Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:27:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ - L.Johnson và Việt Nam  (Đọc 108136 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #60 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2009, 05:41:29 pm »

Ý nghĩ về một Điện Biên Phủ xảy ra cho Hoa Kỳ tiếp theo cuộc tấn công Tết Mậu Thân cũng đủ để làm cho chính quyền phải hết sức dao động. Như lời Tướng Gingburgh đã nhắc lại: “Tổng thống rất lo ngại về Khe Sanh. Bắt đầu từ cuối tháng 12, Rostow đã cho ông biết rằng căn cứ vào các tài liệu tịch thu được thì địch có ý định diễn lại một Điện Biên Phủ khác. Tổng thống đã nêu lên vấn đề hiện có nên cố thủ Khe Sanh hay không. Ông tỏ ý muốn biết Đại tướng Westmorelend và Đại tướng Wheeler nghĩ như thế nào về ý kiến của ông. Westmoreiand cho biết là ông đề nghị nên bảo vệ Khe Sanh và Hội đồng tham mưu trưởng liên quân cũng theo quan điểm của ông” (29).

Trong một phiên họp tại Nhà Trắng ngày 29-1, Đại tướng Wheeler, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân đã trình lên Tổng thống theo lời yêu cầu của ông một bản văn trình bày rằng Hội đồng tham mưu trưởng liên quân ủng hộ quan điểm của Westmoreland tin tưởng rằng có thể giữ được Khe Sanh (30).

Nhưng mối lo ngại của Tổng thống vẫn không giảm bớt được dù có bản văn trình bày chưa từng có này của các cố vấn quân sự của ông. Thật ra nỗi lo ngại này lại còn tăng thêm do vị cố vấn quân sự khác của ông là Đại tướng Maxwell D.Taylor. Từ ngày từ chức Đại sứ tại Việt Nam. Taylor đã phục vụ tại Nhà Trắng với tư cách là một cố vấn đặc biệt. Ngày 30-1 ông đã đến thăm bộ chỉ huy Cục tình báo trung ương để nghiên cứu kỹ lưỡng bản đồ tình hình địch tăng cường bao vây Khe Sanh và đã bắt đầu lo ngại về tình thế nguy hiểm của các lực lượng Hoa Kỳ.

Ông đã bày tỏ mối lo âu của ông với Tổng thống và với Rostow: "Tôi rất ngại là địch sẽ lợi dụng được thời tiết xấu. Tôi lo rằng sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp tế cho các lực lượng và việc đưa viện binh và lương thực vào bằng máy bay lên thẳng khi gặp hỏa lực pháo binh mà ta có thể tin rằng sẽ gặp phải với những dàn súng nặng mà địch đã bố trí sắn. Tôi thiết nghĩ không chắc gì các đại bác 175mm đặt ở phía đông sẽ có hiệu quả trong việc yểm trợ quân đóng tại Khe Sanh và tôi sợ rằng pháo binh lính thủy đánh bộ cũng sẽ không được liên tục tiếp tế đầy đủ đạn dược cần thiết để phát huy trọn vẹn khả năng của họ" (31).

Rostow và Tổng thống cũng băn khoăn không kém Taylor và sự kiện này đã được chuyển đến Đại tướng Westmoreland ngày 1-2, đặt giả thuyết thời tiết xấu sẽ bao trùm vùng Khe Sanh và khu phi quân sự và địch phát động cuộc tấn công như đã dự kiến thì ông sẽ làm cách nào để có thể tiếp viện cho quân đồn trú tại Khe Sanh" (32).

Westmoreland đã chỉ thị cho bộ tham mưu của ông hôm 27-1 phải có một cuộc nghiên cứu toàn bộ trên phương diện quân sự về trận Điện Biên Phủ và đưa ra một sự so sánh với Khe Sanh để có thể dự liệu có đủ mọi cách để đối phó (33).

Tin tưởng rằng mình có đủ khả năng đánh bại quân địch. Ông liền cố gắng trấn an Tổng thống. Như Westmoreland đã nêu ra trước hết ông nắm được sức mạnh về không quân cả chiến thuật lẫn của B.52 mạnh gấp bội hồi ở Điện Biên Phủ. Hơn nữa ông đã tăng cường pháo binh và cải tiến rất nhiều các kỹ thuật tiếp tế đường không bằng máy bay lên thẳng nếu cần. Westmoreland đã tuyên bố: "Chỉ khả năng tăng viện hỏa lực này không thôi có lẽ cũng đã có thể thay đổi chiều hướng của trận đánh tại Điện Biên Phủ rồi” (34).

Nhưng tổng thống cũng chưa được yên tâm. Đại tướng Wheeler đã thuật lại cho Westmoreland việc Tổng thống lo ngại tình hình có thể là rất trầm trọng đến mức ông sẽ phải cân nhắc quyết định có nên dùng đến các vũ khí hạt nhân chiến thuật đã cứu vãn tình hình hay không, một quyết định mà ông không muốn lâm vào thế không tránh khỏi (35).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #61 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2009, 05:42:24 pm »

Lời phúc đáp của Westmoreland cũng đã không đủ sức làm cho vững lòng. Có lẽ không nên đòi hỏi phải sử dụng đến các vũ khí hạt nhân chiến thuật trong tình hình hiện nay. Đại tướng Westmoreland đã trả lời như vậy bởi vì ông đã được phép sử dụng loại đạn pháo đặc biệt với khả năng sát thương cao. Tuy nhiên, liệu tình hình ở vùng phi quân sự sẽ có gì thay đổi quan trọng không? “Chúng ta nên chuẩn bị đưa vào loại vũ khí có hiệu quả sát thương cao chống tấn công biển người. Trong tình hình hiện đại, tôi nghĩ rằng cả vũ khí hạt nhân lẫn vũ khí hóa học thực sự có thể sử dụng hữu hiệu được" (36).

"Bởi vì địch có nhiều sư đoàn chưa tham chiến còn ở miền Bắc, tôi có linh cảm địch có khả năng tấn công qua vùng phi quân sự bằng biển người. Đó là trường hợp nguy hại nhất có thể xảy ra" (37). Đại tướng Westmoreland sau đó lưu ý như vậy.

Khe Sanh là đề tài thảo luận trong bữa ăn trưa kéo dài tại Nhà Trắng ngày 3-2, vẫn còn có lo âu về lực lượng Mỹ có thể bắt buộc phải rút khỏi Khe Sanh do đó sẽ tạo cho địch thắng lợi lớn lao về tâm lý cả ở Hoa Kỳ lẫn ở Việt Nam. Người ta cũng đã thảo luận những đường lối hành động khác để giải tỏa áp lực địch tại Khe Sanh.

Một đề nghị được đưa ra là mở cuộc hành quân hiệp đồng thủy bộ để đánh lạc hướng. Ở phía Bắc Khu phi quân sự nhằm cắt đứt đường tiếp tế của địch (38). Các đề nghị khác gồm có việc mở cuộc tấn công vào vùng phía đông khu phi quân sự, tiến quân qua khu phi quân sự để bắt tay với lực lượng giải vây cho quân đồn trú tại Khe Sanh. Nhưng hội nghị đã đi đến kết luận là lúc đó không có cách gì để đánh lạc hướng địch, hầu tạo được ảnh hưởng đến trận chiến đấu xảy ra trong tương lai trước mắt.

Đại tướng Taylor tóm tắt tâm trạng những người dự hội nghị như sau: “Không khí buồn nản bao trùm hội nghị, khi những người tham dự xét đến tính chất trầm trọng của tình hình và sự thiếu bảo đảm về khả năng của chúng ta giữ được Khe Sanh mà không bị tổn thất nặng. Trong khi không ai đề cập đến vấn đề là đáng lý ra chúng ta không nên đóng quân ở đó (Khe Sanh) nhưng thật hiển nhiên là trong thâm tâm đa số chúng tôi đều mong rằng chúng ta chẳng nên ở đó. Tuy nhiên không ai trong chúng tôi đề nghị rút lui cả vì rõ ràng sự thể đã như vậy rồi và chúng ta chỉ còn cách là phải chiến đấu theo đường hướng đó mà thôi. Tôi gắng gượng trình bày rằng Khe Sanh chỉ là một tiền đồn và chẳng ai lại muốn nghĩ rằng tiền đồn này sẽ là một Verdun. Thực ra, những người dự hội nghị đều nhìn nhận rằng chính chúng ta đã làm rùm beng quan trọng hóa vụ Khe Sanh trong đầu óc dân chúng Mỹ và thật rất khó mà giải thích cho họ hoặc bất cứ ai khác rằng Khe Sanh chỉ là một tiền đồn nhỏ và kết quả của trận chiến tại đó thực chẳng có gì là quan trọng" (39).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #62 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2009, 05:45:19 pm »

CHÚ THÍCH CỦA CHƯƠNG BỐN

(1) Văn kiện MAC 01438 của Đại tướng Westmoreland gửi Đô đốc Sharp ngày 301235 Z tháng 5-1965: Command History 1968 (Lịch sử Bộ tư lệnh 1968) trang 376, 386, 390, 397, 884, 890, 894, 895, 902.

(2) Bị vong lục của Cơ quan tình báo trung ương "Những đơn vị Cộng sản tham dự các trận đánh trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân từ 30-1 đến 13-2-1968" đề ngày 21-2-1968 trang 3-4. Lúc đầu có vài sự sai lầm về số lượng các tỉnh lị và quận lị thật sự bị tấn công. Tài liệu Command History (Lịch sử Bộ Tư lệnh) trang 123 liệt kê 27 tỉnh lị và 58 quận. Trong Vanlage Point (Vị trí ưu thế) trang 382. Tổng thống Johnson liệt kê có 36 tỉnh lị và khoảng 1/4 trong số 242 (đúng nguyên văn) quận lị".

(3) Điện văn CÔMUSMACV tháng 1-1968.

(4) Command History 1968 (Lịch sử Bộ tư lệnh 1968) trang 129-131.

Muốn biết thêm các chi tiết khác của cuộc giao tranh xem trang 376-400, 883-904;

Muốn biết về luận thuyết của Nam Việt Nam thì xem Phạm Văn Sơn: Việt cộng Tết offensive (Trận tấn công Tết Mậu Thân):

Về các chi tiết trận đánh Huế, xem Oberdorfer: Tet, trang 198-235. Xem cả Douglas Pike: The Viet Cong Strategy of Terror (Chiến lược khủng bố của Việt Cộng) trang 41-64; Stephen P.Hosmer: Vietcong Repression and Its Implications in the future (Sự trấn áp của Việt Cộng và các hệ quả của nó đối với tương lai) trang 45-51; Tướng ba sao Pearsen: "Vietnam Studies: The War in the Northern Provinces 1966-1968 (Nghiên cứu chiến tranh Việt Nam: Chiến sự tại các tỉnh phía Bắc 1966-1968) trang 29-72:

Về chi tiết chiến sự tại Sài Gòn, Huế, Đà Lạt xem Palmer: Quan điểm của một quân nhân về Việt Nam, trang 270-273; cả của Denis Warmer: Việc bảo vệ Sài Gòn: Cuộc chiến đấu tại.vùng đồng bằng Sông Cửu Long đã được đề cập trong Harvey Mayersen: Vinh Long. trang 128-199; Tướng hai sao William B.Fulton: Việt Nam Studies: River arm - Operations 1966-1967 (Nghiên cứu chiến trường Việt Nam: Hoạt động giang lực 1966-l969) trang 148-155.

Về luận thuyết của Bắc Việt Nam xem South Viet Nam: A Month of Unprecidented Attacking and Uprising (Nam Việt Nam : một tháng tấn công và nổi dậy chưa từng có) và “Các quang cảnh tổng tấn công và tổng nổi dậy".

(5) Trung tá Dave R.Palmes: Readings in Current Military History (Những bài trong lịch sử quân sự hiện thời) trang 103. Xem cả Warner "Hơn và Thiệt hại ở Sài Gòn" trang 23-24.

(6) Trực tiếp phỏng vấn Đại tướng William C Westmoreland ngày 23-10-1972. Xem thêm Westmoreland; Report on the war in Vietnam (Phúc trình về chiến tranh tại Việt Nam) trang 157.

(7) Intelligence warning of the Tet Offensive in South Việt Nam April 11-1968 (Triệu chứng tình báo của cuộc tấn công Tết Mậu Thân lại Nam Việt Nam 11-4-1968) trang 3-5, giải mật ngày 3-12-1975 cho ủy ban đặc biệt về tình báo của Hạ nghị viện. Xem cả của Taylor: Swords and Plowshares (Thanh kiếm và lưỡi cày) trang 383.

Muốn biết về chuyện cuộc tấn công không được biết trước tại vùng IV chiến thuật hãy xem Meyerson: Vĩnh Long trang 103-l04 và Danald Kirl "Đại tá Mỹ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long phủ nhận được lời cảnh báo về các cuộc đột kích". Tại vùng III chiến thuật thì lại được biết trước về vụ đột kích nên đã có quân bố trí xung quanh Sài Gòn để đối phó. Trực tiếp phỏng vấn Đại tướng Fred C.Weyand ngày 27-12-1973. Nên xem luôn Command History 1968 (Lịch sử bộ tư lệnh 1968) trang 894-895; Westmoreland: Report on the War in Vietnam (Phúc trình về chiến tranh tại Việt Nam) trang 157; Rostow: Diffusion of Power (Sự chia sẻ quyền lực) trang 464.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #63 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2009, 05:45:27 pm »

(Cool Muốn biết các ý kiến của Đại tướng Abrams về phản ứng bất lợi có thể có của báo chí đối với việc loan báo việc địch tăng cường quân số hãy xem văn kiện MAC 7840 ngày 20 0251 Z tháng 6-1967. Xem cả của Westmoreland: A soldier's Reports (Tường trình của một quân nhân), trang 416; Lon Cannon: “người ta nói rằng các dữ kiện năm 1967 về địch đã bị che giấu”. Lời tuyên bố của Samuel A.Adams trước ủy ban đặc biệt về tình báo của hạ nghị viện; Georges Larmer Sen. “Vụ bất ngờ Tết 1968 bị quy trách cho dữ kiện sai lầm", Johnson M.Crowdson: ‘Có trường hợp tin tức sai lầm về quân số địch tạt Việt Nam"; David S.Zroden "Ford yêu cầu có một quan niệm tương ứng về vụ Tết"; Norman Keepster "Cựu trợ lý cơ quan tình báo Trung ương tranh luận về các lời chỉ trích vụ tấn công Tết Mậu Thân"; Jack Anderson và Las Whitten “thao túng của các con số trong vụ tấn công Mậu Thân". Hệ thống truyền hình Columbia “Face The Nation September 21. 1975; Guest James R. Schlesinger" (Trả lời quốc dân, ngày 21-9-1975 khách thuyết trình James R.Schlesinger" trang 1); lời tuyên bố của tướng ba sao Saniel O Graham, Cục trưởng Cục Tình báo quốc phòng trước ủy ban đặc biệt về tình báo của Hạ nghị viện; lời tuyên bố của William E.Colby, Chủ nhiệm cơ quan tình báo trung ương trước Ủy ban đặc biệt về tình báo của hạ nghị viện; Don Oberdorler "Vì tình báo mà mất thắng lợi trong vụ đánh Tết".

(9) Văn kiện 01592 của Đại tướng Weslmoreland gửi Đại tướng Wheeler ngày 031512 Z tháng 2-1-1968. Xem cả tài liệu lình báo của CIA ngày 21-2-1968 trang 3-4; Command History 1968 (Lịch sử Bộ tư lệnh 1968) trang 70-72.

(10) Văn kiện Sài Gòn 17326 tòa đại sứ Hoa Kỳ Sài Gòn gửi Bộ trưởng Ngoại giao ngày 041108 Z tháng 2-1968. Đề tài Zhiray Seventh Weekly Message (Bức tin hàng tuần thứ 7). Muốn có một sự nhận định về Bắc Việt Nam, xin xem Oriana Rallasi “Tư lệnh Bắc Việt Nam nhìn nhận đã thiệt hại 500.000 quân, nguyện sẽ chiến thắng". Xem cả Command History 1968 (Lịch sử Bộ tư lệnh l968) trang 281; Pi ke: War, peace and the Vietcong (Chiến tranh, Hòa Bình và Việt Cộng) tr 127.

(11) Văn kiện Saigon 17908 tòa đại sứ Hoa Kỳ Sài Gòn gửi Bộ trưởng ngoại giao ngày 040905 Z tháng 2-1968, đề tài Motives behind Current VC/NVA Offensive (Động cơ đứng đàng sau các cuộc tấn công của quân đội VC/Bắc Việt Nam): trong bản văn này Đại sứ Bunker đã trích dẫn Đài phát thanh Giải phóng (EB 0649) và của các bài báo của Joseph Cabames thông tín viên Hãng Thông tấn France Press ở Hà Nội. Xem văn kiện Sài Gòn 21321 của Đại sứ Bunker gửi Tổng thống ngày 6-3-1968. Đề tài Second Weekly Message (Bức tin hàng tuần thứ 2). Pi ke: War, Peace and the Vietcong (Chiến tranh, Hòa bình và Việt Cộng) trang 129-130 C'neill, The Strategy of General Giáp (Chiến lược của Đại tướng Giáp) trang 17.

(12) Văn kiện 01614 ngày 040959 Z tháng 2-1968 của Đại tướng Westmoreland gửi Đại tướng Wheeler; xin xem cả của Tom Buckley “người ta cho rằng cuộc tấn công đã làm lộ quân số của địch"; Murray Marder "Các chuyên gia Hoa Kỳ nhìn nhận VC có thắng lợi?"; Newbold Noyes "Cuộc tấn công làm cho nhân dân Hoa Kỳ và Nam Việt Nam phải suy nghĩ". Stanley Karnow: "Việt Cộng khoe đã giáng cho đồng minh một đòn đích đáng". Everett G.Martin "Hậu quả tai hại đối với dân chúng".

(13) Trực tiếp phỏng vấn tướng ba sao Robert N.Gingburgh ngày 25-8-1975. Xem cả của Harry Kelly "Tiết lộ có một sự chậm trễ 8 ngày trong một vụ theo dõi điệp viên Việt Cộng của quân đội".

(14) Public Papers of Lyndon Johnson 1978-1969 (Tài liệu công quyền của L.Johnson) I trang 25: Johnson: The Vantage Point (Vị trí ưu thế) trang 372-381; Albert H.Cantril: The American People, Việt Nam and the Presidency (Nhân dân Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam và hoạt động của tổng thống) trang 5.

(15) Oberdorfer: Tet. trang 159-161, 163-171; Taylor: Swords and Plowshares (Thanh kiếm và lưỡi cày) trang 384-385.

(16) Hoa Kỳ ném bom một thành phố Việt Nam để "cứu thành phố này"; Bernard Weinraub: "Những người còn sống sót đi tìm những người chết ở Bến Tre đã bị biến thành đống gạch vụn vì các cuộc oanh kích của Đồng Minh"; Oberdorfer: Tet. trang 184-185.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #64 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2009, 05:45:52 pm »

(17) Trực tiếp phỏng vấn Harry Mc Phersen Jr ngày 21-12-1972. Xem cả của Tom Wieker "Cuộc tấn công của Việt cộng làm chấn động Washington"; Hugh, Sidey "Những giả thuyết bị lung lay về chiến tranh"; Hurray Marder và Shalmers S.Roberts "Cuộc tấn công của Cộng sản đã đưa Hoa Kỳ vào mê hồn trận".

(18) Văn kiện JCS 8691 ngày 311401 Z tháng 1-1968 của Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân gửi cho Tư lệnh viện trợ quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam.

(19) Văn kiện CAP 80383 ngày 31215 Z tháng 1-1968 của Georges, Đại sứ Bunker và Đại tướng Westmoreland.

(20) Nói với Đại sứ Bunker và Đại tướng Westmoreland ngày 5-2-1968.

(21) Cuộc họp báo của Đại tướng William C. Westmoreland tại cơ quan Giao tế liên vụ Hoa Kỳ tại Sài Gòn ngày 1-2-1965.

(22) Public Papers of Lyndon Johnson 1968-69 (Tài liệu công quyền của L.Johnson 1968-69) I trang 155-163.

(23) Johnson: The Vantage Point (Vị trí ưu thế) trang 385. Chalmer M.Roberts "First Rough Drart: A Journalist Journal of our Times" (Sơ thảo đầu tiên: Nhật ký của một nhà báo thời đại chúng ta) trang 261-262. Oberdorter: Tet. trang 170, 360-367.

(24) Văn kiện MAC 01448 ngày 310918 Z tháng 1-1968 của Tướng Westmoreland gửi Tướng Wheeler.

(25) Văn kiện MAC 0152 ngày 031512 Z tháng 2-1968 của đại tướng Westmoreland gửi Đại tướng Wheeler.

(26) Trực tiếp phỏng vấn Đại tướng William C Westmoreland ngày l6-9-1973.

(27) Command History 1968 (Lịch sử Bộ tư lệnh 1968) trang 883; Shore: "The Battle for Khe Sanh (Trận đánh Khe Sanh) trang 54; Heepes: The Limits of Intervention (Các giới hạn của sự can thiệp) trang 144; Xem cả của Lee Lescaze "Khe Sanh: một ám ảnh cho Hoa Kỳ"; Joseph Kralt "Khe Sanh cho thấy địch quân ở Việt Nam biết áp dụng chiến lược"; Tom Buchley "Các tướng cân nhắc về các mục tiêu của địch tại Dakto". Trong bài báo của ông. Buckley đã viện dẫn Tướng ba sao Wilham B.Rosson như sau: "Họ đã khó thành công trong việc dụ chúng ta rút bớt lực lượng vùng bờ biển, nếu quả đấy là ý định của họ". Xem cả của tướng Giáp: Big victory. Great Task (Chiến thắng to, nhiệm vụ lớn) trang 60-70.

(28) Sennard C.Nally: Air Power and the Fight for Khe Sanh (Sức mạnh không quân và cuộc chiến đấu giành Khe Sanh) trang 10; Oberdorfer: Tet - trang 110-111; Shore: Thc Battle for Khe Sanh (Trận Khe Sanh) trang 71; O'neill: Thc Strategy of General Giáp (Chiến lược của Đại tướng Giáp) trang 15-16.

(29) Trực tiếp phỏng vấn Tướng hai sao Robert H.Gingburgh ngày 25-8-1975

(30) Trực tiếp phỏng vấn Đại tướng Maxwell D.Taylor ngày 21-12-1972. Xem luôn bản văn JOS 01316 ngày 041642 Z tháng 2-1968 của Đại tướng Wheller gửi Đại tướng Westmoreland: “Hội đồng tham mưu trưởng liên quân tán thành việc bảo vệ Khe Sanh".

(31) Trực tiếp phỏng vấn Đại tướng Maxwell B.Taylor ngày 12-1972.

(32) Văn kiện JOS 01147 ngày 010391 Z tháng 2-1968 của Đại tướng Wheeler gửi Đại tướng Westmoreland, đề tài Khe Sanh.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #65 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2009, 05:46:01 pm »

(33) Command Historv 1968 (Lịch sử Bộ tư lệnh 1968). Bản phúc trình cuối cùng đã được công bố ngày 10-3-1968 và đã được phổ biến rộng rãi. Một phần của bản phúc trình đã được trích dẫn trong tài liệu Rostow: "Diffusion of Power" trang 694-696. Xem luôn của Westmoreland: A Soldier's Report. (Tường trình của một quân nhân) trang 337-338 và của Shore “the Battle for Khe Sanh" (Trận đánh Khe Sanh) trang 145-146.

Muốn có các lời tường thuật xác đáng về trận Điện Biên Phủ, hãy đọc của Jules Roy: La Bataille de Điện Biên Phủ (trận Điện Biên Phủ); Bernard B.Pall “Hell in very small place: The siege of Điện Biên Phủ" (Địa ngục tại một trận địa nhỏ: Điện Biên Phủ bị bao vây); Paul Grauwin: Doctor at Dienbienphu (Bác sĩ tại Điện Biên Phủ), muốn biết luận cứ của Bắc Việt Nam hãy đọc "Chiến tranh nhân dân - Quân đội nhân dân" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

(34) Bản văn NAC 01586 ngày 0312254 Z tháng 2-1960 của Đại tướng Westmoreland gửi Đại tướng Wheeler, đề tài Khe Sanh.

Muốn biết về phản ứng của báo chí đối với tình hình Khe Sanh đọc bài của Roland Evans và Robert Novak, nhan đề “Những người làm chính sách và tướng lĩnh lo lắng về địch tập trung đông quân tại Khe Sanh"; Ward Just "Khe Sanh giữ vững tuyến cuối”; Orr Kelly “4 sư đoàn đe dọa vị trí do lính thủy đánh bộ đóng giữ"; Joseph C.Gouiden "Đột kích và rút nhanh của địch rất khó chống trả". William Mc Gatfin "Giao tranh tại Khe Sanh sắp có thể diễn ra nhưng không có viễn ảnh thành một Điện Biên Phủ, đó là quan điểm của Lầu Năm góc"; Bernard Weinraub "56 lính thủy đánh bộ chết trong nhưng trận giao chiến tại khu phía Bắc sôi động"; Edward Mortimer "Cựu chiến binh Điện Biên Phủ nhận định về Khe Sanh"; Peter Braestrup; "Khe Sanh chờ đợi và dò dẫm về chiến lược"; Orr Kelly "Hoa Kỳ có thể đạt được gì ở Khe Sanh?"; Neil Sheehan: "Khe Sanh, tại sao Hoa Kỳ đang cầm cự ở đấy"; Beverly Deepe: "Khe Sanh di sản của Đại tướng Westmoreland".

(35) Văn kiện Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân số 01272, số 030332, tháng 2-1968. gởi Đại tướng Westmoreland, đề tài: Khe Sanh.

(36) Văn kiện của Bộ tư lệnh yểm trợ quân sự Hoa Kỳ số 01386. Trong thời gian này có nhiều bàn luận trên báo chí về khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân để giữ Khe Sanh tránh bị quân địch tràn ngập. Xem Marquis W.Chiles "Tin đồn bom nguyên tử dự trữ tại Việt Nam"; Ceerges G.Wilson: “Theo Hoa Kỳ, không có yêu cầu sử dụng vũ khí nguyên tử tại Việt Nam"; Redrick Smith “Wilson lưu ý thận trọng về việc sử dụng vũ khí nguyên tử trong chiến tranh". "Mc Carthy ghi rằng, đã có thể nghiên cứu sử dụng bom nguyên tử tại Việt Nam"; John "Điện thoại không rõ xuất xứ mở màn cho những tin đồn về vũ khí hạt nhân cần sử dụng tại Việt Nam"; John "Wheeler không tin Khe Sanh cần đến vũ khí nguyên tử". Tổng thống Johnson cố gắng chấm dứt sự bàn luận, thoạt tiên, ông cho tùy viên báo chí loan báo ngày 9 tháng 2 rằng Tổng thống chưa nhận được đề nghị sử dụng vũ khí hạt nhân tại Việt Nam và trong cuộc họp báo ngày 16 tháng 2, Tổng thống Johnson tuyên bố "Không có khuyến cáo nào gởi tới tôi cả. Ngoài ra chúng ta cần phải chấm dứt thảo luận vấn đề này". Tài liệu công quyền của Lynson Johnson, 1968-1969. 1 trang 234. Mặc dầu Tổng thống đã tuyên bố như vậy, sự bàn luận vẫn chưa chấm dứt ngay. Xem Johnson Lederberg. “Vũ khí nguyên tử phải được hạn chế nếu sử dụng tại Nam Việt Nam"; James Cahill “Scott chống đối sử dụng vũ khí nguyên tử trong chiến tranh Việt Nam"; Murruy Maroer "Sử dụng vũ khí nguyên tử tại Việt Nam bị ngăn chặn vì hiệp ước".

(37) Trực tiếp phỏng vấn Tướng Westmoreland ngày 16 tháng 9-1973, cũng như xem Westmoreland "Phúc trình của một quân nhân". trang 338.

(38) Quan niệm hành quân hợp đồng thủy bộ nghi binh ở Bắc khu phi quân sự do Đại tướng Westmoreland đề nghị ngày 24-7-68. Mục tiêu chính nhằm buộc địch rút về thế phòng thủ do giảm được áp lực tại Khe Sanh và khu phía bắc vùng 1 chiến thuật. Kế hoạch được Hội đồng tham mưu trưởng liên quân chấp nhận với những hạn chế chính xác. "Kế hoạch mang tên Pacific Grove" (Khu rừng Thái Bình Dương) giữ mật và có thể thực hiện trong tương lai. Command History (Lịch sử Bộ Tư lệnh) 1962, trang 781-782.

(39) Trực tiếp phỏng vấn Đại tướng Maxwell B.Taylor ngày 28-7-1972. có cùng quan điểm với tướng Taylor, xem Denis Warner “Khe Sanh và Điện Biên Phủ” trang 18 và Denis Warner "Báo cáo từ Khe Sanh"; Max Frankel “Hoa Kỳ chuẩn bị tại Khe Sanh để tránh một Điện Biên Phủ”.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #66 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 09:19:55 am »

CHƯƠNG NĂM
TĂNG QUÂN KHẨN CẤP

Phản ứng quân sự đầu tiên của Washington sau cuộc tấn công vào dịp Tết đã chủ yếu nhằm vào việc tăng cường những phương tiện cho cuộc chiến tranh trên không. Ngày 3 tháng 2, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân nhắc lại một đề nghị cũ liên quan đến việc thu hẹp các vùng hạn chế xung quanh Hà Nội và Hải Phòng (1).

Tuy nhiên đối với Tổng thống đề nghị của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân dường như không giúp đỡ gì cấp thời cho Đại tướng Westmoreland cả. Mặc dầu Bộ trưởng Rusk và ông Clark Clifford ủng hộ tăng áp lực ở miền Bắc. Tổng thống vẫn quyết định tại buổi họp tại Nhà Trắng ngày 13-2. không tăng thêm hoạt động gì chống Bắc Việt Nam cả (2).

Tập trung sự chú ý vào Khe Sanh, vào khả năng quân đội Mỹ có thể bị thua trận ở đó. Tổng thống quyết định thỏa mãn mọi nhu cầu lực lượng mà Tướng Westmoreland đã xin để ngăn chặn một cuộc thất trận.

Ngày 3-2, Tướng Wheeler thông báo với Tướng Westmoreland "Tổng thống hỏi tôi có gì để tăng cường hoặc giúp đỡ Đại tướng không". Westmoreland tin tưởng là có thể nắm vững được tình hình ở Khe Sanh, nhưng lại lo lắng về việc phải tăng cường yểm trợ cho các lực lượng Hoa Kỳ tại vùng I chiến thuật, nên đã trả lời là nhu cầu chính của ông là cần có thêm 1 phi đoàn máy bay chở hàng C130 và một số thiết bị nặng để thả từ máy bay, ông cũng xin cấp phát thay thế gấp máy bay lên thẳng.

Trong một điện văn sau đó. Đại tướng Westmoreland ghi rõ nhu cầu quân dụng xin thêm "để trả lời theo gợi ý giúp đỡ của Tổng thống" (4).

Vào khoảng ngày 8 tháng 2, Bộ tham mưu của Đại tướng Westmoreland bắt tay vào việc nghiên cứu kỹ lưỡng đề xác định thêm nhu cầu cần cho năm tới. Trong điện văn gửi Đại tướng Wheeler, thông báo kết quả nghiên cứu. Đại tướng Westmoreland cho biết ưu tiên số 1 để hiện đại hóa nhanh chóng quân đội Việt Nam Cộng hòa để họ có thể đảm trách một phần gánh nặng lớn hơn trong cuộc chiến tranh. Đại tướng Westmoreland cũng dự kiến ần phải có thêm 1 sư đoàn Hoa Kỳ và 1 sư đoàn Nam Triều Tiên. vào cuối năm 1968, “đặc biệt nếu các cuộc hành quân tại Lào được phép tiến hành" (5). 

Mặc dầu bản nghiên cứu này cho biết về căn bản. các nhu cầu về quân số của Sài Gòn để được gửi về vào cuối tháng, nhưng vào thời điểm này, Washington lại không quan tâm đến các nhu cầu dài hạn. Khe Sanh và khả năng mở các cuộc tấn công của địch đợt hai vương vấn trong đầu óc của các người làm kế hoạch tại Washington.

Tâm trạng khác biệt giữa Washington về Sài Gòn biểu hiện qua lời phúc đáp có phần như bực bội của đại tướng Wheeler gửi Đại tướng Westmoreland, liên quan đến những nhu cầu dài hạn này. Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân nói về nhu cầu dài hạn phải đình chỉ đến cuối năm nhấn mạnh rằng "Chúng tôi chỉ giải quyết được một lúc một khó khăn chính mà thôi".

“Tướng Wheeler lưu ý Tướng Westmoreland rằng ông e ngại cho đến khi chúng tôi đã sắp xếp và thỏa mãn được những nhu cầu tức thời của Đại tướng, phát xuất từ tình hình hiện tại ở Việt Nam, sự thỏa mãn đầy đủ những nhu cầu ấy có thể sẽ bị nguy hại nếu Đại tướng lại đưa thêm các nhu cầu dài hạn khác trong thời điểm đặc biệt này" (6).

Nhu cầu trước mắt, dĩ nhiên là ngăn chặn Khe Sanh khỏi bị thất thủ. Trong đêm 5 tháng 2. căn cứ chiến đấu Khe Sanh bị hỏa tiễn pháo và cối pháo kích nặng nề. Một đợt xung phong của địch vào căn cứ bị đẩy lui (7).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #67 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 09:20:32 am »

Gần rạng sáng 7 tháng 2, lần đầu tiên Bộ đội Bắc Việt sử dụng chiến xa tràn ngập trại lực lượng đặc biệt làng Vây, cách Khe Sanh 5 dặm về phía tây Nam. Trong đêm 7 tháng 2, lực lượng địch cũng tiếp tục tiến quân về Đà Nẵng, trong khi đó giao tranh khốc liệt tiếp diễn ở Huế (Cool.

Đại tướng Westmoreland đã tiên liệu cần phải có thêm lực lượng Hoa Kỳ tại vùng I chiến thuật để đương đầu với mối đe dọa của địch. Một bộ chỉ huy tiền phương của Bộ tư lệnh Viện trợ quân sự Hoa Kỳ tại Việt nam đã được thiết lập tại Phú Bài (cách Huế không xa về phía Nam) ngày 9-2, một lữ đoàn của Sư đoàn 101 dù cũng được điều động từ khu vực Sài Gòn đã được phối tới để yểm trợ cho lực lượng tăng viện khi họ di chuyển đến khu vực (9).

Đại tướng Westmoreland làm một việc mạo hiểm có tính toán khi ông phân tán mỏng lực lượng Mỹ khắp miền Nam Việt Nam khả dĩ đối phó với mối đe dọa chính của địch tại 2 tỉnh phía cực Bắc, theo như ông nhận thấy nhưng ông cảm thấy sự mạo hiểm này không đáng lo ngại. Như Đại tướng Westmoreland nhận định: “Về phương diện quân sự, sự điều quân tài giỏi nhất là cách chuyển lực lượng để đối phó với mọi đột biến. Chúng ta chuyển lực lượng quân sự đúng lúc đến một số khu vực mà không để cho địch có lợi thế ở các khu vực khác”.

“Khi địch tham chiến ở một khu vực và bị thua trận, chúng ta có thể tái triển khai lực lượng để tiếp tục phản công và bảo vệ an ninh tối đa cho khu vực đó. Yếu tố thời gian phải được ấn định kỹ lưỡng đề có thể vận dụng được tối đa lợi thế của lực lượng chúng ta” (10).

Nhưng Washington không tin tưởng là Đại tướng Westmoreland có thể nắm vững được tình hình với lực lượng ông hiện có trong tay. Nếu sự vây hãm Khe Sanh nhằm mục đích buộc các lực lượng Mỹ phải phân tán mỏng để Việt Cộng có thể mở những cuộc tấn công đợt II vào các thị trấn thì rất có thể quân lực Việt Nam Cộng hòa sẽ bị tan rã và một chính phủ liên hiệp có cơ sở được hình thành.

Đại tướng Wheeler bày tỏ những mối lo âu đó với Đại tướng Westmoreland ngày 2 tháng 2 như sau: “Có một thuyết có thể là hợp lý là toàn bộ chiến lược của địch là tấn công và làm tiêu hao nhân lực Việt Nam Cộng hòa, như vậy sẽ tiêu diệt được họ và cuối cùng dân chúng sẽ chấp nhận một chính phủ liên hiệp và chính phủ này sẽ đòi quân đội Hoa Kỳ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Nói cách khác, tập trung quân đe dọa Khe Sanh tức là họ đã lựa chọn tạo mối đe doạ để buộc ta phải đưa quân từ miền Nam ra tăng viện, do đó giảm khả năng bảo vệ an ninh cho dân chúng và tạo cho địch có cơ hội để tiêu diệt các đơn vị quân đội Việt Nam cộng hòa. Ngoài ra. chiến lược rồi cũng có thể tạo cơ hội cho địch mở các cuộc tấn công với qui mô lớn dọc theo khu phi quân sự nếu Đại tướng không đáp ứng bằng cách tăng lực lượng quân sự ở phía Bắc vùng I chiến thuật (11).

Trong đoạn kết của công điện, Đại tướng Wheeler đã đưa ra những lời khuyên thẳng thắn cho thấy Washinglon đã rất lo ngại về tình hình chính phủ Hoa Kỳ không chuẩn bị để chấp nhận thua trận ở Nam Việt Nam. Tóm lại. nếu Đại tướng cần thêm quân cứ xin”

Rồi bắt đầu những bước tiến thoái về quân sự làm rõ nét một lần nữa quan điểm khác biệt giữa Sài Gòn và Washington đối với tình hình ở Nam Việt Nam. Bây giờ, Đại tướng Westmoreland tin tưởng hơn nữa vào khả năng đối đầu với bất cứ cuộc tấn công mới của Cộng sản, dù lực lượng của ông ta đã phân tán mỏng. Ông chỉ còn lo ngại chủ yếu về khả năng hậu cần để yểm trợ cho lực lượng Hoa Kỳ đông đảo tại phía Bắc Nam Việt Nam.

Mặt khác, Tổng thống không lạc quan lắm. Một sự thua trận ở Nam Việt Nam để tại Khe Sanh hay tại những thị trấn nào khác, cũng sẽ gây âm vang to lớn, mà theo Tổng thống thì không thể chấp nhận được (12). Tổng thống Johnson quyết định gửi đến tướng Tư lệnh Chiến trường của ông những phương tiện gì để tùy nghi sử dụng ngăn chặn khỏi xảy ra một sự thua trận như thế.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #68 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 09:21:04 am »

Đáp lại công điện của Đại tướng Wheeler, Đại tướng Westmoreland trình bày mặc dầu ông cảm thấy có thể giữ vững được Khe Sanh nhưng ông cũng nghĩ rằng Khe Sanh có thể bị thất thủ và đã cần phải được chiếm lại. Một cuộc hành quân tái chiếm sẽ khó khăn và đắt giá. “Chỉ cần thận trọng dự trù cho những trường hợp bất ngờ tai hại nhất trong trường hợp đã dứt khoát là tôi cần đến tăng viện... Những đơn vị tăng viện đó sẽ rất cần thiết, đặt giả thuyết chúng ta bị thất bại tại các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên”

Tại khu vực này chắc hẳn là sự thất bại không có khả năng xảy ra, tuy nhiên cũng vẫn có thể nghĩ đến điều đó được (13). Tiếp đó, Đại tướng Westmoreland nói rõ, hiện tại ông chưa cần đến những lực lượng này, tuy nhiên cũng cần có kế hoạch triển khai các lực lượng đó trong trường hợp không chắc gì là sẽ xảy ra, là ông bị thua trận.

Trong trường hợp như thế, ông đề nghị là sư đoàn 82 dù và một nửa sư đoàn lính thủy đánh bộ, những đơn vị mà Đại tướng Wheeler đã đề nghị cho ông, sẽ đổ bộ lên bờ trong những điều kiện sóng biển cho phép, có thể là vào khoảng tháng 4 (14).

Nhưng Tổng thống không quan tâm đến việc gửi quân vào tháng 4 để tái chiếm Khe Sanh. Trong công điện tiếp theo, Đại tướng Wheeler nêu rõ khó khăn của Tông thống: “Về quan điểm chính trị và tâm lý, sẽ rất khó khăn cho những ai quan tâm đến, nếu Việt Cộng củng cố được sự kiểm soát lâu dài để cho ra mắt dù chỉ một vài tổ chức được gọi là liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ hòa bình đi nữa. Lại xét đến khả năng có thể có một số đơn vị quân đội Việt Nam cộng hòa sẽ bị dao động, thì có lẽ điều đó dường như sẽ đặt thêm nhu cầu cần phải sử dụng đến lực lượng quân sự Hoa Kỳ" (15).

Vì vậy Đại tướng Wheeler gợi ý "Tốt hơn nên triển khai thêm lực lượng trước tháng 4 "xin hiểu rằng tôi không cố gắng thuyết phục đại tướng triển khai thêm lực lượng, điều đó trong mọi trường hợp, tôi không bảo đảm được. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ thì giai đoạn nghiêm trọng của cuộc chiến tranh tùy thuộc ở chúng ta và tôi không tin rằng đại tướng lại phải tự kiềm chế không cho xin những gì mà Đại tướng thấy cần thiết trong những hoàn cảnh hiện nay" (16).

Tới lúc đó, Đại tướng Westmoreland đã bắt đầu hoan nghênh lập luận của Washington. Ông có nhắc lại "Theo tôi dường như vì những lý do chính trị hay gì gì khác, Tổng thống và Hội đồng tham mưu trưởng liên quân rất lo lắng muốn gởi quân tăng cường cho tôi. Chúng tôi đã thảo luận qua. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là không muốn xin gì hết, nhưng những lệnh từ Washington đã được gửi tới càng lúc càng quyết liệt hơn" (17).

Vì vậy phúc đáp của Đại tướng Westmortland ngày 8 tháng 2 đã dứt khoát hơn: ‘khỏi phải nói, tôi rất hoan nghênh lực lượng tăng cường bất cứ lúc nào có thể gửi đến được". Đại tướng Westmoreland dự kiến rằng có thêm quân, ông sẽ có khả năng mở các cuộc tấn công ngay sau khi các cuộc tấn công của địch bị đánh bại.

Có thể nghĩ rằng ông viết tiếp: “Nếu được tăng, phải cho các đơn vị có trong vòng 6 tháng thì tình hình sẽ có thể đảo ngược khiến cho địch phải mở mắt ra, chúng ta có thể đẩy họ trở về… Tóm lại thì không thích thả mồi bắt bóng" (18).

Đến ngày 10-2, Đại tướng Westmoreland báo cáo về Washington là quân tăng cường có thể sẽ được sử dụng tại khu mà chính quyền lo lắng nhất đó là Khe Sanh và 2 tỉnh cực Bắc. Đại tướng Westmoreland cho đại tướng Wheeler biết là “Quân tăng cường từ lục địa Hoa Kỳ tới sẽ giúp chúng ta nhiều để ổn định nhanh chóng tình hình hiện nay... Địch tăng quân ở phía Bắc gây đe dọa lớn cho Nam Việt Nam, để đương đầu với mối đe dọa lớn đó, cần phải tăng lực lượng tương đương và đáng kể tại hai tỉnh phía Bắc. Hiện tại chúng tôi đang triển khai lực lượng đến vùng đó... Tuy nhiên, xét thấy địch tiếp tục mở rộng các cuộc tấn công vào các tỉnh lỵ, các trung tâm dân cư và các vị trí then chốt trong phần còn lại của đất nước, nên rút thêm lực lượng bạn khỏi các khu vực này là một sự mạo hiểm mà tôi chưa đủ chuẩn bị để chấp nhận trong lúc này" (19).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #69 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 09:21:43 am »

Những công điện của Đại tướng Westmoreland được đem ra thảo luận rất lâu tại Nhà Trắng vào buổi chiều ngày 11-2 (20).

Như Đại tướng Wheeler tiết lộ, điện văn của Đại tướng Westmoreland đã được giải thích như có nội dung sau đây: ‘Đại tướng có thể sử dụng thêm các đơn vị quân sự Mỹ nhưng Đại tướng không cho rằng những đơn vị này là nhu cầu thiết yếu, tóm lại, Đại tướng sợ bị thua trận nếu không được tăng cường. Tăng thêm lực lượng Đại tướng sẽ tăng khả năng nắm lại thế chủ động và tiếp tục mở các cuộc tấn công vào thời gian thuận lợi" (21).

Theo sự thúc đẩy khéo léo của Đại tướng Wheeler, phúc đáp của Đại tướng Westmoreland ngày 12-2 đã có tính chất kiên quyết và thẳng thắn: "Tôi trình bày nhu cầu tăng quân không phải bởi vì tôi sợ thua trận nếu không được tăng cường. Nhưng bởi lẽ tôi không cảm thấy có thể hoàn toàn nắm thế chủ động bởi vì địch vừa mới tăng cường lực lượng của họ. Mặt khác một sự thất bại có thể xảy ra nếu tôi không được tăng cường lực lượng và rất có thể chúng ta sẽ bị lấn chiếm ở các khu vực khác nếu tôi buộc phải thực sự tăng quân vào vùng 1 chiến thuật" (22).

Cũng ngày hôm đó, tức là 12-2, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân gửi kế hoạch tăng cường lực lượng lên Bộ trưởng Quốc phòng. Hội đồng nhấn mạnh rằng sự triển khai sư đoàn 82 và 2/3 sư đoàn lính thủy đánh bộ phi đội, mà không gọi nhập ngũ ngay khoảng 128.000 quân dự bị thuộc lục quân và thủy quân lục chiến, thì sẻ làm vơi trầm trọng lực lượng tác chiến có sẵn của chúng ta.

Tuy nhiên, Đại tướng Wheeler lo nghĩ không phải chỉ riêng cho Việt Nam. Ông thấy đấy là cơ hội để phục hồi khả năng quân sự Hoa Kỳ để đối phó với những đột biến có thể xảy ra ở các nơi khác, không phải ở Việt Nam.

Thay vì trình lên sự đánh giá tình hình của Đại tướng Westmoreland mà Đại tướng Wheeler đã phải khôn khéo vận động lắm mới có được, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân đã trình lên Bộ trưởng quốc phòng sự đánh giá tình hình của riêng Hội đồng: 

“Vào thời điểm này, không rõ địch có khả năng mở và duy trì hàng loạt các cuộc tấn công quan trọng đợt II trong khắp cả nước hay không, cũng không rõ quân đội Việt Nam cộng hòa có khả năng đương đầu với hàng loạt các cuộc tấn công đó ra sao, nếu việc đó xảy ra. Trước những điều chưa được xác định đó, một sự nhận định chính xác hơn của Bộ tư lệnh Viện trợ quân sự Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam về nhu cầu thủy quân nếu có sẽ phải chờ những tiến triển thêm nữa của tình hình. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân không loại trừ khả năng là những tiến triển thêm của tình hình sẽ có thể đòi hỏi phải triển khai thêm lực lượng nữa".

Căn cứ trên sự nhận định tình hình đó. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân đề nghị :

a) Quyết định triển khai lực lượng tăng cường đến Việt Nam phải hoãn lại trong thời điểm này.

b) Cần có ngay biện pháp để chuẩn bị cho sư đoàn dù và 1/3 sư đoàn lính thủy đánh bộ với phi đội để làm triển khai đến Việt Nam.

c) Vấn đề nên dự phòng là gọi nhập ngũ thêm một đơn vị dự bị ngay từ bây giờ. Triển khai lực lượng tăng cường khẩn cấp đến Nam Việt Nam không nên thực hiện khi không gọi nhập ngũ lực lượng dự bị đầy đủ, ít ra, đủ để thay thế lực lượng đã triển khai và bổ sung quân số theo nhu cầu cơ sở của mọi quân binh chủng. Ngoài ra, bổ sung đầy đủ số quân cho các đơn vị dự bị được lựa chọn và tăng tình trạng sẵn sàng chiến đấu cho những đơn vị này (23).

Như vậy, có thể nói là lần đầu tiên trong lịch sử ở Hoa Kỳ dính líu vào Việt Nam, Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân không đề nghị triển khai quân ngay tức khắc theo đề nghị của vị Tư lệnh chiến trường, một đề nghị mà Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân đã cẩn thận khuyến dụ mới nhận được.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM