Trận tập kích căn cứ Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ ở Đồng Dù của Đặc công Miền

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 2 năm 1969, bộ đội đặc công miền Đông Nam Bộ đã đánh thiệt hại nặng căn cứ lữ 2, bộ chỉ huy sư đoàn bộ Đọc thêm

Trận tiến công đổ bộ bãi biển Tà Lơn của Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ

Đêm 6 tháng 1 năm 1979, lữ đoàn 26 hải quân đánh bộ tham gia trận đổ bộ lên bãi biển Tà Lơn mở màn của chiến dịch giải phóng Campuchia trên Đọc thêm

Trận tiến công quận lỵ Lệ Thanh – Gia Lai của tiểu đoàn bộ binh 952 (B3)

Đêm 31 tháng 5 và ngày 1 tháng 6 năm 1965, tiểu đoàn bộ binh 952 (B3) đã bất ngờ tiến công tiêu diệt địch ở quận ly Lệ Thanh.   I. Đọc thêm

 

Trận chiến đấu giải phóng quần đảo Thổ Chu của hải quân và tiểu đoàn 410 trung đoàn 95

Giai phong dao Tho Chu_wm

Từ ngày 23 đến 27 tháng 5 năm 1975, bộ đội hải quân cùng tiểu đoàn 410 trung đoàn 95 Quân khu 9 đã thực hành một trận chiến đấu đổ bộ, giải phóng hoàn toàn quần đảo Thổ Chu.

I-Tình hình chung

1.Địa hình, thời tiết
Quần đảo Thổ Chu (Poulo Panjang) gồm 8 đảo chạy dài từ vĩ độ 09°15B-09°23B, kinh độ 103°26Đ-103°28Đ. Trong đó có đảo Thổ Chu là lớn nhất, với diện tích khoảng 10km2 còn đảo khác có diện tích 1km2 là: Hòn Đứng, Hòn Nhạn, Hòn Keo Ngựa, Hòn Khó, Hòn Từ và Hòn Cao Cát, Hòn Cái Bàn và Hòn Mô.

Cách tây nam Phú Quốc 55 hải lý, cách tây bắc mũi Cà Mau 85 hai lý, nằm gần đường hải biên quốc tế Băngkok, Komponsom, Sài Gòn và Hồng Kông nên được xem là một vị trí chiến lược quan trọng.

Trên đảo có các đỉnh núi cao, phía đông có đỉnh cao 167m, phía tây bắc có cao điểm 143, tây nam có cao điểm 146, trên đảo có cây cối rậm rạp, nhiều cây to, nhiều gỗ quý. Ở đây chỉ có một con đường mòn lởm chởm đá nối liền bãi Ngự và bãi Giang dài 1800m ngoài ra không có con đường nào khác, muốn đi lại từ bắc xuống nam đảo người ta phải dùng tàu thuyền.

Ở Bến Ngự có một sân bay trực thăng nhưng từ lâu không được tu bổ.

Bờ đảo phía bắc vách đứng cây cối rậm rạp có nhiều mũi đá chạy nhô ra. Tây nam đảo có Bãi Ngự là bãi lớn nhất rộng khoảng 600m, có độ sâu thích hợp cho các loại tàu đổ bộ, tàu thường neo đậu ở đây để tránh gió mùa đông bắc. Bãi này là bến chính của đảo Thổ Chu.

Đông nam đảo có các bãi: Bãi Giang, Bãi Mun, Bãi Nhất. Bãi Giang dài 200m là bãi cát, tương đối kín đáo, nước trong vịnh sâu, yên sóng neo đậu được 6-8 tàu loại nhỏ từ 200 tấn trở xuống, các tàu loại vừa đổ bộ tốt.

Bãi Mun có nhiều dài khoang 300m sát liền với Bãi Giang, nước sâu, tàu có thể neo đậu được nhưng đáy có vụng đá.

Bãi Nhất dài hơn 100m có nhiều mũi đá tàu không vào được.

Quần đảo này chịu ảnh hưởng khí hậu 2 mùa: mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5.

Gió mùa đông bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3, gió mùa tây nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9. Trong những ngày thực hiện kế hoạch giải phóng đảo thì thời tiết tốt, trăng sáng, bóng gió êm (cấp 2) gió tây nam, không mưa, tầm nhìn trên 10km.

 

2.Tình hình địch:
Quân ngụy Sài Gòn chiếm đóng trên đảo trước đây đã chạy về đất liền hoặc theo tàu ra nơớc ngoài.

Ngày 6 tháng 5 năm 1975 quân Khơ me đỏ (Cam-pu-chia) đã đổ bộ lên bãi Dài thuộc quần đảo Phú Quốc và bị ta đuổi đi. Ngày 10 tháng 6 năm 1975 chúng đã dùng tàu LCM và 3 tàu PCF đưa quân đổ bộ đánh chiếm đảo Thổ Chu. (Theo lời kể của một số đồng bào ta vừa chạy thoát từ đảo Thổ Chu về). Sau khi thăm dò, không có lực lượng ta, chúng lừa gạt nhân dân là giúp đỡ đánh Mỹ-ngụy giải phóng đảo. Nhưng liền sau đó chúng hạ cờ ta xuống treo cờ chúng lên, sau đó chúng đã dồn dân xuống tàu đưa về đất Cam-pu-chia và đã giết một số trên biển, chúng đươa người của chúng lên làm xã trưởng, xã phó, bí mật thủ tiêu những người có tinh thần đấu tranh (7 người).
Lực lượng địch có khoảng 1 tiểu đoàn bố trí như sau:

Ở Bãi Ngự: 1 trung đội.

Bãi Mun và Bãi Giang: 1 trung đội.

Bãi Cao và Hòn Từ: 2 trung đội.

Quá trình chiếm đóng địch đã 3 lần đổ quân tăng cường và bổ sung vũ khí.

Vũ khí trang bị: súng trường, tiểu liên, lựu đạn và M79.

Ngoài ra còn có: 3 khẩu 12,7mm; 1 khẩu ĐKZ75; 1 khẩu ĐKZ l06; 3 khẩu cối 81, 82 và cối 60, đại liên, B40, B41.

 

3.Tình hình ta:
Đảo Thổ Chu trước đây về mặt hành chính thuộc tỉnh An Xuyên, trên đảo có khoảng 600 dân bao gồm 200 gia đình, tuyệt đại đa số là người Kinh gốc Rạch Giá có một số ở Khu 5 sơ tán vào thời kỳ Mậu Thân (1968 có 4 gia đình gốc Khơ me). Dân chủ yếu sống tập trung ở Bãi Ngự, nghề chính là đánh cá và làm nương rẫy. Tinh thần cách mạng trong nhân dân tương đối tốt mặc dù bị địch kìm kẹp gắt gao, tuy vậy ta cũng chưa có cơ sở cách mạng tại đây.

Ngày 16 tháng 5 năm 1975, một lực lượng hải quân đến đảo Phú Quốc và ngày 18 tháng 5 năm 1975 mới nhận bàn giao căn cứ hải quân vùng 4 duyên hải ở An Thới do Quân khu 9 tiếp quản trước, nay bàn giao lại. Cùng ngày hội nghị quân sự ở Phú Quốc quyết định việc giải phóng quần đảo Thổ Chu.

Tình hình lúc này ta có nhiều khó khăn, Hải quân vừa tiếp quản cơ sơ vật chất sau khi quân ngụy rút chạy để toàn những thứ hư hỏng, thiếu đồng bộ ta đã nhanh chóng triển khai sửa chữa tàu thuyền và ngày 20 tháng 5 năm 1975 ta đã hợp đồng tác chiến với các lực lượng tham gia đánh đảo.

Lúc nay tình hình trên đảo cũng chi nắm được một cách khái quát do một số dân trên đảo chạy về báo, thời gian khẩn trương nên không tổ chức trinh sát đơợc. Do lực lượng ta thiếu: đặc biệt là người sử dụng phương tiện nên ta quyết định lựa chọn một số lính ngụy cũ để lái, sử dụng máy và các pháo trên các tàu PCF và tàu LCM-8.

Các lực lượng tham gia trận này bao gồm:

Về Hải quân: Một phân đội đặc công 39 đồng chí.

4 tàu PCF vừa khôi phục (101, 102, 103, 104) mỗi tàu có 3 đồng chí đặc công và 4 lính ngụy cũ.

2 tàu vận tải quân sự của đoàn 125 (T643, T657).

1 biên đội tàu tuần tiễu gồm 2 tàu 199, 219.

Lực lượng địa phương Quân khu 9:

Tiểu đoàn bộ binh 410-trung đoàn 95 có 2 đại đội 140 người.

1 trung đội địa phương của đảo Phú Quốc 25 người.

2 tàu LCM của Rạch Giá.

11 người cán bộ và dân địa phương đi dẫn đường.

Pages: 1 2 3