Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:34:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương  (Đọc 68342 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #20 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:47:24 am »

Hồng Thủy mỗi lần gọi tôi lên họp thường gửi cho tôi một trang viết tay riêng. Ông cố ý dùng cách biểu hiện ấy để làm tôi phải chú ý.

Tại trấn Đông Dã, quần chúng đã được phát động phong trào kháng Nhật. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Động viên không ngừng mở rộng, nhân viên công tác không ngừng đông thêm. Đặc biệt là tổ công tác phụ nữ may trang phục cho quân đội, làm áo bông, càng thêm nhiều người. Hồng Thủy quyết định đưa tổ công tác phụ nữ đến một địa điểm công tác mới ở ngay công quán nhà Dương Ái Nguyên.


Dương Ái Nguyên là họ hàng thân thích của Diêm Tích Sơn. Lúc mới kháng chiến hắn là Tư lệnh trưởng tập đoàn quân 6 thuộc Chiến khu 2. Trước kháng chiến dân thường mà lại dám bén mảng tự do ra vào công quán của "Tổng” tư lệnh Dương là không thể được. Bát lộ quân đã đến. Lưng của bà con cũng bắt đầu cứng hơn. Hội đồng Chi viện hỏi mượn luôn khu viện nằm ở mặt tiền của công quán để làm địa điểm hoạt động cho tổ công tác phụ nữ. Hàng ngày chị em nườm nượp vào ra khu viện cao lớn đó, bàn bạc việc đại sự chống Nhật, làm cho mọi người đều cảm thấy nở mày nở mặt.


Tháng Mười, ở Tấn Đông Bắc, khí ấm tan dần, giá lạnh kéo đến. Các chị em phụ nữ kháng Nhật khẩn trương may áo bông cho Bát lộ quân. ở Ngũ Đài đã vào mùa đông mà tướng sĩ ở tiền phương vẫn còn mặc quần áo mỏng, đi giày cỏ bện.


Một hôm, có một vị mặc quân phục bằng vải thô, màu xám, một vị thủ trưởng của Bát lộ quân, người cao lớn, lanh lợi, bước vào công quán họ Dương. Đi theo ông còn mấy chiến sĩ của Bát lộ quân.

"Các đồng chí vất vả quái Nghe nói công tác phụ nữ ở khu triển khai tốt lắm!"

Chị em dừng tay kim tay chỉ, yên lặng ngắm nhìn người lạ mới tới.

"Tôi là Từ Hải Đông!".

Vị thủ trưởng Bát lộ quân nói giọng sang sảng của một người chuyên cầm quân đánh trận tự giới thiệu với mọi người.

Từ Hải Đông! Ôi, cái vị lữ trưởng Bát lộ quân nổi tiếng đánh giặc như mãnh hổ, kẻ địch mới nghe tên đã hồn xiêu phách lạc, là ông ta đây!

Chị em nhìn nhau rồi bật cười rũ rượi.

Từ Hải Đông lại gần chuyện trò thân thiết với mọi người, đến từng người hỏi tên là gì. Trong Hội đồng Động viên có bao nhiêu nữ đồng chí. Trong công tác có khó khăn gì không. ông động viên chúng tôi nỗ lực công tác, đoàn kết được ngày càng nhiều chị em phụ nữ tham gia kháng Nhật. Từ Hải Đông bình dị, dễ gần, hòa nhã, đáng mến, rất nhanh chóng được chị em vây quanh. Mấy cô trẻ tuổi kéo tay Từ Hải Đông xin ông cho đi theo đánh trận.

Lữ trưởng Từ rất khoái trả lời luôn:

"Được! Tất cả chúng ta đều đi đánh trận Thế áo bông thì ai may nhỉ? Chắc không thể để Bát lộ quân, khoác áo lá bàng, đi chân đất để đánh giặc Nhật chứ?"

Các cô liền im.

Tôi đại diện cho chị em phụ nữ, phát biểu với thủ trưởng Từ Hải Đông:

"Thủ trưởng cứ yên tâm, chúng tôi sẽ may nhiều áo bông, giày vải, chi viện cho Bát lộ quân đánh thắng trận!"

Tổ công tác phụ nữ dọn đến công quán nhà Dương Ái Nguyên, cách Trường Tiểu học Đà Dương nơi Tổng bộ Hội đồng Chi viện tiền phương đóng rất gần, ngay bên kia đường. Mỗi ủy viên hội đồng cứ chiều đến lại họp giao ban. Tôi và Hồng Thủy ngày nào cũng gặp nhau. Thế nhưng Hồng Thủy vẫn thường dùng một tờ giấy trắng, viết một giấy triệu tập họp cho tôi:

Đồng chí Trần Ngọc Anh.

Chiều nay ba giờ, xin mời đúng giờ đến Tổng bộ Hội đồng Chi viện để họp.

Hồng Thủy



Chữ của ông viết rất nghiêm chỉnh và đẹp, bay bướm. Tôi thấy rõ đây là một biểu hiện cố ý muốn làm cho tôi chú ý.

Tháng Mười năm 1937, do Từ Kế Chi, Triệu Bằng Phi, hai đồng chí đó giới thiệu, tôi được gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Lễ tuyên thệ kết nạp Đảng được tổ chức trong một phòng học của Trường Tiểu học Đà Dương.

Phòng tuy trang hoàng giản đơn nhưng rất nghiêm trang.

Ở giữa bảng đen treo một lá cờ Đảng đỏ tươi. Tham gia tuyên thệ là các đảng viên mới được phát triển trên tuyến đầu kháng Nhật thuộc khu bốn Ngũ Đài, trong đó duy nhất chỉ có tôi là nữ.


Chúng tôi mười mấy người xếp thành hai hàng, mắt nhìn Đảng kỳ, tay phải nắm giơ lên ngang vai, đồng chí Hồng Thủy đứng chủ lễ tiến hành tuyên thệ.

Ngày hôm đó, suốt đời tôi không bao giờ quên.

Từ tháng Mười năm 1937 trở đi, quân Nhật từ Nhạn Bắc, hình Hình quan, Nương Tử Quan chia nhiều đường tấn công Sơn Tây. Quân Diêm Tích Sơn thua chạy tan tác Đầu tháng Mười một quân Nhật chiếm được tỉnh ly Thái Nguyên. Cuộc đấu tranh vũ trang chống Nhật tại Sơn Tây bước vào một giai đoạn cực kỳ gian khổ. Cũng vào lúc đó, Hồng Thủy đột nhiên bị điều đi, không ở Hội đồng Chi viện khu bốn nữa mà trở về Đặc ủy Tấn Đông Bắc đóng tại huyện lỵ Ngũ Đài.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #21 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:48:58 am »

Hồng Thủy đặt cho tôi một cái tên đầy tính chiến đấu: Trần Kiêm Qua

Do công tác quần chúng của Bát lộ quân ngày càng sâu rộng, nên đã có rất nhiều thanh niên hăng hái tham gia đội ngũ cách mạng. Để nâng cao trình độ tư tưởng, hiểu biết vận dụng chính sách và năng lực công tác thích ứng với yêu cầu của tình hình mới, Đặc ủy Tấn Đông Bắc quyết định mở ba lớp huấn luyện ngắn hạn. Lớp huấn luyện ngắn hạn này do Hồng Thủy phụ trách chung, địa điểm đặt tại Vương Gia Trang, cách huyện lỵ Ngũ Đài một dặm. Lớp huấn luyện thứ nhất mở vào cuối tháng Mười một. Đặc ủy điều hơn một trăm cán bộ của các huyện Định Tượng, huyện Quách, huyện Ngũ Đài tham gia học tập. Tôi cũng tham gia vào lớp thứ nhất.


Đã lâu rồi không gặp Hồng Thủy, tôi vẫn luôn nhớ ông da diết. Một ngày trước hôm khai mạc, tôi sắp xếp công tác ở Hội đồng Chi viện xong là vội vã lên đường ngay.
Gió lạnh ở cao nguyên Tấn Đông Bắc thổi vun vút, các đỉnh núi cao xa xa đã phủ tuyết trắng phau. Tôi đi theo đường đất, xuyên tắt các thôn để lên huyện dưới làn gió bắc rét cắt da. Hai tay tôi đông cứng lại, mặt bị cát thổi như kim đâm, nhưng nghĩ sắp dược gặp Hồng Thủy, lòng tôi như ấm lại. Nghĩ thế tôi lại cắm đầu rảo bước.


Trời vừa tối, tôi đến Vương Gian Trang, đẩy cửa phòng làm việc của Hồng Thủy bước vào. Thấy tôi xuất hiện trước mặt, Hồng Thủy vui tựa như gặp lại người thân lâu ngày xa cách, hỏi han tíu tít, một mặt mời tôi ngồi nghỉ. Anh lấy ca trà của mình, róc đầy một ca nước sôi đưa mời tôi và giục:

"Ủ tay vào nhanh, cho nó ấm. Thật không ngờ, cô lại đến được sớm thế. Đi đường có mệt không?"

Thấy Hồng Thủy nhiệt tình như thế, lòng tôi xốn xang, xúc động.

Tôi quan sát chung quanh gian phòng vừa là phòng làm việc, vừa là phòng ngủ của Hồng Thủy. Dựa vào bức tường sát núi là chiếc giường lò (giường bằng đất dưới đốt lửa sưởi), giữa giường là chăn đệm gấp rất chỉnh tề, cạnh đệm một cái bàn lò nhỏ, trên bàn có một cái đèn dầu. Trừ cái bàn và một chiếc ghế dài kiểu cổ, trong phòng chẳng còn đồ đạc gì. Trên tường sát bàn treo một miếng vải trắng chừng một mét vuông. Trên vải trắng (Kế hoạch học tập và tiến độ biểu của lớp tập huấn cán bộ khu Tấn Đông Bắc) có một hàng chữ tiêu đề to, dưới là ba hàng chữ nhỏ rất đẹp "Nội dung học tập", "Kế hoạch dạy và học”, "Thứ tự các khóa trình"... Đây là một tập quán của Hồng Thủy trong quá trình lâu dài tham gia công tác giáo dục của Đảng mà hình thành.


Tôi liếc nhìn vào nội dung từng biểu: Ban Huấn luyện do Hồng Thủy tổng phụ trách... Hồng Thủy, Hồ Khai Minh, Trương Liên Khuê1 (Hồ Khai Minh: Sau giải phóng làm Bí thư Tỉnh ủy An Huy. Trương Liên Khuê: Sau giải phóng làm Bộ trưởng Bộ Công nghiệp cơ giới số 3)... là mấy người trong Đặc ủy lãnh đạo các đồng chí thụ khóa... Khoa mục học tập chủ yếu là kiến thức cơ bản về Đảng, tình hình và nhiệm vụ trước mắt, mười điểm của cương lĩnh chính trị về kháng Nhật cứu vong, vấn đề Mặt trận Dân tộc thống nhất kháng Nhật...


Đây là lần đầu tiên tôi được tiếp thu sự giáo dục chính quy, có hệ thống tri thức về Đảng và các chính sách, một cơ hội học tập hiếm có lúc bấy giờ.

Tôi không cầm được lòng thốt lên: "Rất tốt!"

Khi tôi quay lại thì thấy Hồng Thủy đang chăm chú quan sát tôi. Hai gò má tôi cảm thấy nóng bừng.

Cơm tối xong, Hồ Khai Minh lại đến phòng Hồng Thủy để tán dóc. Cũng may các học viên khác đều chưa đến. Ba chúng tôi có thể tha hồ nói chuyện trời chuyện đất với nhau một cách thoải mái.


Hồng Thủy và Hồ Khai Minh tụt giày ngồi lên giường lò, mỗi người một bên bàn lò và đều rút tẩu thuốc của mình ra. Cả hai, dưới ánh đèn vàng yếu ớt, lấy thuốc sợi nhét đầy tẩu, dùng ngón cái ấn chặt, rồi châm lửa. Chỉ một lát sau cả gian phòng mù mịt khói thuốc. Chuyện của Hồng Thủy bắt đầu từ Ngũ Đài Sơn:

"Tôi đến huyện Ngũ Đài mấy tháng rồi. Mỗi lần nhìn lên núi Ngũ Đài, lòng lại thấy buồn bực. Cô có thấy núi Ngũ Đài chạy dài xa tít không, thế nhưng năm ngọn núi lại như bị dao chém đứt rời ra vậy?"

Hồ Khai Minh thì cứ phì phèo nhả khói, chẳng nói câu nào.

Tôi ngồi trên chiếc ghế dài cạnh giường lò, tiếp lời Hồng Thủy:

"Tôi cũng không thể coi là người của Ngũ Đài Sơn, vì rằng tuy trấn Đông Dã chỉ cách Ngũ ĐạI Sơn hơn hai trăm dặm, song tôi cũng chưa tới Ngũ Đài Sơn lần nào!"

Ngừng một lát tôi nói tiếp:

"Bất quá cũng chỉ nghe các cụ già kể lại, từ xa xưa, hình dáng của Ngũ Đài Sơn không giống như hiện nay. Năm tòa núi cao ngút mây nhưng hoang vắng, không có nguồn nước, Đức Văn Thù Bồ tát, người nắm và quản lý trí tuệ toàn nhân loại, rất thông cảm với dân sở tại. Người bèn mượn một hòn đá "Yết Long” của Long vương Đông Hải mang về đây, từ đó Ngũ Đài Sơn biến thành nơi non xanh nước biếc, mưa gió điều hòa. Còn Long vương Đông Hải khi biết tin, nổi giận lôi đình, vì ông ta cho rằng chỉ có riêng mình được cái quyền "Hô phong, hoán vũ”. Vì thế ông ta phái năm con giao long xuống, đinh khiêng hòn đá "Yết Long” đi. Văn Thù Bồ tát không chịu. Năm con giao long bèn lấy đuôi quét một vòng, bạt luôn năm đỉnh núi nhọn, thành ra năm ngọn núi đầu bằng hiện nay”.


Hồng Thủy và Hồ Khai Minh chăm chú ngồi nghe. Riêng Hồng Thấy lại hỏi thêm cho rõ ngọn nguồn:

"Thế Văn Thù Bồ tát cũng chịu hay sao?"

"Văn Thù Bồ tát tất nhiên không chịu, liền biến năm con giao long thành năm tảng đá lớn, đem nhốt ở động Triều Long. Dân ở Ngũ Đài Sơn đời đời, kiếp kiếp biết ơn Văn Thù Bồ tát, họ cầu thần bái phật, đầu tiên là bái Văn Thù Bồ tát”.

Hồng Thủy nghe xong câu chuyện truyền thuyết luôn miệng khen:

"Trần Ngọc Anh, cô thật không đơn giản chút nào!"

Hồng Thủy lại nhét thêm thuốc vào tẩu, rít liền hai hơi. Mắt đăm đăm vào đám khói thuốc đang lơ lửng bay, ông như chợt nghĩ ra một điều gì đó:

"Trần Ngọc Anh, cô có học vấn cao đấy, song tên của cô lại rất bình thường, không có một chút tính chiến đấu nào".

Hồ Khai Minh biết Hồng Thủy hay đùa, lại hay lý sự liền nói chen vào:

"Tên của người ta do cha mẹ đặt. Tên con gái Trung Quốc chẳng thường đặt là "Anh" này, "Phượng” này hay sao?"

Hồng Thủy vẫn giữ ý mình:

"Như tên tôi là Hồng Thủy (nước lũ lớn) - Hồng Thủy, Mãnh Thú, quân địch nghe thấy đã hồn xiêu phách lạc".

Tôi không muốn Hồng Thủy mất hứng, tiện mồm hỏi luôn:

“Thế anh đặt cho em cái tên mang tính chiến đấu đi!"

Hồng Thủy vừa hút thuốc, vừa nhẩn nha nói:

"Trần Ngọc Anh, cô làm việc mạnh bạo, dứt khoát như dao phát cỏ, tiếng của cô trong trẻo, lanh lảnh như đao kích khua vang, tính cách thì lại đàng hoàng, lịch thiệp, từ nay nên đổi tên thành..."

Thấy Hồng Thủy nói thật, không phải đùa, Hồ Khai Minh cười và cũng chọc thêm:

"A, thật là thú vị. Vừa như đao kiếm, vừa như vũ khí lạnh của binh sĩ, tinh tinh choang choang, thật là lợi hại. Cứ theo ý của anh Hồng Thủy tôi nghĩ hai chữ "Ngọc Anh" phải đổi thành "Kiếm Qua" mới đúng" (Kiêm: gươm, Qua: giáo).

Hồng Thủy nghe thấy thế, đặt cốc nước xuống. ông vỗ tay xuống bàn nói:

"Đúng, nên gọi là Kiếm Qua".

Ấy thế là tên của tôi, Hồng Thủy đã đổi thành Kiếm Qua.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #22 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 09:56:30 am »

Chương III
CHINH CHIẾN Ở NƯỚC KHÁC


Mới mười sáu tuổi, Hồng Thủy đã đến Qảng Châu tìm gặp Hồ Chí Minh, tham gia cuộc đại cách mạng của Trung Quốc.

Sinh hoạt học tập trong lớp tập huấn rất khẩn trương nhưng cũng rất lý thú, tuy nội dung học tập đều liên quan tới tri thức cơ bản về Đảng, tình hình trước mắt và nhiệm vụ của Đảng đã quy đính trong khóa trình. Hồng Thủy đã căn cứ vào cục diện hình thái đang phát triển của chiến tranh chống Nhật, căn cứ vào thực trạng cuộc đấu tranh chống địch của vùng Tấn Đông Bắc, đem lý luận của Đảng kết hợp với sách lược, chính sách đấu tranh chống địch và các vấn đề cụ thể phát sinh ngay quanh chúng tôi để giảng dạy, làm cho nội dung vô cùng phong phú. ông giảng bài thật có thanh, có sắc.


Tôi vô cùng khâm phục Hồng Thủy về tri thức uyên bác, trình độ giảng dạy và tài ăn nói của ông.


Mỗi lần trong lớp có vấn đề gì không hiểu, tôi đều chủ động hỏi ông. Đối với các vấn đề tôi đề xuất, ông không những giảng giải thấu đáo mà còn dẫn giải rất lý thú. Hồng Thủy thấy rằng những vấn đề tôi đề xuất mang tính chất tiêu biểu nhất định cho mọi người, nên thường đem các vấn đề đó lên lớp để phân tích có tính cách điển hình.
Tôi khâm phục Hồng Thủy còn vì lẽ nữa, là một đồng chí Việt Nam mà đối với nhân dân Trung Quốc ông hiểu thật sâu sắc về lý luận và ủng hộ nhiệt tình.


Đối với lý luận của cách mạng Trung Quốc, nắm được thuần thục như Hồng Thủy, nếu không phải tự thân kinh qua phong ba bão tố của cuộc đại cách mạng, hoàn toàn không thể giảng dạy sâu sắc đến như vậy.


Học tập ở lớp tập huấn tuy khẩn trương, song so với công tác túi bụi ở Hội đồng Động viên thì cũng có phần thoải mái hơn. Trên lớp thì Hồng Thủy là thầy, ngoài lớp chúng tôi trở thành đôi bạn tri kỷ. Mỗi khi rảnh rỗi, chúng tôi thường cùng nhau tâm sự, phát biểu cách nhìn riêng của mình về hình thế kháng Nhật, nói rõ về lý tưởng và ước vọng, cũng có lúc kể lại chuyện khi còn bé và gia đình.


Nhớ lại, tôi đã từng kể huyên thuyên cho đồng Thủy nghe những câu chuyện thú vị khi mình còn bé: Tôi đã tự cắt đuôi sam như thếnào, đã đến Đảng bộ Quốc dân đảng tỉnh Sơn Tây để nhìn Vương Doanh, đã đến Thanh Đảo thi đấu bóng chuyền rồi tham gia biểu tình kháng Nhật ra sao, đi Bắc Bình để học dự thi đại học, bị Quốc dân đảng bắt cầm tù... Khi tôi kể về "Lịch trình cách mạng" của mình Hồng Thuỷ nghe rất chăm chú, tình cảm của ông cũng thay đổi theo những biến đổi của tôi, có lúc lại bình luận và tán thưởng:

"Ôi, Trần Kiếm Qua, thật không đơn giản! Mới hai mươi bốn tuổi đầu mà đã có lịch trình cách mạng thật phong phú, có thể gọi cô là "Lão cách mạng" được rồi!"

"Đồng chí Hồng Thủy, em làm sao mà so được với anh? Những việc em làm đều là bồng bột mơ hồ, tự phát thôi, có việc thậm chí là ấu trĩ nữa".

"Ồ đâu có chúng ta mỗi người sống trong một thời đại và hoàn cảnh khác nhau. Ví dụ em là rất có cá tính, lại tự tin, từ nhỏ đã cố tìm chân lý. Công tác của chúng ta cực kỳ cần những nữ đồng chí như em”.

Tôi sợ Hồng Thủy lại nói có ý khác nữa, liền vội chuyển đề câu chuyện:

"Đồng chí Hồng Thủy, anh còn món nợ chưa trả em đấy!”

Hồng Thủy trầm ngâm suy nghĩ một lát và lập tức nhớ tới lời hứa của anh với tôi khi còn ở Hội đồng Động viên trấn Đông Dã, ông nói:

"Được! Anh sẽ kể chuyện về anh ở Việt Nam!"

Hồi ức có lúc là hạnh phúc, có lúc là khổ đau.

Một người đã trải qua mười bốn năm chiến đấu gian khổ, đã đến tuổi "Tam thập nhi lập" như Hồng Thủy, rất khát khao ở nơi đất khách quê người có được tình cảm và duyên tình, có một người bạn tri kỷ khác giới để tâm sự và trao đổi. Tôi hết sức yên lặng lắng nghe câu chuyện Hồng Thủy kể.


Hồng Thủy sinh ngày 1 tháng Mười năm 1908, tại thành phố Hà Nội, Việt Nam. Cha ông là người huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội), là chủ một dãy nhà cho thuê và một địa chủ có tiếng. Nguồn sống cả nhà toàn bộ dựa vào tiền cho thuê nhà và địa tô. Hồng Thủy có sáu anh chị em, ông là thứ tư, có ba người anh, một em trai và một em gái.


Ông từ bé đã thông minh, lanh lợi. Lúc năm tuổi, ông bắt đầu học ở trường tiểu học Công giáo do người Pháp mở tại Hà Nội. ông chăm học và đạt thành tích xuất sắc.
Năm mười lăm tuổi, ông nhập học Trường Sư phạm Bắc Kỳ ở Hà Nội. Thời đó cả Đông Dương bao gồm ba nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia chỉ có một trường sư phạm đó. Trong thời gian học ông rất cần cù chịu khó, và vẫn giữ vững được thành tích học tập xuất sắc.


Vào thời kỳ Hồng Thủy còn ở tuổi nhi đồng và thiếu niên, Tổ quốc của ông đã bị thực dân Pháp xâm chiếm. Pháp và vương triều Bảo Đại tay sai đã thống trị nhân dân cực kỳ dã man, khiến nhân dân vô cùng bất mãn và quyết liệt phản kháng.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #23 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 09:57:26 am »

Tư tưởng tiến bộ của người cha Hồng Thủy đã có liên hệ mật thiết từ lâu với các chí sĩ yêu nước và lãnh tụ cách mạng. ông đã mang khá lớn tiền của, tài sản của gia đình để ủng hộ cách mạng. ông đã cùng cha mình (ông nội Hồng Thủy) tham gia vào cuộc chiến đấu chống Pháp năm 1884 ở Hà Nội. Tháng Chín năm 1908, tức là ít ngày trước khi Hồng Thủy chào đời, tại Hà Nội đã xảy ra sự kiện một số chí sĩ yêu nước đã lén vào các trại lính Pháp và tiến hành đầu độc (Hà thành đầu độc). Bọn thực dân Pháp và lũ bù nhìn tay sai mượn cớ đó bắt giam hàng loạt các chí sĩ yêu nước, Hà Nội bị trùm lên làn sóng "Khủng bố trắng”. Cha của Hồng Thủy trước tình hình đó rất buồn phiền. Ông ngày càng sầu muộn, mượn rượu giải khuây, và năm 1922 ông bị bệnh mất sớm.


Ba người anh của Hồng Thủy chịu ảnh hưởng của nỗi sầu muộn của cha, cũng buồn bã yếm thế, chưa quá bốn mươi tuổi đều mất cả, để lại ba người vợ góa và hơn một chục đứa con côi, gia đình rơi vào cảnh khó khăn.


Mẹ của Hồng Thủy là một người Việt Nam hiền thục, khoát đạt. Bà có tư tưởng tiến bộ, đồng tình với cách mạng. Theo Hồng Thủy nhớ lại, mẹ ông thường kể cho ông các câu chuyện về hoạt động đấu tranh của các chí sĩ yêu nước như "Đông kinh nghĩa thục", "Hà thành đầu độc dạy ông đọc những câu thơ yêu nước "Quốc thù vị phục đầu tiên bạch, kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma"1 (Thù nước chưa xong đầu đã bạc Mấy độ mài gươm dưới ánh trăng. Thơ của Đặng Dung, con Đặng Tất, người đã phò tá Trần Quý Khoáng chống lại quân Minh để khôi phục lại nhà Trần, song không thành công), gây dựng cho con lòng yêu nước. Được sự cổ vũ của tinh thần cách mạng của các chí sĩ yêu nước, chịu ảnh hưởng của những lời dạy dỗ mưa dầm thấm sâu của mẹ, chàng thiếu niên Hồng Thủy tiếp thu tư tưởng tiến bộ, bắt đầu đồng tình và quan tâm chú ý đến cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân, tiến lên một bước là chọn con đường vào đời của mình khác hẳn của cha và của các anh - con đường xả thân làm cách mạng.


Năm 1923, mới mười lăm tuổi, Hồng Thủy lúc đó còn đang học tại Trường Sư phạm Bắc Kỳ đã lợi dụng kỳ nghỉ hè đi sang Pháp để khảo sát, học tập. Ở đó ông gặp được Hồ Chí Minh, nhà cách mạng vô sản Việt Nam tiên phong nhất, được tiếp xúc với chủ nghĩa Mác. Từ đó con đường ông đi có một bước ngoặt quan trọng và đã trở thành một trong những đồng chí chiến đấu sớm nhất của thời kỳ cách mạng do Hồ Chí Minh dẫn dắt.


Sau đó Hồng Thủy về Việt Nam, học tại Nam Định, một thành phố gần Hà Nội, đồng thời tham gia hoạt động cách mạng. Ông đã mấy lần phát động và lãnh đạo phong trào học sinh chống lại bọn thực dân Pháp và phong kiến thống trị.


Cuối năm 1924, hai chí sĩ yêu nước Việt Nam được Hồng Thủy vô cùng kính yêu là hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh bị bắt ở Thượng Hải giải về. Nghe nói cụ Phan Chu Trinh bị giết hại, ông vô cùng đau xót.


Ông rời bỏ cuộc sống gia đình sung túc, rời bỏ người vợ mới cưới và đứa con gái mới lọt lòng, quyết tâm đi Trung Quốc để tìm gặp Hồ Chí Minh. Ông theo người liên lạc của Hồ Chí Minh trèo đèo lội suối, vượt hiểm cửa quan, đi vòng vèo mãi, cuối cùng đến được Quảng Châu - trung tâm của cách mạng Trung Quốc thời đó.


Khi ông mới tới Quảng Châu, Hồ Chí Minh đã giữ ông ở với mình để giúp việc. Ông thường giúp Hồ Chí Minh truyền đạt tin tức và đôi khi đảm nhiệm một số công tác liên lạc cụ thể. Một số nhà cách mạng Trung Quốc mà Hồ Chí Minh đã từng rất quen thuộc từ khi ở Pháp như Chu ân Lai, Lý Phú Xuân, Thái Xướng, Trần Diên Niên, Trần Kiều Niên... cũng lần lượt về Quảng Châu. Tất cả đều chú ý đến, ở bên cạnh Hồ Chí Minh, có một chàng thiếu niên tuấn tú khôi ngô, thông minh, lanh lợi, đầy sức sống, ai cũng yêu mến. Vì vậy mọi người đều chóng trở nên thân thuộc với Hồng Thủy, và trở thành những người anh, người chị cách mạng của Hồng Thủy.


Hồng Thủy đã tốt nghiệp trường sư phạm, vào thời đó cũng có thể coi là một trí thức không nhỏ. Hồng Thủy chọn bí danh của mình là nghiên cứu kỹ lưỡng. Trong cuộc đấu tranh cách mạng, tên của ông thường phải thay đổi luôn. Đến Quảng Châu không lâu ông đổi tên là "Hồng Tú” vì ở giữa dải Trường Sơn chạy dọc Việt Nam ở miền Trung Bộ có một ngọn núi tên là "Hồng Lĩnh" hoặc "Hồng Sơn". Ông chọn tên Hồng Tú là có ý nhắc nhở mình trong cuộc đấu tranh cách mạng vô sản Việt Nam phải trở thành người ưu tú, tuấn kiệt. "Hồng Tứ” theo âm đọc Quảng Đông lại trùng với "Hồng Thủy”. Thời đó, bọn phản động trong Quốc dân đảng thường gọi người Cộng sản là "Hồng Thủy”, "Mãnh Thú” (nước lũ và mãnh thú). Ông bèn đổi tên là Hồng Thủy để biểu thị quyết tâm của mình là hoàn toàn tương phản với bọn phản động Quốc dân đảng.


Tháng Mười một năm 1925, Hồ Chí Minh quyết định để Hồng Thủy một mặt vẫn ở bên Người giúp đỡ công việc một mặt chính thức tham gia học lớp chính trị của "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội", một tổ chức do chính Người sáng lập. Ở đây Hồng Thủy đã tiếp thu được một cách toàn diện lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, kiên định lòng tin của mình với cách mạng. Trong lớp học, Hồng Thủy gia nhập "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội", trở thành một trong những người Cộng sản của Việt Nam thời kỳ đầu.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #24 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 09:58:41 am »

Ngày 16 tháng Sáu năm 1924, Trường Quân sự Hoàng Phố được thành lập tại Quảng Châu. Trường do hai đảng Quốc, Cộng hợp tác sáng lập nên để bồi dưỡng về quân sự chính trị cho cán bộ cốt cán của quân đội cách mạng. Nhiều nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc như Chu Ân Lai, Uẩn Đại Anh, Tiêu Sở Nữ, Trần Nghị, Nhiếp V nh Trăn, Diệp Kiếm Anh... đã từng đảm nhiệm những chức vụ trọng yếu ở đây. Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Trung Hạ, Tô Triệu Chính, Ngô Ngọc Chương... đã từng lên lớp giảng dạy cho học viên nhà trường. Trường còn mời cố vấn Liên Xô giảng dạy về lý luận và các chế độ quân sự của Liên Xô. Do tiếng tăm của Trường Quân sự Hoàng Phố bay rất xa, nên ở các nước lân cận như Triều Tiên, Việt Nam, Singapo, Miến Điện... đều cử nhiều thanh niên cách mạng tới học ở trường.


Tháng Ba năm 1926, do Lý Phú Xuân, Thái Xướng đề cử, Hồng Thủy được vào học Trường Quân sự Hoàng Phố khóa bốn. Học cùng khóa với Hồng Thủy còn có các đảng viên Cộng sản Trung Quốc như Lưu Chí Đan, vương Thanh, Quách Hóa Nhược, Đường Thiên Tế...


Các môn học của Trường Quân sự Hoàng Phố rất nhiều. Rèn luyện quân sự ở đây rất nghiêm túc, khẩn trương. Trời vừa sáng đã phải vùng dậy mặc quần áo, đi giày tập hợp khẩn cấp, thời gian không được vượt quá ba phút, ăn cơm không quá mười phút. Từ các khoa mục chiến thuật, động tác cá nhân, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn chiến đấu và hành quân, trú quân, đến việc liên lạc hiệp đồng ở từng cấp, đều được thao luyện thực tế. Hồng Thủy mới mười tám tuổi, sức sống dồi dào, tinh thần phơi phới lại thêm tư chất rất thông mmh, phản ứng nhanh, năng lực tiếp thu tốt, nên đã nhanh chóng trở thành một học viên ưu tú, được mọi người yêu mến.


Tháng Mười năm 1926 khóa bốn Hoàng Phố tốt nghiệp. Đại bộ phận học viên tốt nghiệp đều lên đường tham gia Bắc phạt. Hồng Thủy theo chỉ thị của Hồ Chí Minh tiếp tục ở lại Trường Quân sự Hoàng Phố công tác.


Năm 1927, bọn phản động trong Quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch cầm đầu đã tiến hành các kế hoạch phản động như: sự biến phản cách mạng 12 - 4 tại Thượng Hải, sự biến tàn sát đại quy mô ở Quảng Châu, sự biến phản cách mạng 15 - 7 ở Vũ Hán, giết hại hàng loạt đảng viên Cộng sản, trong đó có một số đồng chí là người Việt Nam. Thực tế tàn khốc của cuộc đấu tranh đã khiến Hồng Thủy ngày càng nhận rõ bộ mặt phản động của Quốc dân đảng. Do vậy tháng Tám năm đó, Hồng Thủy ra khỏi Quốc dân đảng, bí mật gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc.


Để phản kích lại những hoạt động bạo ngược của Quốc dân đảng, ngày 11 tháng Mười hai năm 1927, dưới sự lãnh đạo của Trương Thái Lôi, Uẩn Đại Anh, Nhiếp Vĩnh Trăn, Diệp Kiếm Anh, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa vũ trang công nông binh Quảng Châu, vang dội bốn phương. Hồng Thủy và hơn ba mươi đồng chí Việt Nam đang học tập và công tác tại Trường Quân sự Hoàng Phố đã nhất tề tham gia khởi nghĩa, trong đoàn Giáo đạo thứ tư thuộc phương diện quân Đệ nhị do Diệp Kiếm Anh chỉ huy. Trong quá trình khởi nghĩa Hồng Thủy và các chiến sĩ thuộc đoàn Giáo đạo đã đồng lòng, vượt qua mưa bom bão đạn, xung phong hãm trận, đánh lui các cuộc tiến công của địch hết lần này đến lần khác, biểu hiện rõ tinh thần, ý chí chiến đấu của những người chiến sĩ cách mạng của Đảng Cộng sản.


Cuộc khởi nghĩa Quảng Châu thất bại. Bọn phản động Quốc dân đảng tiến hành một cuộc đại tàn sát thảm khốc chưa từng có. Hồng Thủy theo Nhiếp Vĩnh Trăn, Diệp Kiếm Anh và một số nhà lãnh đạo khởi nghĩa rút về Hồng Kông. Để bảo vệ sinh lực của cách mạng, theo sự bố trí của "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội", các đồng chí Nhiếp Vĩnh Trăn và Diệp Kiếm Anh đồng ý để Hồng Thủy rời Hồng Lông đi Thái Lan, tiến hành hoạt động cách mạng trong cộng đồng Việt kiều ở Thái Lan.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #25 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 09:59:48 am »

Do Chu Ân Lai đề nghị, Hồng Thủy với tư cách là đại biểu "Dân tộc thiểu số” tham gia Đại hội nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa. Ông trúng cử ủy viên Ban chấp hành Trung ương.


Tháng Mười năm 1927 Mao Trạch Đông soái lĩnh đội ngũ tham gia cuộc khởi nghĩa Mùa thu về đến Tĩnh Cương Sơn thuộc Giang Tây, sau đó Chu Đức, Trần Nghị đưa đội ngũ khởi nghĩa Tương - Nam (tức bộ phận còn lại của cuộc khởi nghĩa Nam Xương) cũng về Tĩnh Cương Sơn hội sư, thành lập Hồng quân công nông Trung Quốc, Quân đoàn bốn (gọi tắt là Hồng tứ quân).


Để chi viện cho Quân đoàn bốn Hồng quân, duy trì đấu tranh vũ trang ở Tĩnh Cương Sơn, Tỉnh ủy Quảng Đông thông qua "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” yêu cầu Hồng Thủy trở lại Trung Quốc, một lần nữa tham gia cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng.


Được Hồ Chí Minh đồng ý, tháng Sáu năm 1928, Hồng Thủy tới Trung Quốc lần thứ hai, trước tiên làm công tác tổ chức phong trào công đoàn thủy thủ Hồng Kông, sau đó mới tham gia lại Hồng quân công nông. Đầu tháng 1 năm 1929, quân địch ở hai tỉnh Tương, Càn (Hồ Nam - Giang Tây) chia năm đường tiến công Tĩnh Cương Sơn, đồng thời thực hiện bao vây kinh tế khu căn cứ thật chặt chẽ. Mao Trạch Đông, Chu Đức, Trần Nghị liền đem quân chủ lực của Quân đoàn bốn Hồng quân đánh về phía nam Tương, Càn, sát tới Đông Giang của tỉnh Quảng Đông. Lúc đó Quân đoàn bốn Hồng quân yêu cầu Tỉnh ủy Quảng Đông tăng cường thêm cho cán bộ quân sự. Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông lúc đó là Nhiếp Vĩnh Trăn đã phái Hồng Thủy và một số đồng chí nữa đến Quân đoàn bốn. Nhưng khi Hồng Thủy đến được vùng Đông Giang, thì Quân đoàn bốn đã di chuyển về đông Giang Tây, vì vậy Hồng Thủy phải ở lại Đông Giang tham gia Quân đoàn mười một, và lao mình vào cuộc chiến tranh du kích ở địa phương.


Trong đội du kích Đông Giang, ông làm chính trị viên đại đội, tham gia rất nhiều trận đánh. Trong chiến đấu, ông thường dẫn đầu binh sĩ, chiến đấu dũng cảm và biểu hiện rõ tài năng lãnh đạo. Ông đã có nhiều cống hiến trong việc thành lập hai tiểu khu Xô viết của Hồng quân công nông là Bát Hương Sơn và Đại Nam Sơn.


Quân đoàn bốn do Mao Trạch Đông và Chu Đức trực tiếp lãnh đạo, ba lần xuất kích ngoài căn cứ địa cùng phối hợp với tổ chức đảng địa phương Tây Mân (Mân là tên cổ của Phúc Kiến) do Trương Đỉnh Thừa, Đặng Tử Khôi lãnh đạo, lập thêm được căn cứ địa cách mạng Tây Mân và đem năm trung đoàn Xích Vệ của địa phương biên chế thành Quân đoàn Hồng quân thứ mười hai. Để tăng cường lực lượng chỉ huy cho Quân đoàn mười hai Hồng quân, theo chỉ thị của Đảng, tháng Tư năm 1930, Hồng Thủy được điều tới Quân đoàn mười hai. Sau đó Quân đoàn mười hai được sát nhập vào Quân đoàn một do Chu Đức làm Tổng chỉ huy, Mao Trạch Đông làm Chính ủy kiêm Bí thư Tiền phương ủy của Hồng quân. Từ đó Hồng Thủy bắt đầu cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Mao Trạch Đông và Chu Đức.


Tháng Tám năm 1930 Quân đoàn một hội sư cùng Quân đoàn ba Hồng quân tại Lưu Dương, Hồ Nam và thành lập nên Phương diện quân số một của Hồng quân công nông Trung Quốc. Theo chỉ thị của Trung ương phải đánh thành Trường Sa, thủ phủ của tỉnh Hồ Nam, song đánh mãi vẫn chưa chiếm được. Lúc đó, Mao Trạch Đông, Bí thư Tổng tiền ủy của Phương diện quân một Hồng quân, nhận thấy thế lực chưa đủ, quyết định rời khỏi Trường Sa, cùng với Tổng tư lệnh Chu Đức đưa Phương diện quân một tới biên giới Tương, Càn nghỉ ngơi đợi thời cơ. Họ tranh thủ đánh chiếm Cát An, cắt đôi Càn Giang, làm cho quân viện địch lúng túng cả chiến lược và chiến thuật, hạ liền mấy huyện Cát An, Thái Hòa, An Phú, Cát Thủy, nối hến hai khu Xô viết Tây Càn và Tương Càn, thúc đẩy sự phát triển cách mạng ở địa phương. Hồng Thủy tham gia liền ba tháng đánh vận động của Quân đoàn mười hai, cảm nhận được sự sáng suốt vĩ đại của tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông. Sau đó ít lâu, Hồng quân công nông lại thu được thắng lợi toàn diện trong việc đánh bại lần "vây quét" thứ nhất của quân Tưởng. Trong thực tiễn vĩ đại của đấu tranh vũ trang cách mạng, Hồng Thủy đã trưởng thành, lĩnh hội sâu sắc nghệ thuật chỉ huy quân sự của Mao Trạch Đông.


Năm 1932, Hồng Thủy trở thành cán bộ lãnh đạo sư đoàn của Hồng quân công nông Trung Quốc. Trong máu lửa đấu tranh, kể cả quân sự và chính trị, ông đã nắm thuần thục, có lý luận và kính nghiệm thực tiễn phong phú, đúng vào lúc Trung ương quyết định thành lập Học viện Quân chính Trung ương ở "Thủ đô đỏ" Thụy Kim, cần một số đông các đồng chí có văn hóa, có lý luận, kinh nghiệm thực tế để làm giáo viên.


Trung ương quyết định điều Hồng Thủy về đó giảng dạy. Cùng làm giáo viên chính trị của Học viện thời đó còn có các đồng chí Ngũ Tu Quyền, Trương ái Bình, La Quý Ba, Thành Phương Ngô, Lý Nhất Miên...


Tại Học viện Hồng quân, giữa giáo viên và học viên không có sự phân biệt nghiêm cách. Mọi người cùng ăn, cùng ở, cùng thao tác, cùng nhau thảo luận mọi vấn đề. Giáo viên và học viên chan hòa thành một khối, thân thiết như anh em. Hồng Thủy hết sức đề cao trách nhiệm, thái độ dạy học rất chu đáo, gây cho mọi người một ấn tượng sâu sắc.


Cuối năm đó, Hồng Thủy và Lý Bá Chiêu, Triệu Thẩm Tam, chủ nhiệm câu lạc bộ của học viên cùng một số phần tử tích cực khác, lần đầu tiên trong lịch sử Hồng quân lập nên đoàn kịch số một - Đoàn kịch Lam San, Hồng Thủy làm trưởng đoàn kịch, Lý Bá Chiêu làm Bí thư chi bộ. Từ đó đến tháng Mười năm 1934, trước khi Hồng quân tiến hành trường chinh, trong khoảng thời gian hơn một năm, Hồng Thủy tập trung mọi tinh lực vào công tác văn hóa của khu căn cứ. Ông dạy cho mọi người chơi đàn, ca hát, nhảy múa, làm sôi nổi hẳn sinh hoạt văn hóa của khu căn cứ. Ông còn lên lớp cho trường kịch nghệ trung ương Thụy Kim, tuyên truyền lý luận văn nghệ của chủ nghĩa Mác. Ông lại thường xuyên cùng Tiền Tráng phi, Lý Bá Chiêu, Thôi Âm Ba (người Triều Tiên), Trương Ái Bình, Tưởng Diệu Đức, Thiết Luân biên soạn và diễn kịch.


Hồi đó ở khu Xô viết Trung ương có dàn dựng một vở kịch nói tên là "Khói lửa Thượng Hải". Vở kịch phản ánh sự kiện ngày 28 tháng Hai năm 1932, làm náo nức lòng người: nhân dân Thượng Hải đã nhất tề đứng lên cùng với Lộ quân mười chín của Quốc dân đảng đánh bại quân xâm lược Nhật Bản. Hồng Thủy và Tưởng Diệu Đức chủ nhiệm quân y của Học viện, đóng vai chính, trương ái Bình làm đạo diễn, diễn xuất rất thành công, được quảng đại nhân dân Thụy Kim nhiệt liệt hoan nghênh. Các nhà lãnh đạo Trung ương như Mao Trạch Đông, Chu ân Lai, Chu Đức, Hạng Anh đều tới xem, rất hai lòng đoàn kịch công nông và động viên tất cả "hãy nắm vững vũ khí nghệ thuật để tiến hành đấu tranh với địch”.


Hồng Thủy còn viết mấy vở kịch, song do hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, trường kỳ, bị tán lạc mất, không giữ lại được.

Do ảnh hưởng của đoàn kịch công nông trong khu Xô viết Trung ương rất lớn, nên tiếng tăm của Hồng Thủy mồi ngày một lan rộng. Tháng 1 năm 1934 ở “Thủ đô đỏ” Thụy Kim, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ hai của nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa, qua sự nghiên cứu và đề cử của Trung ương, Hồng Thủy là đại biểu tham dự đại hội.


Vì ông là người ngoại quốc, nên các đại biểu có chút nghi vấn về tư cách đại biểu của ông. Cuối cùng, Chu Ân Lai đề ra một giải pháp tuyệt hảo: đồng chí Hồng Thủy với tư cách đại biểu "Dân tộc thiểu sổ” tham gia Đại hội Đại biểu nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa. Trong phiếu bầu phát ra, bên cạnh tên Hồng Thủy có chú thích.


Trong kỳ đại hội này, Hồng Thủy trúng cử làm ủy viên Ban chấp hành Trung ương nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa. Hồng Thủy và đồng chí Tất Sĩ Đễ, người Triều Tiên, là hai ủy viên người nước ngoài tham gia chính phủ Dân chủ của khu Xô viết công nông Trung ương.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #26 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 10:01:07 am »

Vì đối đầu trực tiếp với Trương Quốc Đào, Hồng Thủy bị gán cho tội "Gián điệp quốc tế”. Nhờ có Chu Đức, Lưu Bá Thừa bảo vệ, ông mới tránh khỏi bị hại. Ông đã ba lần vượt "Núi tuyết qua "Thảo nguyên”. Lần thứ ba, ông một mình "Đơn thương độc mã" lên được Diên An.


Từ tháng Chín năm 1933 đến mùa hè năm 1934, Hồng quân ở khu Xô viết Trung ương phải tiến hành đánh trả cuộc "vây quét lần thứ năm. Do người lãnh đạo của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Bác Cổ (Tần Bang Hiến) và cố vấn quân sự Lý Đức (tên thật là Otto Brawn, đảng viên Cộng sản Đức, được Quốc tế Cộng sản phái đến làm cố vấn) thực hiện chiến lược tiến công mạo hiểm (theo cách đánh dàn trận chính quy), sau đó lại quay về chiến lược phòng ngự bị động rất bảo thủ, do đó Hồng quân càng đánh càng bất lợi, khu Xô viết ngày càng bị thu hẹp. Đến đầu tháng Mười, Quốc dân đảng mở cuộc tấn công đánh thẳng vào trung tâm của khu Xô viết Trung ương, nhanh chóng chiếm được Tuyến Hưng Quốc, Ninh Đô, Thạch Thành. Khu vực đất đai để cơ động của Hồng quân càng bị bó hẹp, việc đánh bại cuộc "vây quét, lần thứ năm của Quốc dân đảng không còn có khả năng, buộc phải rút khỏi khu Xô viết, thực hiện chiến lược di chuyển. Cũng vào lúc này Hồng Thủy bị những người lãnh đạo "cơ hội chủ nghĩa tả khuynh” chụp cho cái mũ "Đặc vụ cao cấp" và bị khai trừ luôn khỏi Đảng.
Tháng Mười năm 1934, Hồng quân bắt đầu cuộc trường chinh. Hồng Thủy bị điều khỏi Học viện và đưa về Đoàn cán bộ Trung ương. Do Chu Đức và Lưu Bá Thừa quan tâm và bảo hộ, ông được điều về đội trực thuộc, phụ trách công tác tuyên truyền và động viên trung đội trong quá trình trường chinh.


Từ năm 1932, Hồng Thủy đã là cán bộ lãnh đạo cấp cao, cấp sư đoàn của Hồng quân công nông, nay tự nhiên bị giáng chức, ông cũng chẳng hề buồn rầu, vẫn bình thản kiên quyết theo Đảng, kiên quyết theo Hồng quân Trung ương, đi lên Bắc kháng Nhật.
Đoàn cán bộ Trung ương đi theo Hồng quân, xuất phát từ Giang Tây, chuyển xuống Hồ Nam, Quảng Tây, đột phá bốn tuyến ngăn chặn của địch. Tháng 1 năm 1935, vượt qua Ê Giang, chiếm thành Tuân Nghĩa, ở đây Bc chính trị đã triệu tập một hội nghị có ý nghĩa lịch sử vĩ đại: Hội nghị Tuân Nghĩa, xác lập vị trí lãnh đạo toàn Đảng của Mao Trạch Đông. Cũng tại Tuân Nghĩa, được Đảng ủy Tung đội hành quân Trung ương phê chuẩn, đã xóa bỏ việc xử án sai cho Hồng Thủy, và khôi phục lại đảng tịch cho ông. Hội nghị Tuân Nghĩa như ngọn đèn làm sáng tỏ tâm can của Hồng Thủy. Từ đó ông lại cao đầu thẳng tiến, lòng tin ở cách mạng càng kiên định.


Sau Hội nghị Tuân Nghĩa, Mao Trạch Đông trực tiếp lãnh đạo Phương diện quân thứ nhất, vượt Xích Thủy, vây Quý Dương, bức Côn Minh, một mặt thẳng tiến về phía trước, một mặt quay sau đánh vận động vào quân truy đuổi, có lúc đi qua mũi kẻ địch, phá vỡ vòng đai ngăn chặn của địch. Khi vượt Xích Thủy, Đoàn cán bộ Trung ương phải trực tiếp tham gia hai lần ác chiến. Cán bộ, chiến sĩ ai ai cũng dũng cảm xông lên, đánh thật dũng mãnh ngoan cường. Hồng Thủy chiến đấu rất dũng cảm, được Lưu Bá Thừa khen ngợi. Đoàn cán bộ Trung ương do Lưu Bá Thừa trực tiếp chỉ huy, đã khôn khéo chiếm bến vượt Giảo Bình, sông Kim Sa, bảo đảm an toàn cho Hồng quân Trung ương vượt sông Kim Sa. Sau đó họ lại xung phong hãm trận, vượt sông Đại Độ bằng sức mạnh, liên tục vượt qua bốn quả Núi tuyết lớn thuộc dãy Giáp Kim Sơn quanh năm tuyết phủ, đến được Tứ Xuyên, hội sư cùng Phương diện quân thứ tư.


Sau khi hai phương diện quân một và bốn hội sư, Trung ương quyết định chia Hồng quân thành hai lộ quân tả và hữu để tiến lên phía bắc. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền soái lĩnh lộ quân hữu, có cả thành phần của hai phương diện quân hợp lại; Chu Đức, Trương Quốc Đào, Lưu Bá Thừa soái lĩnh lộ quân tả.


Thượng tuần tháng Tám, Chu Đức, Lưu Bá Thừa dẫn một bộ phận của lộ quân tả xuất phát từ Trắc Khắc Cơ thuộc Mã Nhi Khang, đến hội hợp với một bộ phận khác của lộ quân tả tại A - Bá, sau đó vượt thảo nguyên rồi hội sư với cánh quân hữu vượt thảo nguyên ở Mao Nhĩ Cái.


Đại thảo nguyên, khu đồng cỏ hoang, ngang dọc sáu trăm lý (300km) không một bóng người, muông thú rất hiếm, chỉ thấy tít tắp toàn là cỏ dại, xen lẫn đầm lầy, nếu sa xuống, càng giãy càng thụt sâu cho tới khi chìm nghỉm. Ở đây đêm ngày nóng, lạnh rất khác biệt. Tháng Tám ở thảo nguyên không có mưa, chỉ có sương mù mịt, đi chẳng được là bao, toàn thân bùn đất be bét, đêm nằm bị gió lạnh cao nguyên thổi, rét run cầm cập.


Trong hoàn cảnh ác liệt gian khổ như vậy, Hồng Thủy vẫn giữ được tinh thần cách mạng, hăng hái. Ông cùng các bạn chiến đấu giúp đỡ nhau vượt khó, mỗi ngày chỉ được mấy trái cây xanh, chủ yếu là ăn rau dại và củ dại để vượt qua thảo nguyên mênh mông.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #27 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 10:01:43 am »

Lộ quân tả đến cầu Nhật Can thuộc sông Cát Khúc, đang tới thời điểm quan trọng vượt sông, Trương Quốc Đào mượn cớ nước sông Cát Khúc đang dâng cao, qua cầu Nhật Can không có đường, phản đối việc Bắc tiến, đem quân bản bộ quay về Nam. Hồng Thủy kiên quyết ủng hộ chủ trương đúng đắn của Chu Đức, Lưu Bá Thừa, ủng hộ đường lối chính xác của Trung ương Đảng phải tiến lên Bắc để kháng Nhật, nên đã trực tiếp tranh luận kịch liệt với Trương Quốc Đào, kết quả là Trương Quốc Đào nổi giận lôi đình, ghép cho Hồng Thủy tội "Gián điệp quốc tế” và khai trừ ông ra khỏi Đảng một lần nữa, rồi có ý định mưu sát ông. Nhờ có Chu Đức, Lưu Bá Thừa hết sức che chở, ông mới thoát nạn.


Hạ tuần tháng Chín, lộ quân tả từ A - Bá chính thức quay về Nam, đi về hướng Thiên Kim - Lư Sơn. Hồng Thủy phải theo Chu Đức, Lưu Bá Thừa cùng số lớn cán bộ chiến sĩ một lần nữa vượt thảo nguyên, trèo Núi tuyết, lại một lần khốn khổ. Lộ quân tả khi tiến về Nam, tuy có đánh thắng nhiều trận, song trong hình thái địch mạnh, ta yếu, bị Quốc dân đảng bao vây, truy đánh, cộng thêm sự chỉ huy sai lầm của Trương Quốc Đào nên cuối cùng đã bị tổn thất rất nặng nề.


Trong hoàn cảnh đó, đơn vị sở tại của Hồng Thủy bị quân địch đánh tan, chỉ còn một mình, với quyết tâm về với bộ đội, ông tiếp tục Bắc tiến. Ông hóa trang thành dân địa phương, lần thứ ba vượt "Núi tuyết" và "Thảo nguyên", "đơn thương độc mã" thẳng tiến về Diên An. ông tìm sao Bắc Đẩu để xác định phương vỉ cho mình. ông nghĩ, còn hơi thở còn Bắc tiến, tìm đến cho được Hồng quân Trung ương do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Trên đường đi ông đã phải chăn dê, dắt lừa, miễn có cái đút vào bụng, cuối cùng một thân, một mình ông đã mò được tới Diên An.


Khi Hồng Thủy mặc bộ đồ người Tạng vừa rách vừa bẩn, người gầy như que củi, từ phía sau tiến lên trước mặt các đồng chí của mình, không ai nhận ra nổi ông. Các đồng chí khi biết chuyện đều rất cảm động trước tinh thần cách mạng bất khuất của ông. Hồng Thủy đến Diên An đã là đầu năm 1936.


Hồng Thủy ba lần vượt "Núi tuyết" và "Thảo nguyên", thật là thiên nan, vạn hiểm. ông là một trong bốn người nước ngoài cùng Phương diện quân một của Hồng quân công nông Trung Quốc hoàn thành cuộc trường chinh dài hai vạn năm nghìn lý (12.500km).
Sau khi Hồng Thủy tới Diên An, một lần nữa Trung ương Đảng lại xóa bỏ án tịch của Hồng Thủy (do Trương Quốc Đào xử), khôi phục lại Đảng tích cho ông.


Nghe Hồng Thủy kể về cuộc đời hoạt động của mình, trái tim tôi vô cùng xúc động. Tôi bàng hoàng nói với anh:

"Đồng chí Hồng Thủy, nửa cuộc đời của anh đã bị bao nhiêu lần đả kích, chịu biết bao gian khổ, hiểm nguy. Những nỗi khổ cực, khó khăn đó, người thường dễ mấy ai chịu nổi. Anh còn sống được đã là một kỳ tích. Thật không dễ dàng chút nào!"

Nghe lời khen của tôi, mắt anh lộ vẻ kiên quyết:

"Đó chính là cách mạng. Nếu một người đã có quyết tâm tham gia cách mạng thì phải chịu được mọi loại thử thách và đả kích, kể cả khi bị đồng chí của mình làm sai, nếu không làm sao có thể trở thành một người cách mạng chân chính được?"

Tôi khe khẽ gật đầu, đồng thời rất thương cảm, khen anh:

"Đồng chí Hồng Thủy, anh là một người Việt Nam đến Trung Quốc tham gia hoạt động cách mạng, có thể nói là một chiến sĩ chủ nghĩa quốc tế chân chính”.

Hồng Thủy tủm tỉm cười, rút ở áo ra một quyển sách nhỏ đã quá cũ kỹ, trong sách toàn chữ Pháp, tôi thì một chữ'cũng không biết, chỉ thấy trong sách có hàng chữ gạch chân bằng bút chì đỏ, hoặc đánh dấu nhằng nhịt.

Hồng Thủy dùng tiếng Pháp đọc vài câu, rồi dịch sang tiếng Trung:

"Công nhân không phân biệt Tổ quốc... Chí ít là liên hợp hành động của các quốc gia văn minh, đó là một trong điều kiện quan trọng hàng đầu để giành được giải phóng cho giai cấp vô sản”.

Anh còn bảo tôi, trong lời kết của "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”, hai người thầy của cách mạng, Mác và Ăng - Ghen còn viết lên lời kêu gọi hùng tráng của thời đại. Các ông hô hào:

"Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!"

Tôi chăm chú lắng nghe anh giải thích tiếp:

"Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới có quan hệ lẫn nhau. Một quốc gia muốn giành được thắng lợi cũng rất cần những người cách mạng trên thế giới giúp đỡ và ủng hộ. Tôi đến Trung Quốc tham gi.a cách mạng là để học tập kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc, để tích lũy lực lượng cho cách mạng Việt Nam. Cuộc chiến tranh kháng Nhật của nhân dân Trung Quốc cũng giúp đỡ và ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam".

Hồng Thủy có phần bị kích động, càng nói càng to.

Tôi đã thật sự rõ tại sao Hồng Thủy lại không bị dao động trước quá trình sống chết của mình, bị đe dọa, vẫn dũng cảm tiến lên. Vì rằng trong trái tim anh đã có ngọn đèn sáng soi bốn bể, và ngọn đèn đó cũng sáng trong trái tim tôi.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #28 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 10:03:02 am »

Tại trường đại học của Hồng quân, Hồng Thủy đã được các đồng chí lãnh đạo Trung ương, Mao Trạch Đông, Chu Đức... quý mến.

Ngày 1 tháng Sáu năm 1936, trường đại học của Hồng quân công nông Trung Quốc chính thức khai giảng lần đầu; Mao Trạch Đông làm Chính ủy. Lâm Bưu làm Hiệu trưởng, La Thụy Khanh là Chủ nhiệm huấn luyện. Trường có ba khoa. Khoa thứ nhất, học viên chủ yếu là cán bộ cấp trung đoàn và sư đoàn. Trưởng khoa là Trần Quang, La Vinh Hằng là Chính ủy khoa. Học viên gồm có La Vinh Hằng, Lâm Bưu, La Thụy Khanh, Lưu Á Lầu, Trần Quang, Trương ái Bình, Bành Tuyết Phong, Dương Thành Vũ, Đàm Chấn, Vương Bình, Cảnh Tiên, Mạc Văn Hoa, khoảng bơn mươi người. Hồng Thủy và Vũ Đình người Triều Tiên, là học viên ngoại quốc trong số đó. Lâm Bưu, La Vĩnh Hằng, La Thụy Khanh, Lưu Á Lầu, Trần Quang, Mạc Văn Hoa những vị này vừa là học viên vừa là cán bộ của Trường Đại học Hồng quân.


Trường Đại học Hồng quân lúc mới mở ở Ngõa Diêu Bảo tỉnh Thiểm Bắc. Chính phủ cách mạng Thiểm Cam Ninh cũng đóng ở đó. Cuối tháng Sáu, Quốc dân đảng đột nhiên oanh kích Ngõa Diêu Bảo. Trường Đại học Hồng quân theo chính phủ Thiểm Cam Ninh chuyển đến huyện Bảo An.


Nhà trường ở trên sườn dốc đá ở đông nam huyện Bảo An. Ở đây có mấy chục hang đá hoang vu không người ở. Học viên không phân chức vụ cao thấp, ai cũng phải lao động để xây trường sở, dọn dẹp môi trường, quét sạch hang đá. Họ dùng đá để lấp bớt cửa động, rồi ghép gỗ phế liệu làm cửa ra vào, dùng cỏ bện thành các rèm cửa. Một số hang nhỏ được dùng làm phòng ngủ, một hang to nhất dùng làm giảng đường. Các hang này trước đây dùng để dốt dê mùa chăn thả, Hồng Thủy và các bạn đồng học phải ra sức dọn sạch phân dê, cỏ rác, quét sạch sẽ, rồi dựng một phiến đá giáp vách đá làm bảng đen, dùng đá kê làm bàn ghế ngồi học.


Trường rời đến Bảo An không lâu, Mao Trạch Đông đến giảng bài. Học viên lấy ván ghép thành một biểu ngữ treo trước cửa phòng học, trên đề bốn chừ lớn "Chào mừng Chủ tịch”. Một buổi sáng, Mao Trạch Đông, Trương Văn Thiên, Bác Cổ (Tần Bang Hiến), Từ Đặc Lập cùng đến thăm trường. Mao Trạch Đông giới thiệu với học viên các vị cùng đi xong, liền nói với học viên: "Hình thái của thời kỳ cách mạng trước đây không tốt, khiến chúng ta phải chạy một chuyến dài hai vạn năm nghìn lý (12.500km). Hồng quân đã từng có mấy chục vạn quân, nay chỉ còn hai đến ba vạn. Nếu không có Lưu Chí Đan. chuẩn bị một nơi tốt để an bài như hiện nay, không biết chúng ta còn phải đi đến đâu nữa".


Tiếp sau đó ông còn giảng về hình thái trước mắt, nói rõ tại sao ta phải đổi khẩu hiệu "Chống Tưởng, kháng Nhật” sang "Bức Tưởng, kháng Nhật”.

Ông nói:

"Đối với Tưởng Giới Thạch, trước mắt phải lôi kéo, sau lưng phải thúc mạnh, buộc hắn phải bước lên con đường kháng Nhật. Nếu hắn không chịu đi, thì chỉ có là Hán gian, là giặc bán nước, tiếng xấu để muôn đời. Vì thế, hắn còn đang đắn đo suy nghĩ”.
Cuối cùng, Mao Trạch Đông nói về sự cần thiết phải học tập.

Hồng Thủy chăm chú lắng nghe, ghi chép cẩn thận, để không sót lời giảng của Mao Trạch Đông. Nghe những lời phân tích sâu sắc của Mao Trạch Đông, có nhiều điểm trúng ý nghĩ của mình ông cười tủm tỉm.

Sau khi giảng trên lớp học Mao Trạch Đông đi đến chỗ ăn, ở của học viên, nhìn thấy các dụng cụ bằng đá do học viên làm ra, ông nói khôi hài:

"Các đồng chí sinh hoạt như thời kỳ đồ đá, nhưng lại học khoa học tiên tiến nhất - chủ nghĩa Mác - Lênin. Các đồng chí là con cháu của "Nguyên thủy thiên tôn" đang tu luyện trong hang đá. Thế lúc nào thì hạ sơn? Khi nào thiên hạ đại loạn các đồng chí sẽ xuống núi?"

Mao Trạch Đông khuyên mỏi người yên tâm học tập để nghênh tiếp và xúc tiến cao trào cách mạng dân tộc kháng Nhật đang tới.

Khi Mao Trạch Đông tới hang của Hồng Thủy ở, ông vui vẻ hỏi:

"Chú Hồng, chú sinh ra ở phương Nam, với sinh hoạt ở miền Bắc có chịu được và quen không?"

Hồng Thủy cười trả lời: "Báo cáo Chủ tịch, mọi việc đều quen rồi ạ".

Trước việc Mao Trạch Đông quan tâm đến cá nhân mình, Hồng Thủy vô cùng cảm kích.
Sau đó, trong khóa này, Mao Trạch Đông còn đến giảng thêm mấy bài. Nội dung giảng dạy là: "Vấn đề chiến lược của chiến tranh cách mạng Trung Quốc", sau này được in thành sách. Đến Trường Đại học Hồng quân giảng bài còn có Trương Văn Thiên, Khải Phong, Bác Cổ Dương Thượng Côn, Lý Duy Hán, Từ Đặc Lập...


Hồng Thủy và các học viên hết sức tranh thủ thời gian quý báu, một mặt đọc tài liệu, một mặt liên hệ bản thân rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu về đấu tranh chính trị, quân sự trong mười năm qua, làm trong sạch về tư tưởng, làm tốt việc tổng kết. Trong các cuộc hội thảo Hồng Thủy rất tích cực phát biểu. Thời gian ban ngày không đủ, ban đêm họ đọc sách tiếp dưới ánh nến của địa phương làm. Lúc đó bài giảng được in trên mặt sau của giấp đã dùng rồi, còn xanh, đỏ lòe loẹt, in rất mờ. Thế nhưng học viên ngồi trên ghế đá, tỳ trên bàn đá vẫn say sưa đọc.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #29 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 10:03:52 am »

Trung ương rất quan tâm đến đời sống, sinh hoạt của học viên khóa một, yêu cầu mỗi tuần phải có một con lợn hoặc dê cho học viên có thịt ăn. Chính ủy La Vinh Hằng tổ chức cho học viên đi xa mấy chục cây số để về các làng, các chợ mua dê, lợn. Hồng Thủy hăng hái đi ngay. Ông cùng các học viên khác mua được hơn mười con lợn và mười mấy con dê. Trước đó học viên ăn cơm chỉ có đậu răng ngựa, ớt, rau cải bẹ và đậu phơi khô, nay có thêm thịt lợn, thịt dê, mọi người đều khoái chí.


Học viên khóa một Trường Đại học Hồng quân lúc ấy đều còn trẻ tuổi. Hồng Thủy cũng mới có hai mươi tám tuổi Để làm cho sinh hoạt ngoại khóa thêm phong phú, La Vinh Hằng trực tiếp tổ chức chơi bóng rổ. Không có bảng bóng, họ đóng bốn cây gỗ, trên đóng mấy ván gỗ làm bảng, vòng rổ thì lấy đai thùng cố định trên bảng. Thế là họ tự tạo ra sân chơi bóng rổ. La Vinh Hằng lại cho người tìm một tấm da dê khâu lại làm bóng tự tạo, không có bơm học viên thay nhau phùng mang trợn mắt thổi. Hoạt động bóng rổ đã được triển khai như vậy. Ngoài ra, còn tổ chức diễn kịch vào ngày nghỉ. Tất cả các việc trên, Hồng Thủy đều là một trong những thành viên tham gia tích cực nhất.


Ngày 7 tháng Mười năm 1936, ba phương diện quân một, hai, ba đều hội sư tại Cam, Túc, Hội, Ninh. Cuối tháng Mười một, Chu Đức, Lưu Bá Thừa, Hạ Long, Quan Hướng ưng đều đến được Bảo Anh Học viên Trường Đại học Hồng quân và nhân dân địa phương đi đón chật đường, vừa đi vừa đánh trống khua chiêng, thổi sáo ầm ĩ.


Hồng Thủy và các bạn học cùng nhau đến hang Chu Đức ở để thăm thì đã thấy ở cửa, người chen chật như nêm cối. Chu Đức khi trông thấy người đã đến Diên An trước ông là Hồng Thủy, rất vui mừng nói:

"Chú Hồng, sau chiến dịch Bách Trượng, nghe nói đơn vị của chú bị đánh tan, rất lâu không được tin tức gì của chú, ai dè chú lại đến Diên An trước tôi. Chú gặp tai nạn lớn không chết, tất có phúc về sau”.

Hồng Thủy cười nói với thủ trưởng cũ: "Dạ thưa, tôi hiện nay còn đang được học ở Trường Đại học Hồng quân chính là phúc về sau vậy!”

Từ đó về sau, mỗi khi rỗi rãi Chu Đức thường đến trường để đánh bóng rổ. Ông thường đánh ở vị trí tiên phong. Có lúc ông là cầu thủ, có lúc lại làm trọng tài. Nếu gặp khi có chị Khang Khắc Thanh (vợ Chu Đức) cùng đến thi đấu, lại cùng ở một bên với Chu Tổng tư lệnh thì lập tức có chuyện tức cười. Mỗi khi bóng được chuyển tới tay Chu Đức, chỉ cần chị Khang kêu khẽ "chuyền đây" hay hét to "Lão Tổng" Chu Tổng tư lệnh lập tức chuyền bóng ngay sang cho chị Khang, làm cho mọi người lại bò ra cười rũ rượi. Hồng Thủy cũng là một phần tử tích cực của dân bóng rổ. ông thường cùng chơi một bên với Chu Tổng tư lệnh, tình cảm giữa hai người càng thêm sâu sắc.


Ngày 12 tháng Mười hai năm đó xảy ra sự biến Tây An. Phản ứng của học viên trong trường rất mãnh liệt. Hồng Thủy bản tính hiếu động, lúc này càng bị kích động hơn. Mọi người đều yêu cầu giết béng Tưởng Giới Thạch đi. Hai ngày sau, trong một buổi đại hội ở bảo An, Mao Trạch Đông nói chuyện về vấn đề này:

"Hiện giờ đã bắt được Tưởng Giới Thạch, mọi người thấy nên làm như thế nào?"

Mao Trạch Đông vừa dứt lời, Hồng Thủy và mọi người đã hét vang:

"Giết hắn đi!"

Mao Trạch Đông nói: "Tôi biết mọi người thế nào cũng trả lời như vậy. Giết hắn đi rất dễ, chỉ một nhát đao, một viên đạn là xong, thế nhưng đầu người chỉ có một cái, không ghép lại được. Người ta ai cũng phải chết, có người chết già, chết bệnh, trên chiến trường đánh nhau bị chết, có người chết đứng, có người chết ngồi, chết nằm. Tưởng Giới Thạch cũng phải chết. Thế nhưng chủ trương chưa bắt hắn rơi đầu, vì giết hắn rồi là vở tuồng hết. Đối với việc kháng Nhật là bất lợi. Huống hồ giết hắn đi sẽ còn Tưởng Giới Thạch thứ hai, Tưởng Giới Thạch thứ ba. Trung ương cũng không chủ trương giam hắn lại mà là thả hắn ra. Trước đây, Gia Cát Lượng đã bảy lần phóng thích Mạnh Hoạch, đối với Tưởng Giới Thạch sao không thả hắn một lần nhỉ?"


Mao Trạch Đông dùng ngôn ngữ bình thường nhưng sâu sắc, khiến Hồng Thủy thấy sáng tỏ và chịu phục. Qua bảy tháng học tập khẩn trương tháng 1 năm 1937, Hồng Thủy tốt nghiệp Trường Đại học Hồng quân. Lúc đó trường đổi tên là Trường Đại học Quân chính kháng Nhật khóa hai. Hồng Thủy được học thêm một thời gian nửa ở trường, sau đó được phân về công tác ở Bộ Dân vận Tổng bộ chính trị Hồng quân công nông.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM