Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:59:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng Văn hoá liệt truyện - Tập 1  (Đọc 74030 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #60 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 04:29:33 pm »


4. Giang Thanh cầm “Thượng phương bảo kiếm” thì không phải là Giang Thanh đơn giản nữa...

Khang Sinh ủng hộ Giang Thanh, thế là, Mao Trạch Đông cũng đồng ý phê phán vở kịch lịch sử mới viết “Hải Thụy bãi quan”. Giang Thanh cầm “Thượng phương bảo kiếm”, đến Thượng Hải bí mật tổ chức viết bài.

Ngày 12 tháng 4 năm 1967, khi Giang Thanh nói chuyện tại Hội nghị Quân ủy mở rộng với tựa đề là “Vì nhân dân lập công mới”, đã phun ra điều thầm kín về việc bà ta đi Thượng Hải để tổ chức phê phán “Hải Thụy bãi quan”:

Phê phán “Hải Thụy bãi quan” cũng là do đồng chí Kha Khánh Thi ủng hộ. Đồng chí Trương Xuân Kiều, đồng chí Diêu Văn Nguyên phải chịu nguy hiểm lớn, vẫn phải giữ bí mật. Trước Hội diễn Kinh kịch hiện đại cách mạng, tôi đã điều tra nghiên cứu, còn tham gia vào thực tiễn nghệ thuật, cảm thấy phê bình văn nghệ cũng có vấn đề. Tôi có một số tài liệu, vì sợ Chủ tịch quá mệt, nên không đưa cho Chủ tịch xem. Có một hôm, một đồng chí đã đưa “Truyện Chu Nguyên Chương” (người lập ra triều đại nhà Minh - N.D) do Ngô Hàm viết cho Chủ tịch xem, tôi bảo: Đừng, Chủ tịch rất mệt, chẳng qua ông ta muốn có tiền nhuận bút, muốn có danh, cứ để cho ông ta xuất bản, sau khi xuất bản sẽ phê bình. Tôi còn phải phê bình “Hải Thụy bãi quan” của ông ta đã! Lúc ấy Bành Chân ra sức bảo vệ Ngô Hàm, trong lòng Chủ tịch rất rõ, nhưng không nói ra. Vì Chủ tịch cho phép tôi mới dám đi tổ chức bản thảo này, giữ bí mật đối với bên ngoài, đến bảy tám tháng, sửa không biết bao nhiêu lần. Mỗi lần đồng chí Xuân Kiều đến Bắc Kinh là có người dò la, có một tên phản cách mạng phán đoán rằng, nhất định có liên quan đến việc phê phán Ngô Hàm. Đấy là có chút quan hệ, nhưng cũng là làm kịch, nghe băng ghi âm, sửa chữa âm nhạc. Nhưng lại ngầm giấu bài bình “Hải Thụy bãi quan” này. Vì hễ để bọn biết thì họ sẽ bóp chết ngay.

Trong lúc Giang Thanh cùng Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên mmật mưu ở “căn cứ Thượng Hải” thì từ Thành Đô truyền đến một tin làm họ đau lòng. Ngày 9 tháng 4 năm 1965, Kha Khánh Thi đã bị chết tại đây!

Từ đó, Giang Thanh đã mất đi một người ủng hộ mạnh mẽ ở Thượng Hải. May thay nhờ có Kha Khánh Thi giới thiệu, bà ta đã xây dựng được mối liên hệ mật thiết với Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên, lúc ấy vẫn chỉ là biên ủy kiêm Trưởng ban biên tập Văn nghệ tờ “Giải phóng nhật báo” quyền lực trong tay có hạn. Trương Xuân Kiều thay Kha Khánh Thi trở thành người ủng hộ tin cậy của Giang Thanh ở Thượng Hải.

Ngày 10 tháng 12 năm 1965, Trương Xuân Kiều tổ chức cuộc toạ đàm về “Hải Thụy bãi quan” ở Thượng Hải, cũng đã từng để lộ một số điều bí mật trong nội bộ. Có điều là lúc ấy vẫn chưa thực đưa ra con “chủ bài” Giang Thanh, Trương Xuân Kiều cố uốn bút nói rằng tự đọc “Tập Hải Thụy” mà cảm thấy có vấn đề nghiêm trọng”:

Cuộc luận chiến bắt đầu từ kịch (chú: kịch chỉ Kinh kịch “Hải Thụy bãi quan”). Vở kịch này, tôi chưa xem. Nghe được bàn luận đã là năm 1964. Có người nói là cỏ độc, có người bảo là không thể đề cao như thế. Tháng 2 năm nay, đồng chí Diêu Văn Nguyên bắt đầu nghiên cứu vấn đề này. Đồng chí ấy đã bàn với tôi, làm cách nào? Đồng chí ấy không phải là nhà sử học, tôi cũng chưa đọc lịch sử nhà Minh, còn đối thủ lại là chuyên gia, là quyền uy, trận này không dễ đánh. Chúng tôi xác định: không đánh trận khi không có chuẩn bị, không đánh trận khi không nắm chắc, nghiêm chỉnh học tập, miệt mài đọc sách, nắm lấy tài liệu, quyết không làm rùm beng, để tránh bài chưa viết ra, tin đồn đã ầm ỹ. Cứ như vậy đã viết đến lần thứ sáu, đã mời bốn năm đồng chí tham gia thảo luận, đã sửa đi sửa lại đến cuối tháng 8 mới có được bản thảo đầu tiên, gửi đến mười mấy đồng chí để trưng cầu ý kiến. Lúc đưa đăng đã hơn tám tháng, là bản viết lại lần thứ 10. Quá trình như vậy, cũng là quá trình nhận thức đối với vở kịch này, một quá trình học tập, bắt đầu là xem kịch bản, các bài bình luận và giới thiệu, đọc “Tập Hải Thụy” (người dẫn chú: do Ngô Hàm viết) cảm thấy vấn đề nghiêm trọng, không phê bình không được. Nhưng, luận điểm của chúng tôi có đứng vững không, phân tích có đầy đủ không, liều lượng có thích đáng không v.v… là điều rất đau đầu rất khó khăn. Ví dụ có liên hệ tới tình hình năm 1951-1956 không? Có liên hệ đến chuyện “làm ăn riêng lẻ”, “xử lại án cũ” không? Chúng tôi đã suy nghĩ nhiều.

Tuy nói úp úp mở mở, nhưng xét cho cùng thì Trương Xuân Kiều vẫn nói ra một số chuyện bên trong.

Thứ nhất, ông ta và Diêu Văn Nguyên đầu chưa xem qua Kinh kịch “Hải Thụy bãi quan”. Mà chỉ là nghe “có người nói là cỏ độc”, mới bắt tay vào phê phán. Cái “có người này” đương nhiên là chỉ Giang Thanh.

Thứ hai, thừa nhận ông ta và Diêu Văn Nguyên chưa đọc lịch sử nhà Minh, vì để phê “Hải Thụy bãi quan” nên không thể không bắt tay “miệt mài đọc sách”.

Thứ ba, công tác chuẩn bị viết bài, bắt đầu vào tháng 2 năm 1965, trong 8 tháng, sửa 10 lần.

Thứ tư, đến bản thân tác giả cũng cảm thấy rất khó khăn, khi liên hệ “Hải Thụy bãi quan” với việc “làm ăn riêng lẻ” và “xử lại án cũ”.

Thứ năm, sự bí mật mà Giang Thanh nói, thực ra quá nửa là do lần phê phán này chỉ là một sự vu cáo chính trị cả vú lấp miệng em, cho nên không dám làm rùm beng.

Dưới cái màu đen dày đặc bao phủ, Giang, Trương, Diêu đã thảo luận hết lần này đến lần khác, sửa đi sửa lại, cuối cùng đã nặn ra được “bài văn lớn” này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #61 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 04:31:10 pm »


Báo chí Trung Quốc năm 1965 nồng nặc mùi thuốc súng.

Tháng giêng, “Dương Thành vãn báo” (Báo Dương Thành buổi chiều - N.D.) “Nam Phương nhật báo” bắt đầu phê phán tiểu thuyết lịch sử “Liễu Tông Nguyên bị cách chức” - Liễu Tông Nguyên bị cách chức được người “tìm chuyện bí ẩn” coi là Bành Đức Hoài bị “cách chức”. “Văn nghệ báo” bắt đầu phê phán Khang Trạc.

Tháng 2, “Điện ảnh văn học” phê bình kịch bản điện ảnh “Người thân” là tán phát những độc tố tư tưởng hòa bình tư sản. “Văn nghệ báo” thì phê bình tiểu thuyết lịch sử “Đào Uyên Minh viết “Bài ca đưa đám”” của Trần Tường Hạc, tựa đề bài viết là câu chất vấn với giọng điệu gay gắt: “Viết bài ca đưa đám ai?” Tháng 3, “Nhân dân nhật báo” đăng bài “Lại bàn về “Lý Tuệ Nương”” do Mạnh Siêu mới viết. Lời tòa soạn không một chút mập mờ nói “Lý Tuệ Nương” là một cây cỏ độc chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội.

Tháng 5, “Quang Minh nhật báo” đăng bài “Phim “Cửa hàng họ Lâm” do đồng chí Hạ Diễn cải biên cần phải phê phán”.

Tháng 6, “Công nhân nhật báo” đăng bài ““Thành phố không có đêm” cần phê phán triệt để”.

…

Chính trong làn sóng âm thanh “cần phải phê phán”, “phê phán triệt để” ấy, ngày 7 tháng 4, Trung ương Đảng “Trả lời về vấn đề điều chỉnh lãnh đạo của Bộ Văn hóa, miễn chức vụ lãnh đạo Bộ Văn hóa của Tề Yến Minh và Hạ Diễn. Giới điện ảnh bắt đầu phê phán cái gọi là “Đường lối Hạ, Trần” cũng tức là đường lối Hạ Diễn và Trần Hoang Môi.

Chính trong làn sóng âm thanh “cần phải phê phán” “phê phán triệt để” ấy, ngày 10 tháng 11, trên “Văn hối báo” của Thượng Hải đã xuất hiện bài phê phán dài với tựa đề “Bình vở kịch mới biên soạn “Hải Thụy bãi quan”” tác giả là Diêu Văn Nguyên.

“Bài văn lớn” này chính là do Giang Thanh qua lại Bắc Kinh - Thượng Hải “giữ bí mật bảy tám tháng trời, phải sửa không biết bao nhiêu lần” cuối cùng đã lộ diện.

Tuy ký tên “Diêu Văn Nguyên nhưng trên thực tế tác giả phải là “Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên”.

Giang Thanh là “tác giả thứ nhất” của bài viết này, là lẽ tất nhiên. Người nhìn thấy trước nhất “Hải Thụy bãi quan” có “sai lầm chính trị nghiêm trọng” chính là bà ta.

Miệng Trương Xuân Kiều vốn rất kín. Có điều là như hồi ức của Lý Hiểu Minh biên kịch vở “Hải cảng” thì Trương Xuân Kiều có một hồi rất đắc ý đã từng nói với ông rằng: “Bình vở kịch lịch sử mới viết “Hải Thụy bãi quan” lấy danh nghĩa Kiều Văn Nguyên để công bố nhưng có khá nhiều nội dung do tôi viết.

Vậy là một quả “đạn pháo hạng nặng” đã bắn trúng vào “Văn hối báo” của Thượng Hải, vì lần trước “Thuyết có ma vô hại” cũng được công bố trên báo này. Hai tờ báo lớn của Thượng Hải là “Giải phóng nhật báo” và “Văn hối báo”, “Giải phóng nhật báo” lúc ấy là báo của cơ quan Thành ủy Thượng Hải, thuộc “báo Đảng”, nếu đăng trên “Giải phóng nhật báo” thì dễ bị coi là đại biểu cho Thành ủy Thượng Hải, còn “Văn hối báo” từ xưa đến nay có “thân phận” là “báo chí dân gian” tiện cho việc “triển khai thảo luận” - “câu cá” mà.

Còn việc ký tên Diêu Văn Nguyên là vì Diêu Văn Nguyên còn chưa nổi danh, bất quá chỉ là “Nhà bình luận văn nghệ trẻ tuổi”, tiện cho những người có ý kiến khác nhau “thảo luận” với anh ta. Lúc ấy Trương Xuân Kiều đã trở thành Bí thư Ban bí thư Thành ủy Thượng Hải, ký tên ông ta: thì màu “văn chương quan phương” sẽ quá đậm.

Trước ngày bài viết của Diêu Văn Nguyên được công bố, ngày 2 tháng 11, Giang Thanh xuất hiện tại Nhà hát Thủ Đô ở Bắc Kinh, thẩm tra vở “Đá đỏ” của Đoàn Kinh kịch Bắc Kinh. Sự công khai lộ mặt của bà ta, người không hiểu nội tình sẽ cho rằng, bài viết của Diêu Văn Nguyên đăng ở Thượng Hải hơn một tuần sau đó, không liên quan gì đến bà ta. (Ít ngày trước đó, ngày 13 tháng 10, bà ta đã phát biểu ý kiến về phân cảnh kịch bản với nhóm làm phim “Trường thành Nam Hải tại Trung Nam Hải”).

Bài viết của Diêu Văn Nguyên được đăng ở Thượng Hải, nhưng mũi dùi công kích lại chỉ về Bắc Kinh, chỉ vào Thành ủy Bắc Kinh. Giang Thanh biết trước khi bài viết của Diêu Văn Nguyên được công bố, trong Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị có những người phụ trách các khu lớn tham gia, Mao Trạch Đông đã hỏi Bí thư thứ nhất kiêm Thị trưởng Bắc Kinh Bành Chân (từ năm 1949, Bành Chân vẫn giữ chức vụ này): “Có thể phê phán Ngô Hàm không?” Ngô Hàm là Phó Thị trưởng Bắc Kinh. Hiển nhiên là Bành Chân phải bảo vệ Ngô Hàm, nên đã nói mập mờ: “Ngô Hàm có một số vấn đề có thể phê phán”.

Ngay hôm bài của Diêu Văn Nguyên được đăng báo, Bành Chân được biết chiều hướng khác thường đã xảy ra ở Thượng Hải, lập tức ra lệnh cho thư ký nghĩ cách để có được tờ “Văn hối báo” ra ngày 10 tháng 11 với tốc độ nhanh nhất. Lúc ấy tờ “Văn hối báo” của Thượng Hải vẫn chưa phát hành bản hàng không ở Bắc Kinh.

Giang Thanh theo dõi chặt chẽ phản ứng của Thành ủy Bắc Kinh. Trụ sở phóng viên “Văn hối báo” thường trú tại Bắc Kinh ở vào giờ phút bận rộn nhất, phóng viên hoạt động ở khắp Bắc Kinh, thu thập tin tức “phản hồi” đối với bài viết của Diêu Văn Nguyên. Những tin này được đăng trong tập san nội bộ “Tình hình Văn hối”. Chu Ân Lai đã phát hiện “tình hình” không bình thường trong “Tình hình Văn hối”. Trương Xuân Kiều vội vã đổi thành “Ký giả giản báo” (tin vắn phóng viên) không ghi số, mỗi kỳ chỉ in 12 bản, né tránh được Chu Ân Lai. Giang Thanh đã nắm được chiều hướng các nơi qua “Ký giả giản báo”.

Từ ngày 12 đến ngày 26 tháng 11, các báo “Giải phóng nhật báo” của Thượng Hải, “Chiết Giang nhật báo” của tỉnh Chiết Giang, “Đại chúng nhật báo” của tỉnh Sơn Đông, “Tân Hoa nhật báo” của tỉnh Giang Tô, “Phúc Kiến nhật báo” của tỉnh Phúc Kiến, “An Huy nhật báo” của tỉnh An Huy, “Giang Tây nhật báo” của tỉnh Giang Tây, lần lượt đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên, điều đó chứng tỏ 6 tỉnh và 1 thành phố thuộc Hoa Đông có cùng bước đi, ủng hộ bài viết của Diêu Văn Nguyên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #62 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 04:34:22 pm »


5. Đạn đại bác của Thượng Hải nổ ở Bắc Kinh

Bắc Kinh chịu một áp lực lớn.

Giám đốc “Bắc Kinh nhật báo”, chính là Phạm Cẩn, nguyên trước đây là vợ của Hoàng Kính. Từ tháng 8 năm 1952, Hoàng Kính giữ chức Bộ trưởng Bộ Cơ giới Công nghiệp I, tháng 9 năm 1956, được bầu làm ủy viên Trung ương Đảng. Tháng 4 năm 1957, lại kiêm nhiệm Chủ nhiệm Ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước. Ở đại học ông chỉ học một năm toán học, một năm vật lý học, để có thể đảm nhiệm công tác lãnh đạo về phương diện kỹ thuật, đêm nào ông cũng tự học và ông đã làm toàn bộ các đề toán tập trong bốn cuốn “Vật lý học phổ thông”! Từ ngày 11 đến ngày 22 tháng 1 năm 1958, Trung ương Đảng triệu tập cuộc họp có một bộ phận cán bộ lãnh đạo trung ương và một bộ phận cán bộ lãnh đạo địa phương tham gia, đó là “Hội nghị Nam Ninh” nổi tiếng. Hội nghị do Mao Trạch Đông chủ trì. Hoàng Kính cũng tham gia hội nghị. Trong hội nghị Mao Trạch Đông đã phê bình gay gắt việc chống làm bừa vào năm 1956, ông nói rằng chống làm bừa đã làm cho 600 triệu nhân dân mất tinh thần, không khí Hội nghị căng thẳng gay gắt. Sau khi tham gia hội nghị này, Hoàng Kính đáp máy bay đi từ Nam Ninh đến Quảng Châu. Trên máy bay, Hoàng Kính đột nhiên tái phát bệnh cũ. Mùa đông năm 1944, vì bị bệnh tâm thần nên ông đã phải nghỉ dưỡng bệnh, lúc này bệnh lại tái phát, trên máy bay, ông rời khỏi ghế ngồi nói lung tung một cách xúc động. Khi máy bay đến Quảng Châu, Đào Chú nghe tin, đã cho người đến đón Hoàng Kính đi khám bệnh. Ngày 10 tháng 2 năm 1958, cách tết âm lịch có 8 ngày, Hoàng Kính đột ngột qua đời ở Quảng Châu, lúc 46 tuổi! Bạc Nhất Ba chủ trì lễ truy điệu Hoàng Kính và đọc điếu văn ca ngợi Hoàng Kính là “đảng viên ưu tú của Đảng ta”, trong việc “Hưởng ứng lời kêu gọi vừa hồng vừa chuyên của Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch, trong các ủy viên Trung ương chúng ta, đồng chí là một người đi sâu nghiên cứu khá tốt”.

Sau khi Hoàng Kính mất, Phạm Cẩn tái hôn, bà đảm nhiệm Phó ban Tuyên truyền Thành ủy Bắc Kinh kiêm Giám đốc “Bắc Kinh nhật báo”. Đương nhiên là bà quan tâm đến “Tác phẩm lớn” của Diêu Văn Nguyên, đã hai lần gọi điện cho người quen ở “Văn hối báo” thăm dò bối cảnh của bài viết này. Bà cũng hai lần gọi điện cho Bành Chân, thỉnh thị có nên đăng bài này trên “Bắc Kinh nhật báo” hay không. Bành Chân nói: “Bắc Kinh nhật báo” không cần phải đăng lại ngoài việc đăng lại những bài xã luận quan trọng của “Nhân dân nhật báo” ra thì những bài khác trên “Văn hối báo” không cần phải đăng lại.

Áp lực ngày càng tăng. Như Giang Thanh sau này nói: “Sau khi bài viết do chúng tôi tổ chức đăng ở Thượng Hải, mà Bắc Kinh qua 19 ngày không đăng. Về sau Chủ tịch đã nổi nóng, bảo là in bài viết thành sách. Sau khi sách ra, Bắc Kinh cũng không cho phát hành. Lúc ấy tôi cảm thấy mới lạ lùng làm sao, chỉ có một Ngô Hàm thì hoàn toàn có thể đưa ra phê phán chứ sao, có quan hệ gì đâu! Sau này mới biết, sau khi bới ra được một Ngô Hàm thì là cả đống! Đủ thấy sự khó khăn của nó!”

Biết Mao Trạch Đông đã nổi nóng và biết “Giải phóng quân báo” chuẩn bị đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên, Bành Chân không thể không gọi điện cho Phạm Cẩn, chỉ thị đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên. Vậy là ngày 29 tháng 11, khi “Giải phóng quân báo” đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên, thì “Bắc Kinh nhật báo” cũng đăng lại. Ngày hôm sau “Nhân dân nhật báo” đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên. Qua một ngày sau “Quang Minh nhật báo” cũng đăng lại. Như vậy “trái đạn pháo hạng nặng” mà Giang Thanh bắn trên “Văn hối báo” ở Thượng Hải đã nở hoa toàn diện tại Bắc Kinh.

Giang Thanh không ngừng thông qua Trương Xuân Kiều, ra chỉ thị cho “Văn hối báo” ở Thượng Hải để mở rộng chiến quả:

“Sau khi bài của Diêu Văn Nguyên công bố, ý kiến rất nhiều, nhưng đều ngấm ngầm, phải đưa nó lên mặt”

“Phải dùng biện pháp “dụ kẻ địch vào sâu”, phải làm cho kẻ địch cảm thấy anh “không chịu nổi một đòn” như vậy hắn sẽ “đánh trả” và ra sân. Làm đi làm lại thì họ không lên ngựa không được”.

“Thời kỳ trước “Hải Thụy bãi quan” hơi quá một chút, nên kẻ địch không ra mặt”.

“Tóm lại phải điều động binh lực của địch”

“Dùng chiến thuật “bao vây mà không tiêu diệt, vây chung quanh để mở rộng chiến trường”.

Theo nguyên Tổng biên tập Trần Ngu Tôn và Chủ nhiệm văn phòng Tổng biên tập Toàn Nhất Mao của “Văn hối báo” Thượng Hải nói với người viết sách này rằng, lúc ấy Trương Xuân Kiều rõ ràng đã trở thành “Thái thượng hoàng” của “Văn hối báo”. Trương Xuân Kiều năm lần bảy lượt triệu kiến Trần Ngu Tôn, đưa cho ông ta nhiều “chỉ thị” trong đó có không ít là của Giang Thanh, nhưng lại không cho ghi chép. Trần Ngu Tôn đành phải dùng trí nhớ, rời khỏi chỗ Trương Xuân Kiều là về ngay tòa soạn, kể lại cho Toàn Nhất Mao, để Toàn Nhất Mao ghi lại thành văn bản để quán triệt chấp hành...

“Giương chiêu bài “trăm nhà đua tiếng” “Văn hối báo” đăng các bài chống lại bài viết của Diêu Văn Nguyên, để “dụ rắn ra khỏi hang”, “dụ địch vào sâu”.

Thế là “Hướng Dương Sinh” ra tay. Hướng Dương Sinh cũng tức là Bí thư Văn hóa Giáo dục của Thành ủy Bắc Kinh.

Thế là “Phương Cầu” ra tay. Phương Cầu, trong tổ biên soạn do Phó ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Chu Dương chủ trì.

Một hòn đá làm nổi lên hàng trăm ngàn lớp sóng; bài viết của Diêu Văn Nguyên đã dẫn đến cuộc đại luận chiến với quy mô chưa từng có. Cuộc luận chiến này trở thành màn giáo đầu của Đại Cách mạng văn hóa.

Trong màn chướng khí mây đen mù mịt ấy, lũ ôn thần quỷ sứ đều vội vã nhảy ra khỏi lồng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #63 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 04:36:17 pm »


3
Nam có hai tướng Thiện, Ác, Bắc có Quan, Lâm, Vương, Thích,
Giang Thanh được cưng chiều, “nghìn thu công nghiệp” chép vào “sử xanh”


Nam Bắc đối đầu, Mao Trạch Đông rời Bắc Kinh xuống phía Nam. Ngày thứ 4 sau khi công bố bài của Diêu Văn Nguyên tức ngày 13 tháng 10, chuyến tàu chuyên dụng đưa Mao Trạch Đông xuống phía Nam. Ông đến Sơn Đông trước, rồi đi An Huy, Giang Tô, đến ngày 19 tháng 11 tới Thượng Hải. Suốt dọc đường Mao Trạch Đông quan sát, suốt dọc đường ông nhắc nhở mọi người cảnh giác với chủ nghĩa xét lại.

Từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 12, Mao Trạch Đông chủ trì hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng. Trong Hội nghị, Lâm Bưu vu cáo hãm hại Tổng Tham mưu trưởng Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc La Thụy Khanh là “tiếm quyền quân đội chống Đảng”. Thế là vị đại tướng có thân thể cao to thường được gọi là “La Trưởng tử” bị bãi quan, Dương Thành Vũ đảm nhiệm chức Quyền Tổng Tham mưu trưởng.

Sau đó, Mao Trạch Đông lại xuống Hàng Châu.

Sáng ngày 21 tháng 12 Mao Trạch Đông triệu kiến Trần Bá Đạt, Ngải Tư Kỳ, Hồ Thằng, Quan Phong, Điền Gia Anh bàn chuyện rất lâu tại Hàng Châu.

Trong cuộc nói chuyện đã đề cập tới bài của Thích Bản Vũ phê phán Tiễn Bá Tán và Ngô Hàm trên Tạp chí “Hồng kỳ” có tựa đề “Nghiên cứu lịch sử vì cách mạng” (có điều là trong bài viết không chỉ tên Tiễn Bá Tán và Ngô Hàm), nhưng cũng đã nói tới bài viết của Diêu Văn Nguyên.

Mao Trạch Đông nói nguyên văn như sau: “Bài viết của Thích Bản Vũ rất hay, tôi đã đọc ba lần, khuyết điểm là không chỉ đích danh. Bài của Diêu Văn Nguyên cũng rất hay, đã chỉ đích danh, đã gây chấn động rất lớn đối với giới kịch, giới sử học và giới triết học, nhưng vẫn chưa đánh trúng chỗ hiểm. Chỗ hiểm là “bãi quan”. Hoàng đế Gia Tĩnh đã khóc quan Hải Thụy, năm 1959, tôi đã bãi quan Bành Đức Hoài. Bành Đức Hoài cũng là “Hải Thụy”. Họp Hội nghị Lư Sơn là để thảo luận công tác, vốn dĩ định họp nửa tháng, nhưng khi Hội nghị sắp kết thúc thì Bành Đức Hoài nhảy ra. Ông ta nói: “Ở Diên An các người đã chửi mẹ tôi 40 mươi ngày, tôi chửi mẹ các người 20 ngày lại không được ư? Người ta thích chửi mẹ nhau”

Giang Thanh biết được những lời khẳng định về bài viết của Diêu Văn Nguyên rất vui mừng, phấn khởi, ra lệnh chỉnh lý bản ghi những lời nói của Mao Trạch Đông.

Nghe nói Mao Trạch Đông bảo bài viết của Diêu Văn Nguyên “chưa đánh trúng chỗ hiểm”. Vương Nhược Thủy vội vàng viết bài: “Tiếp nhận sự khiêu chiến của đồng chí Ngô Hàm”, ký bút danh là “Tư Đồng” đăng trên “Nhân dân nhật báo” số ra ngày 13 tháng 1 năm 1966. Trong bài viết này lần đầu tiên công khai đề cập đến chỗ hiểm của “Hải Thụy bãi quan” là “bãi quan”, đề cập đến Hội nghị Lư Sơn.

Thích Bản Vũ nghe được lời khen của Mao Trạch Đông không kìm nổi sự phấn chấn nên đã gia nhập hàng ngũ những người phê phán “Hải Thụy bãi quan”. Ngày 15 tháng 1 năm 1966, vội vàng viết bài “Thực chất phản động của “Hải Thụy chửi Hoàng đế” và “Hải Thụy bãi quan”” cùng với Diêu Văn Nguyên hình thành nên thế Nam hô Bắc ứng. Thế là ở Bắc Kinh, Giang Thanh cũng đã có “người cầm bút”.

Gần như đồng thời với Thích Bản Vũ, Quan Phong cũng viết bài “Hải Thụy chửi Hoàng đế” và “Hải Thụy bãi quan” là cây có độc lớn chống Đảng và chống chủ nghĩa xã hội.

Cái mà Thích Bản Vũ gọi là “đánh vào chỗ hiểm” chính là gắn “Hải Thụy bãi quan” với Bành Đức Hoài, chứng minh “Hải Thụy chính là Bành Đức Hoài”.

Bài viết của Thích Bản Vũ có lô-gích rất kỳ diệu: ông ta dẫn lời của Lê-nin, “đặc điểm của người trí thức là mẫn cảm”, từ đó chứng minh: “thời gian biểu” của Ngô Hàm rất khớp với sự “mẫn cảm” của ông ta. Thích Bản Vũ cho rằng, chính là dựa vào “tính mẫn cảm giai cấp đặc biệt của mình” mà “biết trước” có Hội nghị Lư Sơn, nên đã viết “trước” “Hải Thụy chửi hoàng đế”. Cũng chính vì biết trước “xu hướng làm ăn riêng lẻ” và “xu hướng xử lại án” nên đã viết trước “Hải Thụy bãi quan” để xử... lại án” cho Bành Đức Hoài.

Thích Bản Vũ viết:

“Trong việc miêu tả chiến tranh thời cổ có một câu: “Dưới núi có ba hồi trống để trợ giúp cho anh”. Điều muốn nói là trước khi tướng đánh nhau, để nâng cao ý chí chiến đấu của võ tướng của mình thì cần phải đánh trống trợ uy. “Hải Thụy chửi Hoàng đế” mà Ngô Hàm công bố trước khi có hội nghị Trung ương Đảng ở Lư Sơn, thực chất là có tác dụng đánh trống trợ uy cho những phần tử cơ hội hữu khuynh tiến công Đảng. Sở dĩ “thời gian biểu” của Ngô Hàm sắp xếp khớp như thế chính là vì “thời gian biểu” này đã nói rõ “Hải Thụy chửi Hoàng đế” của Ngô Hàm dù không phải là cao trào của một màn kịch, nhưng lại là tiếng trống chiêng không thể thiếu được trong cao trào của vở kịch lúc mở màn”.

Cả vú lấp miệng em, gán ghép khiên cưỡng đến mức độ này là nét đặc sắc của bút pháp phái “tả” hồi ấy.

Phương ngôn có câu: “Tú tài gặp lính, có lý mà không nói rõ được”. Thực ra gặp những tú tài phái “tả” như Diêu Văn Nguyên, Thích Bản Vũ, mới là “có lý mà không nói rõ được”!

Mấy ngày sau khi Thích Bản Vũ đăng bài viết, ngày 5 tháng 4. Tạp chí “Hồng kỳ” đăng bài “Đánh vào chỗ hiểm” của Quan Phong và Lâm Kiệt, có tựa đề “Hải Thụy chửi Hoàng đế” và “Hải Thụy bãi quan”' là hai cây cỏ độc lớn chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội”. Việc phát biểu bài viết “đánh vào chỗ hiểm” của Thích Bản Vũ và Quan Phong lại chính là “dưới núi đánh ba hồi trống trợ uy” cho Giang Thanh, Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #64 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:33:59 pm »


4
Giang Thanh bước sang tuổi già với những lời đường mật
Mao Trạch Đông xế bóng sống lại với lòng yêu thương


1. Cuộc tọa đàm kỳ lạ

Tháng 2 năm 1966, trong một hội trường nhỏ của khách sạn Cẩm Giang, Giang Thanh triệu tập một cuộc tọa đàm đặc biệt, những người tham dự gồm cả bà ta cũng không quá 5 người.  Tuy có tên là “Cuộc tọa đàm”, nhưng lải nhải không ngớt cũng chỉ có một mình bà ta. So với việc bà ta nắm “kịch mẫu” và tổ chức viết hai bài phê bình có trọng lượng, thì trọng lượng của cuộc tọa đàm nho nhỏ này hình như nặng hơn nhiều. Hơn hai tháng sau, ngày 10 tháng 4 năm 1966, khi cái “kỷ yếu” của cuộc tọa đàm này trở thành văn kiện của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc in phát cho toàn Đảng thì nó đã gây nên sự chấn động dữ dội tại Trung Quốc. Cuộc tọa đàm nho nhỏ ấy, chính là “cuộc tọa đàm mà đồng chí Lâm Bưu nhờ đồng chí Giang Thanh triệu tập để thảo luận về công tác văn nghệ trong bộ đội”.

Mùa xuân năm 1966, một mùa xuân đặc biệt, tháng 2, Mao Trạch Đông ở Vũ Xương. Sau đó ngồi trấn ở Hàng Châu. Lâm Bưu thì ở Tô Châu, còn Giang Thanh thì trú ngụ ở “căn cứ Thượng Hải”.

Ngày 21 tháng 1, là ngày mồng 1 tháng Giêng năm Bính Ngọ, chiếc xe con của Giang Thanh xuất hiện ở Tô Châu. Bà ta từ Thượng Hải đến đây, cất công đến nhà Lâm Bưu chúc tết.

Lâm Bưu nhân vật đang thăng tiến theo đường thẳng: Trong Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa 8 họp ngày 25 tháng 5 năm 1958, Lâm Bưu được bầu làm Phó Chủ tịch Đảng, Thường vụ Bộ Chính trị, bước vào vị trí lãnh đạo chủ chốt. Tiếp theo đó cùng với việc Bành Đức Hoài bị phê phán ở Hội nghị Lư Sơn, Lâm Bưu đã thay thế ông, giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng. Ít lâu sau, lại được cử làm Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, chủ trì công tác Thường vụ Quân ủy. Từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 12 năm 1965, sau Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng phê phán La Thụy Khanh, trong quân đội, Lâm Bưu nói sao là vậy.

Sự thăng tiến theo đường thẳng của Lâm Bưu, là do ông ta luôn tán tụng Mao Trạch Đông. Ông ta đề xuất “Tư tưởng Mao Trạch Đông là đỉnh cao của chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay”, “Học tập trước tác của Mao Chủ tịch là con đường tắt để học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin”. Đề xuất “Học linh hoạt dùng linh hoạt, học dùng kết hợp, dùng gấp thì học trước, thấy ngay kết quả”...

Giang Thanh đang muốn làm một “ngôi sao mới” mọc 1ên trên vũ đài chính trị Trung Quốc. Bà ta muốn mượn lực đỡ của Lâm Bưu. Tất nhiên, Lâm Bưu cũng hiểu rõ cái “phân lượng” của “Đệ nhất phu nhân”, việc mượn sức của bà ta để thăng tiến thêm nữa cũng rất quan trọng. Và thế là, xuất phát từ đòi hỏi chính trị của đôi bên, thông qua lần chúc tết này, Giang Thanh và Lâm Bưu bắt tay nhau.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #65 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:35:08 pm »


2. “Ngôi sao mới” xuống phía nam mời “Tôn thần”

Nói theo lời của Giang Thanh, cuộc đi đến Tô Châu của bà ta là để đi tới việc mời “Tôn thần”. Câu này có lai lịch của nó: “Tạp chí “Nghệ thuật điện ảnh” số 3 năm 1962 đăng bài của Cù Bạch Âm có tựa đề “Độc thoại về vấn đề sáng tạo cái mới trong điện ảnh”. Cù Bạch Âm hô hào xóa bỏ những quy định cũ, phá bỏ “Ông thần về chủ đề”, “Ông thần về kết cấu”, “Ông thần về xung đột”. Ông nói “các vị thần này đã tỏ thần uy vãi tung khắp trời đất các thứ bùa chú: nên như thế nào, không nên như thế nào. Với sự hợp lực tấn công của các thần, các nhà nghệ thuật đành phải trói chân trói tay, ôm đầu mò mẫm”. Giang Thanh đã đưa bài viết của vị Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh Thượng Hải này vào kế hoạch của cuộc “Đại phê phán”. Có điều là, từ đó bà ta lại thấy hứng thú với “vị thần”, bà ta nói là phải nhờ cậy vào “vị thần” Giải phóng quân.

Giang Thanh rời khỏi Tô Châu không lâu, thì tại một cái ngõ có cái tên quái đản người đi lại rất thưa thớt ở phía đông thành Bắc Kinh, ngõ Quái Bổng có một tứ hợp viện vang lên tiếng chuông điện thoại, đó là nơi ở của Trung tướng Lưu Chí Kiên, Phó Chủ nhiệm thứ nhất Tổng cục Chính trị Quân giải phóng, điện thoại từ “Văn phòng Lâm Bưu” ở Tô Châu gọi đến giọng nữ quen thuộc vừa nghe đã nhận ra, đó là Diệp Quần vợ Lâm Bưu...

Lưu Chí Kiên là người Bình Giang, tỉnh Hồ Nam, năm 1928 tham gia khởi nghĩa Bình Giang, năm 1931 gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, ít lâu sau giữ chức Chủ nhiệm cục Chính trị quân đoàn Hồng quân thứ 4. Ông đã tham gia trường chinh. Sau giải phóng ông giữ chức Cục trưởng Cục Tình báo Quân ủy Trung ương, Cục trưởng Cục Tuyên truyền Tổng cục Chính trị. Khi ông giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thì chủ nhiệm là Thượng tướng Tiêu Hoa. Tiêu Hoa, 12 tuổi vào Đoàn, 14 tuổi vào Đảng, 18 tuổi làm “Chính ủy Sư đoàn Quốc tế Cộng sản thiếu niên”. Có điều là sức khỏe ông yếu, nên công việc hằng ngày của Tổng cục Chính trị đều do Lưu Chí Kiên phụ trách. Chính vì thế, điện thoại của Diệp Quần đã gọi đến chỗ Lưu Chí Kiên.

Diệp Quần chuyển lời của Lâm Bưu: “Đồng chí Giang Thanh muốn tìm mấy đồng chí làm công tác văn nghệ quản lý công tác văn nghệ để bàn về vấn đề công tác văn nghệ trong bộ đội. Người tham gia không nên nhiều quá. Chỉ cần bốn năm người, những người như thế nào thì đồng chí bàn với Tiêu Hoa, báo tên chỗ “Văn phòng Lâm Bưu”, tốt nhất là Tiêu Hoa đến. Có thể sẽ nghiên cứu sáng tác về ba chiến dịch lớn, chuẩn bị đi”

Từ trước đến nay Giang Thanh và quân đội chẳng có quan hệ gì, sao bây giờ lại bỗng nhiên muốn bàn vấn đề công tác văn nghệ của bộ đội nhỉ?

Từ khi còn ở Diện An, Lưu Chí Kiên đã quen Giang Thanh. Chỉ không quen nhìn bà ta đi “chân đào tường” (chân vòng kiềng - N. D.). Ấn tượng về bà ta không hay nên không giao thiệp nhiều.

Trước đó không lâu ngày 26 tháng 12 năm 1965, Chu Ân Lai và La Thụy Khanh tiếp kiến những người có công trong cuộc chiến đấu trên biển Sùng Vũ ở Thượng Hải. Cuộc hải chiến Sùng Vũ xảy ra vào buổi sáng ngày 14 tháng này, bộ đội hạm tàu của Hạm đội Đông Hải đã bắn chìm pháo hạm “Vĩnh Xương” bắn bị thương tàu săn tàu ngầm “Vĩnh Thái” trên địa phận Đông Hải, thuộc Sùng Vũ tỉnh Phúc Kiến. Giang Thanh đang ở Thượng Hải tìm La Thụy Khanh hỏi: “Bài phê phán “Hải Thụy bãi quan” ở Bắc Kinh không đăng, vì sao “Giải phóng quân báo” cũng không đăng?” Thế là La Thụy Khanh gọi điện cho Lưu Chí Kiên nói lại ý kiến của Giang Thanh. Lưu Chí Kiên tuân lệnh chỉ thị cho “Giải phóng quân báo” đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên vào ngày 29 tháng 11. Đây có thể coi là lần đầu tiên có sự liên hệ công tác gián tiếp giữa Lưu Chí Kiên và Giang Thanh từ nhiều năm nay. “Giải phóng quân báo” đăng bài của Diêu Văn Nguyên được hơn một tuần thì La Thụy Khanh bị phê phán tại Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng và bị cách chức Tổng Tham mưu trưởng...

Lưu Chí Kiên nhận được điện thoại từ “Văn phòng Lâm Bưu”, báo cáo ngay với Tiêu Hoa. Tiêu Hoa nói: “Tôi nhiều việc, sức khỏe lại không tốt, tình hình về mặt văn nghệ lại hiểu biết không nhiều, anh chủ quản tuyên truyền văn hóa, hiểu tình hình, anh nên đi thì hơn!” Tuy bảo “Văn phòng Lâm Bưu” chỉ đích danh Tích Hoa đi dự, nhưng Tiêu Hoa vẫn kiên quyết không đi. Vậy là, Lưu Chí Kiên đành phải đi.

Tiêu Hoa và Lưu Chí Kiên bước đầu bàn bạc danh sách người dự: Đã là việc về văn hóa thì tất nhiên phải cử Cục trưởng cục Văn hóa Tổng cục Chính trị Tạ Đường Trung, Phó Cục trưởng Trần Á Đinh tham gia. Ngoài ra Cục trưởng Cục tuyên truyền Lý Mạn Thôn cũng nên đi.

Danh sách này được Đảng ủy Tổng cục Chính trị thảo luận đồng ý và chốt lại. Ngoài bốn đại biểu chính thức ra, còn cử hai nhân viên công tác, tức Thư ký Lưu Cảnh Đào cùng biên tập Lê Minh trong Ban Biên tập “Đốm lửa thiêu cháy cánh đồng” thông thạo ba chiến dịch lớn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #66 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:35:40 pm »


Trước khi đi, Tiêu Hoa hiểu rất sâu con người Giang Thanh, đã nói với 6 nhân viên đi Thượng Hải về “ba điều quy ước”:

Thứ nhất, Phương hướng của công tác văn nghệ bộ đội là đúng đắn.

Thứ hai, chỉ lắng tai ngược ít phát biểu ý kiến.

Thứ ba, nên tôn trọng Giang Thanh, không tranh luận với bà ta, có ý kiến gì thì đem về báo cáo thảo luận.

Thế là, sáng ngày 1 tháng 2, một đoàn 6 người đi đến sân bay quân sự Tây Giao Bắc Kinh, đáp máy bay “IL - 14” bay thẳng đến Thượng Hải, ở khách sạn Diên An, đó là khách sạn của bộ đội, nằm trên đường Diên An Trung Lộ, Thượng Hải, nơi đón tiếp nhân viên trong toàn quân qua lại. Mặc dù hầu hết những người ra vào nơi đây đều mặc quân phục, nhưng đoàn 6 người của Lưu Chí Kiên đều mặc thường phục, vì “cuộc tọa đàm” lại tiến hành ở khách sạn Cẩm Giang, mặc quân phục mà ra vào ở đó thì lộ liễu quá.

Sau khi đoàn của Lưu Chí Kiên đến khách sạn Diên An ở Thượng Hải, ngay chiều hôm đó, Giang Thanh cho người đưa đến “vũ khí tư tưởng” đó là văn kiện phải đọc trong cuộc tọa đàm “bức thư của Mao Trạch Đông gửi cho Viện Bình kịch sau khi xem xong “Bức lên Lương Sơn” ở Diên An năm 1944”, “Bài nói chuyện của Mao Trạch Đông với những người làm âm nhạc” và “Hai phần phê duyệt quan trọng của Mao Trạch Đông đối với giới văn nghệ”.

Văn kiện đưa đến không lâu thì “đặc sứ” của Giang Thanh đến khách sạn Diên An. Người này không phải là cán bộ bộ đội, hình như không có liên quan gì đến cuộc tọa đàm văn nghệ bộ đội, nhưng lại can thiệp vào cuộc tọa đàm này, chứng tỏ lúc này ông ta đã trở thành người bạn thân thiết của Giang Thanh.

Ông ta là Trương Xuân Kiều, Lưu Chí Kiên và Trương Xuân Kiều đã có một thời gian ngắn ngủi cùng làm việc, đó là vào năm 1963, Hội hữu nghị Trung Xô cử một đoàn đại biểu tham gia ngày kỷ niệm cách mạng Tháng Mười. Trưởng đoàn là Lưu Chí Kiên, Phó trưởng đoàn là Trương Xuân Kiều. Có điều lần ấy đi Liên Xô, chỉ là quan hệ công tác bình thường mà thôi.

Lần này, Trương Xuân Kiều được “đệ nhất phu nhân” coi trọng cử đến đón Lưu Chí Kiên, cùng đến công viên Đinh Hương vắng vẻ yên tĩnh nằm trên đường Hoa Sơn. Công viên Đinh Hương ở Thượng Hải một nơi tấc đất thước vàng, khó có được một bãi cỏ xanh và rất nhiều cây cối. Một chiêu đãi sở cao cấp của Cục Hoa Đông Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được đặt tại đây. Tổ sáng tác của Thành ủy Thượng Hải với bút danh là “Đinh Học Lôi” ở tại một ngôi lầu nhỏ ở xế bên Công viên Đinh Hương, chữ “Đinh” là lấy nghĩa từ Công viên Đinh Hương, còn “Học Lôi” là ý học tập Lôi Phong.

Lưu Chí Kiên cắp cặp, được Trương Xuân Kiều đi cùng, vào nơi ở của Giang Thanh.

“Ồ, cuối cùng đã mời được vị “Tôn thần” Giải phóng quân đến rồi!” Giang Thanh cười nói, “Tình cảnh của tôi rất khó khăn, cho nên tôi phải đến Tô Châu nhờ anh Lâm giúp. Bây giờ, anh Lâm đã giúp tôi!”.

Lưu Chí Kiên đã quen với “việc chung thì làm chung”. Ông mở cặp, chuyển bản ghi chép điện thoại truyền đạt từng câu từng chữ cho Giang Thanh nghe.

Đó là điện thoại của Diệp Quần gọi yêu cầu ông phải ghi chép ti mỉ, đó là một đoạn lời của Lâm Bưu:

“Đồng chí Giang Thanh vừa đến Tô Châu hôm qua đã nói chuyện với tôi. Về công tác văn nghệ đồng chí ấy rất mạnh về chính trị, về nghệ thuật cũng thành thạo, đồng chí ấy có rất nhiều ý kiến quý báu, các đồng chí phải nhanh chóng coi trọng đồng thời phải thực hiện nghiêm chỉnh những ý kiến của đồng chí Giang Thanh về mặt tư tưởng và về mặt tổ chức. Từ nay về sau các văn kiện về mặt văn nghệ đều phải đưa cho đồng chí ấy xem, có tin tức gì có thể liên hệ với đồng chí ấy bất cứ lúc nào, làm cho đồng chí ấy có thể hiểu được tình hình công tác văn nghệ của bộ đội, trưng cầu ý kiến của đồng chí ấy, làm cho công tác văn nghệ của bộ đội có thể cải tiến được. Công tác văn nghệ của bộ đội, dù là tính tư tưởng hay tính nghệ thuật cũng đều không thể thỏa mãn với hiện trạng, đều phải nâng cao hơn”.

Những lời này của Lâm Bưu, hiển nhiên là đã làm cho Giang Thanh vô cùng phấn khởi, Lâm Bưu không những đánh giá rất cao Giang Thanh mà còn muốn bà ta “chỉ đạo” công tác văn nghệ của bộ đội, điều này đã làm cho việc bà ta triệu tập cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội thành “danh chính ngôn thuận”. Về sau cuộc tọa đàm này còn được gắn thêm: “Đồng chí Lâm Bưu nhờ đồng chí Giang Thanh triệu tập” cái “nhờ” có nguồn gốc từ đấy. Còn Giang Thanh thì ngoài việc đề nghị Lưu Chí Kiên chuyển lời cảm ơn đến “anh Lâm” ra, bà ta còn tâng bốc Lưu Chí Kiên: “Đồng chí Chí Kiên, tôi nghe Chủ tịch nói, đồng chí đã đi ra từ cảnh khổ đau, tôi phải học tập các đồng chí cũ đã vào sinh ra tử. Nghe nói đồng chí trước đây có làm thơ, viết khá nhiều tác phẩm, về mặt văn nghệ cũng rất thông thạo”.

Sau khi hai bên chào hỏi trò chuyện khách sáo, Giang Thanh đi ngay vào việc “cuộc tọa đàm” họp như thế nào: “Mời các đồng chí đến không phải là để họp hành gì đâu, chủ yếu là để xem phim, trong khi xem phim thì nói một chút ý kiến”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #67 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:36:54 pm »


3. Cuộc tọa đàm chủ yếu là xem phim

5 giờ chiều tại một phòng họp nhỏ ở khách sạn Cẩm Giang, Giang Thanh gặp mặt đoàn 6 người từ Bắc Kinh đến. Trương Xuân Kiều vẫn đi cùng.

Giang Thanh đã tuyên bố “kỷ luật” của Hội nghị. “Không được ghi chép, không được đưa tin ra ngoài”, đặc biệt là “Không được để cho Bắc Kinh biết”, thậm chí Giang Thanh còn xét hỏi mọi người có ai mang máy nghe trộm không. Xem ra cuộc hội thảo này rất bí hiểm.

Giang Thanh nói vì sao lại in và phát bức thư Mao Trạch Đông viết ngày 9 tháng 1 năm 1944 về vở Bình kịch “Bức lên Lương Sơn” vì trong thư có một đoạn:

“Lịch sử là do nhân dân sáng tạo ra, nhưng trên sân khấu kịch cũ (trong tất cả nền văn học cũ, nền nghệ thuật cũ xa rời nhân dân) nhân dân lại trở thành cặn bã, các quan lớn, mệnh phụ, cậu ấm, tiểu thư thì thống trị vũ đài, sự đảo ngược lịch sử này, ngày nay phải được chúng ta đảo ngược lại, khôi phục lại diện mạo lịch sử, từ đây kịch cũ được tạo ra gương mặt mới” cho nên đáng được chúc mừng”.

Giang Thanh dựa vào đó nói thêm, mặc dù từ năm 1944, Chủ tịch đã chỉ rõ, nhưng sau giải phóng, giới văn nghệ chúng ta chưa ra sao, vẫn do đế vương khanh tướng, tài tử giai nhân, người nước ngoài, người chết thống trị. Bây giờ là lúc chúng ta xoay chuyển triệt để sự “đảo ngược lịch sử” này!

Những lời nói ấy của Giang Thanh làm cho những quân nhân đến từ Bắc Kinh hiểu rõ “cuộc tọa đàm” muốn nói cái gì - hoàn toàn không phải là “nghiên cứu sáng tác về ba chiến dịch lớn”.

Tối hôm ấy, Trần Phi Hiển, Bí thư Thành ủy Thượng Hải đã dốc hết thịnh tình của người chủ địa phương, thết tiệc chiêu đãi Giang Thanh và Lưu Chí Kiên cùng những người khác, Trương Xuân Kiều vẫn đi cùng.

Sau đó Giang Thanh mời Lưu Chí Kiên và mọi người đến hội trường nhỏ ở khách sạn Cẩm Giang, xem phim “Nghìn dặm ngược gió”. Đây là bộ phim truyện sản xuất năm 1962 của xưởng phim Chu Giang do Chu Vạn Thành và Phương Hoàng biên kịch và do Phương Hoàng đạo diễn. Bộ phim miêu tả sư đoàn “Thiên Lý Câu” của Quốc dân Đảng bị tiêu diệt. Tống Chí Cương chính trị viên quân giải phóng và một phân đội nhỏ nhận nhiệm vụ áp giải các sĩ quan cấp tá của Quốc dân Đảng đã bị bắt đến khu vực Quân khu Liêu Đông. Trên đường đi, luôn luôn bị địch vây chặn, cả phân đội phải đi “ngược gió hàng nghìn dặm”, cuối cùng đã hoàn thành nhiệm vụ, bộ phim này do xưởng phim địa phương (đây là cách gọi theo thói quen đối với các xưởng phim không thuộc hệ thống quân đội) sản xuất nhưng lại thể hiện về bộ đội. Giang Thanh vừa xem phim vừa nói về bộ phim này là đã “tô đẹp cho kẻ địch, coi kẻ địch là nhân vật chính để miêu tả, để kẻ địch chiếm lĩnh màn ảnh của chúng ta”... Lưu Chí Kiên và mọi người đành “rửa tai để nghe”, lại không được ghi chép, không nhớ được ý kiến của bà ta thì làm sao có thể về báo cáo được...

“Cuộc tọa đàm” đã được mở màn ở Thượng Hải như vậy.

Đây là một “cuộc tọa đàm” hiếm có trên đời, trong cuộc tọa đàm chỉ có một mình Giang Thanh nói, những người còn lại chỉ dùng tai để nghe mà thôi!

“Cuộc tọa đàm” quả đúng như Giang Thanh nói, chủ yếu là xem phim, trong khi xem phim nói một vài ý kiến”. Theo Lưu Chí Kiên nhớ lại, tổng cộng đã xem hơn 30 bộ phim và 3 vở kịch. Xem phim gì đều do Giang Thanh chỉ định. Giang Thanh đến xem cùng 13 lần. Có lúc Trương Xuân Kiều cũng đến xem. “Đại tú tài” Trần Bá Đạt đến Thượng Hải cũng đã cùng xem mấy bộ phim. Giang Thanh khi xem thì nghĩ ra cái gì nói cái nấy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #68 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:37:54 pm »


4. “Tôn thần” làm máy ghi âm cho Giang Thanh

Điều làm cho Lưu Chí Kiên khó xử nhất là sau khi Giang Thanh ngủ trưa dậy, bảo thư ký gọi điện thoại muốn Lưu Chí Kiên đến nói chuyện. Lúc này, Giang Thanh nói Lưu Chí Kiên nghe, vừa không được ghi chép, lại vừa sợ bỏ sót “ý kiến quan trọng” của bà ta. Nên mỗi lần nói xong, Lưu Chí Kiên trở về vội vàng bảo Lý Mạn Thôn, Tạ Đường Trung, Trần Á Đinh nói lại, để cho Trần Á Đinh ghi chép, tránh bị quên sau này. Vậy là Lưu Chí Kiên như một chiếc “máy ghi âm”! Lưu Chí Kiên nhớ lại, những lần trao đổi cá biệt như thế giữa ông và Giang Thanh có cả thảy 8 lần. mỗi lần ngắn thì nửa tiếng, dài thì hai tiếng.

Bốn lần “tập thể tọa đàm” đúng bài ban Lưu Chí Kiên cùng 6 người đều tham gia, trong đó có một lần là buổi gặp mặt đầu tiên, lần khác là ngày 9 tháng 2 và lần nói chuyện với đoàn kịch “Trường thành Nam Hải”, vì vậy trên thực tế chỉ có hai lần.

Giữa hội nghị, ngày 9 tháng 2, Giang Thanh bảo là bận việc, “cuộc tọa đàm” tạm ngừng vài ngày. Thế là ngày 10 tháng 2, Lưu Chí Kiên và Lý Mạn Thôn bay về Bắc Kinh để báo cáo với Tiêu Hoa, ngày 16 lại đi Thượng Hải. Cái mà Giang Thanh bảo là “bận việc” là từ Thượng Hải đi Hàng Châu, đến chỗ Mao Trạch Đông. Ngày 8 tháng 2, Mao Trạch Đông nói chuyện với Bành Chân, Lục Định Nhất, Hứa Lập Quần ở Vũ Xương thì ngày hôm sau đi Hàng Châu. Giang Thanh nghe tin, nên đã từ Thượng Hải đi Hàng Châu để thăm dò chiều hướng của Bành Chân qua Mao Trạch Đông. Lúc ấy Tổ cách mạng văn hóa Trung ương gồm 5 người: Bành Chân là tổ trưởng, Lục Định Nhất là tổ phó, các tổ viên là Khang Sinh, Chu Dương và Ngô Lãnh Tây vừa viết xong “Đề cương tháng Hai”, đem đến báo cáo với Mao Trạch Đông. Giang Thanh muốn “cuộc tọa đàm” của bà ta ở Thượng Hải chọi lại “Đề cương tháng Hai” của Bành Chân.

Sau khi trải qua những ngày nghỉ giữa chừng, “cuộc tọa đàm” lại tiếp tục tiến hành vào ngày 18. Đến ngày 19, Giang Thanh nói: “Chẳng còn gì để nói nữa, tôi bận việc, tạm kết thúc một giai đoạn, các đồng chí có thể về”. Vậy là, cuối cùng đã kết thúc “cuộc tọa đàm” “một người nói” kỳ lạ này.

Lưu Chí Kiên như vừa trút được gánh nặng, thở phào, nhưng lại gặp chuyện gay go. Trong “cuộc tọa đàm” chỉ có “một người nói” không liên tục, rời rạc, chuyện đông chuyện tây, ngược ngược xuôi xuôi này làm thế nào để có thể báo cáo với Tổng cục Chính trị'? Làm thế nào để báo cáo với Lâm Bưu.

May mà sau mỗi lần “một người nói” còn có bản ghi chép do Trần Á Đinh ghi theo hồi ức của Lưu Chí Kiên. Thế là Lưu Chí Kiên cùng Lý Mạn Thôn, Tạ Đường Trung cùng bàn bạc, tham khảo ghi chép của Trần Á Đinh, do Lê Minh chép lại, Trần Á Đinh sửa chữa chỉnh lý thành một “Đề cương báo cáo”, khoảng hơn ba ngàn chữ, dùng để báo cáo lên trên.

Tối ngày 20, “Đề cương báo cáo” này được Khu Cảnh bị Thượng Hải đánh máy thành 30 bản.

Lúc này Lưu Chí Kiên lại thấy lưỡng lự: có nên đưa “Đề cương báo cáo” cho Giang Thanh xem không?

Lưu Chí Kiên đã từng kể về tâm lý mâu thuẫn của mình lúc ấy: “Không đưa cho bà ta xem, sau này bà ta biết thì chắc chắn sẽ bực tức sẽ trách cứ là vì sao lại làm giấu bà ta. Không nói với bà ta ư? Nếu đưa cho bà ta một bản mà lại không nói trước với bà ta, hơn nữa bản ghi chép này chỉ dùng để báo cáo thì chưa chắc bà ta đã vừa lòng”.

Bốn người thảo luận đi thảo luận lại, cho rằng cứ gửi một bản “Đề cương báo cáo” cho Giang thanh là phải. Vì sớm muộn thì Giang Thanh cũng biết việc này. Thế là, ngày 21, Lưu Chí Kiên đưa một bản “Đề cương báo cáo” cho Giang Thanh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #69 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:39:05 pm »


Ngày 22, Lưu Chí Kiên cùng đoàn rời Thượng Hải bay đến Tế Nam, để báo cáo với Lâm Bưu hiện đang ở đây, đồng thời đưa một bản “Đề cương báo cáo”. Lâm Bưu đã nghe báo cáo tỏ ra hài lòng: “Tài liệt này làm rất tốt, là một thành quả quan trọng, cuộc tọa đàm này do đồng chí Giang Trang chủ trì có phương hướng đúng, đường lối chính xác, sau khi về phải nhanh chóng truyền đạt, học cho tốt và quán triệt nghiêm chỉnh”.

Lâm Bưu nói như vậy, Lưu Chí Kiên cho là lần này có thể “báo cáo kết quả nhiệm vụ” được rồi.

Thế là, sáng ngày 23, Lưu Chí Kiên với tâm trạng thanh thản, cùng 5 người đáp máy bay từ Tế Nam về Bắc Kinh, “dẹp đường về phủ”.

Máy bay dừng trên sân băng, Lưu Chí Kiên vừa xuống máy bay, nhân viên sân bay đã thông báo cho ông có điện thoại đường dài từ Thượng Hải gọi tới, chờ đồng chí đến nhận!”

Trong chiến tranh, Lưu Chí Kiên đã từng bị thương chân đi không được nhanh nhẹn, lúc này vẫn phải đi nhanh đến chỗ điện thoại. Đó là thư ký của Giang Thanh gọi từ Thượng Hải đến, đã dội một gáo nước lạnh vào Lưu Chí Kiên: “Đồng chí Giang Thanh đã xem tài liệu mà các đồng chí chỉnh lý, cho rằng căn bản không được, đã xuyên tạc chủ ý và không có khả năng phản ánh ý kiến của đồng chí ấy, đã gây tai họa lớn cho đồng chí ấy! Trước mắt không được truyền đạt, không được triển khai!”.

Thư ký của Giang Thanh còn nói, Giang Thanh đã báo cáo việc này với Chủ tịch, Chủ tịch muốn Trần Bá Đạt, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên tham gia sửa chữa. Ngoài ra, đề nghị đồng chí Lưu Chí Kiên lập tức cử người đến Thượng Hải cùng tham gia sửa chữa. Sự thay đổi đột ngột này, làm cho Lưu Chí Kiên và mọi người cảm thấy bất ngờ. Ông lập tức gọi điện cho Tiêu Hoa. Chiều hôm ấy, Lưu Chí Kiên cùng đoàn báo cáo với Tiêu Hoa. Tiêu Hoa quyết định cử Trần Á Đinh đi Thượng Hải, vì những ghi chép qua hồi ức của từng lần nói chuyện đều do anh ta chỉnh lý, để anh ta đi là hợp lý.

Tiêu Hoa nhắc: “Giang Thanh muốn sửa thế nào, thì đồng chí sửa như thế. Có vấn đề gì thì lúc về hãy hay”.

Vậy là Trần Á Đinh chỉ ở lại Bắc Kinh có một đêm, ngày hôm sau đã vội vội vàng vàng bay đi Thượng Hải, trong một tháng 3 lần bay đi Thượng Hải.

Trần Á Đinh đến Thượng Hải, gặp Giang Thanh, mới rõ đầu đuôi trong đó: Bản “Đề cương báo cáo” quá giản đơn, quá sơ sài, phải chỉnh lý lại, phải viết thành một bản “Kỷ yếu cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội do đồng chí Giang Thanh triệu tập”.

Hai vị “đại tú tài” Trần Bá Đạt và Trương Xuân Kiều, tham gia công tác sửa chữa Trần Bá Đạt cũng chỉ là “diễn viên phụ động”, cùng xem mấy bộ phim. Trương Xuân Kiều tham gia tương đối nhiều, nhưng cũng không tham gia cả quá trình. Nói toạc ra, việc hai vị “đại tú tài” này tham gia sửa chữa cũng chính là nâng cao những lời nói vụn vặt của Giang Thanh lên thành “lý luận”.

Trần Bá Đạt xứng đáng là “nhà lý luận” đã nói hai ý kiến rất có “trình độ”:

Thứ nhất: “Vấn đề 17 năm sợi chỉ đen văn nghệ chuyên chính (chú: 17 năm là chỉ năm 1949 đến năm 1966 bấy giờ), điều này rất quan trọng, nhưng chỉ nêu như vậy là không đầu không đuôi. Phải nói cho rõ, nguồn gốc của sợi chỉ đen văn nghệ này. Nó là sự tiếp tục chấp hành đường lối cơ hội hữu khuynh khi Đảng còn hoạt động bí mật ở Thượng Hải vào những năm 30 (chú: Vào những năm 30, Vương Minh đã thực hiện ở Thượng Hải đường lối cơ hội “tả” khuynh, đến thời kỳ kháng Nhật thì chuyển sang đường lối cơ hội hữu khuynh ở đây không biết vì sao, “nhà lý luận” lại nói Vương Minh là cơ hội hữu khuynh). Nói rõ vấn đề này mới có thể nhận thức rõ hơn sợi chỉ đen trong văn nghệ từ 17 năm sau giải phóng đến nay, sợi chỉ đến này là bắt đầu từ thời kỳ ấy”.

Thứ hai, phải kể đến thành tích về mặt văn nghệ trong giai đoạn trước. Đồng chí Giang Thanh đã đích thân lãnh đạo cuộc cách mạng về kịch, đã có những tác phẩm như “Sa Gia Bang”, “Đèn đỏ”, “Dùng mưu chiếm Uy Hổ Sơn”, vở ba-lê “Hồng sắc nương tử quân”, nhạc giao hưởng “Sa Gia Bang” v.v… Đây thực sự là tài sản của giai cấp vô sản chúng ta. Tất cả những cái đó đều phải ghi lại. Như vậy, phá cái gì, xây cái gì sẽ rõ ràng”.

Giang Thanh rất vui mừng về những ý kiến của Trần Bá Đạt: “Ý của Bá Đạt rất hay, đã giúp chúng ta nâng cao hơn đánh trúng chỗ hiểm, rất lợi hại!”

Hai vị “đại tú tài” đã cầm dao giúp Giang Thanh, trước sau sửa chữa 8 lần, nội dung từ 3 nghìn chữ lúc đầu tăng lên 1 vạn chữ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM