t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 153
|
 |
« Trả lời #80 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2010, 01:35:32 am » |
|
Tàu bọc thép được dịch ra tiếng Việt là thiết giáp hạm
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #81 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2010, 01:54:15 am » |
|
Tàu bọc thép được dịch ra tiếng Việt là thiết giáp hạm
Màu đỏ: tiếng Hán Việt. Tiếng Việt là từ màu xanh lá cây.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
longtrec
Trung tá

Bài viết: 1941
|
 |
« Trả lời #82 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2010, 12:27:32 am » |
|
Tiếp theo BÀI HỌC RÚT RA SAU CHIẾN TRANH NGA-NHẬT(1905-1906)
Lúc này Các cường quốc trên biển có thể bắt đầu cuộc chạy đua trang bị cho Hải quân.Thời gian đủ để sác định rõ ràng các chiến hạm,tuần dương ,cần đóng ở lớp nào.Thế hệ tuần dương mới dần thay thế các tuần dương bọc sắt.Tuần dương hạm nhất định phải là 1 chiếc tầu có tốc độ lớn hơn,pháo binh được trang bị đồng nhất,giảm bọc sắt ,chất lượng có thể so sánh với các chiến hạm. Các cuộc chiến trên biển đã tỏ rõ điểm mạnh yếu của các tuần dương hạm Nga.Sự mong đợi lớp tuần dương hạm Thành công hóa ra là lớp Bayan.Pháo binh với các cỡ pháo hiệu quả,được bố trí trong các tháp pháo kiên cố.Tuần dương được bọc sắt tốt cho phép nó thành công trong việc cạnh tranh với các thế hệ tuần dương mới của Nhật.Lớp tuần dương Bayan thích hợp cho việc tuần tra bảo vệ bờ biển cũng như tham gia là lực lượng nòng cốt của Hạm đội.Lớp tuần dương "Bayna" sứng đáng là lớp tuần dương hạng 2.Bất chấp các lời chỉ trích không hoàn thiện về tuần dương Novich.Sau chiến tranh Anh-Đức Nga đưa vào đóng 1 loạt các tuần dương dòng Novich nhưng lớn hơn,nhiều tính năng ưu việt hơn(Chạy nhanh hơn.độ dẽ nước nhỏ hơn,pháo binh mạnh hơn).Rút kinh nhiệm từ chiến tranh,các tuần dương được bọc sắt ở các nơi sung yếu không hợp lý,bố trí pháo binh bất lợi lên thiệt hại nặng nề trong chiến tranh thì thế hệ tuần dương được đóng mới đã khắc phục triệt để những nhược điểm này. Đánh giá tổng quát :các tuần dương hạm Nga trong chiến tranh đã đáp ứng được các yêu cầu thực tiễn,cắt đứt các tuyến đường trên biển của kẻ thù-Chúng hoàn thành nhiệm vụ.Su hướng của thế hệ tuần dương hạm mới tiếp tục được khai thác sâu.Ở Nga lúc này các tuần dương hạm chuyên trách không thể hoàn thành ngay sau chiến tranh.Ý tưởng đóng tuần dương mẫu Izmail và mẫu tuần dương hạng nhẹ Svetlana bây giờ mới chín mồi. Chiến tranh cho thấy vai trò quan trọng của các giáp hạm trên biển(Nói chung).Chúng không chỉ tham gia chiến đấu ,mà còn trinh sát,bảo vệ,dải ngư lôi,và quét ngư lôi nữa.Đòi hỏi bức súc lúc này là Nga phải đóng các giáp hạm có tốc độ lớn,trang bị pháo binh mạnh,có tính cơ động cao.Một quá trình cải tiến,chuyển đổi các nồi hơi cho phép tăng đáng kể công suất máy,giảm trọng lượng nồi hơi khi nắp đặt.Ứng dụng tuốc bin hơi nước ,năng lượng tiêu hao khi vận hành đã ở mức kinh tế. Về các tầu phóng ngư lôi,đã bỏ các ống phóng ngư lôi ngầm dưới nước.Tất cả các ống phóng ngư lôi đều được bố trí trên boong tầu với nhiều ống soay.Thép đóng tầu và vỏ quả ngư lôi ngày càng được sử dụng các chất liệu hiện đại.Tầu phóng ngư lôi được bổ sung thêm chức năng dải thủy lôi.Một tầu ngư lôi có thể mang 30-90 thủy lôi.Pháo binh trên các ngư lôi hạm được trang bị pháo cỡ nòng từ 102mm-120mm.Nhờ hoàn thiện các tính năng kỹ thuật mà các tầu phóng ngư lôi là mối đe dọa cho bất kể loại tầu nổi nào của kẻ thù. Tầu ngầm trong chiến tranh Nga-Nhật được sử dụng hết sức hạn chế.Tầu ngầm tham chiến chỉ được ghi nhận ở các vùng ven biển,do đó trong giai đoạn này không có 1 cú hích nào cho việc cải tiến phát chuyển nó.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
spearvn
Thành viên

Bài viết: 79
One life, live it!
|
 |
« Trả lời #83 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2010, 11:56:06 pm » |
|
Tiếp theo BÀI HỌC RÚT RA SAU CHIẾN TRANH NGA-NHẬT(1905-1906)
Lúc này Các cường quốc trên biển có thể bắt đầu cuộc chạy đua trang bị cho Hải quân.Thời gian đủ để sác định rõ ràng các chiến hạm,tuần dương ,cần đóng ở lớp nào.Thế hệ tuần dương mới dần thay thế các tuần dương bọc sắt.Tuần dương hạm nhất định phải là 1 chiếc tầu có tốc độ lớn hơn,pháo binh được trang bị đồng nhất,giảm bọc sắt ,chất lượng có thể so sánh với các chiến hạm. -----
Cái này chính là cái ý em định nói đấy bác longtrec ạ. Vì em không biết dịch cái từ линкор thành chiến hạm hay tuần dương hạm. Mong bác thông cảm.
|
|
|
|
|
Logged
|
One life, live it! "НЕТ ЗАДАЧ НЕВЫПОЛНИМЫХ"
|
|
|
thainhi_vn
Thành viên

Bài viết: 705
|
 |
« Trả lời #84 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2010, 12:09:43 am » |
|
Tiếp theo BÀI HỌC RÚT RA SAU CHIẾN TRANH NGA-NHẬT(1905-1906)
Lúc này Các cường quốc trên biển có thể bắt đầu cuộc chạy đua trang bị cho Hải quân.Thời gian đủ để sác định rõ ràng các chiến hạm,tuần dương ,cần đóng ở lớp nào.Thế hệ tuần dương mới dần thay thế các tuần dương bọc sắt.Tuần dương hạm nhất định phải là 1 chiếc tầu có tốc độ lớn hơn,pháo binh được trang bị đồng nhất,giảm bọc sắt ,chất lượng có thể so sánh với các chiến hạm. -----
Cái này chính là cái ý em định nói đấy bác longtrec ạ. Vì em không biết dịch cái từ линкор thành chiến hạm hay tuần dương hạm. Mong bác thông cảm. Theo em biết thì "линкор" là chiến hạm chủ lực. Nó tương đương khái niệm "de vaisseau" trong tiếng Pháp và "ship of the line" trong tiếng Anh. Loại chiến hạm này thường hoạt động trong đội hình hạm đội. Nó khác với tuần dương hạm là loại chiến hạm có thể đi 1 mình.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #85 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2010, 12:27:00 am » |
|
"Линкор" = линейный корабль = thiết giáp hạm, chủ lực hạm = tàu bọc thép, tàu chiến chủ lực. Trong các trường hợp này thì từ "линкор" dùng với nghĩa "tàu chiến chủ lực" hoặc chủ lực hạm hợp lý hơn. Thiết giáp hạm hay tàu bọc thép là: броневой корабль.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chiangshan
Thành viên

Bài viết: 3405
No sacrifice, no victory
|
 |
« Trả lời #86 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2010, 12:52:13 pm » |
|
Hiện em đang có những cuốn sau: - The Imperial Russian Navy (96MB). - British, Soviet, French and Dutch Battleships of WW2 (43MB). - Soviet Navy at War 1941-1945 (45MB). - Russian Battleships vs Japanese Battleships, Yellow Sea 1904-05 (34MB). Trong đó có kha khá ảnh và thông tin về các loại tàu chiến của HQ Nga-LX giai đoạn 1900-1945. Nếu bác nào có hứng muốn trích ra bổ sung cho topic này thì em sẽ up lên. p/s: đã có tại đây
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Giêng, 2010, 04:26:33 pm gửi bởi chiangshan »
|
Logged
|
Dân ta phải biết sử ta Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
|
|
|
spearvn
Thành viên

Bài viết: 79
One life, live it!
|
 |
« Trả lời #87 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2010, 06:43:48 pm » |
|
"Линкор" = линейный корабль = thiết giáp hạm, chủ lực hạm = tàu bọc thép, tàu chiến chủ lực. Trong các trường hợp này thì từ "линкор" dùng với nghĩa "tàu chiến chủ lực" hoặc chủ lực hạm hợp lý hơn. Thiết giáp hạm hay tàu bọc thép là: броневой корабль.
Lâu lâu dùng tiếng Nga vất vả quá. Em xin phép bổ sung 1 ít từ vựng, nếu sai mong các bác sửa. ЭСКАДРЕННЫЙ МИНОНОСЕЦ - Khu trục hạm ФРЕГАТ và корвет = khinh hạm, xếp chỉ sau Chiến hạm về hỏa lực và độ giãn nước, nhưng tốc độ cao hơn. Тральщики - Tàu quét mìn. Ракетные катера - Tàu phóng lôi và tên lửa КРЕЙСЕРОМ - Tuần dương hạm
|
|
|
|
|
Logged
|
One life, live it! "НЕТ ЗАДАЧ НЕВЫПОЛНИМЫХ"
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #88 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2010, 06:54:11 pm » |
|
Lâu lâu dùng tiếng Nga vất vả quá. Em xin phép bổ sung 1 ít từ vựng, nếu sai mong các bác sửa. ЭСКАДРЕННЫЙ МИНОНОСЕЦ - Khu trục hạm ФРЕГАТ và корвет = khinh hạm, xếp chỉ sau Chiến hạm về hỏa lực và độ giãn nước, nhưng tốc độ cao hơn. Тральщики - Tàu quét mìn. Ракетные катера - Tàu phóng lôi và tên lửa КРЕЙСЕРОМ - Tuần dương hạm
Sửa lại chút thôi: Đỏ 1 là tàu tuần tra/tuần tiễu trang bị tên lửa. "Фрегат" = phờ rai ghết  (thông cảm, tiếng Anh không biết viết  ). Đỏ 2: Катера = xuống máy, ca no, cụm từ đó hiểu là tàu chiến hạng nhẹ có trang bị tên lửa  . Mấy từ còn lại thì đúng rồi, còn từ "Авианосец" là tàu sân bay  Cám ơn nhiều  Các khái niệm này hình như xuất hiện từ trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Còn trước đó sự phân loại về tàu chiến hầu như không rõ rệt. Sau chiến tranh Nga - Nhật, còn rút ra được điều gì nữa bác longtrec ơi 
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thainhi_vn
Thành viên

Bài viết: 705
|
 |
« Trả lời #89 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2010, 06:58:24 pm » |
|
"Линкор" = линейный корабль = thiết giáp hạm, chủ lực hạm = tàu bọc thép, tàu chiến chủ lực. Trong các trường hợp này thì từ "линкор" dùng với nghĩa "tàu chiến chủ lực" hoặc chủ lực hạm hợp lý hơn. Thiết giáp hạm hay tàu bọc thép là: броневой корабль.
Lâu lâu dùng tiếng Nga vất vả quá. Em xin phép bổ sung 1 ít từ vựng, nếu sai mong các bác sửa. ЭСКАДРЕННЫЙ МИНОНОСЕЦ - Khu trục hạm ФРЕГАТ và корвет = khinh hạm, xếp chỉ sau Chiến hạm về hỏa lực và độ giãn nước, nhưng tốc độ cao hơn. Тральщики - Tàu quét mìn. Ракетные катера - Tàu phóng lôi và tên lửa КРЕЙСЕРОМ - Tuần dương hạm фрегат (frigate): Có tài liệu dịch là Hải phòng hạm (tất nhiên được xếp vào khinh hạm) корвет (corvette): Hộ tống hạm Ракетные катера: Phóng lôi hạm Тральщики: Trục lôi hạm
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|