Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:31:52 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sao Đen - Tập 3  (Đọc 70594 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #100 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 07:35:12 am »

Ngày hôm sau Vượng mới bật nổi tấm panô ra khỏi khung tranh. Mặt trong panô khá sạch sẽ, được lót một lớp giấy trắng xốp như để chống ẩm hoặc giữ êm cho phần vải gai của mặt trái bức tranh. Vượng lấy kính lúp soi mặt giấy lót thấy có đôi chỗ hoen ố vì thời gian, nhưng dù sao anh cũng chẳng tin thứ giấy đó là do chính bàn tay Tija đặt vào. Bức tranh đã qua nhiều chủ nên có thể một vị nào đó đã nghĩ ra cái trò bảo quản kiểu này. Giữa panô và tranh không có khoảng trống thoáng, độ ẩm có thể làm hoen ố giấy đệm làm ra hủy hoại bức tranh. Vượng nhẹ nhàng tháo gỡ giấy lót ra lấy lúp soi kỹ từng phân vuông trên mặt giấy. Anh muốn tìm kiếm một dấu ấn nào đó của thời gian để có thể viết được vài dòng chữ có giá trị nghiên cứu. Và may sao anh đã tìm ra nhãn hiệu của loại giấy được dập nổi thành dòng dài lặp đi lặp lại gần mép giấy: "Kenneth and the Henderson - Paper - Carton Made in Canada". Như vậy là chỉ cần tìm tuổi của xí nghiệp giấy "Kenneth and the Henderson" có từ bao giờ thì đủ biết có cùng thời với Tija không.


Xong công việc với tờ giấy lót, Vượng xem đến mặt trong tấm ván hậu. Một lớp vécni mỏng màu vàng nhạt phủ lên mặt gỗ. Vượng dùng vải mềm lau đi một lượt. Sau đó anh thấm cồn vào bông phớt nhẹ trên lớp vécni làm cho mặt panô bóng lên như mới. Anh bỗng giật mình có thể cồn sẽ làm hong vécni. Vượng vội lấy lúp soi lên mặt gỗ quan sát anh bỗng kinh ngạc phát hiện ra những nét mờ ăn mòn mặt gỗ thành những hình thù kỳ dị như có một loại vi khuẩn nào đó đã đào nên những đường hào tinh vị có thể đang hủy hoại dần mặt vecni. Lúc đầu Vượng rất lo sợ vì cách bôi cồn bất cẩn của mình đã tạo ra hiện tượng không hay đó. Anh vội lấy vải mềm lau lại một lần hy vọng là quá trình hoá học sẽ ngừng lại hoặc giảm đi. Lau xong Vượng giảm độ sáng cho mặt gỗ bớt bóng. Anh đặt Panô nghiêng với pha đèn một góc xiên từ ba mươi đến năm mươi độ. Khi đưa lúp lên soi lại thì Vượng giật mình trước một hiện tượng mới lạ. Đây không phải là một hình thức xâm thực, hà rỗ hay rạn nứt mà những "đường rãnh" được sắp đặt theo hàng lối như một loại chữ cổ. Nhiều ký hiệu được lặp đi lặp lại. Chúng liên kết với nhau thành cụm, thành nhóm chặt chẽ. Như không muốn tin vào mắt mình, anh bỏ tất cả dụng cụ đấy đi ra vươn vai thở hít ngoài ban công. Mươi phút sau anh trở lại buồng làm việc và lần này anh kháng định đây là một loại chữ cổ biểu hiện một ngôn ngữ đặc biệt nào đó. Anh lục tìm trong kho tàng trí nhớ của mình cũng không sao đoán ra đó ra thứ chữ gì. Nó hoàn toàn xa lạ với mẫu tự Latin Slave Grec, Hindu, Hán tự... Nó cũng chẳng giống gì các thứ chữ của những dân tộc thiểu số mà đã có lần nào đó anh nhìn thấy trong các tài liệu khảo cổ học, dân tộc học...


Sự kỳ lạ của các ký hiệu gây cho Vượng một sự hào hứng mạnh mẽ. Anh đoán là trên con đường du lịch của Tija ông đã qua một xứ sở nào đó. Khi sáng tác hội hoạ ông cũng chú ý đến ngôn ngữ văn tự của xứ đó. Ông ghi chép vào mánh ván này làm tư liệu. Hoặc vì một nguyên nhân ngẫu nhiên ông kiếm được miếng vản đã có ghi chữ sẵn để làm ván hậu cho bức tranh. Vậy thì đây là chữ của dân tộc nào?


Vượng nảy ra sáng kiến vẽ lại tấm bản đồ cuộc hành trình của Tija và sau đó thống kê các địa danh rồi dùng phép đối chiếu, so sánh, loại bỏ để tìm ra lời giải đáp. Nếu đây là sinh ngữ thì có thể dễ dàng tìm thấy. Còn nếu nó là tử ngữ thì sẽ rất nhiều công nhưng chưa chắc đã ra. Nhưng vấn đề càng khó thì nó càng hấp dẫn anh, vì sự thành công đó có giá trị như một luận án khoa học.


Vượng xác định lại phạm vi văn tự ghi trên mặt ván. Anh cũng còn tìm được thêm ba hình vẽ. Đó là nhưng nét kẻ hình học làm cho nó giống một sơ đồ cấu trúc máy móc hơn là nhưng bức tranh cổ trong hang động của người tiền sử. Rõ ràng ở đây đã đạt được một trình độ văn minh cơ giới cao!

Vượng ghi chép tỉ mỉ nhưng suy đoán của mình vào giấy.

Tối hôm ấy Lili phát hiện ra một cảm hứng mới ở chồng. Anh vui vẻ khác thường và nhiều lúc còn tỏ ra đùa nhả với vợ, một phong thái mà chưa bao giờ cô thấy ở anh.

- Bộ anh muốn nhảy disco với em hay sao vậy?

- Disco? Không, anh không biết thứ này. Nhưng nếu thích đi với anh một vài valse thì hoàn toàn có thể.

Lili thay đĩa nhạc. Hai vợ chồng ôm nhau xoay tròn ngay trong phòng khích. Thứ âm nhạc êm dịu trữ tình của J.Trauss đầy ắp căn phòng lan tỏa ra vườn cây nhú hương say mót dạ hội thành Viên vang đến. Vượng không sành âm nhạc nhưng anh thích cái cảm giác chìm nổi trong dòng sông âm-thanh êm dịu. Cái đó giúp cho sự liên tưởng đến điều thánh thiện, trong sạch. Còn Lili thì mơ màng ép má vào vai chồng tận hưởng nhưng rung động kỳ diệu của tình yêu... Khi bản nhạc dừng lại, Lili âu yếm hỏi chồng:

- Bữa nay em thấy anh vui vẻ lắm?

- Đúng thế Lili ạ. Hôm nay là một ngày vui, một ngày sáng tạo!

- Điều gì mới mẻ thế anh?

- Anh vừa phát hiện ra một điều kỳ lạ của bức tranh "Chiếu bạc".

- Thế mà ở bên nó bao nhiêu năm em chẳng thấy điều gì. Đúng là người trần mắt thịt.

- Không phải bên ngoài mà ở phía trong tấm ván hậu.

- Có cái gì thế anh.

- Điều tuyệt vời là chưa biết đặt tên nó là hiện tượng gì. Anh đang đứng trước một câu hỏi như em. Và khi tra lời được thì chắc là thú vị lắm.

- Em cũng tin như vậy. Ngay khi chưa biết nó là cái gì anh đã vui vẻ khác thường thế này. Khi tìm được câu trả lời thì có lẽ anh bắt em múa Sexy như Đường Bảo Vân mất!
Vượng bật cười về nhận xét đáng yêu của Lili. Anh bế bổng vợ lên, xoay tròn một vòng rồi nhẹ nhàng đặt xuống đi văng...
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #101 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 07:36:32 am »

Hôm sau Vượng mò đi thư viện. Anh toan rẽ qua nhà Chu Bội Ngọc để thông báo cho ông ta hiện tượng lạ lùng này nhưng anh bỗng nhớ đến câu chuyện giữa anh và Li li. Chưa tìm ra câu trả lời mà đã quá vui, lỡ chẳng đọc nổi thứ từ ngữ đó thì thật xấu hổ. Vì vậy anh quyết định giữ kín mọi chi tiết, chờ khi hoàn chỉnh bản luận văn lý thú đó anh mới công bố với ông chủ bức tranh.


Anh tra cứu nhiều loại Bách Khoa toàn thư, mở hết những bộ Atlas dày cộm nhưng chẳng tìm ra địa phương, dân tộc nào trên con đường phiêu lưu của Tija có thứ văn tự đó. Công việc ở thư viện ngốn đứt của anh mất hai ngày. Ngoài tấm bản đồ hành trình của Tija với những dấu hỏi nhằng nhịt anh chưa tìm thêm được điều gì mới.
Về nhà, anh lại mở tấm pa-nô nghiền ngẫm, soi đi, soi lại. Cuối cùng anh đã chép những dòng chừ đó ra ngoài một cách máy móc như một người thợ truyền thần.


Một tuần sau, mặt trái tấm pa-nô đã được sao ra đầy đủ. Đỗ Thúc Vượng thích thú ngắm bức "cổ thư" với một niềm tự hào say sưa. Anh lồng kính đem treo lên tường như một bức tranh trang trí cho phòng khách. Rồi bồng anh hứng chí gọi điện thoại cho tướng Đức báo là anh vừa sáng tác một họa phẩm tuyệt đẹp và đang cần có người bình luận.

- Té ra anh còn là một họa sĩ, điều mà tôi chùa từng nghĩ tới.

- Một hoạ sĩ theo trường phái dã thú, siêu thực, ấn tượng hay lập thể gì đó cũng được. Khi nào ranh việc xin mời anh lại xem tác phẩm đầu tay của tôi.

- Rất hân hạnh. Gần sáu thục tuổi mới vẽ tác phẩm đầu tay. Anh đúng là Bormant1 (Hoạ sĩ Borman, nhân vật trong “Chiếc lá cuối cùng” Của O’Henri). Hẳn đấy phải là một kiệt tác.

- À, đó là còn tùy ở sự suy tôn của công chúng. Riêng anh coi là kiệt tác, thì chưa đủ. Với tôi nó vừa là tác phẩm đầu tiên vừa là tác phẩm cuối cùng. Xong bức tranh này là tôi giải nghệ luôn và chang bao giờ vẽ nữa!

- Câu chuyện lôi cuốn tôi quá. Tôi cố thu xếp để đến thăm "expo"2 (Triển lãm) của anh đầu tiên.

Tối hôm đó tướng Đức đến thăm Vượng và ông thấy ngay chiếc khung kính mới treo trong phòng khách.

- Tác phẩm của tôi đấy! - Vượng vui vẻ giới thiệu - Chẳng qua là tôi truyền thần lại một cổ thư viết bằng thứ văn tự kỳ lạ, y như nó được gửi từ một thiên thể khác tới trái đất vậy.

- Anh kiếm đâu được bức "cổ thư" kỳ diệu này?

- Trên mặt trong tấm ván hậu của bức tranh "Chiếu bạc".

- Bức tranh Chiếu bạc? - Tướng Đức hỏi lại với giọng hào hứng đến kinh ngạc.

- Vâng. Theo yêu cầu của ông Chu Bội Ngọc tôi đã tiến hành nghiên cứu tỉ mỉ xem có đúng là nguyên bản của Tija không. Tình cờ tôi phát hiện ra thứ này.

- Anh có thể cho tôi xem nguyên bản được không?

- Xin mời, chỉ có điều hơi khó đọc.

Vượng đưa tướng Đức lên phòng làm việc. Anh nghiêng tấm pa-nô và hướng dẫn người khác cầm kính lúp soi mặt ván. Sau khi xem xét kỹ lưỡng, tướng Đức hỏi:

- Anh có một giả thuyết nào về thư tịch cổ này không?

- Tôi cho là Tija đã bắt chước thứ văn tự của một bộ lạc thổ dân nào đó trên con đường phiêu lưu của ông. Nội dung có thể là một kỷ niệm, một cảm xúc, một folkloret1 (Văn học dân gian)... hoặc bức thư bí mật ông để lại cho hậu thế. Nếu giả thuyết đó đúng thì ngay tấm ván hậu cũng đáng giá như một bức tranh.

- Liệu anh có đọc nổi thứ văn tự đó không?

- Đây là một công trình lâu dài. Tôi mới vẽ được tấm ban đồ cuộc hành trình của Tija. Trên phương diện sách vở thì tôi chưa tìm được dấu vết của thứ văn tự này. Còn tiến hành khảo sát con đường phiêu lưu của Tija thì trên thực tế không thể thực hiện được vì vấn đề tài chính.

- Anh có thể tập hợp những thông tin đo bằng cách viết thư hỏi các viện ngôn ngữ học trên thế giới hoặc qua lưu trữ của UNESCO.

- Câu hỏi "còn tồn tại thứ mẫu tự này trên thế giới không?" thì dễ dàng hơn là “có những thứ văn tự mẫu tự nào tồn tại trên trái đất". Nhưng tôi lại chưa muốn công bố thứ chữ tôi mới khám phá ra. Lỡ nó là thứ văn tự cá biệt độc nhất bị thời gian nhận chìm vào quên lãng thì sao? Vì vậy trước khi hỏi tôi phải tìm hiểu kỹ đã. Tôi không phải nhà ngôn ngữ học nhưng tôi thích tò mò. Hơn nữa từ khi có Lili tôi có thêm nhiều thời gian dành cho các hoạt động văn hóa của mình.


Dưới nhãn quan của một thám tử, tướng Đức lại nghĩ đến một giả thuyết khác. Có thể đây là một thứ mật mã kép, một thứ siêu mật mã, mà Hoàng Qúy Nhân, vị chủ cũ của bức tranh đã dùng để ghi một mật thư tối quan trọng. Vì vậy ông đề nghị Đỗ Thúc Vượng:

- Trong khi chờ đợi đọc được thứ cổ ngữ rối rắm này, xin anh hãy cất kỹ bản sao vào tủ và đừng cố bố với bất cứ ai. Về mặt kỹ thuật, tôi có thể phân tích giúp anh tuổi của tấm ván và tuổi của nét mực ghi mẫu tự đó. Anh sẽ có kết quả này sau một tuần. Nếu tuổi gỗ, tuổi mực quá trẻ so với ngày mất của Tija thì dễ dàng đánh đổ giả thuyết cũ của anh và công việc khảo sát phải chuyển sang hướng khác.

- Cảm ơn anh. Ngoài anh ra tôi chưa hề nói chuyện này với ai. Tôi mới toan thông báo tin này cho ông Chu Bội Ngọc, chủ nhân của bức tranh cũng là người tài trợ cho công việc nghiên cứu của tôi.

- Tôi nghĩ trước sau anh cũng sẽ nói điều này với ông Chu. Nhưng tôi đề nghị anh hãy hoàn chỉnh công trình này xong đã rồi hãy chuyển cho ông ta một thể. Ngay bây giờ thì bất lợi lắm. Có khi chỉ vì một lý do tài chính đơn thuần mà ông chủ quyết định đình chỉ công cuộc khảo sát.

- Tại sao vậy?

- Thí dụ một người nào đó đặt giá bức tranh trên pa-nô quá cao làm cho ông Chu xiêu lòng. Bán những thứ còn chứa đựng nhiều giai thoại cũng là bán kèm cái thèse de doctorats1 (Luận án tiên sĩ) trong đó.

- Ý kiến tướng quân rất hay. Tôi sẽ giữ kín chuyện này.

Tướng Đức vui mừng khi bắt tay tạm biệt Vượng. Có thể những cái Vượng tìm ra còn giá trị hơn "bức cổ thư của Tija”. Ông có thể cho chuyên viên mã thám đến làm việc ngay. Nhưng hành động "sặc mùi cảnh sát" này không phù hợp với ngành khảo cổ, ngành ngôn ngữ học.

…
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #102 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 07:37:31 am »

Ít hôm sau Vượng đã tách trong cấu trúc thứ chủ viết đó ra mười ký hiệu đặc thù. Có thể gọi là mười mô-đuyn cơ bản hình thành thứ văn tự bí mật này. Nếu coi đây là mười chữ cái bao gồm cả nguyên âm lẫn phụ âm thì thứ ngôn ngữ này quá nghèo nàn. Vượng quen với các mẫu tự la-tinh, Slave, Hy Lạp... nên anh đoán bộ tộc làm chủ thứ văn tự đó còn ở một trình độ lạc hậu lắm.


Nhưng khi liên hệ đến cánh kết cấu quy ước của chữ Hán thì mười nét cơ bản trên có thể tạo ra một khối từ rất lớn: Con số này sẽ vượt xa số chữ của bất cứ một cuốn từ điển nào trên thế giới.


Vốn không phải là một nhà ngôn ngữ học, Vượng cứ thả sức cho bộ óc liên tưởng lung tung như vậy. Bỗng anh thấy số mười trùng với số đếm tự nhiên. Như vậy dân tộc này cũng đếm theo cơ số mười. Nếu đây là văn tự của một nền văn minh xa xôi ngoài Thiên Hà thì liệu thế giới đó họ có mười mắt, mười mũi hay cũng mười ngón tay, ngón chân như chúng ta?

Những ý nghĩ hoang tưởng đó làm cho Đỗ Thúc Vượng phấn chấn lạ lùng.

Khi Lili mang nước quả vào cho chồng thì anh đã ôm lấy vợ hôn lấy hôn để.

- Chuyện chi mà kỳ vậy?

- Anh vừa đánh đổ một giải thuyết!

- Trời! Ba lần anh nói với em là anh vừa nêu ra một giả thuyết thú vị. Và vây giờ cũng là lần thứ ba anh báo tin vui là vừa đánh đổ một giả thuyết! Thế nghĩa là anh đánh đổ hết trọi?

- Đúng thế! Và anh đang hình thành giả thuyết thứ tư!

- Trời ơi, cứ tìm ra rồi lại đánh đổ như dã tràng xe cát. Thế mà sao anh vui vẻ quá vậy.

- Anh đang lần đường tới một điều bí ẩn. Trên đường gặp ba cái gã ba. Anh đã bịt được ba hướng đi vô ích. Như vậy là anh đang tiến lên chứ sao!

- Nghĩa là anh mới chỉ tìm ra câu trả lời “mình suy nghĩ sai?".

- Đúng vậy. Einstin một trăm lần nêu ra giả thuyết thì chín mươi chín lần tự ông đánh đổ. Cái còn lại cuối cùng là chân lý, là người bạn đồng hành vĩnh cửu của khoa học.
Lili không hiểu Einstin là ai nhưng cô tin tưởng đến ngây thơ vào điều chồng nói. Đúng sai chưa biết, nhưng đó là những điều anh nghĩ, anh quan niệm. Con đường nhận thức chân lý của anh sao nó gian khổ thế.


Ba ngày liền Lili mang nước vào buồng làm việc của chồng mà không nhận được lời cảm ơn. Vượng ngồi như tượng đá, còn Lili lặng lẽ mỉm cười rồi đi ra. Cô biết rằng giả thuyết thứ tư chưa bị đánh đổ!

Bỗng nhiên nửa đêm Vượng vùng dậy quay máy điện thoại cho tướng Đức.

- Alô, tôi muốn được nói chuyện với ông Đức.

- Tôi đây! Đức đây. Tôi hân hạnh được nói chuyện với ai đó?

- Vượng đây! Xin lỗi đã làm phiền anh lúc nửa đêm. Mai anh lại chỗ tôi nhé. Bản dịch có mấy từ khó quá, tôi muốn bàn với anh.

- Chín giờ anh Vượng nhé! Nếu anh đến được sớm chúng ta cùng ăn sáng, Lili mong anh.

- Cảm ơn anh chị, nhưng tôi không thể đến sớm hơn chín giờ.

- Thì ở lại ăn trưa vậy?

- Vâng, tôi nhận lời.

Đúng chín giờ hôm sau nghe chuông reo, Lili xuống mở cửa đón tưởng Đức lên thẳng phòng làm việc của Vượng.

- Chào anh Đức, tôi đang dở tay không thể xuống đón anh được.

- Không có gì. Tôi có thông tin mới cho anh đây Các phương pháp xét nghiệm độc lập đều đi đến kết luận là mảnh pa-nô làm bằng thứ gỗ khai thác cách đây chưa đến nửa thế kỷ. Còn vết mực thì non tuổi hơn nhiều. Tija bị đắm đầu năm 1891 nên ông không thể viết, thậm chí không thể nhìn thấy tấm ván đó được. Giả thuyết đây là bức cổ thư của Tija không đứng vững được nữa.

- Cảm ơn, chính tôi cũng đánh đổ giả thuyết đó rồi. Bây giờ tôi cho anh xem cái này. Vượng đặt ra trước mặt tướng Đức nhiều bảng chữ số cùng những hình vẽ chằng chịt khó hiểu. Tôi đã toán học hóa thứ văn tự bí mật ấy ra đây. Nếu ta gán cho mỗi ký hiệu một con số thì sẽ xuất hiện ba triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn tám trăm giả thuyết. Sự lựa chọn đường đi không phải ngã ba, ngã tư nửa là ngã mười "giai thừa".

- Tới được đó cũng đã đủ mừng rồi!

- Không. Tôi còn đi xa hơn nhiều. Bằng sự cảm ngôn ngừ học, tôi chỉ lựa ra ba trong số ba triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn tám trăm giả thuyết. Đến đây thì tôi không nhúc nhích được một phân nào nữa.

- Chúng ta có thể kết luận đây là bản mật mã số một của ông Năm Oăn. Từ cái “di sản thiêng liêng" này có thể dẫn chúng ta đi đến nhiều điều mới mẻ khác. Chính vì tính chất quan trọng của phát hiện này cho nên anh phải tuyệt đối giữ bí mật công trình đang theo đuổi ngay cả với chị Lili nữa.

- Cô ấy có thể biết công việc tôi làm, nhưng chẳng quan tâm đến ý nghĩa.

- Dù sao chị ấy cũng là người trong cuộc. Chị ấy phải biết rõ là nhiều kẻ muốn săn đuổi dấu tích của Hoàng Qúy Nhân. Chúng không ngần ngại sử dụng mọi phương tiện độc ác để đạt mục đích. Vì vậy bí mật là thứ vũ khí phòng ngự hiệu quả nhất.

- Nếu đây là mật mã gốc thì xin các anh đưa vào két lưu trữ của cơ quan an ninh. Tôi chỉ có thể nghiên cứu những thứ thuộc về nghệ thuật. Mật mã là lĩnh vực tôi hoàn toàn mù tịt.

- Anh tháo nó ở đâu, anh cứ đặt nó ở đây. Anh cũng cứ ghi chép đầy đủ những phát hiện của mình trong nhật ký khoa học. Sẽ có lúc anh công bố thành quả của mình cho ông Chu Bội Ngọc. Chúng tôi chỉ xin chụp lại bản chính và bản sao của anh thôi. Đây không phải thứ mật mã dễ lần ra. Có thể hàng chục chuyên gia đánh vật nhiều năm mà cũng phải bó tay. Sau cái “mười giai thừa" khả năng, con đường cũng vẫn còn phức tạp. Đầu tư vào ngành mã thám cũng gần giống như đánh bạc. Gặp vận may thì cái đích hiện ra trước mắt. Không may thì còn tệ hơn lạc trong sa mạc.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #103 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 07:39:03 am »

CHƯƠNG XIV
EURÊKA!


Tôi đã sống an nhàn bên Hồ Ghen hơn nửa năm kể từ sau cuộc đổ bộ lên mũi Kim Ngưu. Hàng ngày đến nhiệm sở trình diện ông chủ bút, viết vài chục dòng những tin tức nhăng nhít kèm theo mấy lời bình luận ngắn ngủi. Tôi muốn quay về Đông Nam á gặp Tùng Lâm, gặp Trương Tấn Hào xem công việc của họ ra sao, nhưng chưa tìm ra lý do để đi.


Ngồi buồn tôi mở tập anh của các con chụp ở quê hương ra xem. Tôi bỗng nhở đến chiếc tẩu hình đầu lâu món quà xa xỉ của cô con dâu tương lai mua tặng. Tôi không hút thuốc lá và cung chưa bao giờ là nhà sưu tập nên tôi thờ ơ với món quà đắt tiền đó. Bây giờ rỗi việc tôi mới lôi ra ngắm nghía.


Cái nõ tẩu chưa ai hút bao giờ, hãy còn thơm mùi gỗ bồ đào. Mặt ngoài coi như một tác phẩm điêu khắc. Khúc gỗ gạt tâu có thể là đoạn gốc nên chi chít những vân xoáy. Nghệ nhân đã lựa rất khéo cho mắt gỗ ăn nhập vào những đường nét tạo hình làm cho chiếc đầu lâu trở nên dữ tợn dễ sợ, nhưng đồng thời cũng pha lẫn cái hài hước, hóm hmh. Phần cán tẩu có thể tháo rời ra. Đoạn giữa làm bằng kim loại màu. Người thợ chạm trổ rất công phu một con rắn luồn trong những đoá hải đường quấn tròn mấY vòng quanh cán tẩu. Bức phù điêu đó được giới hạn hai đầu bởi hai vành hoa văn cùng thuộc một mô-típ. Nét trang trí ở đây rất độc đáo mà tôi chưa từng thấy trong các hoa văn của một nền văn hóa nào. Mỗi vòng mang mười hình khác nhau. Phần ngậm tẩu thì làm bằng đồi mồi bóng loáng.


Tôi tháo rời tẩu ra thành ba và thấy trong đoạn cán kim loại một ống dẫn hơi có khía lõm một đầu. Tính tò mò thức thúc đẩy tôi dùng vặn vít nhỏ ấn vào khía lõm. Tôi cảm thấy nó chuyển động sang đầu bên kia rồi bật tung ra. ống dẫn hơi cấu tạo hình lõi chỉ có quấn một màng giấy mỏng. Tôi bóc nhẹ mẩu giấy ra và trước mắt tôi xuất hiện một ổ khóa mật mã. Tôi mừng đến thót tim. Phải chăng đây là thìa khóa gốc của Hoàng Qúy Nhân? Tôi định thần lại xem mình có đang sống trong mơ hay không. Lại một thông tin nữa xuất hiện. Dưới ổ khóa mã có ghi mười ký hiệu hệt như những nét trang trí ngoài vành hoa văn cái tẩu, có thể nó ứng với những số tự nhiên.


Nếu đúng thì đây chính là thìa khóa bộ mã kép. Qua nó mà tìm ra hàng loạt quy ước dẫn xuất khác.

Tôi vội chạy sang buồng Bạch Kim nhưng cô không có đây. Chỉ thấy Jimi đang chơi với bé Việt Dũng.

- Ba vào kìa!

Mi bế em chạy ra đón tôi.

- Ngoan quá, ra ba bế nào! - Tôi đón Việt Dũng và nói với Jimi - Con mua cho ba món quà tuyệt vời Ba cảm ơn con.

Jimi ngơ ngác:

- Sao kia ba? Ba nói gì con không hiểu?

- Cái tẩu! Cái tẩu hình đầu lâu đó. - Ba thích nó lắm a. Từ hôm đưa biếu ba chẳng thấy ba ngó tới, con tưởng ba không ưng.

- Đúng là ba không hút thuốc nhưng ba rất thích. Cái tẩu đẹp lắm con ạ. Con mua năm trăm phải không? Thực ra có đáng giá năm triệu đô-la!

Jimi kinh ngạc, mắt tròn xoe:

- Làm sao nó lại có thể đắt như vậy?

Tôi thấy lúng túng. Vì phấn hứng tôi đã đưa ra một nhận định quá mạnh mẽ. Nhưng vì tính chất công tác, tôi chưa hề giải thích cho Jimi được. Bé Việt Dũng thấy ba nói chuyện với chị chỉ biết toét miệng cười. Vừa lúc đó thì Bạch Kim bước vào. Jimi chạy lại đón em và ý tứ đi ra hành lang.

Tôi ôm chầm lấy Bạch Kim và khe khẽ thì thầm vào tai cô:

- Eurêka! Eurêka!

- Trời ơi, anh làm gì mà kỳ quặc vậy?

- Eurêka! Eurêka!

- Bỏ em ra đi, anh điên hay sao thế? Cửa vẫn mở, các con nó nhìn thấy thì xấu mặt.

- Anh tìm ra rồi! Tìm ra rồi!

- Tìm ra cái gì cơ chứ?

- Ra điều bí mật giấu trong cái tẩu.

Tôi kể lại toàn bộ câu chuyện cho Bạch Kim nghe. Và đến lượt cô vòng tay đánh đu lên cổ tôi, bất chấp cửa buồng đang mở.

- Thế mà cứ eurêka, eureka, thánh cũng không hiểu nổi.

- Khi phát hiện ra sức đẩy trong nước, Archimède đã trần truồng từ bồn tắm chạy ra hét toáng lên: Eurêka! Eurêka! Lần đầu tiên anh bắt chước vĩ nhân thì em lại nổi giận thật đáng tiếc.

- Bắt chước vĩ nhân thì cũng phải có chọn lọc chứ - Bạch Kim cười - May mà hôm nay anh không ở trong bồn tắm. Nếu không em sẽ đưa anh vào nhà thương điên mất.


Chúng tôi bàn nhau làm sao chuyển được tài liệu này về nước càng sớm càng tốt. Nhưng dù có đến Wasstland gặp Tám hay đến Hồng Kông gặp ông già bán sách thì bức mật điện cũng không thể chuyển tải những ký hiệu kỳ quặc đó được. Tốt nhất là biện pháp trao tay, nhưng chúng tôi không thể đi theo con đường hợp pháp về nước được. Tôi đành lựa chọn biện pháp viết thư bàng mực không màu. Tôi chia tài liệu ra hai phần. Phần ổ khoá mã đi theo lá thư Bạch Kim viết gửi đến địa chỉ của một người thân tín ở Paris mà ông Đức cho chúng tôi địa chỉ lúc ra đi. Những ký hiệu số tôi vẽ vào sau tấm ảnh cùng lá thư gửi tháng từ Cali.


Vừa lúc đó thì John Antonio đến thăm và rủ tôi đi Bangkok. Tôi từ chối vì sức khỏe không cho phép tôi đi lúc này. Nhưng tôi đã nhờ anh mang bức thứ đến Bangkok bỏ hộ. Anh vui vẻ nhận lời.

…

Bộ phận mã thám đánh vật với "bức cổ thư" của Tija suốt một tháng trời. Một bản mật mã "sống" thì còn có thể thu những bức điện hàng ngày so sánh để lần ra một vài nguyên âm, phụ âm rồi thực hiện phương pháp "vết dầu loang" mà khám phá ra quy luật. Còn đây là một thứ mật mã “kép" mà lại "chết" nghĩa là không có đài phát nào dùng nó, không có bản tin nào cùng ký hiệu trong lưu trữ. Ngay khởi đầu đã đụng ngay phải con số 10!1 (10 = 1x2x3x4x5x6x7x8x9x10 đọc là mười giai thừa) Khiến mọi người đều ngán ngẩm.

Trong lúc đó thì Hai Bền cùng hai đồng sự suốt đêm săm thuốn, đào bới, gần khắp nền đất nhà Lili mà chẳng phát hiện ra điều gì.

Cuộc hành quân tưởng như đang đi vào ngõ cụt thì tướng Đức nhận được hai lá thứ riêng theo địa chỉ khác nhau của hai đứa cháu. Ông cẩn thận bóc ra đọc. Những bức thư dài toàn chuyện tình cảm gia đình liệu có chứa đựng những tin tức gì bí mật không?

Thiếu tướng cho bộ phận kỹ thuật tìm đọc chữ không màu mang về phân tích.

Nửa giờ sau kỹ thuật viên đã đem lại kết quả lên báo cáo.

- Thưa Thiếu tướng, cả hai bức thư đều có tài liệu mật. Bức thứ nhất có một khóa mật mã. Còn bức thứ hai, đằng sau tấm ảnh vẽ những hình thù đặc biệt, tôi không hiểu là cái gì.

- Đã chụp chưa?

- Chụp mỗi thứ ba phim rồi ạ.

Thiếu tướng đeo kính liếc qua. Mười mẫu số mật xếp hàng ngang làm cho ông vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ. "Ôi chúng nó moi đâu ra của quý này? Có ai yêu cầu đâu mà nó biết ta đang cần. Trong lá thư không giải thích ty gì về cái khóa mật má kép bí ẩn này. Ông cứ suy nghĩ mà không sao giải thích nổi. Có cái khóa này trong tay thì con số mười giai thừa trở thành vô nghĩa, bức "Cổ thư của Tija" sẽ đượm phơi bày hoàn toàn nội dung trong chốc lát.


Thì ra những gì ghi trên ván hậu của bức tranh "Chiếu bạc” chỉ là bản danh mục bộ sưu tập của Hoàng Qúy Nhân cùng những chỉ dẫn nơi cất giấu để khi cần tìm chủ nó không phải mất công đào bới lung tung.

Công cuộc "khai quật" của trung tá Nguyễn Văn Bền đã kết thúc dễ dàng nhanh chóng và cũng đơn giản tới mức không có gì phải mô tả lại.

Trong cuộc chạy đua vô hình của ba đối thủ đã có người đến đích. Hai người còn lại vẫn chưa bỏ cuộc vì họ đâu có hay biết những gì đã xảy ra. Ảo vọng lôi cuốn họ lao đầu về phía trước.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM