Trận tập kích căn cứ Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ ở Đồng Dù của Đặc công Miền

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 2 năm 1969, bộ đội đặc công miền Đông Nam Bộ đã đánh thiệt hại nặng căn cứ lữ 2, bộ chỉ huy sư đoàn bộ Đọc thêm

Trận tiến công đổ bộ bãi biển Tà Lơn của Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ

Đêm 6 tháng 1 năm 1979, lữ đoàn 26 hải quân đánh bộ tham gia trận đổ bộ lên bãi biển Tà Lơn mở màn của chiến dịch giải phóng Campuchia trên Đọc thêm

Trận tiến công quận lỵ Lệ Thanh – Gia Lai của tiểu đoàn bộ binh 952 (B3)

Đêm 31 tháng 5 và ngày 1 tháng 6 năm 1965, tiểu đoàn bộ binh 952 (B3) đã bất ngờ tiến công tiêu diệt địch ở quận ly Lệ Thanh.   I. Đọc thêm

 

Trận tiến công Đồn 30 của Trung đoàn 48 – Sư đoàn 320

Danh don 30 - e48f320

 

II.TỔ CHỨC, CHUẨN BỊ CHIẾN ĐẤU

A. Chủ trương, ý định của Mặt trận Tây Nguyên và sư đoàn 320
Cuối tháng 1 năm 1973, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên giao nhiệm vụ cho sư đoàn 320: Bảo vệ giữ vững vùng giải phóng ở phía tây đường 19, nắm thời cơ phát triển tiến công về hướng đông và đưa một lực lượng thích hợp chiếm một đoạn trên đường 14, từ Phú Mỹ đi Mỹ Thạch trước ngày 28 tháng 1 năm 1973. Đồng thời củng cố trận địa, đánh bại các đợt nống ra lấn chiếm đất cắm cờ của địch trước và sau ngày ngừng bắn có hiệu lực.

Thực hiện nhiệm vụ trên, sư đoàn đã tiêu diệt tiểu đoàn 81 biệt động quân và tiểu đoàn 23 (thiếu) ở Đức Cơ, Chư Bồ, Thanh Giáo; buộc chúng phải co về giữ tuyến Đồn 30 trong thế hoang mang dao động. Tranh thủ thời cơ thuận lợi, sư đoàn chủ trương dùng trung đoàn bộ binh 48 (thiếu) nhanh chóng đánh chiếm Đồn 30 trước ngày ngừng bắn có hiệu lực, truy ép quân địch về phía đông, xây dựng tuyến ngăn chặn trực tiếp tiếp xúc với địch, tạo bàn đạp để đấu tranh buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri trên địa bàn phía tây Gia Lai.

 

B.Nhiệm vụ của trung đoàn bộ binh 48
Trung đoàn được tăng cường hải khẩu Đ74 (150 viên đạn), một khẩu cối 120mm (200 viên đạn), một bảng B72 (30 viên), hai khẩu 12,7mm, một phân đội đặc công của tiểu đoàn 19 (23 người), một phân đội của tiểu đoàn công binh 17 (12 người), có nhiệm vụ tiến công đánh chiếm Đồn 30 và lực lượng địch xung quanh đồn, sau đó chốt giữ khu vực đã chiếm, đánh bại các đợt phản kích của địch.

 

C.Công tác chuẩn bị
Ngày 25 tháng 1, cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn 1, các đại đội trưởng bộ binh và hỏa lực đi nghiên cứu địch và địa hình nhưng bị địch chốt chặn không vào nghiên cứu được. Sư đoàn tăng cường cho trung đoàn tiểu đoàn 19 đặc công và tiểu đoàn 17 công binh, vào thay thế tiểu đoàn 1 đang chốt ở điểm cao 454 lui về làm công tác chuẩn bị. Do thời gian rất gấp, trung đoàn vừa tổ chức nắm địch, hoàn chỉnh quyết tâm, vừa thực hành đưa bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa, vận chuyển đạn, thuốc nổ. Đêm 26 tháng 1, khi bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa thì cán bộ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung phương án.

D.Quyết tâm chiến đấu

1. Ý định chiến đấu:
a. Tư tưởng chỉ đạo: Bí mật, khẩn trương triển khai lực lượng hình thành thế tiến công, bao vây chia cắt địch, hỏa lực chuẩn bị mạnh, chính xác, tập trung, bất ngờ, hiệp đồng chặt chẽ, đột phá mạnh, dứt điểm nhanh, chốt vững chắc, vừa đánh quân bộ vừa đánh máy bay.

b.Hướng tiến công chủ yếu. Tây nam; hướng hỗ trợ: tây và đông; hướng nghi binh thu hút: bắc và tây bắc.

Mục tiêu tiến công chủ yếu là: Sở chỉ huy, trận địa pháo, chi đội xe tăng địch ở khu A3, A5 trong Đồn 30.

c.Cách đánh: Bí mật cơ động lực lượng vào chiếm lĩnh trận địa tiến công, tập trung hỏa lực bắn phá chuẩn bị vào sở chỉ huy, trận địa pháo và xe tăng địch; đồng thời dùng một phân đội bộ binh đánh chiếm điểm cao 463 làm bàn đạp, đưa hỏa lực lên khống chế đồn địch. Pháo dừng, bộ binh đồng loạt xung phong đánh chiếm Đồn 30, lực lượng đón lõng kịp thời truy kích vây chặt, diệt gọn quân địch. Sau đó tổ chức phòng ngự khu vực đã chiếm, sẵn sàng đánh bại quân địch phản kích. Súng máy phòng không tích cực đánh máy bay, bảo vệ đội hình trung đoàn trong suốt quá trình chiến đấu.

d.Tổ chức đội hình, sử dụng lực lượng: Toàn trung đoàn tổ chức thành năm bộ phận:

- Bộ phận tiến công đột phá: Một tiểu đoàn bộ binh (thiếu một đại đội).

- Bộ phận nghi binh thu hút gần: Một tổ công binh và trinh sát.

- Bộ phận ngăn chặn bảo vệ phía sau, nghi binh thu hút xa: Lực lượng của hai tiểu đoàn 19 và 17.

- Bộ phận đón lõng chặn viện: Một đại đội bộ binh.

- Bộ phận hỏa lực: Gồm hỏa lực cấp trên tăng cường và hỏa lực bản thân trung đoàn.

2.Nhiệm vụ của các phân đội:

a.Tiểu đoàn bộ binh 1 (trừ đại đội 2): Được tăng cường hai khẩu 12,7mm, trong quá trình chiến đấu được hỏa lực cấp trên chi viện, là lực lượng tiến công trên hướng chủ yếu của trung đoàn, có nhiệm vụ chiếm lĩnh trận địa ở tây nam điểm cao 463, tiến công tiêu diệt địch, làm chủ Đồn 30, sau đó tổ chức phòng ngự tại khu vực đã chiếm, sẵn sàng đánh bại các đợt phản kích của địch. Cụ thể: đêm 26 tháng 1 mở thông cửa hướng chủ yếu. Ngày 27 tháng 1, dùng một trung đội đánh chiếm điểm cao 463, đưa hỏa lực lên khống chế đồn địch. Tổ chức một mũi đột phá theo hướng tây nam đánh chiếm sở chỉ huy, trận địa pháo, phát triển đánh chiếm A5 và truy kích địch chạy về hướng đông. Đại đội 3 chiếm lĩnh phía nam điểm cao 463 khoảng 450m. Vị trí chỉ huy tiểu đoàn cách điểm cao 463 khoảng 700 m về phía tây nam.

b. Bộ phận nghi binh thu hút gần: Gồm một tổ công binh (4 đồng chí) và ba trinh sát, đem theo 20kg thuốc nổ TNT và ba lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam có nhiệm vụ chiếm lĩnh phía tây bắc Đồn 30 đêm 26 tháng 1, cắt được từ 1-2 hàng rào, ngày 27 tháng 1, dùng bộc phá phóng vào bắc Đồn 30, thu hút lừa địch. Sau đó tổ chức bắn tỉa thường xuyên và cắm cờ ở khu A6 (điểm cao 500m) phối hợp chặt chẽ với tiểu đoàn 1. Khi ta làm chủ đồn thì trở về đội hình trung đoàn.

c.Bộ phận ngăn chặn, nghi binh phía sau: Lực lượng gồm hai tiểu đoàn 19 đặc công và 17 công binh, đem theo 50kg TNT, sáu lá cờ có nhiệm vụ chốt ở đồi Tre (điểm cao 454) dùng một bộ phận cắm cờ và đánh bộc phá nghi binh ở điểm cao 484 chôn mìn đánh xe tăng ở đường 19 tây – đoạn giữa Thanh Giáo và Đồn 30, đồng thời sẵn sàng cơ động đánh địch ra ứng cứu.

d.Bộ phận đón lõng chặn viện: Do đại đội bộ binh 2 (tiểu đoàn 1) đảm nhiệm, bố trí ở đông nam làng Dịt vừa chặn diệt tàn binh từ Đồn 30 rút chạy, vừa chặn viện binh địch từ hướng đông xuống ứng cứu cho Đồn 30.

e.Hỏa lực trên tăng cường chi viện: Hai khẩu Đ74 bố trí trận địa từ trước, cách Đồn 30 khoảng 7-8km (bắc Chư Kron và Làng Tê), có 150 viên đạn, tổ chức một đài quan sát ở điểm cao 428, có nhiệm vụ bắn phá Đồn 30 (chủ yếu là khu chỉ huy và trận địa pháo ở A3) làm hai đợt, diệt sinh lực và hỏa lực địch, phá hủy công sự lô cốt, hỗ trợ cho bộ binh ta xung phong đánh chiếm toàn bộ đôn địch. Khẩu cối 120mm có 200 viên đạn, bố trí trận địa ở tây nam điểm cao 463, có nhiệm vụ chi viện trực tiếp cho bộ binh khi mở cửa và đột phá chiếm A3. Mục tiêu bắn là A3 và A5, tập trung vào sở chỉ huy, khu truyền tin, trận địa pháo địch, tổ chức bắn làm hai đợt.

B72 có 30 viên đạn, bố trí ở tây nam làng Dịt, có nhiệm vụ diệt xe tăng, lô cốt hỏa điểm địch, chi viện cho bộ binh. Cụ thể: Diệt bốn xe tăng và ba lô cốt xi măng ở Đồn 30. Diệt xe tăng ra phản kích hoặc tháo chạy, đồng thời sẵn sàng cơ động về hướng Đồn Tầm và làng Dịt.
f.Hỏa lực của trung đoàn: Gồm một khẩu ĐKZ 75mm, một khẩu cối 82mm và hai khẩu 12,7mm, bố trí trận địa ở tây nam làng Dịt. ĐKZ có nhiệm vụ diệt tăng, lô cốt, hỏa điểm địch. Cối 82mm bắn chuẩn bị vào điểm cao 463, Đồn 30 và chi viện bộ binh đánh địch phản kích hoặc tháo chạy. 12,7mm bắn máy bay bay thấp bảo vệ đội hình chiến đấu của trung đoàn.

3. Một số nội dung chính về hiệp đồng, bảo đảm:

a. Hiệp đồng:

+ Giai đoạn hành quân chiếm lĩnh trận địa: Ngày 26 tháng 1, các phân đội hành quân từ phía tây nam lên hướng đông bắn, vào chiếm lĩnh trận địa. Trong đêm 26 tháng 1, hỏa lực và bộ binh làm nhiệm vụ vây tuyến xa, phải chiếm lĩnh xong trận địa. Đại đội 1, 3 chiếm lĩnh ở tây nam điểm cao 463 và mở một số hàng rào. Đại đội 2 chiếm lĩnh đông nam làng Dịt. Hỏa lực hoàn thành chiếm lĩnh trận địa, lấy xong phần tử bắn, sẵn sàng nổ súng. Tiểu đoàn 17 công binh gài mìn trên đường 19 đoạn phía tây Đồn 30. Lực lượng vận tải tiếp tục chuyển số đạn cối, mìn ĐH30 về các trận địa theo kế hoạch. Cán bộ tiếp tục đi nghiên cứu bổ sung tiếp phương án.

+ Giai đoạn nổ súng: Đúng 2 giờ ngày 27 tháng 01, hướng tiến công chủ yếu tây nam nổ mìn ĐH30 và bộc phá mở cửa. Hướng nghi binh phía bắc cũng nổ bộc phá thu hút địch. 11 giờ, hỏa lực B72, ĐKZ, 12,7mm, cối 82mm bắn phá lô cốt và diệt xe tăng, bộ binh địch. Từ 14 giờ 30 đến 15 giờ, pháo Đ74 bắn thử 5-7 viên. Từ 15 giờ đến 15 giờ 30, cối 120mm, bắn thử năm viên và có phần tử bắn hiệu lực. Sau đó Đ74 và cối 120mm bắn phá hoại theo hai đợt: Đợt 1 từ 15 giờ đến 16 giờ Đ74 bắn 50 viên, từ 15 giờ 30 cối 120mm bắn 50 viên, đợt 2 từ 16 giờ đến 17 giờ 30, Đ74 bắn 90 viên, cối 120mm bắn 100 viên. Cách bắn: lúc đầu bắn phá hoại, 15 phút sau bắn dồn dập. Số đạn còn lại làm dự bị. Trong thời gian Đ74 và cối bắn phá, B72, ĐKZ và cối 82mm cùng tham gia bắn chuẩn bị, diệt xe tăng, lô cốt, hỏa điểm và bộ binh địch: B72 bắn 20 viên, ĐKZ bắn 20 viên, cối 82mm bắn 100 viên vào điểm cao 463. Các tiểu đoàn 19, 17 đánh bộc phá nghi binh ở điểm cao 484, lực lượng vây ép địch ở điểm cao 463 nắm chắc thời cơ, khi cối dừng bắn thì đồng loạt xung phong đánh chiếm trận địa địch. Hỏa lực tiểu đoàn 1 cơ động lên điểm cao, khống chế địch ở Đồn 30. Súng 12,7mm bắn máy bay bảo vệ đội hình chiến đấu của trung đoàn.

17 giờ 30, pháo dừng bắn, bộ binh mở nốt các hàng rào còn lại, đại đội 1 và 3 đồng loạt xung phong đánh chiếm các mục tiêu sở chỉ huy, trận địa pháo. Cối 120mm, 82mm bắn về phía đông đồn (A6), B72, ĐKZ diệt xe tăng địch phản kích. Đại đội 2 tiêu diệt tàn binh địch tháo chạy và chặn viện.

+ Giai đoạn kết thúc trận đánh: Một trung đội của đại đội 3 chốt giữ đồn, giải quyết chính sách, lực lượng còn lại cùng đại đội 1, hỏa lực cơ động lên hướng Đồn Tầm đánh địch tháo chạy và phản kích. Sau đó các phân đội củng cố trận địa phòng ngự trực tiếp tiếp xúc với địch, giải quyết chính sách, sắn sàng đánh bại các đợt phản kích và đánh máy bay địch.

b. Dự kiến một số tình huống và cách xử trí.

+ Tình huống 1: Địch nống ra phía tây, trước khi ta vào tiếp cận thì các tiểu đoàn 1, 19, 17 phải tổ chức diệt ngay, đồng thời nắm vững thời cơ chuyển sang vây ép gần, sau đó đánh chiếm điểm cao 463 làm bàn đạp.

+ Tình huống 2: Địch trong đồn ngoan cố chống cự, trung đoàn sẽ tổ chức bao vây đột phá từng bước, dùng hỏa lực đánh phá mạnh, nắm thời cơ xung phong đánh chiếm toàn bộ đồn địch.

+Tình huống 3: Khi hỏa lực ta bắn chuẩn bị mạnh, địch tháo chạy, phải nhanh chóng đánh chiếm đồn truy kích kịp thời, tùy tình hình cụ thể để tổ chức mở cửa hay đột phá thẳng theo đường 19 vào cổng đồn và truy kích địch.

c.Bảo đảm:
+ Nắm địch: Trung đoàn tổ chức hai đài quan sát kết hợp bộ pháo ở điểm cao 428 và 489, đồng thời tăng cường trinh sát cho tiểu đoàn. Riêng tiểu đoàn đặt một đài quan sát ở nam điểm cao 463 và Đồn 30.

Đại đội 2 và bộ phận hỏa lực theo dõi địch hướng Đồn Tầm, làng Dịt, cầu Ia Púc.

Trong đêm 26 tháng 1, khi các phân đội vào chiếm lĩnh, thì cán bộ tiếp tục nghiên cứu nắm địch, địa hình; hoàn chỉnh phương án chiến đấu.

+ Thông tin liên lạc: Sử dụng tất cả các phương tiện hiện có: Vô tuyến điện, hữu tuyến điện, tín hiệu, chạy chân. Vô tuyến và hữu tuyến điện từ trung đoàn đến các tiểu đoàn 1, 19, 17, trận địa pháo Đ74, cối 120mm, B72, cụm hỏa lực trung đoàn và các đài quan sát. Riêng đại đội 2 và các bộ phận nghi binh phía bắc chỉ dùng vô tuyến điện. Khi nổ súng mới dùng vô tuyến để liên lạc.

+ Đường cơ động, mở cửa và công sự: Các phân đội phát đường đi, tránh hướng trống trải, bộ đội đem xẻng, võng, súng, ba lô.
Đại đội bộ binh 1 và một trung đội của đại đội 3 (18 người) trang bị hai B41, ba B40, hai mìn ĐH30, 10 bộc phá ống, 5kg TNT, bảy mìn ĐH7, một thang ván dài 6m do đồng chí Xa tiểu đoàn phó chỉ huy, mở cửa trên hướng chủ yếu. Vật chất dự trữ có hai mìn ĐH30.

+ Hậu cần: Đạn cối 120mm có 200 viên, do vận tải trung đoàn chuyển đến trận địa. Đạn B72 có 30 viên; cối 82mm có 100 viên/khẩu; 12,7mm có 800 viên/khẩu; B40, B41 có sáu viên/khẩu, cối 60mm có 60 viên/khẩu. Mìn ĐH30 có bốn quả, ĐH7 có 15 quả, mìn chống tăng 20 quả, một thang ván dài 6m chuẩn bị cắn để vượt hào chống tăng. Gạo đủ ăn trong một tuần, một trạm phẫu ở phía tây nam, các đại đội đêu có y tá cáng thương, chiến sĩ có túi bông băng cá nhân.

4. Vi trí chỉ huy và thời gian:
Sở chỉ huy trung đoàn ở tây nam điểm cao 463, gần vị trí chỉ huy tiểu đoàn 1. Thời gian làm việc từ ngày 26 tháng 1 năm 1973.

Ngày 25 tháng 1 làm công tác chuẩn bị.

Đêm 26 tháng 1 hoàn thành chiếm lĩnh, mở cửa và nổ bộc phá nghi binh.

Ngày 27 tháng 1: Từ 11 giờ trở đi, hỏa lực diệt xe tăng, lô cốt. Từ 14 giờ đến 15 giờ, hỏa lực tăng cường bắn thớ và từ 15 giờ đến 17 giờ 30 bắn phá hoại, 17 giờ 30 mở cửa xong, bộ binh xung phong đánh chiếm mục tiêu.

Pages: 1 2 3