*
* *
Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước quật cường đã từng đánh thắng nhiều kẻ thù đông mạnh hơn mình và đã hơn một lần đánh thắng kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới đương thời. Qua vận động cách mạng và tiến hành kháng chiến chống Pháp, nhân dân Việt Nam đã được tôi luyện trong cách mạng và chiến tranh giải phóng, lại trang bị cho mình những kinh nghiệm quý báu của “châu chấu đá voi” đưa một đế quốc hùng mạnh đến Điện Biên Phủ. Trong quá trình đấu tranh để tự giải phóng, nhân dân Việt Nam đã lập nên Đảng, người lãnh đạo sáng suốt và là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng thực sự là người tổ chức nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và là người dẫn đường thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhân dân càng tin tưởng gắn bó với Đảng. Sự liên hệ nhân dân với Đảng, Đảng với nhân dân là liên hệ máu thịt, sinh tử. Càng gắn bó với Đảng nhân dân càng trưởng thành.
Lời phúc trình của Nguyễn Trân nguyên Tỉnh trưởng Định Tường lên Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng nói lên một phần sự giác ngộ cách mạng của nhân dân: “Dân ngày nay quả thật không còn như nhân dân mười năm về trước. Họ đã được men cách mạng làm bùng dậy. Họ đã trưởng thành trong máu lửa… Động lực thúc đẩy họ coi rẻ cái chết, coi thường chính quyền phải tìm trong ý thức của họ về một cuộc đấu tranh giai cấp mà cộng sản dạy cho họ là phần đắc thắng sẽ về họ. Tin vào học thuyết mác xít họ tin tưởng nơi sứ mạng lịch sử của họ, một sứ mệnh cứ thế”.
Sự giác ngộ chính trị của người dân làm cho dân có cái kính chiếu yêu để phát hiện kẻ thù. Đế quốc Mỹ tiến vào đặt chủ nghĩa thực dân trá hình “tình thân hữu Hoa Kỳ”, Ngô Đình Diệm nêu chiêu bài “bài phong đả thực” nhưng cái bàn tay nhung Mỹ có êm ái đến đâu cũng không giấu nổi cái bàn tay sắt tàn bạo, cái chiêu bài “độc lập quốc gia” của Diệm chỉ là lớp sơn bề ngoài của chữ thuộc địa bên trong. Nhật kí Lầu Năm Góc đã có nhận xét khá đúng: “Đối với nhiều người nông dân, cuộc kháng chiến chống ách thống trị Pháp, Bảo Đại chưa hề chấm dứt thay vào chỗ của Pháp là Mỹ và cáo áo khoác của Bảo Đại lại chuyển cho Diệm”.
Chính quyền Mỹ Diệm mở hàng loạt và liên tiếp các chiến dịch tố cộng, nhưng Việt công đâu không thấy mà thực tế đánh vào nhân dân. Địch đánh vào dân cho lòi Việt cộng nằm vùng. Các chiến dịch tố cộng trở thành những trận tiến công toàn lực đánh vào nhân dân. Mỹ Diệm đã đem quân đội quốc gia, cảnh sát, bảo an, các đoàn bình định… tóm lại cả một bộ máy đàn áp hỗ trợ tiến hành khủng bố toàn lực, tàn sát man rợ hòng khuất phục nhân dân. Nhưng nhân dân miền Nam mặc dù tay không vẫn không hề khiếp sợ mà kiên quyết đứng lên đấu tranh quyết liệt với địch không chỉ một đợt mà suốt năm, sáu năm trời. Nhân dân đã triệt để dùng mọi hình thức hợp pháp, bán hợp pháp, bất hợp pháp, mà đấu tranh với bộ máy đàn áp của nhà cầm quyền. Chứa chất căm thù với quân giặc tàn bạo, nhân dân đã lập các đội tự vệ, dân canh mà bảo vệ mình, bảo vệ cán bộ. Rồi từ vũ trang tự vệ tiến lên vũ trang tuyên truyền mà trừ gian diệt ác, cảnh cáo, trừng trị những tên đầu sỏ, cởi mở kìm kẹp cho phong trào cách mạng tiến lên. Đến khi nhân dân vùng lên nổi dậy và tiến công quân thù thì một nghịch lí rõ ràng đã diễn ra. Các nghịch lí là trong cuộc đấu tranh, chiến thắng lại thuộc về bên bị đàn áp, khủng bố, tàn sát mà thất bại lại thuộc về bên có lực lượng đông mạnh, trang bị đến tận răng, tiến hành “chiến tranh một phía” khủng bố, đan áp người tay không. Cũng nhờ có nhân dân dũng cảm kiên cường hiếm có lại thông minh sáng tạo nên mới có hiện tượng xã hội trái ngược này.
Kẻ địch mở chiến dịch tố cộng là nhằm diệt cộng, là nhằm “gây uất ức trong dân chúng đối với Việt cộng”, tách nhân dân với Đảng, triệt tiêu ảnh hưởng của Đảng Cộng sản đối với nhân dân. Nhưng nhân dân đã hết lòng bảo vệ Đảng, nuôi chứa “Việt cộng nằm vùng” dầu có phải táng gia bại sản, bị chém giết tù đày. “Bột dày không để lòi nhân”, “Tao chết thì thiệt mình tao, mày chết là thiệt hại cho cách mạng”. Nhân dân Việt Nam coi Đảng là của dân, là con đường ấm no hạnh phúc của mình, gắn bó với Đảng như máu với thịt trong cơ thể. Có nhân dân cách mạng bảo vệ, kẻ địch không thể nào thực hiện được ‘diệt cộng” dầu chúng có ba đầu sáu tay chăng nữa. Còn Dân là còn Đảng. Cho nên tìm cách tách dân ra khỏi Đảng là công việc của dã tràng xe cát. Tất nhiên qua hàng loạt chiến dịch tố cộng đẫm máu và bộ máy đàn áp, khủng bố đồ sộ quân địch đã giết hại, cầm tù hàng chục vạn dân hàng vạn cán bộ đảng viên, nhân dân và những người cộng sản đã trải qua hi sinh tổn thất to lớn. Nhưng trái với lời tuyên bố của tên trùm tố cộng Trần Chánh Thành khoe khoang là đã “đánh bật ảnh hưởng áp đảo của cộng sản’, các chiến dịch tố cộng lại gia tăng lòng tin tưởng tuyệt đối của nhân dân cách mạng đối với Đảng tiên phong. Lầu Năm Góc ghi lại lời một người được phỏng vấn như sau: “Từ năm 1959 đến 1960 các cán bộ ở lại Nam Việt Nam hầu như tất cả đã bị bắt. Cứ 3 hoặc 5 xã thì chỉ còn một hoặc hai cán bộ. Điều kì lạ làm thế nào mà một, hai cán bộ như vậy mà phát động được phong trào tốt đến thế… Nguyên nhân không phải vì các cán bộ này có nhiều tài đặc biệt mà chính là những người được họ nói chuyện đều sẵn sàng nổi dậy. Dân chúng như một ụ rơm sẵn sàng bật lửa.
Chống lại quân địch tàn bạo và xảo quyệt, đã dựa vào sức mạnh to lớn lại nham hiểm lắm mưu mô, nhân dân miền Nam chẳng những phải kiên cường chống lại mà càng phải khôn ngoan, phát huy trăm ngàn sáng kiến mà chống địch tại chỗ cũng như trên toàn cục. Phải chăng nhân dân đã phát huy kinh nghiệm kháng chiến chống thực dân cũ, phát triển trong điều kiện đánh bại thực dân mới mà vẫn giữ được thế hợp pháp đối với nhà cầm quyền ngay cả khi tiến công lại chúng, mà đứng vững trên trên ha chân không lăn dây sang vũ trang đơn thuần, nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy bằng sự kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang do đó mà nhân lên bội phần sức mạnh tổng hợp của cách mạng. Phải chăng phát huy khởi nghĩa “địch vận là chiến lược’ của kháng chiến chống Pháp và sự lãnh đạo lập khối công nông binh liên hiệp mà nhân dân miền Nam sáng tạo ra phương pháp dùng ba mũi giáp công chính trị, quân sự, binh vận mà áp đảo quân thù. Nhờ vân dụng phương châm hai chân ba mũi mà các dân tộc thiểu số với chông thò, cạm bẫy với lực lượng vũ trang nhỏ bé (một trung đội) mà tạo ra cuộc khởi nghĩa Trà Bồng giải phóng về cơ bản bốn huyện miền Tây Quảng Ngãi. Nhờ đó mà lực lượng vũ trang đang thời kì phôi thai đã lấy ít địch nhiều tiêu diệt lớn địch ở Giồng Thị Đam - Gò Quảng Cung, ở Bắc Tây Ninh, làm cho tiếng tăm của Tiểu đoàn 502, của trận Tua Hai có sức uy hiếp địch dữ dội, sức cổ vũ mạnh mẽ khắp miền. Cũng nhờ đó mà đội quân “tản cư ngược”, “tản cư trước”, “tản cư sau” với nồi niêu thúng mủng với trâu bò, heo gà, ra cầu mong sự che chở của quận trưởng Mỏ Cày đã góp phần quan trọng trong việc buộc Diệm rút hết cả vạn quân lính thủy đánh bộ đang ráo riết bao vây tiến công “bình định Kiến Hòa” va tên tuổi của “đội quân tóc dài Việt Nam” vang lừng trên thế giới.
Không có nhân dân miền Nam kiên cường và sáng tạo thì không thể có thắng lợi kì diệu của Đồng khởi.