Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:17:30 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sách trắng quốc phòng Việt Nam 2009  (Đọc 33182 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #20 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:21:47 pm »

Bảng 1: Ngân sách quốc phòng Việt Nam
Đơn vị tính: Tỷ đồng

Năm 2005/Năm 2006/Năm 2007/Năm 2008
GDP: 839.211 / 973.791 /1.143.442/ 1.490.000
Ngân sách quốc phòng: 16.278 / 20.577 /28.922 /27.024
Tỷ trọng theo GDP: 1,872% /2,194% /2,529% /1,813%

Ngân sách nêu trên chủ yếu để bảo đảm mức sống của đội ngũ sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ v à công nhân viên quốc phòng, bảo đảm hoạt động của công nghiệp quốc phòng, duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Xây dựng tiềm lực kinh tế phục vụ quốc phòng còn là đầu tư thích đáng cho công nghiệp quốc phòng. Nền công nghiệp quốc phòng phải thực sự là bộ phận công nghiệp quốc gia do Bộ Quốc phòng quản lý. Công cuộc đổi mới nâng cao năng lực công nghiệp quốc phòng được tiến hành theo hướng lưỡng dụng hoá, bảo đảm sửa chữa, sản xuất, cải tiến, nâng cấp vũ khí, trang bị theo yêu cầu nhiệm vụ phát triển mới của lực lượng vũ trang nhân dân trên các vùng chiến lược; chú trọng phát huy năng lực quốc phòng của các địa phương.

1.3. Xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ
Tiềm lực khoa học và công nghệ là khả năng tiềm tàng về khoa học và công nghệ (cả khoa học tự nhiên, khoa học xã hội - nhân văn, khoa học kỹ thuật và công nghệ...) có thể huy động nhằm giải quyết những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của xã hội và xử lý các tình huống quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Tiềm lực khoa học và công nghệ là thành tố có vai trò ngày càng quan trọng trong tiềm lực quốc phòng. Tiềm lực đó được biểu hiện ở trình độ và khả năng phát triển khoa học; số lượng và chất lượng các nhà khoa học; cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nghiên cứu, phổ biến và ứng dụng khoa học và công nghệ vào lĩnh vực quốc phòng. Tiềm lực khoa học và công nghệ tác động trực tiếp đến sự phát triển của khoa học và công nghệ trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang, công tác chỉ huy và quản lý bộ đội…

Xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của nền quốc phòng toàn dân gắn bó chặt chẽ với sự phát triển khoa học và công nghệ của đất nước. Nhà nước Việt Nam coi đầu tư phát triển khoa học - công nghệ là nền tảng và động lực phát triển kinh tế - xã hội. Đây là cơ sở quan trọng để đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm nền tảng vững chắc cho tiềm lực khoa học và công nghệ của nền quốc phòng toàn dân... Nhà nước Việt Nam đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu - phát triển khoa học - công nghệ đồng thời có chính sách phát triển và ưu đãi đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ. Nhà nước cũng đã đề ra các biện pháp gắn khoa học - công nghệ với sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền tác giả, từng bước tạo lập thị trường công nghệ; mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp thu những công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam. Tuy còn những khó khăn hạn chế, nhưng tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước đang từng bước được tăng cường, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng - an ninh của Việt Nam.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #21 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:23:10 pm »

Trong những năm qua, khoa học - kỹ thuật và nghệ thuật quân sự Việt Nam được quan tâm phát triển, tập trung nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật và chiến thuật để đối phó có hiệu quả với chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Việt Nam chú trọng kế thừa và phát huy nghệ thuật chiến tranh nhân dân cả trong nghệ thuật tác chiến chiến lược, chiến dịch và chiến thuật... đáp ứng các điều kiện chiến tranh hiện đại, nhằm phát huy cao nhất sức mạnh của con người và vũ khí trong chống chiến tranh xâm lược. Khoa học - kỹ thuật quân sự Việt Nam phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu trước mắt về trang bị vũ khí của lực lượng vũ trang nhân dân đồng thời từng bước nghiên cứu phát triển các giải pháp công nghệ, các loại khí t ài mới đáp ứng yêu cầu chiến tranh trong tương lai. Nhà nước Việt Nam đang hoàn thiện cơ chế thu hút, sử dụng nhân tài, phát huy mọi tiềm lực khoa học cả trong và ngoài nước cho xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

1.4. Xây dựng tiềm lực quân sự
Tiềm lực quân sự là khả năng về vật chất và tinh thần có thể huy động để tạo thành sức mạnh phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong cả thời bình và thời chiến. Tiềm lực quân sự là nòng cốt của tiềm lực quốc phòng, được xây dựng trên nền tảng của tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế và tiềm lực khoa học và công nghệ. Tiềm lực quân sự không chỉ thể hiện ở khả năng duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang mà còn biểu hiện ở nguồn dự trữ về sức người, sức của phục vụ cho nhiệm vụ quân sự.

Nhà nước Việt Nam xây dựng tiềm lực quân sự theo kế hoạch chiến lược thống nhất, phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Năng lực chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang thể hiện ở tổ chức, biên chế, trang bị, cơ sở bảo đảm hậu cần, nghệ thuật quân sự và khoa học - kỹ thuật thường xuyên được quan tâm duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển, đáp ứng các yêu cầu của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc .

Tiềm lực quân sự bao gồm cả hai yếu tố cơ bản là con người và vũ khí, trang bị trong đó con người là yếu tố quyết định. Việt Nam có tiềm lực quân sự mạnh một phần nhờ nguồn nhân lực trẻ dồi dào. Nhà nước Việt Nam quan tâm xây dựng đội ngũ sĩ quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XII đã xác định rõ tiêu chuẩn chung của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có phẩm chất đạo đức; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; phát huy dân chủ, giữ nghiêm kỷ luật quân đội; tôn trọng và đoàn kết với nhân dân, với đồng đội; có trình độ chính trị, khoa học quân sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Luật cũng đã điều chỉnh kéo dài tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan nhằm tiết kiệm nhân lực trong đào tạo, sử dụng, phát huy những kiến thức, kinh nghiệm của sĩ quan, nhất l à sĩ quan chuyên môn nghiệp vụ, cán bộ khoa học có trình độ cao mà vẫn giữ được tính đặc thù của lao động quân sự. Luật cũng điều chỉnh chính sách đối với sĩ quan, xác định quân đội là “ngành lao động đặc biệt” làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi được thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XI đã giảm thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự từ 24 tháng xuống 18 tháng. Quy định này tạo khả năng tăng số lượt thanh niên tham gia quân đội. Các thanh niên sau khi phục vụ quân đội sẽ là lực lượng dự bị hùng hậu, sẵn sàng động viên bổ sung cho lực lượng thường trực khi cần.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #22 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:24:35 pm »

Tiềm lực quân sự còn thể hiện ở khả năng động viên công nghiệp, nông nghiệp, khoa học - kỹ thuật, giao thông vận tải và các ngành dịch vụ công cộng khác để đáp ứng yêu cầu quốc phòng. Xây dựng tiềm lực quân sự được gắn chặt với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Các thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ, văn hoá tư tưởng... là cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Nhà nước Việt Nam chủ trương gắn việc xây dựng tiềm lực quân sự với việc xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học và công nghệ, coi đó là yêu cầu tất yếu trong xây dựng tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân, bảo đảm khả năng huy động tạo thành sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

2. XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG QUỐC PHÒNG
Nền quốc phòng Việt Nam dựa vào sức mạnh toàn diện của các nguồn lực nên lực lượng quốc phòng bao gồm lực lượng của toàn dân với lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt.

Xây dựng lực lượng quốc phòng trước hết phải xây dựng, củng cố vững chắc hệ thống chính trị bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, trong đó trọng tâm là xây dựng và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp. Hệ thống chính trị là hạt nhân của lực lượng quốc phòng, có vai trò quyết định trong huy động, phát huy sức mạnh quốc phòng của đất nước. Trong hệ thống chính trị, việc xây dựng, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức quần chúng có ý nghĩa rất quan trọng để tập hợp, vận động quần chúng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, trực tiếp đấu tranh bảo vệ địa phương, cơ quan đơn vị mình, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Việc xây dựng lực lượng quốc phòng phải được thể chế hoá bằng hệ thống luật và các văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng nhằm huy động mọi thành phần kinh tế tham gia xây dựng củng cố nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng lực lượng quốc phòng. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng b ước hiện đại thực sự giữ vai trò nòng cốt của lực lượng quốc phòng. Dân quân tự vệ được tổ chức phù hợp với các thành phần kinh tế, vừa rộng khắp vừa có trọng điểm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong cả thời bình và thời chiến.

3. XÂY DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG
Thế trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai, bố trí lực lượng và tiềm lực quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo ý định chiến lược thống nhất, bảo đảm đối phó thắng lợi với mọi mưu toan và hoạt động của các thế lực thù địch xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân nếu chiến tranh xảy ra.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #23 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:25:42 pm »

Thế trận quốc phòng toàn dân được xây dựng gắn với quy hoạch của quốc gia và từng địa phương theo hướng kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế; hình thành các khu vực chiến lược vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng - an ninh. Cùng với quá trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, việc triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí hệ thống các côn g trình kinh tế, kỹ thuật có quan hệ rất lớn đến thế trận quốc phòng toàn dân. Do vậy, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân phải được kết hợp ngay trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Thế trận quốc phòng toàn dân được xây dựng bảo đảm thế liên hoàn, vững chắc, kết hợp thế trận tại chỗ với thế cơ động, thế trận rộng khắp với xây dựng thế trận có trọng điểm, tập trung cho hướng, khu vực, mục tiêu chủ yếu, địa bàn chiến lược. Nhà nước có chính sách phân bố lại lao động, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, biển đảo, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội kết hợp chặt chẽ với tăng cường lực lượng, tiềm lực và thế trận quốc phòng ở các khu vực xung yếu.

Trên cơ sở điều chỉnh thế bố trí chiến lược của nền kinh tế trên phạm vi cả nước, Nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng các tỉnh, thành phố thành các khu vực phòng thủ vững chắc, bảo đảm trong thời bình có khả năng tự lực giải quyết những tình huống khẩn cấp ở địa phương mình; khi xảy ra chiến tranh thì chủ động đánh địch ngay từ đầu, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và đẩy quân địch vào thế bị động, sa lầy, tạo thời cơ và phối hợp chặt chẽ với các binh đoàn chủ lực tiêu diệt địch. Việc xây dựng cơ sở thôn, bản, xã, phường, các vùng biên giới, hải đảo và các địa bàn trọng yếu vững mạnh toàn diện được đặc biệt coi trọng.

Cùng với xây dựng khu vực phòng thủ, thế bố trí của các lực lượng vũ trang điều chỉnh trên từng hướng chiến lược và trên phạm vi cả nước, hình thành thế trận vững chắc và có tính cơ động cao sẵn sàng đáp ứng yêu cầu khi xử lý các tình huống. Các lực lượng bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương được bố trí hợp lý, kết hợp chặt chẽ với xây dựng hệ thống phòng thủ tạo thành thế liên hoàn, vững chắc, hiểm hóc của thế trận quân sự trên các khu vực trọng điểm, bảo đảm khả năng tác chiến của lực lượng vũ trang cả trên bộ, trên không, trên biển, đảo.

Hậu phương chiến lược, căn cứ hậu phương chiến lược, căn cứ hậu cần kỹ thuật của từng vùng, từng hướng được xây dựng nhằm bảo đảm hoạt động cho nhân dân và lực lượng vũ trang trong điều kiện chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao... trong đó khả năng độc lập, tự lực được quan tâm đúng mức. Thế trận quốc phòng được thực hiện thông qua triển khai các kế hoạch chiến lược như kế hoạch chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến; kế hoạch bảo đảm quốc phòng, an ninh chính trị; bảo vệ vùng trời; bảo vệ biên giới quốc gia.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #24 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:27:19 pm »

Thế trận quốc phòng toàn dân được xây dựng trong mối liên hệ chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân của Việt Nam tạo thành thế liên hoàn, vững chắc, phát huy được sức mạnh của các lực lượng, kết hợp được các hình thức hoạt động vũ trang và phi vũ trang, tạo được khả năng cơ động linh hoạt, khả năng độc lập và phối hợp tác chiến. Đây là nội dung quan trọng của xây dựng thế trận quốc phòng, thể hiện trong xây dựng các khu vực phòng thủ. Dựa trên đặc thù của mỗi khu vực phòng thủ, việc bố trí, triển khai lực lượng được tính toán bảo đảm tính hiệu quả cao nhất trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh ở địa phương, tạo sự hiệp đồng chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh trên mỗi vùng chiến lược và trên phạm vi cả nước.

4. LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ QUỐC PHÒNG

4.1. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân và nền quốc phòng
Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối và quyết định các vấn đề liên quan đến chiến lược bảo vệ Tổ quốc, thông qua các tổ chức Đảng giữ vai trò lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị trong các hoạt động quốc phòng. Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân nhằm xây dựng quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam được thực hiện thông qua hệ thống tổ chức đảng, hệ thống tổ chức chỉ huy, hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và tổ chức quần chúng ở đơn vị cơ sở.

Hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội gồm có Đảng uỷ Quân sự Trung ương (gọi tắt là Quân uỷ Trung ương) và Đảng bộ quân sự các cấp. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam là Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Đảng uỷ Quân sự Trung ương còn có Phó Bí thư và các Uỷ viên do Bộ Chính trị chỉ định, gồm một số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam công tác trong quân đội và một số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam công tác ngoài quân đội. Các cấp uỷ đảng từ cấp trực thuộc Quân ủy Trung ương đến cấp cơ sở do các đại hội đảng cùng cấp bầu. Đảng uỷ Quân sự Trung ương nghiên cứu đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ quân sự và quốc phòng; kế hoạch phòng thủ đất nước; phương hướng và biện pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân; cơ chế lãnh đạo của đảng với Quân đội nhân dân. Đảng uỷ Quân sự Trung ương có trách nhiệm phối hợp và hướng dẫn các cấp uỷ trực thuộc Trung ương thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về quân sự, quốc phòng. Đảng uỷ Quân sự Trung ương trực tiếp lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh toàn diện, xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh. Thông qua các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương bảo đảm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đảng uỷ Quân sự Trung ương thực hiện chế độ quyết định tập thể đối với vấn đề lớn như chủ trương, chương trình, kế hoạch thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các biện pháp xây dựng quân đội, quyết định các vấn đề về công tác cán bộ trong quân đội. Đảng uỷ Quân sự Trung ương chỉ đạo Tổng cục Chính trị và thông qua Tổng cục Chính trị chỉ đạo các Đảng bộ và hệ thống chính uỷ, chính trị vi ên, cơ quan chính trị các cấp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị nhằm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đủ khả năng ho àn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #25 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:29:17 pm »

Hệ thống cơ quan chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm có Tổng cục Chính trị và các cục, phòng và ban chính trị ở các đơn vị. Tổng cục Chính trị chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị trong toàn quân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và trực tiếp, thường xuyên là của Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Căn cứ nghị quyết, chỉ thị của Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và nghị quyết của Đảng uỷ Quân sự Trung ương, mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đề xuất với Đảng uỷ Quân sự Trung ương các chủ trương, biện pháp, kế hoạch tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các cấp trong toàn quân thực hiện. Các cơ quan chính trị trong quân đội tiến hành giáo dục bồi dưỡng đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; chỉ đạo hướng dẫn xây dựng các đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh; hướng dẫn các đơn vị đấu tranh với các luận điệu chiến tranh tâm lý; phối hợp với các cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể địa phương tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

Chính uỷ, chính trị viên là cán bộ chủ trì về chính trị ở các cấp. Từ cấp đại đội đến cấp tiểu đo àn và tương đương có chính trị viên. Từ cấp trung đoàn đến cấp quân khu và tương đương có chính uỷ. Chính uỷ, chính trị viên chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp uỷ cấp mình về toàn bộ các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong đơn vị; có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức tiến hành các nội dung công tác đảng, công tác chính trị theo chức trách, nhiệm vụ đồng thời tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện các kế hoạch công tác của đơn vị.

4.2. Quản lý nhà nước về quốc phòng
Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện việc quản lý quốc phòng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Nội dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về quốc phòng gồm ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng; ký kết các điều ước quốc tế về hợp tác quốc phòng, xây dựng quy hoạch, kế hoạch động viên quốc phòng; tổ chức, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng và các biện pháp cần thiết để bảo vệ Tổ quốc.

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan duy nhất có quyền ban hành các đạo luật liên quan đến chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia; tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang... Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với to àn bộ hoạt động quốc phòng của Nhà nước. Trong thời gian từ năm 2005 đến nay, Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật liên quan đến quốc phòng như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Quốc phòng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật An ninh Quốc gia, Luật Công an nhân dân , Luật Biên giới quốc gia... Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua nhiều pháp lệnh về quốc phòng như Pháp lệnh Cảnh sát biển, Pháp lệnh Dân quân tự vệ, Pháp lệnh Tình báo, Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng, Pháp lệnh Động viên quốc phòng, Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng...

Chủ tịch nước là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân. Chủ tịch nước công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương; công bố và ban hành các đạo luật, pháp lệnh về quốc phòng khác; quyết định phong hàm cấp thượng tướng, đại tướng cho sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân.

Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành các nghị định, nghị quyết để cụ thể hoá việc thực hiện các luật, pháp lệnh về quốc phòng. Chính phủ cũng ban hành các chính sách về củng cố quốc phòng và xây dựng quân đội, lập quy hoạch, kế hoạch động vi ên quốc phòng; tổ chức, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng và các biện pháp cần thiết để bảo vệ Tổ quốc. Theo phân cấp, các bộ ngành tiến hành giáo dục quốc phòng, hợp tác quốc tế trong một số lĩnh vực liên quan đến quốc phòng, bảo đảm đời sống vật chất cho lực lượng vũ trang và thực hiện các chính sách hậu phương quân đội, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng... Từ năm 2004 đến nay, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến quốc phòng. Chính phủ đã thể chế hóa trách nhiệm của các ngành các cấp và các tầng lớp nhân dân trong công tác xây dựng các tỉnh (thành phố) thành các khu vực phòng thủ vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng - an ninh làm cơ sở vững chắc cho nền quốc phòng toàn dân. Thủ tướng Chính phủ quyết định phong hàm cấp thiếu tướng, trung tướng cho sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #26 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:31:09 pm »

Bộ Quốc phòng là cơ quan tham mưu cho Đảng và Nhà nước về đường lối, nhiệm vụ quân sự, quốc ph òng bảo vệ Tổ quốc; quản lý nhà nước về lĩnh vực quốc phòng trong phạm vi cả nước; tổ chức thực hiện việc xây dựng, quản lý và chỉ huy Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ; quản lý các dịch vụ công theo quy định của pháp luật. Bộ tr ưởng Bộ Quốc phòng vừa là người chỉ đạo thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng theo quy định của pháp luật, vừa chịu trách nhiệm tổ chức, xây dựng, quản lý và là người chỉ huy cao nhất của Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ. Bộ Quốc phòng có Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, các tổng cục và các đơn vị trực thuộc khác. Bộ Quốc phòng quyết định phong hàm cấp tá, cấp úy cho sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bộ Tổng tham mưu là cơ quan chỉ huy, điều hành Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ và thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về quốc phòng. Bộ Tổng tham mưu tổ chức, chỉ đạo sự phát triển của quân đội và dân quân tự vệ đồng thời chỉ huy các hoạt động quân sự. Bộ Tổng tham mưu có Tổng Tham mưu trưởng, các Phó Tổng tham mưu trưởng, các cục chức năng về tác chiến, huấn luyện, quân lực, dân quân tự vệ, nhà trường quân đội... Tổng Tham mưu trưởng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng là người thay thế Bộ trưởng Bộ Quốc phòng điều hành các hoạt động của Bộ Quốc phòng khi Bộ trưởng vắng mặt. Tổng Tham mưu trưởng chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu xây dựng chiến lược quốc phòng; quy hoạch, kế hoạch phòng thủ đất nước, chủ trì phối hợp, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, các c ơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện các quy định pháp luật về quốc phòng, kiểm tra đôn đốc các đơn vị quân đội chấp hành pháp luật của Nhà nước, mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Tổng cục Chính trị là cơ quan chỉ đạo và tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội . Tổng cục có Chủ nhiệm và các Phó Chủ nhiệm, các cục chức năng chịu trách nhiệm về công tác cán bộ, tuy ên huấn, tổ chức đảng, công tác dân vận, an ninh quân đội... Tổng cục Chính trị là cơ quan quản lý hành chính đối với hệ thống toà án quân sự, viện kiểm sát quân sự các cấp.

Các cơ quan chức năng cấp tổng cục của Bộ Quốc phòng gồm Tổng cục Kỹ thuật, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và Tổng cục Tình báo quốc phòng. Các tổng cục có Chủ nhiệm và các Phó Chủ nhiệm (riêng Tổng cục Tình báo quốc phòng có Tổng cục trưởng và các Phó Tổng cục trưởng); Chính uỷ và Phó Chính uỷ; cơ quan Tham mưu, cục Chính trị, các cơ quan và đơn vị trực thuộc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.

Tổng cục Hậu cần là cơ quan đầu ngành về hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam; có chức năng tham mưu, chỉ đạo, tổ chức bảo đảm vật chất, bảo đảm sinh hoạt, bảo đảm quân y, bảo đảm vận tải... cho Quân đội. Tổ chức hiện nay gồm: Văn phòng Tổng cục Hậu cần, Bộ Tham mưu Hậu cần, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, các cục chuyên ngành (Quân nhu, Quân y, Doanh trại, Xăng dầu, Vận tải...) và một số cơ quan, cơ sở, đơn vị trực thuộc khác.

Tổng cục Kỹ thuật là cơ quan đầu ngành kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam có chức năng tham mưu, bảo đảm kỹ thuật cho quân đội, có các cục chức năng chịu trách nhiệm về bảo đảm kỹ thuật cho các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng. Tổng cục còn có các cơ quan, đơn vị, học viện, trường kỹ thuật chuyên ngành, các nhà máy, xí nghiệp sửa chữa vũ khí và các đơn vị trực thuộc khác.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #27 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:33:02 pm »

Tổng cục Công nghiệp quốc phòng chịu trách nhiệm sản xuất vũ khí, trang bị quân dụng cho quân đội và dân quân tự vệ. có các cục chức năng, các nhà máy sản xuất vũ khí, khí tài, các trường dạy nghề, các đơn vị trực thuộc.

Tổng cục Tình báo quốc phòng là cơ quan tình báo chuyên trách chiến lược của Đảng, Nhà nước Việt Nam; cơ quan tình báo chuyên trách quân sự của Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng. Tổng cục Tình báo Quốc phòng là lực lượng trực tiếp thực hiện công tác tình báo ở cấp chiến lược; là cơ quan tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam về tổ chức lực lượng và hoạt động tình báo, đồng thời là cơ quan đầu ngành trực tiếp chỉ đạo nghiệp vụ tình báo đối với hệ thống quân báo – trinh sát toàn quân.

Cục Cảnh sát biển trực thuộc Bộ Quốc ph òng là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn, bảo đảm việc chấp hành pháp luật của Nhà nước Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Việt Nam có 4 vùng Cảnh sát biển. Cảnh sát biển được trang bị các loại tàu, thuyền đáp ứng các yêu cầu quản lý việc chấp hành pháp luật liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán ở các khu vực biển Việt Nam. Mọi hoạt động của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam do Bộ Quốc phòng trực tiếp tổ chức, quản lý và điều hành.

Cục Cứu hộ, Cứu nạn thuộc Bộ Quốc phòng làm nhiệm vụ của cơ quan thường trực của Uỷ ban Quốc gia tìm kiếm, cứu nạn, chịu trách nhiệm điều phối các lực lượng cả trong và ngoài quân đội trong công tác cứu hộ, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai và khắc phục hậu quả các thảm hoạ.

Cục Đối ngoại trực thuộc Bộ Quốc phòng là cơ quan quản lý nhà nước về đối ngoại quốc phòng của quân đội, thực hiện chức năng tham mưu cho Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về chủ trương, phương hướng và biện pháp công tác đối ngoại quân sự; hướng dẫn và quản lý các hoạt động đối ngoại quốc phòng; lập kế hoạch và tổ chức các hoạt động đối ngoại quân sự trong các lĩnh vực được phân công; là đại diện của Bộ Quốc phòng trong quan hệ với Tuỳ viên quốc phòng các nước, các đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế v à khu vực tại Việt Nam.

Tham mưu, giúp việc cho Bộ Quốc phòng có Văn phòng Bộ Quốc phòng đồng thời là Văn phòng Đảng ủy Quân sự Trung ương và các cơ quan chức năng khác.

4.3. Phương hướng tăng cường lãnh đạo, quản lý về quốc phòng
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quốc phòng là nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Cơ cấu tổ chức Đảng trong lãnh đạo công tác quốc phòng được xây dựng thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến các địa phương, nhất là cấp quân khu và cơ sở. Các nội dung lãnh đạo của Đảng về quốc phòng tiếp tục được bổ sung. Cơ chế hoạt động và trách nhiệm phối hợp của từng cấp, từng ngành, từng địa phương trong các hoạt động liên quan đến quốc phòng, đặc biệt khi xử lý các tình huống phức tạp được quy định ngày càng rõ ràng và hoàn thiện.

Cải cách hành chính nhằm làm cho bộ máy nhà nước trên lĩnh vực quốc phòng hoạt động ngày càng hiệu quả là công tác có tầm quan trọng đặc biệt. Mục tiêu của cải cách hành chính là xây dựng hệ thống hành chính và quản lý hành chính nhà nước về quốc phòng thông suốt, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu quả với 3 nội dung chủ yếu là cải cách thể chế của nền hành chính; chấn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.

Cơ cấu tổ chức quản lý Nhà nước về quốc phòng từ Trung ương đến cơ sở tiếp tục được điều chỉnh trên cơ sở xác định rõ cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, cán bộ chuyên trách quốc phòng ở các bộ, ngành. Nhiệm vụ quốc phòng của các cơ quan, ban, ngành các cấp được thể chế hoá bằng pháp luật nhằm phát huy cao nhất quyền lực quản lý nhà nước về quốc phòng. Sự phân cấp quản lý nhà nước về quốc phòng giữa các cơ quan của Chính phủ với chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được tiếp tục nghiên cứu để cụ thể hoá.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #28 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:35:33 pm »

Một trong những chủ trương và giải pháp lớn về cải cách hành chính về quốc phòng là bảo đảm thực hiện dân chủ hóa đời sống chính trị của xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc, trong thực hiện các nghĩa vụ và quyền lợi trên lĩnh vực quốc phòng. Các thủ tục hành chính trên lĩnh vực quản lý nhà nước về quốc phòng tiếp tục được cải cách đồng thời với xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách về quốc phòng trong sạch, có năng lực.

Cán bộ chuyên trách tại các cơ quan chức năng được tăng cường bồi dưỡng, hướng dẫn để phát huy vai trò làm tham mưu trong tổ chức thực hiện xây dựng và quản lý công tác quốc phòng. Quy chế quan hệ, phối hợp, hiệp đồng giữa các ban, ngành, các cấp hoạt động liên quan đến quốc phòng cần được xây dựng, hoàn thiện để phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các lực lượng. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống chính sách trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân được nghiên cứu bổ sung, ban hành điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của tình hìnhmới để mọi công dân có đủ điều kiện thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhiệm vụ quốc phòng.

PHẦN THỨ BA

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

VÀ

DÂN QUÂN TỰ VỆ

1. TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VÀ DÂN QUÂN TỰ VỆ

Quân đội nhân dân, dân quân tự vệ là các thành phần chủ yếu của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, giữ vai trò nòng cốt trong nền quốc phòng toàn dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc đồng thời tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

1.1. Quân đội nhân dân
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”.

Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Khi mới thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chỉ có 34 cán bộ, chiến sĩ nhưng đã sớm phát huy được truyền thống chống ngoại xâm v à nghệ thuật quân sự lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn của dân tộc. Ngay từ lần đầu ra quân, đội quân chính quy đầu tiên của Việt Nam đã lập nên những chiến công vang dội, giải phóng những khu vực rộng lớn làm căn cứ cho các hoạt động đấu tranh giành độc lập, mở đầu truyền thống quyết chiến quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam s au này. Ngày 15 tháng 5 năm 1945, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sáp nhập với lực lượng Cứu quốc quân và đổi tên thành Giải phóng quân, trở thành lực lượng quân sự chủ yếu của Mặt trận Việt Minh khi tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #29 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:37:23 pm »

Thời gian từ năm 1945 đến năm 1954 là thời kỳ phát triển vượt bậc cả về số lượng và khả năng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chỉ một thời gian ngắn, từ khi đất nước giành được độc lập đến tháng 11 năm 1945, Giải phóng quân đã phát triển từ một đội quân nhỏ trở thành Quân đội Quốc gia Việt Nam với quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành 40 chi đội. Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi t ên thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Cũng thời gian này, các đại đoàn (đơn vị tương đương sư đoàn) chủ lực quan trọng như các đại đoàn 308, 304, 312, 320, 316, 325, 351 lần lượt được thành lập, đến nay vẫn là những đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ một đội quân chỉ vài trăm người khi tham gia Tổng khởi nghĩa, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển thành quân đội với các sư đoàn chủ lực mạnh, lập nên những chiến công lẫy lừng mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử ngày 07 tháng 05 năm 1954, đập tan mưu toan thiết lập lại chế độ thuộc đị a của thực dân Pháp.

Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 được ký kết, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Nhân dân Việt Nam đứng trước hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Nhiệm vụ của quân đội thời kỳ này là vừa xây dựng chính quy, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa tham gia đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 15 tháng 02 năm 1961, Quân Giải phóng miền Nam, lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất lực lượng vũ trang tại chỗ và lực lượng tăng viện từ miền Bắc. Trước sự can thiệp trực tiếp của quân đội Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng với nhân dân và các lực lượng vũ trang khác, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài và gian khổ, lập nên những kỳ tích mà tiêu biểu là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc mà đỉnh cao là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12 năm 1972; kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước.

Sau chiến thắng lịch sử năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam lại cùng với nhân dân cả nước tiến hành thắng lợi các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu n ước của nhân dân Việt Nam vừa mới kết thúc thì chế độ diệt chủng do Pônpốt cầm đầu ở Căm-pu-chia đã kích động hận thù dân tộc, tiến hành chiến tranh xâm lấn ở biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Chúng gây ra nhiều cuộc thảm sát man rợ với nhân dân Việt Nam sống dọc biên giới, đồng thời thực hiện chính sách diệt chủng đối với nhân dân Căm-pu-chia. Đứng trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, ngày 23 tháng 12 năm 1978 Quân đội nhân dân Việt Nam đã mở cuộc phản công chiến lược, đập tan cuộc tiến công của quân đội Pôn -pốt. Sau đó, đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của nhân dân và Mặt trận dân tộc cứu nước Căm-pu-chia, Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp với các lực lượng vũ trang Căm-pu-chia, đánh tan 21 sư đoàn quân Pôn -pốt, xoá bỏ chế độ diệt chủng tàn bạo.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM