Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?

(1/9) > >>

menthuong:
 1- Những ngày chiến đấu giữa vòng vây:


Nhân loại vừa bước qua một cuộc chiến kéo dài, thiệt hại lớn nhất: Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945). Từ đó "Trật tự hai cực Ianta" đã được thiết lập và từng bước phát triển. Liên hợp quốc, tổ chức quốc tế của tất cả các nước có chủ quyền, được thành lập từ 26/6/1945 đã có những vai trò nhất định. Tuy nhiên, do lập trường , bản chất giai cấp của nhà nước khác nhau nên có sự khác biệt giữa "cực" Liên Xô và "cực" Mĩ, dần hình thành sự đối đầu gay gắt giữa hai "cực", dẫn đến sự đối đầu giữa hai khối Đông-Tây, hình thành cuộc "Chiến tranh lạnh" và cuốn hút từng quốc gia, từng khu vực chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc đối đầu này.

"Cực" Liên Xô luôn làm hậu thuẫn, là chỗ dựa  cho phong trào Cách mạng, cho hòa bình thế giới. "Cực" Mĩ luôn ra sức cấu kết, giúp đỡ các thế lực phản động chống phá Cách mạng, âm mưu vươn lên vị trí "thống trị" thế giới. Đế quốc Mĩ, âm mưu "đảm nhiệm sứ mạng lãnh đạo thế giới tự do", "chống lại "sự đe dọa" của chủ nghĩa cộng sản", vươn lên ngôi vị bá chủ thế giới, đã ra sức giúp đỡ bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc, Lý Thừa Vãn ở Hàn Quốc, Bảo Đại ở Việt Nam; đồng thời giúp Anh đánh Mã Lai, giúp Pháp tái xâm lược Việt Nam. Sự đối đầu 2 cực đã chi phối hoạt động chính trường thế giới và ít nhiều đã ảnh hưởng đến Việt Nam chúng ta.

Tại Trung Quốc, tuy đã có Hiệp định Song Thập Quốc - Cộng kí 10/10/1945 nhưng do dựa vào Mĩ, ngày 20/7/1946 Tưởng đã phát động cuộc tấn công quy mô lớn vào các vùng giải phóng do Đảng Cộng sản lãnh đạo làm bùng nổ cuộc nội chiến. Như vậy, vào lúc này chưa có quốc gia nào, kể cả Liên Xô và Đông Âu, công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta. Do đó có thể nói khi đó  chúng ta vẫn ở tình trạng "Chiến đấu trong vòng vây" , chưa liên hệ, chưa nhận được sự chi viện giúp đỡ của Cách mạng và nhân dân tiến bộ thế giới .  Đến tháng 4/1947 ta mới đặt Cơ quan đại diện của Chính phủ tại nước ngoài đầu tiên ở Băng Cốc (TháI Lan) và đến tháng 1,2/1950 Trung Quốc,Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân công nhận Chính phủ VNDCCH ta mới phá được thế bao vây,cuọc kháng chiến được đẩy lên mọt bước..

Những vấn đề quốc tế và khu vực nêu trên đều có ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến cuộc kháng chiến, đến định hướng xây dựng lực lượng của ta.

menthuong:
2- Tuổi mười sáu Đảng vào bí mật:


Sau khi giành chính quyền vào 19/8 và tuyên bố Độc lập vào ngày 02/9/1945, trong điều kiện trứng nước, chúng ta đứng trước bao khó khăn thách thức, phải đối phó với rất nhiều loại kẻ thù. Để tranh thủ thời gian chuẩn bị, để gạt mũi nhọn tiến công của kẻ thù vào Đảng, ngày 11/11/1945, Đảng ta tuyên bố tự giải tán. Do đó mọi danh xưng về Đảng thời gian này đều không được nói rõ, cần thiết chỉ gọi là "đoàn thể".

Về mặt chính quyền, sau khi được bầu ra tại cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946, Quốc hội đã họp Kì thứ Nhất ngày 02/3 thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến với 10 bộ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch với nhiều thành viên là những nhân sĩ, 4 ghế Bộ trưởng dành cho bọn “Việt Quốc”, “Việt Cách”.

Nhưng sự thật là Đảng không giải tán mà rút vào hoạt động bí mật. Bộ phận công khai của Đảng được xuất hiện với danh hiệu Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương. Thực hiện sách lược “bôi trắng cái đầu”, Bộ trưởng Quốc phòng giao cho Luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Nội vụ giao cho nhà trí sĩ Huỳnh Thúc Kháng. Về thực chất, Đảng vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo chính quyền và nhân dân, đặc biệt là lực lượng quân đội, công an. Tháng 01/1946 Trung ương Quân uỷ được thành lập do đ/c Võ Nguyên Giáp làm Bí thư có nhiệm vụ giúp Trung ương Đảng lãnh đạo và tổ chức quân đội thì mọi hoạt động của Quân đội đều do Quân ủy quyết định; các công tác lớn của Công an vẫn do đ/c Võ Nguyên Giáp, đ/c Trường Chinh và Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo.

menthuong:
3- Nền cộng hòa  vừa mới khai sinh:

Tổng khởi nghĩa thành công, giành thắng lợi trên cả nước. Nhưng Uỷ ban dân tộc giải phóng được Đại hội quốc dân thành lập trong phiên họp ngày 16, 17/8 tại Tân Trào (Tuyên Quang) chưa về Hà Nội đủ và đó cũng chưa phải là Chính phủ, chưa ra mắt quốc dân đồng bào và thế giới. Vấn đề lập Chính phủ và tuyên cáo về nền Độc lập là cần kíp lúc bấy giờ. Ngày 28/8 Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập trên cơ sở cải tổ Uỷ ban dân tộc giải phóng. Sau khi Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập (28/8/1945) rồi Quốc hội bầu ra Chính phủ liên hiệp kháng chiến (02/3/1946), nước Việt Nam mới đã có chính quyền thống nhất trên cả nước. Nhưng chính quyền non trẻ đứng trước bao khó khăn thử thách. Khi quân Nhật  đầu hàng Đồng minh, bọn Pháp lẩn trốn sau 9/3 từ Vịnh Hạ Long, từ Vân Nam quay về, số bị Nhật bắt giam ra trại, số nằm im từ ngày đó cũng ngóc đầu dậy. Đó là mối đe dọa từ khi ta vừa khởi nghĩa thành công, sau đó là mối hiểm nguy đến từ sự kiện Đồng minh vào áp giải quân Nhật.

Dưới danh nghĩa quân Đồng minh và được Mĩ bảo trợ, quân đội của Tưởng, Anh ngay lập tức lũ lượt kéo vào nước ta. ở miền Bắc 20 vạn quân Tưởng gồm 4 Quân đoàn "Hoa quân nhập Việt" của tướng Lư Hán ồ ạt vào Hà Nội và hầu hết các tỉnh. Danh nghĩa là "giải giáp quân đội Nhật" nhưng chúng nuôi dã tâm: tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng, lập chính quyền tay sai phản động. Nhiệm vụ ấy được đích thân Tưởng Giới Thạch giao cho tên tướng quân phiệt của tập đoàn Quảng Tây là Tiêu Văn đảm trách. Theo chân quân Tưởng, bọn Việt Quốc, Việt Cách kéo về nước thực hiện các vụ bắt cóc, tống tiền, ám sátẶ gây rối loạn trật tự, trị an và mưu toan cướp chính quyền. Lợi dụng tình hình đó, bọn Tưởng vu cáo ta, đe doạ lật đổ chính quyền nhưng vẫn đòi ta cung cấp lương thực, thực phẩm…

ở miền Nam, quân đội của đế quốc Anh do Tướng Goraxay chỉ huy cũng kéo vào "giải giáp quân đội Nhật", bám theo là những đơn vị bộ binh và xe bọc thép của quân đội viễn chinh Pháp, dọn đường cho thực dân Pháp trở lại xâm lược Đông Dương. Lợi dụng tình hình trên, bọn phản động trong nước (Đại Việt, Phục quốc, Trotkis. . . ) cũng ráo riết hoạt động chống phá Cách mạng. Thêm vào đó, số quân Nhật còn lại đã thực hiện hiệu lệnh của quân Anh dùng súng chống lại LLVT của ta.

 Trong khi ấy, tiềm lực mọi mặt của nhà nước  non trẻ chưa được củng cố. Mặt khác, do ảnh hưởng của chiến tranh tàn phá, ảnh hưởng của chế độ cũ nên sản xuất đình đốn, nạn đói đe doạ, ngân sách trống rỗng, tệ nạn xã hội còn phổ biến.
Những vấn đề đó đặt nước Việt Nam mới trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc".

menthuong:
4- Cuộc chiến đấu bắt đầu quyết liệt :

Để tập trung lực lượng chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, ta thực hiện "Hoa-Việt thân thiện", chủ trương hoà hoãn, nhân nhượng, đẩy lùi từng bước âm mưu chính trị, quân sự của quân đội Tưởng và tay sai. Đồng thời Pháp cũng cố công tìm một giải pháp chính trị thích hợp là: thương lượng với Chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh, điều đình với Chính phủ ta để đưa quân ra Bắc. Về sự kiện này, Ban thường vụ Trung ương Đảng đã nhận định: "Trước sau Trùng Khánh sẽ bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp miễn là Pháp nhượng cho Tưởng nhiều quyền lợi quan trọng". Trong bối cảnh đó, Hiệp ước Hoa - Pháp  được ký kết ngày 28/02/1946 tại Trùng Khánh. Đây là sự chà đạp thô bạo chủ quyền độc lập tự do của Việt Nam. Trước tình thế và căn cứ vào so sánh lực lượng khi ấy, BTV TW họp ngày 03/3/1946 đã chọn giải pháp "hoà để tiến". Thực hiện chủ trương đó và để có thời gian củng cố chính quyền non trẻ, xây dựng đất nước, củng cố lực lượng ta buộc phải kí với Pháp Hiệp định sơ bộ 06/3  và sau đó là Tạm ước 14/9 .

 Tận dụng thời cơ đó chúng ta đã tranh thủ mở rộng khối đại đoàn kết; xây dựng hệ thống chính quyền nhân dân và pháp luật; xây dựng LLVT; khắc phục nạn đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Nhưng không bao lâu, kẻ địch đã bội ước, lấn tới. Ngay từ tháng 4/1946 Pháp đã tấn công phòng tuyến của ta ở Nam Bộ rồi chúng lập ra cái gọi là “Chính phủ Nam Kì tự trị” (01/6/1946), ngang nhiên nắm quyền kiểm soát thuế quan ở Hải Phòng.

Cuối năm 1946 chúng tiến công đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, Đà Nẵng, Hải Dương, tiến hành khiêu khích tại Hà Nội. Ngọn lửa chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp sắp đến giờ bùng cháy trên toàn quốc.

Quân dân ta khẩn trương chuẩn bị nhưng vẫn bình tĩnh chịu đựng, xây dựng củng cố thành quả vừa mới vào bước sơ khai. Để từ ngày 19/12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, toàn dân, toàn quân ta bước vào thời kì mới, thời kì kháng chiến toàn dân, toàn diện. Tận dụng thời gian để chuyển hoá sức mạnh là chiến thuật khôn khéo, tài tình của Đảng và Hồ Chủ tịch. Sự chuẩn bị đó là điều kiện đảm bảo cuộc kháng chiến giành thắng lợi.

menthuong:
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch

Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!

Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946

Hồ Chí Minh

(Bút tích lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)


Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%9Di_k%C3%AAu_g%E1%BB%8Di_to%C3%A0n_qu%E1%BB%91c_kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page