Trận tập kích căn cứ Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ ở Đồng Dù của Đặc công Miền

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 2 năm 1969, bộ đội đặc công miền Đông Nam Bộ đã đánh thiệt hại nặng căn cứ lữ 2, bộ chỉ huy sư đoàn bộ Đọc thêm

Trận tiến công đổ bộ bãi biển Tà Lơn của Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ

Đêm 6 tháng 1 năm 1979, lữ đoàn 26 hải quân đánh bộ tham gia trận đổ bộ lên bãi biển Tà Lơn mở màn của chiến dịch giải phóng Campuchia trên Đọc thêm

Trận tiến công quận lỵ Lệ Thanh – Gia Lai của tiểu đoàn bộ binh 952 (B3)

Đêm 31 tháng 5 và ngày 1 tháng 6 năm 1965, tiểu đoàn bộ binh 952 (B3) đã bất ngờ tiến công tiêu diệt địch ở quận ly Lệ Thanh.   I. Đọc thêm

 

Trận tập kích Ngọc Cung Giao (Ngọc Bơ) của tiểu đoàn đặc công 20

Danh Ngoc Cung Giao 1968

Ngày 10 tháng 5 năm 1968, tiểu đoàn 20 đặc công tập kích cứ điểm Ngọc Cung Giao (Ngọc Bơ) diệt gọn một đại đội bộ binh địch và tiêu hao nặng một đại đội khác. 
I. TÌNH HÌNH CHUNG

A. Địa hình, thời tiết
Căn cứ Ngọc Cung Giao nằm trên đỉnh ngọn núi cùng tên có độ cao khoảng 750m, cách căn cứ biệt kích Plei Cần khoảng 3km về phía đông bắc, cách đường 18 từ 800m – 1000m về phía bắc (nay thuộc thị trấn Plei Cần, huyện Ngọc Hôi, tỉnh Kon Tum).

Ngọc Cung Giao là điểm cao đột xuất, hơn hẳn các đồi núi xung quanh, nên địch xây dựng căn cứ ở đây có giá trị về chiến thuật, tầm quan sát khống chế rộng, bảo vệ con đường 18 từ Tân Cảnh đi ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia. Cùng với các cứ điểm Plei Cần, Ngọc Hồi, Đak Mót, 42 Tân Cảnh, tạo thành bức tường ngăn chặn đường vận chuyển cơ động của ta từ tây bắc quang tây nam Tây Nguyên.
Đỉnh núi Ngọc Cung Giao có ba mỏm, diện tích tương đương nhau: tây bắc, đông bắc và đông nam, trong đó mỏm đông nam cao hơn hẳn hai mỏm kia. Các mỏm núi này vừa có giá trị độc lập, vừa tạo thành thế chân kiềng khá vững chắc, hỗ trợ chi viện lẫn nhau trong tác chiến phòng ngự.

Xung quanh điểm cao là rừng già, cây to đã bị B52 tàn phá, tạo nên một vành đai chướng ngại thiên nhiên, gồm các cây đổ ngổn ngang xen kẽ những hố bom, bãi trống. Càng vào gần cứ điểm, càng quang đãng do địch đốt phá để tiện quan sát phát hiện ta.

Về đường sá, có đường 18 từ ngã ba Tân Cảnh chạy cách phía nam Ngọc Cung Giao khoảng 800 – 1000m đi về Plei Cần và ngã ba biên giới. Đây là con đường duy nhất, đảm bảo tiếp tế đường bộ cho các căn cứ của địch ở hướng này. Xung quanh cứ điểm Ngọc Cung Giao còn có một con đường mòn nhỏ, bộ binh có thể đi lại dễ dàng.

Do diện tích không lớn lắm, có độ cao đột xuất, nên đỉnh núi Ngọc Cung Giao chỉ có một khe suối nhỏ nhạy theo chiều bắc – nam. Thời tiết đang chuyển từ mùa khô sang mùa mưa, trời nhiều mây di chuyển, nhưng lượng mưa không đáng kể, ít ảnh hưởng đến hoạt động tác chiến của ta và địch.

Tóm lại, Ngọc Cung Giao là một điểm cao đột xuất, có giá trị chiến thuật. Địch chiếm điểm cao có nhiều lợi thế, có trận địa phòng ngự tương đối liên hoàn, phát huy được hỏa lực bắn thẳng và lướt sườn, lợi dụng cây đổ tạo thành vật chướng ngại… Tiến công địch ở đây, ta sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng vẫn có thể lợi dụng địa hình, địa vật; tiếp cận mục tiêu vào ban đêm trên cả ba hướng: tây, bắc và đông; giữ được yếu tố bí mật bất ngờ.

 

B. Tình hình địch
Sau chiến dịch Đak Tô 1 (11-1967), địch chiếm và xây dựng Ngọc Cung Giao thành một cứ điểm mạnh do quân Mỹ đóng giữ. Cùng với các cứ điểm Plei Cần, Ngọc Hồi, 823, 824, Đak Mót, 42 Tân Cảnh, tạo thành một tuyến ngăn chặn rất lợi hại, khống chế khu vực tây bắc Kon Tum và ngã ba biên giới, cắt đứt đường vận chuyển bắc – nam của ta trong khu vực này.

Lực lượng địch ở Ngọc Cung Giao gồm hai đại đội bộ binh thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 8 Mỹ với quân số khoảng 200 tên. Vũ khí trang bị có bốn đại liên, bốn cối 106,7mm, M79, AR15, mìn định hướng và hai xe tăng. Chỉ huy cứ điểm và truyền tin ở phía tây nam, các đại đội bộ binh đóng giữ trên cả ba mỏm núi, hai xe tăng bố trí ở giữa và nam trận địa.

Trong căn cứ, địch xây dựng một hệ thống lô cốt công sự, vật cản khá liên hoàn và vững chắc, phân chia thành ba khu vực: khu phía tây, khu phía đông bắc và khu đông nam. Lô cốt hình lục giác, tường bê tông, xếp bao cát, nắp gỗ đất, hai lỗ châu mai, có 31 chiếc. Xung quanh các lô cốt là hơn 90 nhà bạt nửa nổi nửa chìm, là nơi lính ngủ. Nối lên giữa các lô cốt, nhà lính và các khu là hệ thống chiến hào liên hoàn khép kín, có nhiều hố bắn cá nhân và ụ súng xen kẽ, có thể cơ động bí mật, thuận tiện trong toàn bộ cứ điểm.

Ngoài 1-2 lớp rào vướng chân, bao quanh mối khu, địch còn bố trí một số hàng rào bùng nhùng năm cuộn (ba cuộn ở dưới, hai cuộn ở trên) bao quanh căn cứ. Phía tây còn có thêm hai hàng rào vướng chân. Xen kẽ các hàng rào có nhiều mìn chiếu sáng, chống bộ binh và mìn định hướng. Lợi dụng cây đổ do bom pháo, địch cải tạo thành hàng rào cành cây, để ngăn chặn ta đột nhập.

Bọn Mỹ ở Ngọc Cung Giao rất cảnh giác, chúng tổ chức canh gác rất nghiêm ngặt suốt ngày đêm. Mỗi lô cốt có hai tên trực chiến. Ban đêm, nhiều toán địch tỏa ra nấp sau những thân cây đổ bí mật quan sát, không đi lại trên lô cốt. Cứ 30 phút, có một toán từ 3-5 tên tuần tra xung quanh bên trong hàng rào. Đã thành lệ, từ 17 giờ 30 phút, địch dùng các loại súng từ trong đồn bắn ra xung quanh khoảng 15 phút. Từ 19 giờ đến 1-2 giờ sáng hôm sau, pháo cối bắn cầm canh. Từ 4-5 giờ sáng, lại bắn dồn dập ra quanh đồn.

Khi bị ta tiến công, chúng dựa vào công sự, lô cốt, vật cản, hỏa lực, xe tăng ngăn chặn quyết liệt, dùng lực lượng cơ động trong các chiến hào đến phản kích, chiếm lại trận địa đã mất. Nếu không chống đỡ nổi, chúng co cụm vào các lô cốt cố thủ, rồi gọi pháo binh từ các căn cứ quanh vùng và máy bay… bắn trùm lên trận địa, chờ viện binh đến ứng cứu, giải tỏa.

Tóm lại, địch ở Ngọc Cung Giao có thế mạnh là phòng ngự trên điểm cao có công sự vật cản liên hoàn, phức tạp và khá vững chắc, có hỏa lực mạnh, được chi viện bằng pháo binh, máy bay kịp thời. Chúng tập trung phòng ngự trên hướng bắc, nhưng lại sơ hở ở phía nam, hướng tây ít đề phòng. Nếu ta tập kích không dứt điểm trong đêm, sẽ gặp rất nhiều khó khăn do bom pháo địch.

 

C. Tình hình ta
Tiểu đoàn đặc công 20 thuộc sư đoàn 6 (tức sư đoàn 325C) Mặt trận Tây Nguyên, được thành lập tháng 3 năm 1968, có ba đại đội (56, 58, 60) quân số 163 người, vũ khí trang bị có B40, AK, thủ pháo, lựu đạn, bộc phá…

Tuy đây là đơn vị mới thành lập, trên cư sở tập trung cán bộ, chiến sĩ trinh sát đặc công rút từ các trung đoàn, mới hành quân vào chiến trường Tây Nguyên (tháng 4 năm 1968), nhưng hầu hết cán bộ đều đã được tập huấn nghiệp vụ binh chủng do Bộ mở, trong đó có 58 đồng chí đã chiến đấu từ ba trận trở lên. Các chiến sĩ đa số đã trực tiếp chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu ở chiến trường Trị – Thiên. Do làm tốt công tác giáo dục chính trị, tuyên truyền động viên, nên quyết tâm của toàn đơn vị rất cao, ai cũng phấn khởi nhận nhiệm vụ, mong muốn lập chiến công.

Khi tiến công Ngọc Cung Giao, tiểu đoàn đánh độc lập, không có lực lượng bạn hoặc địa phương tham gia phối hợp.

Mặc dù đơn vị gặp nhiều khó khăn: Địa hình, khí hậu chưa quen, sức khỏe giảm sút qua một chặng đường hành quân dài vào chiến trường, cán bộ chiến sĩ mới được ghép lại, chưa đánh trận nào ở Tây Nguyên. Nhưng với lòng căm thù giặc sâu sắc, ý chí quyết tâm cao, tinh thần chấp hành nghiêm mệnh lệnh chiến đấu, có kỹ chiến thuật binh chủng… tiểu đoàn 20 có đủ khả năng đánh thắng trận đầu.

Pages: 1 2 3