Trận tập kích căn cứ Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ ở Đồng Dù của Đặc công Miền

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 2 năm 1969, bộ đội đặc công miền Đông Nam Bộ đã đánh thiệt hại nặng căn cứ lữ 2, bộ chỉ huy sư đoàn bộ Đọc thêm

Trận tiến công đổ bộ bãi biển Tà Lơn của Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ

Đêm 6 tháng 1 năm 1979, lữ đoàn 26 hải quân đánh bộ tham gia trận đổ bộ lên bãi biển Tà Lơn mở màn của chiến dịch giải phóng Campuchia trên Đọc thêm

Trận tiến công quận lỵ Lệ Thanh – Gia Lai của tiểu đoàn bộ binh 952 (B3)

Đêm 31 tháng 5 và ngày 1 tháng 6 năm 1965, tiểu đoàn bộ binh 952 (B3) đã bất ngờ tiến công tiêu diệt địch ở quận ly Lệ Thanh.   I. Đọc thêm

 

Chiến dịch tiến công Đắc Tô 1967

Dac To - Lan 1 - avata

IV. ĐÁNH TRẬN THEN CHỐT QUYẾT ĐỊNH Ở KHU VỰC 875 – KẾT THÚC CHIẾN DỊCH

Sau những đợt phản kích, phản đột kích nhằm chia cắt đội hình chiến dịch của ta ở Ngọc Dơ Lang, Ngọc Kom Liệt không thành công, ý định của Bộ chỉ huy Mỹ (qua tin trinh sát kỹ thuật) là thực hiện đòn phản đột kích (ứng chiến lớn) vào sau lưng đội hình chiến dịch của ta để xoay chuyển tình thế.

Điểm cao 875 nằm cách quận lỵ Đắc Tô khoảng 25 km về phía tây nam và cách Plây-cần (Bến Hét) 10 km về phía nam có sức hút khá quan trọng trong ý định ứng chiến lớn của quân Mỹ nhằm đánh vào hậu phương chiến dịch ta. Từ dự đoán khả năng của địch. Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định chọn điểm cao 875 làm trung tâm, hình thành khu quyết chiến, thực hiện trận then chốt quyết định của chiến dịch.

Điểm cao 875 có chiều dài 400 đến 500 mét, rộng 200 đến 350 mét. Nối liền với điểm 875 về phía bác có đồi Yên Ngựa dài 200 đến 250 mét, rộng 150 đến 200 mét. Cả điểm cao 875 và đồi Yên Ngựa trên đỉnh tương đối bằng phẳng, chạy dài theo chiều bắc nam 300 đến 400 mét, rộng khoảng 100 mét. Tiếp theo về phía bắc 4km, có điểm cao 882, phía đông điểm cao 875 là rừng tre, bãi le dày đặc, có chiều dài 1500 đến 2000 mét. Xen kẽ rừng tre và bãi le, là những bãi trống bằng phẳng. Phía nam có dãy điểm cao nối liền với 875, nhưng ít liên quan đến trận đánh. Phía tây tiếp giáp với điểm cao 875 là dãy đồi Không Tên (thấp hơn 875) phía bắc đồi Không Tên, có đồi “Biệt Kích” (nơi biệt kích địch thường hoạt động). Giữa điểm cao 875 và đồi Không Tên có một con suối nhỏ, hình thành thung lũng hẹp và kín.

Địa hình khu vực điểm cao 875 phần lớn là rừng già, cây thân gỗ to, cao, cành lá um tùm, kín; phía dưới là cây nhỏ có thể quan sát phía trước và xung quanh đồi từ 100 đến 200 mét, tiện cho bắn gần. Chất đất ở đây thuộc loại đất đỏ ba dan, tiện đào hầm hào và công sự chiến đấu.

Do điểm cao 875 có địa hình khá đặc biệt, là cửa ngõ bước vào quần thể các điểm cao ở vùng rừng núi tây nam Đắc Tô, là nấc thang đầu tiên bước lên dãy Ngọc Tô Ba, một trong những khu căn cứ của ta, từ hậu phương ở vùng ”ba biên giới”, muốn vào khu vực tác chiến chiến dịch phải đi qua khu vực 875, nên địch quyết chiếm điểm cao 875 để khống chế toàn bộ khu vực, yểm trợ cho các mũi tiến quân sâu vào phía tây, giải tỏa cho Đắc Tô. Nếu ta giữ vững được điểm cao 875, sẽ khống chế được các bãi trống xung quanh, tạo điều kiện cho lực lượng cơ động tiến công đánh địch khi ứng cứu, giai tỏa (phản đột kích) bằng đổ bộ đường không (ĐBĐK).

Từ nhận định, đánh giá tình hình, dự đoán khả năng của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch tiến hành điều chỉnh lực lượng, bổ sung hiệp đồng và giao nhiệm vụ cho sư đoàn 1 dùng hai trung đoàn 66 và 174 thực hiện trận then chốt quyến định. Trung đoàn 174 làm nhiệm vụ chủ yếu của trận then chốt, bố trí ở điểm cao 875. Trung đoàn 66 bố trí ở dãy Ngọc Kom Liệt, điểm cao 823, 845, đảm nhiệm đánh địch vòng ngoài bảo vệ sườn trái rất quan trọng cho trung đoàn 174. Đồng thời tiêu diệt, tiêu hao từng bộ phận các tiểu đoàn đi trước của lữ đoàn dù 173, làm suy yếu khả năng chiến đấu của lữ đoàn này và nhử dần chúng vào khu vực 875.
Trung đoàn 174 do trung tá Đàm Văn Ngụy làm trung đoàn trưởng. Ngày 10 tháng 11 trung đoàn 174 hoàn thành mọi công tác chuẩn bị và tổ chức hai điểm chốt chiến thuật ở điểm cao 882 và 875.

Tại điểm cao 875, tiểu đoàn 2 tổ chức hai lực lượng: chốt và cơ động. Lực lượng chốt do đại đội 7 đảm nhiệm. Lực lượng cơ động do ba đại đội bộ binh (5, 6 và 1 của tiểu đoàn 1 đến tăng cường), một đại đội trợ chiến (có 2 cối 82mm, 3 đại liên, 3 B41, 1 trung đội súng máy phòng không 12,7mm) bố trí ở dãy đồi Không Tên (phía tây 875), làm nhiệm vụ vận động tiến công kết hợp với chốt để tiêu diệt địch khi có thời cơ. Điểm cao 882 do tiểu đoàn 3 đảm nhiệm.

Sáng 12 tháng 11, sau khi địch dùng không quân và pháo binh bắn phá, lữ đoàn dù 173 dùng trực thăng cơ động hai đại đội của tiểu đoàn 2 trung đoàn 503 xuống điểm cao 845. Khoảng 10 giờ cùng ngày, chúng thực hành phản kích đánh lên điểm cao 882. Tiểu đoàn 3 của trung đoàn 174 xuất kích, kết hợp với chốt diệt hai trung đội thuộc đại đội A, lực lượng địch còn lại chạy về co cụm ở điểm cao 845. Ngày 13 tháng 11, địch tiếp tục đánh lên điểm cao 882, tiểu đoàn 3 liên tục đánh địch suốt hai ngày 13 và 14, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên Mỹ, thu sáu súng, làm chủ trận địa.

Để chi viện cho trung đoàn 174 chiến đấu, sư đoàn đã dùng cối 120mm đánh vào điểm cao 823 tiêu hao nặng đại đội C tiểu đoàn 4 thuộc trung đoàn 503, chặn đứng hỏa lực địch đang bắn vào 882.

Sau khi tiểu đoàn 3 hoàn thành nhiệm vụ chiến thuật, theo lệnh của chỉ huy sư đoàn 1, trung đoàn 174 bỏ chốt 882, đưa tiểu đoàn 3 và lực lượng còn lại của tiểu đoàn 1 về bố trí hai bên sườn điểm cao 875 hình thành thế chân kiềng, sẵn sàng đánh địch giải tỏa bằng đổ bộ đường không ở khu vực quyết chiến chiến dịch.

Các trận chiến đấu của tiểu đoàn 2 trung đoàn 174 ở khu vực điểm cao 882 tạo thế liên tục tiến công địch, vận dụng thế đánh sâu, đánh hiểm bằng hình thức dùng điểm chốt chiến thuật, kết hợp với cơ động binh lực của tiểu đoàn. Cách đánh này mở ra một khả năng mới về đánh liên tục dài ngày dưới phi pháo ác liệt của địch1 (Mỗi ngày không quân Mỹ sử dụng 700 lần chiếc cả B52 và máy bay phản lực ném bom. Bãi bom B52 rộng đến mức đi bộ một ngày không thể qua hết).

Cùng với những trận đánh của bộ binh, từ ngày 12 đến 16 tháng 11, đại đội 1 sơn pháo 75mm đánh bốn trận tập kích hỏa lực vào căn cứ tiền phương của sư đoàn 4 Mỹ ở Tân Cảnh, sân bay Đắc Tô (16 giờ ngày 12, 8 giờ và 15 giờ ngày 15, 8 giờ ngày 16). Ba máy bay C130 chở quân Mỹ vừa hạ cánh xuống đường băng thì bị phá hủy, sở chỉ huy dã chiến sư đoàn 4 trúng đạn, một cụm điện đài thông tin bị phá hủy. Tổng số địch thiệt hại: khoảng 350 tên (có 150 Mỹ) chết và bị thương; bốn xe quân sự, hai kho xăng, một kho đạn dự trữ chiến dịch (khoảng 1000 tấn) bị cháy và nổ tung.

Cùng thời gian trên, ở hướng đông bắc Đắc Tô và đường số 18, trung đoàn 24 (thiếu) cùng với lực lượng công binh, bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum tiến công quận lỵ Đắc Tô, thị trấn Tân Cảnh, chặn đánh các đoàn xe vận tải chở quân ứng cứu, giải tỏa của địch. Điển hình là trận đánh của trung đoàn 24 ở Ngọc Sia (ngày 14 tháng 11), Tân Cảnh (ngày 16 tháng 11). Trận phục kích của phân đội công binh, trinh sát chiến dịch ở Plây-cần trên đường 18, của tiểu đoàn 304 ở Võ Định trên đường 14 (ngày 12 tháng 11) diệt 17 xe (có 3 xe tăng) 50 tên Mỹ. Trận tập kích của một đại đội thuộc tiểu đoàn 406 đặc công tỉnh, đánh vào trại lính ngụy mang tên Nguyễn Huệ ở đầu cầu Đác Pla phía nam thị xã Kon Tum, gây thương vong khoảng 100 tên, thu bốn súng.

Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định, đợt tiến công sân bay, căn cứ hậu cần, cơ quan chỉ huy cấp chiến dịch của địch là đòn đánh rất hiểm, làm cho thế trận của địch bị rối loạn. Do cả phía trước và phía sau đều bị đánh, địch đã lúng túng càng bị rối thêm. Bộ chỉ huy hành quân Mỹ phải đưa lực lượng dự bị chiến dịch vào sớm hơn dự định. Theo tin trinh sát kỹ thuật, ngày 12 tháng 11, tiểu đoàn 2 lữ đoàn 1 kỵ binh không vận và chiến đoàn dù 3 ngụy đã đến thị xã Kon Tum1 (Ngày 14 tháng 11 chiến đoàn dù 3 ngụy gồm tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 3 đã đến Đắc Tô). Tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 12, lử đoàn 1, sư đoàn 4 nống ra hướng nam Ngọc Dơ Lang, điểm cao 530 chặn đường tiếp tế của tiểu đoàn 6, nhàm phá thế ổn định, buộc ta phải phân tán lực lượng để đối phó.

Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định điều chỉnh phương án đánh địch ở khu vực 875 là: Kiềm chế cánh quân của lữ đoàn 1 sư đoàn 4; tập trung lực lượng trung đoàn 66 và trung đoàn 174 diệt cánh quân của lữ đoàn dù 173; đưa trung đoàn 66 về sườn tây bắc điểm cao 882 đánh vào sườn lữ đoàn dù 173, đồng thời dùng hỏa lực ĐKZ và cối 82mm kiềm chế cánh quân ở dãy Ngọc Dơ Lang.

Thực hiện ý định trên, đêm 17 tháng 11, sư đoàn 1 tổ chức pháo kích trận địa hỏa lực địch ở nam Ngọc Dơ Lang, điểm cao 530, phá hủy tám khẩu pháo (5 pháo 105mm, 3 cối 106,7mm).

Đúng như dự đoán của Bộ tư lệnh chiến dịch, sáng 18 tháng 11, sau khi dùng không quân và pháo binh đánh phá mãnh liệt để dọn đường, lữ đoàn dù 173 sử dụng hai tiểu đoàn của trung đoàn 503 chia thành hai mũi tiến công về hướng điểm cao 875. Tiểu đoàn 1 đi bên cánh phải, theo sườn phía tây bắc điểm cao 882 đến 13 giờ 30 phút bị tiểu đoàn 8 và một đại đội của tiểu đoàn 9 thuộc trung đoàn 66 chặn đánh. Ta diệt 90 tên, thu sáu súng AR15, buộc địch phải dừng lại ở khu vực 882. Trung đoàn 66 đã kìm chặt, làm cho quân địch không phát triển được. Tiểu đoàn 2 từ điểm cao 845 tiến xuống chiếm đồi “Biệt Kích” (tây bắc 875 khoảng 1km) tạo bàn đạp đánh chiếm điểm cao 875. Cùng thời gian trên, ở hướng đông, cách điểm cao 875 khoảng 1km, hai đại đội thám báo, biệt kích từ bãi Le tổ chức tiến công hai lần (8 giờ 30 và 9 giờ 30 ngày 18 tháng 11) lên 875 để thăm dò lực lượng ta, nhưng bị đại đội 7 tiểu đoàn 2, trung đoàn 174 dựa vào trận địa chốt nổ súng đánh chính diện, kết hợp xuất kích đánh tạt sườn bằng chiến thuật tổ 3 người, chặn đứng đội hình địch trước chiến hào, diệt 28 tên, thu ba súng AR15, khống chế trận địa không cho địch lấy xác.

Đêm 18 tháng 11, địch dùng máy bay B52 liên tiếp giội bom.

Ngọn đồi gần như bị san phẳng. 6 giờ ngày 19 tháng 11, địch tiếp tục đánh phá điểm cao 875 bằng máy bay phản lực, trực thăng vũ trang và hỏa lực pháo binh. 9 giờ 45 phút địch ngừng bắn phá và cho rằng lực lượng ta đã bị hủy diệt, bộ binh địch bắt đầu tiến công. Ta quyết tiêu diệt địch, giữ vững chốt, tiếp tục cài thế đánh. Đến 10 giờ 30 phút, sau khi tiến công lên 875 không được, địch lui về phía đông bắc cách 875 khoảng 1km, dùng máy bay phản lực và trực thăng vũ trang đánh phá. 11 giờ, chúng chuyển hướng đưa lực lượng lên đồi Yên Ngựa, để từ đó đánh lên 875 (đồi Yên Ngựa dốc thoải tiếp giáp với 875). Phát hiện địch đang chuyển tiểu đoàn 2 lên đồi Yên Ngựa, theo lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, sư đoàn trưởng sư đoàn 1 điều chỉnh đội hình chiến đấu lệnh cho trung đoàn trưởng trung đoàn 174 chỉ huy lực lượng cơ động thực hành vận động tiến công, kết hợp với chốt của đại đội 7 diệt địch. Khoảng 11 giờ, tiểu đoàn 2 (thiếu đại đội 7) và đại đội 1 tiểu đoàn 1 bắt đầu xuất kích ra hướng điểm cao 875. Do tránh một số đoạn bị bom địch oanh tạc, nên vận động chậm. Đến 13 giờ 40 phút, đại đội 6 mới bắt được liên lạc với đại đội 1 (bằng ký hiệu giơ mũ tai bèo). Hai đại đội đến sát đồi Yên Ngựa. Địch cũng đang tiến lên đồi, bắt đầu đánh lên 875. Nhưng chúng không phát hiện được lực lượng cơ động của ta. Đến vị trí triển khai đội hình (tây – bắc đồi Yên Ngựa), đại đội 6 chia thành hai mũi, một mũi (1 trung đội) vòng về phía đông bắc đánh vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch, mũi thứ hai (2 trung đội) từ phía tây đánh vào bên sườn, phối hợp với đại đội 1 tiêu diệt quân địch ở đồi Yên Ngựa.

Đại đội 1 được tăng cường một khẩu cối 82mm, chia thành hai mũi tiến công: mũi thứ nhất từ tây nam đánh thẳng lên đông bắc, phối hợp với mũi của đại đội 6 cùng diệt sở chỉ huy tiểu đoàn địch. Mũi thứ hai vòng bên phải đồi Yên Ngựa, đánh tạt sườn đội hình địch đang lên điểm cao 875.

Đến 14 giờ, các mũi tiến công của ta đã triển khai xong đội hình chiến đấu, cách địch khoảng 150 mét.

Ta bất ngờ bắn 30 quả đạn cối vào sở chỉ huy địch, sau đó cả bốn mũi đồng loạt xung phong đánh địch. Đại đội 7 cũng xuất kích, hình thành mũi phối hợp từ 875 đánh xuống.

Trận đánh kéo dài đến 16 giờ. Đại đội 6 và đại đội 1 diệt gần hết bọn địch ở đồi dưới và đồi giữa. Ở đồi trên, địch dùng hỏa lực bẳn chặn đội hình tiến công của ta để yểm hộ cho số còn sống sót chạy lên. Các chiến sĩ ta bám sát để tiêu diệt. Thấy phía sau bị đánh mạnh, số địch đang tiến lên điểm cao 875 vội vã lùi xuống chiếm địa hình có lợi, cụm lại dùng hỏa lực ngăn chặn hướng tiến công của tiểu đoàn 2. Theo lệnh của trung đoàn trưởng Đàm Văn Ngụy, đại đội 5 vào chiến đấu để dứt điểm. Nhưng trên đường vận động bị máy bay và pháo binh địch đánh chặn, đến 16 giờ 30 phút mới tiếp cận được địch và bắt đầu nổ súng xung phong đánh vào sở chỉ huy tiểu đoàn. Vào lúc 17 giờ, phần lớn địch bị tiêu diệt, số còn lại chạy xuống chân đồi, bỏ lại nhiều xác chết và những tên bị thương ở sườn đồi. 18 giờ, ta và địch đều ngừng tiến công bằng bộ binh. Địch dùng máy bay và pháo binh đánh phá vào trận địa ta. Vì mất liên lạc giữa bộ binh với không quân (do ta diệt gần hết bọn chỉ huy tiểu đoàn), nên máy bay địch đã ném bom vào đội hình của chúng, làm chết thêm một số.

Trước khi trời tối, trung đoàn trưởng trung đoàn lên đài quan sát thấy địch cụm lại trên mỏm đồi dốc, nhưng đường tiếp cận khó khăn, không nắm được chắc tình hình dịch, nên đến 24 giờ cho lực lượng cơ động lui về phía sau. Lực lượng chốt (đại đội 7) tranh thủ sửa chữa công sự, bổ sung đạn, đưa thương binh, tử sĩ về phía sau, sẵn sàng đánh địch nếu chúng đến lấy xác. Kết quả trận vận động tiến công kết hợp chốt ở điểm cao 875, ta tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 2 (trung đoàn 503 lữ đoàn dù 173), loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, địch bỏ lại nhiều xác chết và số bị thương. Theo tin địch, trong số 18 sĩ quan của tiểu đoàn 2 trung đoàn 503 có 16 tên chết và bị thương, ba đại đội trưởng thì một tên chết, một tên bị thương. Ta thu 18 súng AR15, sáu máy vô tuyến điện.

Ngày 20 tháng 11, ta khống chế cả trên không và mặt đất không cho địch thu xác. Trước tình thế lữ đoàn dù 173 bị thiệt hại nặng, địch cho tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 8, lữ đoàn 1 của sư đoàn ky binh số 1 Mỹ được trực thăng vận đổ xuống bãi Le (chân đồi 875) để cứu tiểu đoàn 2 của trung đoàn 503. Nhưng suốt ngày 20 tháng 11, mặc dù địch tiến công lên chốt 875 tới bảy lần, các đợt tiến công đều bị các chiến sĩ đại đội 7 đẩy lùi. Tổ ba người Phùng, Quang, Trí, giành giật với địch từng đoạn chiến hào, diệt nhiều Mỹ nêu kỷ lục xuất sắc về thành tích diệt địch trong một đợt chiến đấu. Đến 12 giờ ngày 22 tháng 11, ta vẫn làm chủ trận địa và giữ vững các điểm chốt. Chủ trương của Bộ tư lệnh chiến dịch là: Sau khi giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến thuật của điểm chốt 875, giải quyết xong thương binh tử sĩ, sẽ bỏ chốt. Thực hiện ý định đó, 18 giờ 40 phút ngày 22 tháng 11, Bộ chỉ huy sư đoàn 1 quyết định bỏ chốt 875, chỉ dùng một bộ phận nhỏ bộ binh và hỏa lực (1 trung đội súng máy phòng không 12,7mm, 3 cối 82mm) cơ động kiềm chế. Do bị tổn thất nặng, địch không dám tiến lên đồi 875. Đến 12 giờ ngày 23 tháng 11, với cự ly chưa đầy 300 mét, chúng phải mất 24 giờ mới đến được mục tiêu giải tỏa. Điểm cao 875 đã vắng bóng người.
Như vậy, từ ngày 18 đến 21 tháng 11 tại đồi 875, trung đoàn 174 đã tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 2 thuộc lữ đoàn dù 173 và một đại đội của sư đoàn ky binh bay Mỹ. Chiến thắng của trung đoàn 174 ở đồi 875 đánh dấu bước phát triển tương đối hoàn chỉnh chiến thuật vận động tiến công kết hợp với chốt (dùng điểm chốt khống chế, thu hút địch tạo điều kiện cho lực lượng cơ động xuất kích từ bên sườn và phía sau bao vây tiêu diệt chúng). Đồng thời là một bước trưởng thành của trung đoàn 174, trong trận đầu tiên đánh quân viễn chinh Mỹ ở chiến trường miền Nam. Đây là trận đánh then chốt, quyết định của chiến dịch, với kết quả đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 173 Mỹ.

Phối hợp với khu quyết chiến, tại khu chốt chiến dịch, lúc 13 giờ ngày 17 tháng 11, một trung đội của đại đội 11, tiểu đoàn 6 chốt ở điểm cao 1338 đánh bại 10 đợt phản kích của địch, diệt gần 100 tên. Ngày 19 tháng 11, chốt ở điểm cao 1262 đẩy lùi năm đợt tiến công của địch, diệt 70 tên. Ngày 22 tháng 11, chốt ở điểm cao 1294, Ngọc Kon Kring diệt 20 tên.

Như vậy, khu chốt chiến dịch đã tồn tại song song với thời gian hoạt động cao điểm của sư đoàn 1 và đã hoàn thảnh nhiệm vụ thu hút, tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện thuận lợi cho sư đoàn 1 diệt địch trong khu quyết chiến, đã đánh một đòn đau vào căn cứ hành quân và chỉ huy của địch. Ngày 22 tháng 11, thực hiện chủ trương của Bộ tư lệnh chiến dịch, các lực lượng ở khu chốt chiến dịch rời khỏi trận địa. Riêng hai khẩu sơn pháo 75mm, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ tập kích hỏa lực vào căn cứ Đắc Tô – Tân Cảnh và bắân hết số đạn (đêm 17 tháng 11) đã lui về phía sau an toàn.

Trên hướng đông bắc Đắc Tô – Tân Cảnh, các lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum và trung đoàn 24 (thiếu) làm nhiệm vụ đánh vào phía sau và hậu phương địch đã phối hợp tích cực với hướng tây nam, nhất là trong giai đoạn cao điểm đã tiêu diệt được nhiều địch, đánh sâu vào thị trấn Tân Cảnh, thị xã Kon Tum, đường 14; hoàn thành nhiệm vụ phối hợp chiến dịch, góp phần căng địch ra trên hai hướng đông và tây Đắc Tô, buộc địch phải bị động đối phó nhiều mặt, cả phía trước và phía sau. Trong các ngày 17, 18 và 19 tháng 11, chiến sự diễn ra ác liệt ở khu vực điểm cao Ngọc Wan. Lúc 7 giờ ngày 17 tháng 11, tiểu đoàn 3 dù ngụy đánh lên chốt, đại đội 7 tiểu đoàn 5 thuộc trung đoàn 24 chốt ở điểm cao 1423, đã dựa vào điểm chốt kết hợp xuất kích nhỏ đánh bại nhiều đợt tiến công của địch. Tiểu đoàn 3 bị thiệt hại, địch tung tiểu đoàn 2 vào tiếp tục tiến công. Chúng chia thành hai mũi tây nam và tây bắc đánh vào điểm cao 1423, Ngọc Wan. Mặc dù quân số địch đông hơn ta bốn lần, hai bên giành giật nhau từng đoạn chiến hào, nhưng cuối cùng địch vẫn bị đánh bật xuống chân đồi. Như vậy, trong ngày 17 tháng 11, hai đại đội của tiểu đoàn 5, trung đoàn 24 đã dựa vào điểm chốt kết hợp xuất kích bên sườn đã đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn ngụy, diệt hơn 100 tên. Ngày 18 tháng 11, địch không dám tiến công. Đêm 18 tháng 11, trung đoàn chủ trương tập kích quân địch vừa cụm lại ở chân điểm cao, đúng lúc đại đội 6 vừa từ Tân Cảnh bôn tập về kịp thời tham gia trận đánh. 5 giờ ngày 19 tháng 11, tiểu đoàn 5 bất ngờ tập kích địch. Tuy lực lượng còn ít và mặc dù không hoàn toàn dứt điểm (vì số địch đông gấp nhiều lần), nhưng ta đã diệt khoảng 170 tên địch. Với trận đánh này, hai tiểu đoàn dù ngụy bị mất sức chiến đấu, buộc địch phải đưa tiểu đoàn 23 biệt động quân và tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 42 lên cứu nguy. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ngày 19 tháng 11 tiểu đoàn 5 được lệnh rời khỏi điểm cao Ngọc Wan. Các trận đánh của trung đoàn 24 và lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum đã phối hợp nhịp nhàng với tiểu đoàn 6 và sư đoàn 1 diệt địch ở mặt trận chính.

Tính từ ngày 3 đến ngày 22 tháng 11, trên hướng chính của chiến dịch ở bắc Kon Tum (tây nam và đông bắc Đắc Tô) ta đã đánh 57 trận, có 12 trận phòng giữ điểm chốt, năm trận vận động tiến công kết hợp với chốt, sáu trận vận động tiến công, 15 trận pháo kích, một trận phục kích, một trận tập kích, một trận tiến công thị trấn. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 3000 tên (có 2000 tên Mỹ), diệt gần hết hai tiểu đoàn, tiêu hao nặng bốn tiểu đoàn Mý, hai tiểu đoàn ngụy, diệt năm đại đội khác (có một đại đội Mỹ), đánh qụy lữ đoàn dù 173 Mý, đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 1 của sư đoàn 4 Mỹ và chiến đoàn dù ngụy; phá hỏng nặng hai sân bay, bắn rơi và phá hủy 38 máy bay (có 3 chiếc C130), 15 khẩu pháo, 32 xe (có 10 xe bọc thép), ba cầu, một kho đạn trên 1000 tấn, ba kho xăng, thu 102 súng và 14 máy vô tuyến điện.

Ở Gia Lai, từ ngày 3 đến ngày 22 tháng 11, ta đánh trận, diệt 189 tên (có 114 tên Mỹ) bắn rơi năm máy bay (có 3 chiếc C123), phá hủy bảy xe (có 2 xe bọc thép), song việc ghìm chân sư đoàn 4 Mỹ ở Gia Lai không thành công, trung đoàn 95 không đánh được trận nào đáng kể.

Tại Đắc Lắc, từ ngày 3 đến 22 tháng 11, ta đánh được tám trận, diệt 250 tên (có 150 tên Mỹ), diệt gọn một đại đội, tiêu hao một đại đội pháo, bắn rơi và phả hủy 27 máy bay (có 1 chiếc C130), phá hủy ba khẩu pháo, hai xe M113, một kho đạn, một kho xăng, thu hai súng AR15. Các lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc đã tích cực đánh địch phối hợp được trong thế chung của chiến dịch, ghìm chân một tiểu đoàn Mỹ và thu hút thêm một tiểu đoàn của trung đoàn 44 ngụy. Nổi lên là trận tập kích của tiểu đoàn 3, trung đoàn 33 vào vị trí đóng quân của tiểu đoàn 1 trung đoàn 12 lữ đoàn 2 thuộc sư đoàn 4 của địch, diệt 100 tên, phá hủy hai khẩu súng 105mm, hai xe M113, một kho xăng, một kho đạn, bắn rơi hai máy bay trực thăng, thu hai súng AR15. Ngày 5 tháng 11, du kích bắn rơi một máy bay, diệt 60 tên (có 48 tên Mỹ). Ngày 7 tháng 11, bộ đội địa phương Đắc Lắc pháo kích vào sân bay thị xã Buôn Ma Thuột, phá hỏng 20 máy bay, diệt 60 tên (có 40 tên Mỹ)…

Các đòn tiến çông phối hợp góp phần quan trọng, hỗ trợ cho sư đoàn 1 – Lực lượng chủ yếu của chiến dịch, thực hiện trận then chốt quyết định ở khu vực 875, kết thúc thắng lợi chiến dịch.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9