Hai người lính mồ hôi đầm đìa, áo quần phủ kín bụi đường bước lên những phiến đá lót cầu bắt qua hồ nước bao quanh đền Angkor Wat dưới ánh nắng chiều lay lắt. Năm ngọn tháp đồ sộ như năm ngọn lửa huy hoàng đang bùng cháy dưới ánh nắng chiều. Và Huy, đứng lặng người với một cảm giác không thể tả. Là kinh sợ? Là kính ngưỡng? Là bàng hoàng? Hay là tất cả những cảm giác đó cùng trộn lẫn vào nhau.
Bình kéo tay Huy:
- Thôi chúng ta quay ra ăn cơm đã, đói lắm rồi. Ông cứ ở đây vài hôm, đi vòng vòng mà coi cho đã. Vội vàng gì.”
Hai người đi về phía tiểu đội của Bình. Có hai người lính đang ngồi trò chuyện trước một túp nhà tranh. Họ đứng bật dậy khi nhìn thấy Bình, một trong hai người là một cậu bé Khmer khoảng mười lăm mười sáu tuổi. Người lính kia la to:
- Anh Bình đã xuất viện rồi đó hả? Mấy tháng nay không có anh buồn quá.
Anh ta quay sang nhìn Huy dò hỏi. Bình cười tươi:
- Đây là anh Huy, cùng nằm viện với anh. Huy ghé đơn vị mình chơi vài bữa để tham quan khu đền cổ. Sao, chiều nay có gì ngon ngon để đãi khách không Bằng?” – Bình quay sang Huy, chỉ vào hai người lính kia – Bằng là thằng em nhập ngũ cuối 85, còn thằng nhỏ kia là Rai, trước là lính Pot, kỳ đó tụi tui bắt được nó rồi cảm hoá nó gia nhập đơn vị luôn. Ở đây, tụi tui là lính giữ chốt nên thiếu quân dữ lắm. Có thêm Rai cũng đỡ cực.”
Bằng và Rai lo chạy vào nhà bếp nấu nướng. Huy và Bình đi ra hồ tắm táp. Khi họ quay về, cơm nước cũng đã chuẩn bị xong xuôi.
Sau bữa cơm chiều, Bình trao đổi với Bằng và Rai một số công việc rồi kéo Huy và hai người kia ra trước sân để uống trà.
Huy nhấp một ngụm trà rồi hỏi Rai:
- Trước khi về với bộ đội Việt Nam, em gia nhập lính Pot lâu không?
- Em đã được Angka dạy cách gài mìn, bắn súng AK và B40 từ năm 12 tuổi. Năm 14 tuổi bắt đầu tham gia lực lượng Khmer đỏ.”
- Thế gia đình em còn có ai không?
- Cha mẹ em đều bị giết vì những lỗi rất nhỏ, hồi đó em khoảng năm tuổi, Khmer đỏ nuôi em và em làm việc cho họ. Sau đó họ bắt đầu dạy em cách dùng vũ khí.”
Rai kể lại cho Huy nghe cuộc đời của mình. Cậu bị cách ly khỏi cha mẹ từ lúc là một em bé. Cha của cậu là một thầy giáo, cả cha và mẹ cậu ta cũng bị chia cách ở hai phum cách nhau chừng 5 km. Rai lớn lên cùng chín mười đứa bé khác do một người lớn chăm lo. Lên sáu bảy tuổi, cậu ta đã bị bắt ra đồng làm việc. Một nhóm trẻ con phải kéo cày thay cho trâu bò. Và thức ăn rất ít oi, đa phần là cháo. Mỗi tuần, bọn trẻ con được học một mẫu tự Khmer. Và chúng cho rằng thế giới chung quanh chúng đều tồn tại giống như chúng, chỉ biết bạo lực, lao động nhọc nhằn, luôn thiếu đói và xung quanh toàn là súng ống. Quân Khmer đỏ dạy bọn trẻ rằng kẻ thù chỉ cách chúng một cánh tay và chúng phải học những bài hát như Chiến thắng, Quyền lực, Chính quyền mới quyền lực mới, Đấu tranh tiêu diệt quân thù và Tất cả mọi người là một. Lần đầu tiên Rai được cấp khẩu AK 47 là năm cậu lên mười. Khẩu súng dài tương đương với chiều cao của cậu và cậu đã gặp không ít khó khăn trong việc tìm cách vác nó lên vai. Và cậu tập bắn bằng cách nhắm bắn vào những trái cây, thú vật nhỏ hay cá dưới sông. Quân Khmer đỏ có hàng đống vũ khí các loại và cho phép bọn trẻ được chọn lựa trong số các khẩu AK47, M16, M60 , Kalashnakov.
Cậu được dạy bơi bằng một cách vô cùng đơn giản là bị ném xuống sông. Và cậu đã suýt chết đuối nếu không được một người bạn khác kéo lên bờ. Đối với Khmer đỏ, mạng sống rẻ như bèo và chúng chẳng quan tâm tới việc sống chết của bất kỳ ai.
Bọn trẻ được cấp đồng phục gồm quần đen và áo đen để mặc và một chiếc khăn krama quàng cổ đỏ sọc trắng. Chúng mang những đôi dép làm từ vỏ xe.
Tới năm 1983 quân đội Việt Nam mới tiến vào Xiêm Riệp. Và hai bên chiến đấu giằng co với nhau để giành quyền chiếm giữ các ngôi đền quanh khu vực Angkor. Quân Khmer đỏ chiếm giữa Ta Prahm và Preak Khan, còn quân Việt Nam chiếm Angkor Wat, Angkor Thom và ngọn núi Bakain.
Vào thời gian quân Việt Nam tiến vào Xiêm Riệp, Rai đang sống trong một doanh trại của quân Khmer đỏ ở giữa rừng để học cách gài gỡ mìn. Quân Khmer đỏ đã bảo với bọn trẻ rằng quân Việt Nam là những tên khổng lồ, có những bộ răng to lớn và những bộ râu dài. Bọn trẻ đã vô cùng khiếp sợ. Sau đó, Rai rất vui mừng khi thấy rằng quân Việt Nam cũng có kích thước như mình.
Khi quân Việt Nam vừa tới, lực lượng của hai bên ngang bằng nhau. Nhưng sau vài ngày chiến đấu dữ dội, quân Việt Nam đã sử dụng xe tăng. Quân Khmer đỏ chưa bao giờ nhìn thấy xe tăng nên không biết đánh bằng cách nào, họ cố nổ súng vào những chiếc tăng và thấy chúng nằm im bất động. Quân Khmer đỏ cho rằng những chiếc tăng đã bị phá hủy và tiến tới gần. Ngay khi đó, một người lính Việt nam nấp trong rừng ra hiệu, và từ chiếc tăng, những loạt đạn dữ dội nã ra đã giết sạch quân Pol Pot. Lần đó, Rai may mắn vì cậu không tới gần những chiếc tăng, nhưng cuối cùng đã bị những người lính Việt Nam nằm phục trong rừng bắt được.
Và cuối cùng, những người lính Việt nam với lòng tốt và sự đối xử chân thành của mình đã thuyết phục được Rai gia nhập vào đơn vị họ.
Huy ngồi im nghe Rai kể lại câu chuyện đời của nó, cảm thấy chế độ Pol Pot thật là một chế độ kinh khủng ngoài sức tưởng tượng. Một chế độ biến con người trở thành con vật chỉ biết ăn và bắn giết.
Huy hỏi Rai:
- Em có yêu mến những người lính đồng đội Việt Nam này không? Có thấy chúng tôi khác xa bọn lính Pot chuyên đe dọa và giết chóc không?
- Có chứ, em rất yêu mến anh Bình, anh Bằng và nhiều anh khác nữa. Họ coi em như em út, chăm sóc lúc em đau ốm và không bao giờ đối xử hung dữ, tàn nhẫn với em như quân Khmer đỏ.
[1]
Đêm hôm đó, Huy nằm thao thức không ngủ được, mong cho trời mau sáng để vào tham quan khu đền Angkor Wat. Cuối cùng, anh thiếp ngủ đi vì mệt mỏi lúc trời gần sáng.
****
Thế là Huy đã ở Angkor Wat được hai ngày. Thế nhưng anh vẫn thấy rằng mình chưa nhìn ngắm đủ. Anh vẫn thấy lòng run lên với cảnh quan kỳ bí của những ngôi đền.
Những nụ cười Bayon bí hiểm của Angkor Thom mà anh từng thấy trong các bức ảnh phải chăng ẩn chứa một dự cảm về số phận của dân tộc Khmer. Tiếng gió hú qua những hàng cây cổ thụ kia phải chăng là tiếng khóc than của những linh hồn vĩ đại từng gầy dựng đô thị Angkor cổ? Nắng vàng long lanh như lửa thắp trên từng tầng tháp cổ Angkor Wat phải chăng là những giọt lệ của vua Jayavarman II, Suryvarman II và Jayavarman VII tiếc thương một thời vàng son đã mất, thời kỳ đế quốc Khmer trải rộng mênh mông khắp một vùng Đông Nam Á? Những đàn voi rừng lang thang đi qua khu đền tàn tạ thỉnh thoảng lại rống lên những hồi dài buồn bã, phải chăng cũng than khóc cho những gì đã mất? Khung cảnh điêu tàn nhưng hùng vĩ này phải chăng để chứng minh cho một chân lý: kết tinh của máu và nước mắt của vô số con người phải trường tồn mãi với thời gian. Như Vạn lý trường thành. Như Kim Tự Tháp…
Nền văn minh Angkor bắt đầu từ thế kỷ 9 và kéo dài đến thế kỷ 15. Khu đô thị Khmer cổ Angkor trải dài trên 1.150 dặm vuông Anh, nằm ở hướng bắc biển hồ Tông Lê Sáp, thuộc tỉnh Xiêm Riệp ngày nay. Hơn 100 ngôi đền đá, dù đã rêu phong tàn tạ, vẫn trơ trơ tồn tại dưới gió mưa suốt mấy trăm năm qua là những gì còn sót lại của cả một khu đô thị cổ lớn nhất thời kỳ tiền công nghiệp, bao gồm những dinh thự, công trình công cộng và nhà ở xây dựng bằng gỗ đã hoàn toàn bị hủy hoại bởi thời gian.
Sau khi bị Thái Lan xâm chiếm vào vào khoảng năm 1431, dân cư Angkor đã bỏ đi tứ tán. Khu đô thị cổ suy tàn dần và cũng chìm vào quên lãng. Trong hơn bốn trăm năm, nó đã bị vây bọc bởi những cánh rừng rậm mênh mông. Thỉnh thoảng, những vị du tăng đi hành hương băng qua những cánh rừng này nhìn thấy vết tích của những công trình đã suy tàn khủng khiếp. Họ cảm nhận được sự thiêng liêng huyền bí của những khu đền cổ, nhưng hoàn toàn không biết về nguồn gốc của chúng. Họ sáng tác ra những câu chuyện ngụ ngôn về các khu đền đó, và cho rằng chúng được những thần linh nào đó dựng lên vào một thời đại cổ xưa. Sau mấy trăm năm, những câu chuyện đó đã trở thành truyền thuyết. Và người ta chỉ biết rằng có một khu đô thị nào đó đã bị mất tích giữa những cánh rừng. Cho đến năm 1880, nhà thám hiểm người Pháp Henri Mouhot mới tìm ra nó. Và từ đó, những bí mật bị chôn vùi mấy trăm năm của khu thành phố cổ dần được làm sáng tỏ.
Sau này, khi quay lại quê nhà, với tình yêu sâu nặng đối với đất nước Chùa Tháp, Huy đã tìm tòi và hiểu biết sâu hơn về Angkor, về lịch sử thăng trầm và một quá khứ vinh quang nhưng cũng rất đỗi đau thương của đất nước và dân tộc Khmer. Còn giờ đây, anh chỉ biết bàng hoàng lắng nghe những âm thanh kỳ bí vút lên qua những cửa đền Angkor Wat; nghe tiếng gió vi vu buồn thảm lướt qua những tầng cổ thụ. Anh chỉ biết bàng hoàng đứng lặng nhìn những tầng tháp cổ và cảm thấy một cái gì đó u buồn và vĩ đại tràn ngập trên từng nếp đá, tàng cây, nét chạm. Những vũ nữ Apsara trên vách đá dường như đang chuyển động nhịp nhàng với những vũ điệu diệu kỳ. Dường như trên nét mặt họ là những nụ cười buồn bã đầy cam chịu.
Huy còn đang đứng bần thần thì Bình xuất hiện. Nét mặt Bình vô cùng hớn hở. Anh chìa tay ra, trên tay anh là một tờ giấy chi chít chữ. Bình bảo:
- Tui vừa viết thư cho Xuân, ông đọc xem tui viết có cảm động hôn nghe!
Huy đón lá thư từ tay Bình, đến bên một gốc cây thốt nốt và ngồi xuống, chăm chú đọc lá thư. Bình viết những câu sai ngữ pháp, những từ sai chính tả, với sức học của một học sinh lớp năm. Nhưng tràn ngập trong từng câu chữ ấy là một tình yêu trong sáng, đẹp đẽ và sâu sắc. Đọc xong, Huy gấp tờ giấy lại, trao trả cho Bình, lúc đó cũng đang háo hức ngồi cạnh anh, chờ nghe lời nhận xét.
“Ông viết hay lắm, tui đọc mà còn cảm động nữa, nói chi Xuân. Tôi chân thành chúc cho hai người sớm được ở gần bên nhau mãi mãi.”
Bình kéo tay Huy:
“Thôi, vô cất lá thư rồi tụi mình đi một vòng săn bắn. Hôm nay nhất định tui phải đãi ông một món thật ngon để mai ông về đơn vị sẽ nhớ mãi thằng Bình này.”
Cả hai xách súng đi vòng vòng cánh rừng ở hướng đông một lúc vẫn chưa phát hiện ra con mồi nào khả dĩ. Có một hai con chim to nhưng Bình lắc đầu, bảo thịt chúng ăn nhạt lắm, phải kiếm một con mễn hay heo rừng gì đó mới bỏ công nổ súng.
Bình chợt khẽ reo lên:
- Có đống phân heo còn mới toanh nè ông ơi. Con heo này chưa đi xa đâu, tụi mình nhất định phải hạ được nó.
Hai người lính đang dò dẫm lần theo những dấu chân mờ nhạt của con heo in trên lớp cát cứng dưới táng khu rừng, Bình đi trước Huy vài bước. Chợt Huy nghe một tràng liên thanh nổ xé tai ở gần bên. Anh ngã bật người xuống đất, lăn nhanh tới một gốc cây to và chĩa súng về hướng phát ra tiếng súng quất liên tục mấy tràng. Tiếng súng nổ dội lại vang vang từ phía rừng sâu thẳm bên trong. Bắn xong mấy loạt, Huy liếc nhìn lại chỗ anh và Bình đứng lúc nãy. Bình nằm bất động. Máu từ đầu và cả phần thân trên của Bình vẫn còn chảy ri rỉ, lấp lánh phản chiếu dưới những tia nắng lọt qua tàng cây thưa thớt trên đầu. Huy bật kêu lên: Bình ơi!
Bọn địch tập kích không biết chừng bao nhiêu tay súng, hay chỉ có một tên bắn lén, và sau loạt súng thình lình đã chạy trốn mất. Không khí xung quanh im lìm trở lại, chỉ còn tiếng lá cây kêu xào xạc và tiếng chim sâu luýt chuýt mơ hồ. Huy nằm im, thở thật khẽ và cố lắng nghe mọi âm thanh khác lạ. Một lúc lâu sau, hơn nửa tiếng, không gian vẫn im lìm lặng lẽ, chỉ có bài ca không lời bất tận của rừng. Chợt Huy nghe ba tiếng súng nổ từng phát một, rồi tiếng gọi to ở phía ngoài cánh rừng, cách anh chừng ba trăm mét.
- Anh Bình ơi! Anh Huy ơi!
Giọng của Bằng.
Huy hét to:
- Bằng ơi! Anh ở đây! Bình bị đạn rồi!
Khoảng vài phút sau, Bằng và Rai xuất hiện. Huy chồm người đứng dậy, chạy tới bên Bình. Anh lật ngửa Bình ra, ngực Bình nát toang, Đôi mắt Bình khép hờ, chỉ nhìn thấy tròng trắng. Huy đưa tay lên mũi Bình. Hơi thơ đã ngưng. Nước mắt Huy chợt ứa ra. Anh kêu lên:
- Bình ơi! Ông chết thật sao!
Hai người lính kia chạy tới, quỳ gối bên cạnh xác Bình. Ba người lính nắm lấy đôi bàn tay và cánh tay của Bình, đôi mắt rưng rưng.
Mùa xuân không tới nữa. Và mùa đông này sẽ là mùa đông vĩnh viễn của Bình, Xuân ơi, Xuân có biết không?
1998-12/2007
Nguyễn Thành Nhân
[1] Nhân vật Rai dựa trên cuộc đời của Aki Ra - người sáng lập viện bảo tàng Land Mine Mu-seum ở Xiêm Riệp. Để biết tham khảo thêm chi tiết về Aki Ra, xin mời tham khảo website:
http://www.talesofasia.com/cambodia-akira.htm