa chữa những đoạn đường thồ hư hỏng, lầy lội, bộ đội phải đi xa chặt nứa, lồ ô đan phên lát đường cho xe thồ đi dài hàng trăm ki-lô-mét. Để bảo đảm bí mật, chặt nứa và lồ ô phải rút hết xuống đất, không để lá khô thành vệt, máy bay trinh sát của địch dễ phát hiện. Những đoạn đường trống trải phải làm giàn ngụy trang. Cán bộ, chiến sĩ ta đã chặt hàng vạn cây trong những khu rừng đầy muỗi, vắt, mỗi lần rút được ngọn cây xuống đất là một lần người chiến sĩ phải dồn sức co kéo rất vất vả. Không có ý thức chấp hành kỷ luật nghiêm và tinh thần giữ bí mật cao cho chiến dịch, thì không thể làm được những việc tưởng như đơn giản đó.

Cùng với việc mở mạng đường thồ, chiến dịch phải mở mạng đường đi bộ cho pháo binh mang vác. Suốt bốn tháng trời ròng rã, bộ đội công binh và có cả lực lượng các đơn vị bộ binh, pháo binh cùng tham gia lao động vất vả, đưa tổng số đường bộ đã mở trong địa bàn tác chiến chiến dịch trên hướng chính ở bắc Kon Tum lên đến 500 ki-lô-mét.

d. Chuẩn bị hậu cần:
Trong hoàn cảnh cơ sở vật chất còn mỏng yếu, lực lượng dự trữ trong địa bàn mở chiến dịch hầu như không có, việc tổ chức bảo đảm hậu cần chiến dịch đã được tiến hành với tinh thần hết sức tích cực và chủ động. Quán triệt được ý định chiến dịch, ngành hậu cần đã triển khai hệ thống tổ chức bảo đảm có chiều sâu từ phía sau ra phía trước. Bảo đảm đồng thời được các yêu cầu chủ yếu là tạo nguồn hàng ở cả phía sau (trên đất bạn) và phía trước (trên đất địch tạm chiếm ở Tây Nguyên). Đồng thời tổ chức tiêp nhận nguồn hàng từ hậu phương chiến lược đưa vào phục vụ cả đánh địch phá chuẩn bị ở phía sau và phục vụ tiến công địch ở phía trước, trên các hướng chiến dịch.

Công tác vận tải, bảo đảm hậu cần cho chiến dịch tiến công là khó khăn lớn lúc bấy giờ. Mặt trận phải huy động lực lượng các binh trạm hành lang, trường quân chính, trường quân y, bệnh viện, đội điều trị, xưởng dược, cơ quan và quần chúng nhân dân toàn mặt trận tham gia vận chuyển phục vụ chiến dịch. Đến trước ngày nổ súng, bảo đảm được 679 tấn lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc men, trong đó có 10 nghìn bánh lương khô tự chế của quân lương Tây Nguyên.

Với quyết tâm “Không vì hậu cần mà ảnh hưởng đến chiến đấu”, cán bộ, chiến sĩ vận tải động viên nhau gùi hàng vượt qua “Dốc trăm bậc” và đỉnh đồi “cây đa gió lộng” cao hàng nghìn mét, rồi vượt sông Sa Thầy đưa đạn, gạo đến từng trận địa theo đúng kế hoạch tác chiến chiến dịch. Phong trào thi đua “Vượt cân, tăng chuyến” diễn ra sôi nổi. Thêm một ki-lô-gam gạo, một viên đạn ra phía trước, là để đồng chí mình được ăn no, diệt thêm một tên địch. Đội nữ vận tải Cục Hậu cần của Mặt trận đạt năng suất bình quân 50 ki lô gam một người. Cán bộ, chiến sĩ Viện quân y 211 không quen gùi, thồ củng đạt năng suất gùi 45 ki lô gam, thồ 80 ki lô gam mỗi chuyến. Tiểu đoàn 6 vận tải đạt năng suất bình quân trên đường 42 ki lô gam một người. Kỷ lục gùi, thồ thi nhau bị phá vỡ, có người gùi từ 65 đến 100 ki lô gam, thồ từ 1,5 đến 2 tạ một chuyến.

e. Công tác bảo đảm bí mật:
Cùng với công tác chuẩn bị cơ sở vật chất và chuẩn bị lực lượng tác chiến, một vấn đề khác được đặc biệt quan tâm là bảo đảm bí mật bất ngờ cho chiến dịch, coi đó là một trong những nhân tố hết sức quan trọng giành thắng lợi. “Bí mật bất ngờ” vốn là tư tưởng chỉ đạo mang tính truyền thống của quân đội ta. Trong chiến dịch Đắc Tô, đặc biệt là trong giai đoạn chuẩn bị đã được vận dụng một cách có hiệu quả trong điều kiện thời gian chuẩn bị dài đến bốn tháng. Được giáo dục sâu rộng và chỉ đạo chặt chẽ, cán bộ và chiến sĩ đều thấy rõ tầm quan trọng có ý nghĩa sống còn của yếu tố bí mật bất ngờ đối với toàn mặt trận cũng như đối với bản thân mình, thấy được “bí mật bất ngờ” là sức mạnh. Yêu cầu ’’Không để địch phát hiện, không để mất tài liệu, không để bị bắt, không lộ bí mật” được thực hiện triệt để trong mọi công tác chuẩn bị. Với lòng dũng cảm, trí thông minh và lập trường kiên định, các chiến sĩ đã điều tra nắm địch, nắm địa hình chuẩn bị các trục đường chiến dịch và mạng đường chiến thuật sâu trong hậu phương địch, từ đường của bộ binh, đường dự kiến cho pháo binh, tuân thủ nguyên tắc bảo đảm bí mật như “bẻ cò” lá cây ngược theo chiều hành quân của bộ đội, không để dấu vết khi trú quân ở những nơi gần trục hành quân đã dự kiến… Kế hoạch hành quân của các đơn vị từ vị trí tập kết đến vị trí xuất phát tiến công được thực hiện theo nguyên tắc đơn vị đảm nhận trận đánh mở đầu chiến dịch hành quân chiếm lĩnh trước, các đơn vị khác hành quân sau, thực hiện nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch bảo đảm an toàn và tạo thế thuận lợi cho đội hình chủ yếu của chiến dịch. Việc giữ bí mật chiến dịch, còn được quán triệt trong công tác huấn luyện bộ đội cũng như trong tổ chức hiệp đồng giữa quân chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, giữa Bộ tư lệnh chiến dịch và các cấp ủy địa phương theo nguyên tắc cần đến đâu tổ chức hiệp đồng và phổ biến đến đó.

Công tác tổ chức chuấn bị cho chiến dịch Đắc Tô đã được tiến hành theo kế hoạch thống nhất, từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1967. Với những nỗ lực lớn, trên cơ sở vận dụng tư tưởng tiến công, quan điểm sức mạnh tổng hợp và tinh thần tích cực chủ động, ta đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, đưa toàn bộ đội hình chiến dịch vào sâu trong đất địch, bảo đảm đươc bí mật, bất ngờ trước khi nổ súng tiến công. Đây cũng là một thành công lớn của nghệ thuật chuẩn bị chiến dịch.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9