Về câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại cửa Đền Giếng

<< < (2/2)

menthuong:
Trích dẫn từ: dongadoan trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:24:26 pm

Nguồn, bạn menthuong ơi!

Tôi đã có nhời ở đây:
Trích dẫn từ: menthuong trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:16:47 pm

1.   Mở đề:

...
Về nguồn gôc những tư liệu trích dẫn vừa ghi trong bài và sẽ thống kê tại các bài sau.


Nếu buộc phải đưa ngay thì xin báo cáo luôn đây là nội dung cơ bản mà tôi đã tham gia cuộc thi 60 năm nước CHXHCN Việt Nam đã đạt giải và bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử Quân khu II" đã đạt giải Đặc biệt của con trai tôi (Trung tướng Ma Khánh Toàn ký giấy). Khi làm bài chủ yếu lấy tư liệu từ sách, báo, tạp chí của Đảng, Quân đội...có trong thư viện cơ quan, đơn vị, thư viện tỉnh và tủ sách gia đình. Nay đưa lên đã kiểm tra, đối chiếu lại và bổ sung thêm từ các nguồn:

http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_xfaq&task=answer&Itemid=55&catid=88&aid=161
http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/230/232/232/93901/Default.aspx
http://www.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=120745
http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C6%B0_%C4%91o%C3%A0n_308,_Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_Nam
http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/www.nhandan.com.vn/Ghi-sau-loi-Bac-dan-Cac-Vua-Hung-da-co-cong-dung-nuoc-Bac-chau-ta-phai-cung-nhau-giu-lay-nuoc/3223752.epi

menthuong:
Trích dẫn từ: menthuong trong 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:21:21 pm

3. Văn bản hoá câu nói của Bác:
...
Nhưng ở một khía cạnh khác nguyên văn câu nói của Bác có như hôm nay đwocj gắn với một người rất nổi tiếng. Đó là ông Đặng Văn Đăng.


Nhà thơ Bút Tre với việc văn bản hoá câu nói của Bác:

Theo tác giả Ngô Quang Nam trong Bút Tre-Thơ và giai thoại, NXB VHTT, 2006 thì:

Trong những người theo Bác lên Đền Hùng hôm đó có ông Đặng Văn Đăng, khi đó là Phó Trưởng ty Tuyên truyền thuộc UBHC tỉnh Phú Thọ. Ngày đó báo Đại đoàn quân Tiên phong có in bài phóng sự về sự kiện này. Thâu tóm ý Bác, ông đã chép lại thành câu:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”

Nhưng sau này nhiều vị lãnh đạo đã sửa lại. Lần thứ nhất vin vào câu nói của Bác tại Hội nghị Thuỷ lợi toàn quốc năm 1959 nên đã sửa lại là:

“Các vua Hùng đã có công dựng đất nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy đất nước”.

Vị lãnh đạo nọ cho rằng ”nói đến nước phải nói đến đất” và bức Hoành phi khảm câu đó đã xong nhưng ông Đặng Văn Đăng cho đó là cách hiểu máy móc và kiên quyết không cho sửa câu nói của Bác.

Sau đó, trong tập ảnh Việt Nam chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV thì đã bỏ chữ “cùng nhau” và chữ “lấy” cốt để đối “đã có công” với “phải ra sức” kiểu Hán tự:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải ra sức giữ nước”.

Lúc này ông Đăng đã nghỉ hưu nhưng ông không chịu, cho rằng như vậy không hợp văn phong và ý nghĩa sâu xa trong câu nói của Bác. Ông đã  đạp xe lên tỉnh kiến nghị và đề nghị gửi kiến nghị của ông lên cấp trên.

Nhớ rằng từ năm 1973, các đ/c Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng lên thăm Đền Hùng đều nói và còn ghi sổ vàng nguyên văn:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”

Cũng từ đó, câu nói của Bác đã được khẳng định, không ai và tờ báo nào nói hoặc viết khác đi.

Như vậy, lời ý Bác, hợp lòng dân, đúng phong cáh lại được những người có trình độ, tâm huyết ra sức bảo vệ đã đi vào nhân dân, đi vào lịch sử.

Thiết nghĩ cũng cần ghi công cho nhà thơ Bút Tre xứ rừng cọ chứ. Tuy rằng không có việc này ông đã nổi tiếng rồi.

menthuong:
 Hoàn cảnh ra đời của câu nói :

Từng câu nói, bài viết của Bác thường xuất hiện trong điều kiện cần thiết. Nó vừa có giá trị chỉ đạo trước mắt, vừa có tác dụng định hướng lâu dài. Bác nói câu trên trong một hoàn cảnh đặc biệt về Trên thế giới có những chuyển biến lớn, có lợi cho cách mạng nhưng đã tiềm ẩn nhiều mối đe đọa mới; Trong nước: Cuộc kháng chiến, kiến quốc của nhân dân ta đã giành được tháng lợi nhưng nguy cơ chiến tranh xâm lược vẫn rình rập và đe dọa ; Lực lượng VTND đã trưởng thành về mọi mặt; Đảng, Bác, và Chính phủ cùng các cơ quan đang chuẩn bị mọi điều kiện để về tiếp quản Thủ đô. Phân tích kĩ hoàn cảnh ngoài nước, trong nước, trong LLVT lúc đó càng thấy rõ giá trị và ý nghĩa của câu nói.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới hiện đại, Lịch sử Đảng

menthuong:
1- Tình hình quốc tế :

1.1-   Thế giới sau Đại chiến II:

Chín năm sau khi kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, "Trật tự hai cực Ianta" đã được thiết lập và từng bước phát triển. Liên hợp quốc, tổ chức quốc tế của tất cả các nước có chủ quyền, được thành lập từ 26/6/1945 đã có những vai trò nhất định. Tuy nhiên, do lập trường, bản chất giai cấp của nhà nước khác nhau nên có sự khác biệt giữa "cực" Liên Xô và "cực" Mĩ, dần hình thành sự đối đầu gay gắt giữa hai "cực", dẫn đến sự đối đầu giữa hai khối Đông-Tây, hình thành cuộc "Chiến tranh lạnh" và cuốn hút từng quốc gia, từng khu vực chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc đối đầu này.

"Cực" Liên Xô luôn làm hậu thuẫn, là chỗ dựa  cho phong trào Cách mạng, cho hòa bình thế giới. Trong điều kiện đó, đến 1948, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân ở Châu á, Châu Âu sau khi ra khỏi chiến tranh đã giành được nhiều thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, tái thiết đất nước. Phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh ở á, Phi và Trung Cận Đông. Để đối phó với các thế lực thù địch, tháng 9/1947, Hội nghị đại biểu 7 Đảng Cộng sản Đông Âu, Pháp và Italia họp tại Vacxava thông qua bản Tuyên bố chúng, quyết định thành lập cơ quan thông tin của một số Đảng Cộng sản gọi là Cục thông tin Quốc tế (KOMINFORM). Sau đó Hội đồng tương trợ kinh tế, gọi tắt là khối SEV, được thành lập ngày 08/01/1949 với sự tham gia của 7 nước Đông Âu và tới 14/5/1955 Hiệp ước hữu nghị, hợp tác và tương trợ Vacxava được kí kết đối trọng với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) được kí kết trước đó, ngày 04/4/1949.

"Cực" Mĩ luôn ra sức cấu kết, giúp đỡ các thế lực phản động chống phá Cách mạng, âm mưu vươn lên vị trí "thống trị" thế giới. Đế quốc Mĩ, với "Chủ nghĩa Tơruman, 3/1947" và "Phương án phục hưng Châu Âu" của Ngoại trưởng  Macssan, 6/1947, đã làm được việc vừa vực dậy, vừa không chế, thao túng các nước Tây Âu, phát động và duy trì "Chiến tranh lạnh" với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ; chia cắt lâu dài nước Đức. Thời kì 1952-1960 là thời kì giới cầm quyền Mĩ thực hiện chiến lược đối ngoại phản Cách mạng Tơruman-Aixen hao với chính sách ngăn chặn.

1.2- Âm mưu của Mĩ, Pháp đối với Châu á và Việt Nam

Tại Châu á, Mĩ ra sức giúp đỡ bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc, Lý Thừa Vãn ở Hàn Quốc, Bảo Đại ở Việt Nam; đồng thời giúp Anh đánh Mã Lai, giúp Pháp tái xâm lược Việt Nam. Ngoài Hiệp ước Mĩ Nhật kí 9/1951, Mĩ còn kí Hiệp ước ANZUS (với úc, Niu Dilen, 9/1951), Khối liên minh quân sự SEATO (với các nước ở Đông Nam á, trừ Đông Dương, 9/1954).Tất cả những việc làm đó đều phục vụ cho chiến lược toàn cầu phản cách mạng: "đảm nhiệm sứ mạng lãnh đạo thế giới tự do", "chống lại "sự đe dọa" của chủ nghĩa cộng sản", vươn lên ngôi vị bá chủ thế giới.

Nhưng trước xu thế của thời đại, Mĩ liên tục thất bại. Cách mạng Trung Quốc thành công (01/10/1949), liên quân Trung-Triều đã kìm chân được Mĩ và tay sai, buộc chúng dừng ở vĩ tuyến 38 (7/1953) , cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thắng lợi (5/1954), buộc Mĩ và đồng minh phải kí Hiệp định Giơ Ne Vơ (7/1954). Chủ nghĩa xã hội đã hình thành một hệ thống thế giới, công cuộc xây dựng CNXH ở Đông Âu và Liên Xô thu được nhiều thành tựu quan trọng. Phong trào giải phóng dân tộc, do phản ứng dây chuyền của chiến thắng Điện Biên Phủ, đã tiến lên mạnh mẽ, thu được những thắng lợi lớn trên khắp các châu lục, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc dần sụp đổ. Song Mĩ luôn nuôi tham vọng và không bao giờ chịu từ bỏ chiến lược toàn cầu

Pháp, do bị thiệt hại nặng nề trong chiến tranh, phải nhận viện trợ của Mĩ theo kế hoạch Macsan nên ngày lệ thuộc vào Mĩ. Thất bại trong chiến tranh ở Đông Dương làm cho Pháp thêm khó khăn, phải để Mĩ can thiệp ngày càng sâu hơn vào Đông Dương. Ngoài số quân đã đóng ở Nhật, Hàn và các đảo trên Thái Bình Dương, Mĩ có dự tính sẽ đưa quân đóng trực tiếp ở Đông Dương.

Đế quốc Mĩ ra sức thực hiện ý đồ đã vạch ra từ trước nhằm độc chiếm miền Nam Việt Nam, tiến tới đọc chiếm Đông Dương. Một tháng trước khi Hiệp định Giơ Ne Vơ về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương được kí kết, Mĩ đã ép được Pháp đưa tay sai của mình là Ngô Đình Diệm về thay Bửu Lộc làm Thủ tướng Chính phủ bù nhìn ở miền Nam Việt Nam. Tháng 9/1954 Mĩ lôi kéo mọt số nước đồng minh như Pháp, Anh...và một số nước ở Đông Nam á lập Khối liên minh quân sự Đông Nam á ( SEATO), ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này.

Đúng như Bác Hồ đã khái quát trong lời khai mạc Hội nghị TW7, 03/3/1955: Từ sau hội nghị Giơnevơ, tình hình thế giới căng thẳng hơn… ở Phương Đông, đế quốc Mĩ xâm chiếm Đài Loan và tổ chức khối Đông-Nam á nhằm mục đích phá hoại Hiệp định Giơnevơ, phá hoại hòa bình ở Đông Dương và ở Đông Nam á….Chính sách của phe đế quốc do Mĩ cầm đầu là chính sách chuẩn bị chiến tranh…

 Những vấn đề quốc tế và khu vực nêu trên đều có ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến nhiệm vụ Cách mạng nước ta, của lực lượng VTND.

menthuong:
2-Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) thắng lợi:


Sau khi tuyên bố Độc lập vào ngày 02/9/1945, trước thù trong (bọn Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt, các đảng phái phản động khác...), giặc ngoài (20 vạn quân Tưởng, quân Pháp được quân Anh hỗ trợ...), ta buộc phải kí Hiệp ước sơ bộ 06/3 và Tạm ước 14/9/1946 để có thời gian chuẩn bị, củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng. Nhưng kẻ địch đã bội ước, lấn tới. Hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, toàn dân, toàn quân ta bước vào thời kì mới, thời kỳ kháng chiến và kiến quốc.

Sau thời gian giữ vững và phát triển lực lượng, chiến đấu kiềm chế, tiêu hao lực lượng, cầm chân địch tại các đô thị; thời kì đẩy mạnh chuẩn bị kháng chiến lâu dài, ta bắt đầu triển khai thế trận chiến tranh nhân dân trên phạm vi cả nước. Nhất là từ sau Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ Hai (3-6/4/1947), ta chuyến sang chiến thuật "du kích vận động chiến, giành quyền chủ động về chiến thuật". Quân đội ta đã trưởng thành, đủ sức  mở các chiến dịch lớn, đẩy mạnh cuộc kháng chiến.

 Trong đó đáng chú ý là : Chiến dịch Việt Bắc- Thu Đông, 1947; Chiến dịch Biên giới, 1950;  Chiến dịch Trần HưngĐạo (chiến dịch TrungDu), 1951; Chiến dịch đường số 18 Hoàng Hoa Thám, 1951; Chiến dịch Quang Trung, 1951; Chiến dịch Hoà Bình, 1952; Chiến dịch Tây Bắc, 1952; Chiến dịch Thượng Lào ,1953 và cuối cùng là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, 1954. Chiến thắng đó buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (7/1954), miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp với trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ không những bảo vệ và phát triển những thành qủa Cách mạng tháng 8 mà còn mở ra giai đoạn mới, giai đoạn tiến hành đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược cách mạng: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam.

Theo Hiệp định Giơnevơ, ngày 22/5/1955 người lính Pháp cuối cùng rút khỏi miền Bắc ở đảo Cát Bà. Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch về lại Thủ đô. Nhân dân Hà Nội tổ chức cuộc mít tinh chào mừng vào Ngày 01/01/1955. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đất nước tạm chia làm 2 miền, chờ Tổng tuyển cử. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới.

3- Cuộc chiến đấu mới đang đặt ra trước nhân dân, quân đội ta:

 Với nhãn quan chính trị sáng suốt và với tinh thần chủ động tiến công, tinh thần cảnh giác Cách mạng, trên cơ sở nhận rõ âm mưu kẻ thù, đánh giá tương quan so sánh lực lượng, dự báo được tình hình, nhiệm vụ Cách mạng cả nước và nhiệm vụ cụ thể của từng miền, Tại Hội nghị TW 15, Đảng ta đã sớm đề ra Nghị quyết: "Tiến hành đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược cách mạng: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam"

Navigation

[0] Message Index

[*] Previous page