Trận tập kích căn cứ Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ ở Đồng Dù của Đặc công Miền

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 2 năm 1969, bộ đội đặc công miền Đông Nam Bộ đã đánh thiệt hại nặng căn cứ lữ 2, bộ chỉ huy sư đoàn bộ Đọc thêm

Trận tiến công đổ bộ bãi biển Tà Lơn của Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ

Đêm 6 tháng 1 năm 1979, lữ đoàn 26 hải quân đánh bộ tham gia trận đổ bộ lên bãi biển Tà Lơn mở màn của chiến dịch giải phóng Campuchia trên Đọc thêm

Trận tiến công quận lỵ Lệ Thanh – Gia Lai của tiểu đoàn bộ binh 952 (B3)

Đêm 31 tháng 5 và ngày 1 tháng 6 năm 1965, tiểu đoàn bộ binh 952 (B3) đã bất ngờ tiến công tiêu diệt địch ở quận ly Lệ Thanh.   I. Đọc thêm

 

Trận tiến công Đồn 30 của Trung đoàn 48 – Sư đoàn 320

Danh don 30 - e48f320

Từ ngày 27 đến 28 tháng 1 năm 1973, trung đoàn bộ binh 48 chỉ còn một tiểu đoàn bộ binh và các phân đội trực thuộc tham gia chiến đấu đã tiến công làm chủ Đồn 30, Làng Dịt.
I.TÌNH HÌNH CHUNG

A. Địa hình, thời tiết
Đồn 30 nằm ở bên phải đường 19 tây, cách Hàm Rồng (điểm cao 1023) 63km về phía tây và cách căn cứ Đức Cơ 31 km về phía đông (nay thuộc xã Ia Din, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai).

Đồn 30 nằm trên quả đồi có bình độ 460m. Xung quanh đồn là đồi trọc, trơ trụi. Phía bắc đồn từ 1500-2000m có dãy núi 500 và 517, gần sát hàng rào có một bãi lầy khá rộng rất khó cơ động tiếp cận. Phía đông – đông nam các mỏm đồi trọc nối tiếp nhau kéo dài gần 2km tới sát làng Dịt, dốc thoải, đất cứng rất dễ cơ động nhưng khó giữ được bí mật. Phía nam – tây nam có rừng cao su, nhưng đã bị địch phá trụi. Tại đây có điểm cao 463 độ cao tương đương khu đồn địch. Nếu ta chiếm được sẽ bố trí hỏa lực khống chế được Đồn 30. Phía tây, dọc hai bên đường 19 là các mỏm đồi thấp trống trải, khó bố trí hỏa lực, nhất là hỏa khí bắn thẳng để tiêu diệt các mục tiêu bên trong đồn.
Đường sá trong khu vực tác chiến không nhiều, chỉ có duy nhất quốc lộ 19 đi qua, nối tỉnh Gia Lai với tỉnh Rát ta na ki ri của Cam-pu-chia. Đây là con đường cơ động chủ yếu của địch trên hướng tây Gia Lại. Các loại xe tăng, ô tô… của địch từ Thanh Bình, Đồn Tầm có thể chở quân, cứu viện giải tỏa cho Đồn 30 rất nhanh chóng, hoặc bọn địch ở đây rút nhạy về Đồn Tầm… Do địa hình trống trải, mùa khô đất cứng, nên bộ binh, cơ giới có thể tiếp cận Đồn 30 từ ba phía: đông, nam và tây, nhưng cũng rất khó giữ được bí mật, nhất là ban ngày.

Khu vực Đồn 30 không có sông suối lớn thảy qua, Chỉ có đoạn đầu nguồn của suối Ia Kreng ở phía nam đồn. Mùa khô ít nước, không ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động tác chiến của ta và địch. Chiến đấu giữa mùa khô Tây Nguyên, trời ít mây, quan sát rất tốt.

Tóm lại, địa hình khu vực Đồn 30 rất trống trải, xung quanh thấp hơn đồn địch, chỉ có điểm cao 463 ở phía tây nam (do địch chiếm giữ) là có giá trị chiến thuật hơn hẳn. Ta phải chiếm được điểm cao này, mới phát huy được hỏa lực khống chế địch, tạo diều kiện cho bộ binh xung phong đột phá đánh chiếm Đồn 30.

 

B.Tình hình địch

Tháng 8 năm 1972, ta giải phóng Đồn 30. Cuối tháng 11 địch chiếm lại, củng cố và mở rộng thêm nhất là hướng đông – đông bắc. Ta cũng đã tiến công, nhưng không thành. Sau khi ta tiêu diệt tiểu đoàn 81 biệt động quân và một bộ phận tiểu đoàn 23 VNCH xuống ứng cứu Chư Bồ, Đức Cơ (từ ngày 18 đến ngày 28 tháng 1 năm 1973), giải phóng khu vực này thì Đồn 30 trở thành tiền đồn của địch ở phía tây Gia Lai.
Lực lượng địch ở Đồn 30 gồm có: Hai sở chỉ huy nhẹ của tiểu đoàn 23 biệt động quân và tiểu đoàn 22, hai đại đội bộ binh (trong đó có một đại đội tàn binh của tiểu đoàn 23 bị đánh ở Đức Cơ chạy về) và năm xe tăng. Quân số khoảng gần 200 tên. Vũ khí trang bị ngoài xe tăng M41, có pháo 105mm, cối 81mm, ĐKZ 57mm, cối 61mm, M79, AR15, các bin, mìn, lựu đạn… Đội hình địch bố trí cụ thể như sau:
Trong Đồn 30 cũ gồm chỉ huy tiểu đoàn, một đại đội bộ binh và xe tăng, có một khẩu cối 81mm. Một trung đội và hai xe tăng bố trí phía đông đồn cũ (khu mới xây dựng) khoảng 60m-100m. Một trung đội chốt từ ngã tư cổng đồn về phía tây chừng 500m. Một đại đội (thiếu) gồm tàn binh của tiểu đoàn 23 chiếm giữ đông bắc điểm cao 463. Lực lượng còn lại của tiểu đoàn 22 chốt giữ từ Đồn Tầm đến cầu Ia Púc.
Mặc dù có đồn lũy, nhưng sau những trận thất bại ở Chư Bồ, Đức Cơ, Thanh Giáo, tinh thần chiến đấu của quân địch hoang mang sa sút. Tư tưởng cầu an của binh lính cũng xuất hiện, khi lệnh ngừng bắn sắp có hiệu lực.

Đồn 30 có hình tam giác lệch, mỗi chiều dài từ 120-150m, có ba lô cốt bê tông ở ba cạnh, một nhà hầm ở giáp cạnh phía bắc, bốn nhà ngủ mái bê tông, tường gạch có xếp bao cát phía ngoài và lỗ châu mai ra các phía. Ở giữa đồn có trận địa pháo 105mm (2 khẩu).

Bao quanh đồn là năm hàng rào kẽm gai các loại, trong đó có hai hàng rào bùng nhùng. Một số đoạn rào bị hỏng từ lần ta đánh trước, nhưng địch không sửa lại theo lối cũ mà chỉ vứt trùm dây thép gai vào. Phía trong đồn có các hàng rào phân khu chỉ huy sở, trận địa pháo, trại lính… xe tăng bố trí chìm ở vành ngoài hướng chủ yếu phía nam và tây bắc. Ngoài ra ở phía đông và phía tây đồn còn có hào chống tăng và bộ binh, rộng từ 4-5m, sâu 2m, lòng hào thả dây thép gai không thành hệ thống. Địch cũng mới đào một giao thông hào viền quanh đồn, cách hàng rào phía trong từ 30-50m, hào rộng 0,8m-1m, sâu 1,2m.

Riêng khu vực điểm cao 463 có công sự trận địa, hầm trú ẩn bằng gỗ đất và bao cát. Xung quanh có hệ thống chiến hào. Địch chú trọng hướng tây và nam. Xen kẽ các hàng rào, bãi trống trước chiến hào nghi ta tiếp cận tiến công, gài nhiều mìn chống bộ binh và chống xe cơ giới.

Hàng ngày, địch tung các toán thám báo ra lùng sục xung quanh đồn, nhất là trên hướng tây và nam để thăm dò, phát hiện sự chuẩn bị tiến công của ta. Chúng bố trí nhiều chốt lẻ trên những hướng nghi ta tiếp cận, cách đồn từ 300-400m. Dọc hai bên đường 19 tây và xung quanh đồn, địch phát quang, đốt trụi, cây cối, mở rộng tầm quan sát từ 1500-2000m. Khi phát hiện lực lượng ta, chúng dùng pháo binh, máy bay đánh chặn từ xa, dùng xe tăng cơ động cùng các chốt lẻ ngăn chặn. Bị tiến công, địch dựa vào công sự vật cản, tập trung hỏa lực xe tăng ngăn chặn đẩy lùi ta, gọi pháo binh, máy bay, xe tăng, bộ binh cứu viện và chi viện. Có nguy cơ bị tiêu diệt, chúng cố thủ chờ viện binh đến để phản kích chiếm lại trận địa, lập tuyến ngăn chặn mới hoặc tháo chạy về tuyến sau.

Quá trình tác chiến, bọn địch ở Đồn 30 được máy bay, pháo binh, xe tăng, bộ binh từ các cứ điểm phía sau chi viện mạnh và nhanh như: lực lượng bộ binh, xe tăng ở làng Dịt, Đồn Tầm, xe tăng pháo binh ở Thanh Binh, trung đoàn 45 (thiếu tiểu đoàn 1), một tiểu đoàn bảo an và một chi đoàn xe tăng ở Thanh An – 710, máy bay từ các sân bay ở Gia Lai… Ngoài ra, địch cũng đã tập trung trung đoàn 21 xe tăng ở La Sơn, một chi đoàn xe tăng ở Mỹ Thạch và hai tiểu đoàn bảo an ở Phú Mỹ, Phú Nhơn; có thể cơ động theo đường 19 tây ứng cứu Đồn 30 trong vài giờ.

Tóm lại, quân địch phòng giữ khu Đồn 30 có công sự khá vững chắc, liên hoàn, quân số, hỏa lực bản thân và chi viện nhiều, chiếm giữ điểm cao 463 và các vị trí có lợi ở xung quanh đồn. Nhưng từ khi bị đánh bại ở Đức Cơ, Chư Bồ… lại sắp đèn ngày ngừng bắn, trong hàng ngũ địch xuất hiện ngày càng nhiều tư tưởng cầu an, chờ đợi, ngại phải nổ súng, hoang mang, dao động, sức chiến đấu giảm sút. Bị đánh mạnh, chúng dễ bỏ chạy về tuyến sau.

 

C.Tình hình ta

Trung đoàn bộ binh 48 do đồng chí Trần Ngọc Chung làm trung đoàn trưởng, có ba tiểu đoàn bộ binh (1, 2, 3) và các phân đội trực thuộc. Khi bước vào chiến đấu, trung đoàn chỉ có một tiểu đoàn bộ binh (tiểu đoàn 1) và các phân đội hỏa lực bảo đảm. Tiểu đoàn bộ binh 3 đi tăng cường cho trung đoàn 64 từ trước. Tiểu đoàn 2 và các đồng chí Nguyễn Hữu Ưng (trung đoàn phó), Lý Sĩ Điểm (phó chính ủy) đang làm nhiệm vụ cắt đường 14 (từ ngày 26 tháng 1).

Trung đoàn vừa đánh một số trận tương đối tốt, diệt tiểu đoàn 22 biệt động quân cuối tháng 12 năm 1972. Tiểu đoàn 1 vừa tham gia diệt tiểu đoàn 81 biệt động quân ở nam đường 19 tây, đạt hiệu suất chiến đấu cao, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí. Cán bộ và chiến sĩ được học tập quán triệt về tình hình nhiệm vụ mới, nên khí thế rất phấn khởi, có quyết tâm chiến đấu cao. Tháng 11 năm 1972, tiểu đoàn 1 đã tham gia đánh Đồn 30 nhưng không thành công, nên rút ra được kinh nghiệm đánh đồn, quen thuộc địa hình khu vực này.

Bên cạnh những thuận lợi khách quan và chủ quan, trung đoàn còn một số khó khăn: thời gian chuẩn bị rất gấp, vừa triển khai chiếm linh vừa nắm địch, và hoàn chỉnh quyết tâm chiến đấu. Trong khi đó quân số ít, cán bộ, hỏa lực phân tán trên các hướng cánh xa nhau, cả ba tiểu đoàn bộ binh làm nhiệm vụ ở ba nơi.

Để tăng thêm sức chiến đấu và tạo điều kiện cho trung đoàn 48 hoàn thành nhiệm vụ, sư đoàn trực tiếp giúp đỡ, tăng cường hỏa lực, phương tiện và vận tải cho đơn vị.

Cùng tham gia chiến đấu trong khu vực có tiểu đoàn 8 thuộc trung đoàn 64 và tiểu đoàn 3 đang lùng diệt tàn quân tiểu đoàn 23 VNCH ở bắc Phước Thiện – Cô Lon, đứng chân bảo vệ phía sau trung đoàn 48. Tiểu đoàn 12 địa phương cùng tiểu đoàn 2 đánh, thu hút địch trên đường 14. Tiểu đoàn 17 công binh chốt chặn, ở Đồi Tre (điểm cao 454) cùng một bộ phận tiểu đoàn 19 đặc công tổ chức đánh bộc phá và cắm cờ ở khu vực điểm cao 484, nhằm nghi binh thu hút và đánh địch nống ra, đồng thời chôn mìn, cắt đường 19 đoạn giữa Thanh Giáo và Đồn 30. Lực lượng pháo binh sư đoàn khống chế Thanh An và sẵn sàng đánh địch nống lấn cắm cờ ở Phước Thiện, Chư Bồ… Thắng Đức, Đồn Pi.

Nhân dân trong khu vực trung đoàn hoạt động tuy sống “hợp pháp”, nhưng giác ngộ cách mạng. Các bản đều có dân quân, nhưng sức chiến đấu còn yếu, chưa thể tham gia chiến đấu cùng bộ đội, chỉ có khả năng giúp đỡ vận chuyển và đưa đường.

Tóm lại, khi nhận nhiệm vụ đánh Đồn 30, trung đoàn bộ binh 48 có nhiều thuận lợi cơ bản, đánh địch trong thế trận chung, trên đà thắng lợi, được cấp trên giúp đỡ tăng cường lực lượng và hỏa lực. Cán bộ chiến sĩ có nhiều kinh nghiệm, quen thuộc địa hình và đối tượng tác chiến, có quyết tâm rất cao trước bước ngoặt lịch sử của cách mạng. Tuy còn một số khó khăn, nhưng trung đoàn có đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Pages: 1 2 3