Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:32:26 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trước giờ nổ súng  (Đọc 62027 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #40 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:13:06 pm »

   Sau một buổi cày, Văn Thon tháo trâu thả ăn rong, vác súng kíp đi rình bắn nai ở gốc cây mạc bôk, xách gầu đi lấy nhựa cây mạy nhang về bó từng ôm đèn chai, hoặc xem lại chiếc thuyền độc mộc đẽo bằng mạy khen đang còn đốt lửa nống sườn. Hơi mát của cành lá rủ bóng che đầu, mùi lá mục hăng và ấm, tất cả những tiếng mõ trâu kéo đàn ăn rong bên bờ đầm, tiếng xích voi nhà kéo lích kích trong đám chuối dại, tiếng chim nôk tete bay réo quanh người, là bấy nhiêu lời chào thân vui đón Văn Thon từ cửa rừng. Văn Thon đi săn voi, năm sáu ngày liền lội rừng theo dấu chân vẫn không lạc. Anh xem rêu mọc trên gốc cây, xem chiều suối chảy, nghe tiếng chim, ngửi mùi dầu rái trong gió mà tìm về làng thẳng một mạch. Đây rồi mẹ già đứng đợi trên đầu cầu thang, mỉm cười đón khẩu súng kíp và cuộn dây chão trên tay con. Bếp lửa reo trong góc nhà, vẫy mãi những ngọn vàng chào cậu chủ…

   Làng Văn Thon không khác trăm nghìn làng Lào ở ven sông lớn Nậm Khoỏng, mạch máu chính của đất nước Triệu Voi. Ngót trăm ngôi nhà sàn gỗ đứng trên cồn cao nhìn ra ruộng. Gió sông vuốt những hàng mái tóc dừa cau, ngày đêm ghé tai rì rầm hóng chuyển từ trăm nơi đưa về. Thuyền độc mộc ghếch đầu dưới bến. Voi nhà nối đuôi nhau tải thóc và cá khô lên Viêng Chăn, tải muối sắt vải đến. Những ngày hội Bạng phay, làng thơm mùi thịt nướng, ồn tiếng khèn tiếng hát, rực rỡ khoe những dây quần áo thêu phơi giăng giăng ra đến tận rừng. Dân làng thức thâu đêm múa đến mỏi rã chân, xem pháo hoa phụt lửa bay vút lên trời dâng lễ đức Phật, đón hạt mưa đầu tiên mở mùa cày cấy.

   Nhưng cạnh làng có đồn Pháp, bên đồn Pháp có nhà lão chầu mường (tri huyện).

   Văn Thon nhớ mang máng lúc bé hay thấy bố đi đâu vắng hàng tuần trăng, khi về không thấy cõng thịt sấy hay ngà voi, mà chỉ rách thêm, gầy thêm. Bố nói: “Nhà nước đắp đường 13”. Dân làng không đi con đường lớn ấy, chỉ có xe nhà nước chở lính đồn và xe con buôn chở hàng bên Tây sang chạy lên xuống.

   Con đường đắp xong, bố Văn Thon thở phào một cái, thì lại có trát bắt phu đồn điền. Hết mùa cà phê, bố về được vài tháng, nghe gọi tên đi đắp đường nữa. Nhà nước cần đưa quân đi đánh người Mẹo theo cụ Pắt Chay rập ba tỉnh một lần nổi dậy.

   Dạo ấy đang giữa tháng năm Lào, tức tháng tư theo lịch Tây. Dân làng vừa hối hả làm xong cái hội Tạt nước để cầu mưa năm mới, lại lũ lượt kéo nhau đi.

   Mưa đổ xuống mà ngoài đồng vắng người cày bừa. Bố Văn Thon về đến 'nhà thì đã hết mùa cấy, ruộng phải bỏ hoang. Năm nay làng đói to, hàng tổng hàng huyện cũng nhốn nháo, nghe đồn rinh rược những tin giặc cướp. Bố đi làm thuê, không ai thuê. Kho thóc cạnh nhà bỏ rỗng.

   Văn Thon còn nhớ mặt bố, nhớ nhất là một dãy đường nhăn hình cánh chim rạch ngang trán.  Những đường nhăn ấy nhiều thêm, sâu thêm, không dãn ra nữa. Nhà có năm chục hày 15 ruộng, một con trâu, kể như hàng năm không đến nỗi thiếu ăn. Dân làng cũng không thiếu ruộng cho mấy, mà đều đói nhao lên, không dám cho vay mượn. Bố Văn Thon vác dao vào rừng đốn gỗ bán và vỡ rẫy. Được vài hôm lão chầu mường gọi bố lên bắt đền:

   - Rừng này của chúa giữ để lấy mật ong. Mày xem, ai lấy mật cũng phải nộp tao một phần ba, sao mày dám phá?

   Lão thu mất con trâu của bố. Cũng con trâu ấy đến vụ lúa sau, bố phải thuê bảy chục mừn thóc mới được mang về cày ruộng nhà. Thóc gặt về phải gạt đi mất non nửa trả thóc trâu, nghĩ mà đau ruột.

   Lão chầu mường này nối chức của cha, còn tệ hơn cha lão ngày trước. Lão cậy thế quan đồn làm nhiều điều thất đức. Ngày xưa dân chỉ thay nhau đến làm việc nhà quan mỗi ngày năm người, thì lão bắt lên hầu mười người. Vào rừng lấy mật ong, trước chỉ vào dịp hội hè mới phải biếu mấy bầu mật, nay lão bắt chia thẳng cánh. Một năm bốn lần, dân các làng phải kéo đến cày, cấy, gặt cho nhà lão đủ hai trăm người, ăn một bữa cơm trừ công. Ngày xưa cha lão cũng định giở hết các ngón ấy, nhưng dân làng còn chống được vì chưa có quan đồn. Bây giờ có súng Tây chọc vào sườn, không ai dám hó hé. Đến kỳ bắt phu nhà nước, lão lấy thừa hàng ba bốn chục phu đến làm việc nhà mình. Mỗi vụ thuế lão thu lạm đến bạc vạn. Nhờ vậy mà lão cứ giàu sụ lên, tuy không có ruộng cho thuê lấy tô.

   Dân làng ghét mà sợ lão. Các cụ nói lão chết xuống ắt bị vạc dầu, kiếp sau làm thân chó, chả hơi đâu mà cãi cọ với cái đứa ăn ở bạc đức. Nhưng cánh trẻ như bố Văn Thon không chịu đợi đến kiếp sau. Đến nước này chỉ có cách làm loạn, may ra nhà nước mới bớt sưu thuế cho mà sống.

   Vụ thuế năm đói ấy, người làng không chạy ra tiền nộp. Bố Văn Thon vét hòm còn một cọc bạc hào thật, bán nộp hai suất thuế thân năm mươi bốn đồng, còn một suất nữa với các thứ thuế trâu, thuyền, xe bò thì xin khất. Lão chầu mường sai lính về bắt luôn tám người lên huyện chôn chân phơi nắng. Dân làng uất quá, họp trong chùa uống ba âu đồng nước phép, thề không ai phản trắc bản làng. Xong, họ kéo nhau lên huyện đòi người. Quan đồn cho lính ra vây, bắt lên trời đùng đùng. Không ai chạy. Tai họ quen súng kíp rồi. Nếu cần thì mười súng kíp cũng bắn đổ được một súng Tây. Cãi cọ suốt một hôm, rồi dân làng lại nghe lời chầu mường, đãi quan đồn với quan huyện một vò rượu và hai con lợn tạ tội, góp tiền nhau nộp đậy cho người thiếu thuế, dẫn bố Văn Thon và bảy người kia về. Bởi vì chầu mường là dòng họ chúa Viêng Chăn, quyền to lắm. Không có chúa thì Thái Lan chiếm đất Viêng Chăn từ lâu, hoặc chúa Châm-pa-xắc làm cỏ dân Viêng Chăn, hoặc chúa Lu-ăng Pờ-ra-băng tràn xuống cướp trâu giết người mất 16. Làm dân phải theo lệnh chúa. Chầu mường bảo thế, các cụ lão làng nghe phải, bèn khuyên dân không được làm hỗn.





------------------------------------------------------
(15) Một hày rộng vào khoảng 400m2
(16) Trong thời kỳ Pháp thuộc, Pháp vẫn giữ nguyên tình trạng phong kiến phân tranh ở Lào. Nước Triệu Voi thành lập vào thế kỷ XIV, đến thế kỷ XVIII thì tan rã thành nhiều nước nhỏ chống nhau: Viêng Chăn, Luông Prabang, Mương Phuôn, Châm-pa-xắc.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #41 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:15:19 pm »

   Trong làng có ông giáo Bun dạy trường nhà nước ở Viêng Chăn, nghỉ hè về làng chơi. Ông giáo Bun học rộng, đọc được chữ Lào, chữ Phạn, chữ Pháp, lại quen biết nhiều quan chức. ông vốn gốc nhà nghèo, nên ông thích chơi với dân làng. Văn Thon còn nhớ rõ dáng đi của bác Bun ngày ấy: khom lưng, vắt tay, nom yếu oặt mà đúng cái dáng con người lận đận.

   Đêm đêm, bác Bun ngồi tán chuyện với bố Văn Thon và các chú các bác. Họ hút thuốc nhiều, khói ngập nhà. Ai có rượu thì mang đến, mỗi người nhấp một chén. Văn Thon nằm cạnh bố, nghe các chú bác nói những câu chuyện lạ tai.

   - Hồi tôi còn bé ngần này, làng ta cũng nhộn mất mấy tháng. Là cái ngày cụ Cà Đuột gọi dân đi chống sưu thuế ấy. Ai theo cụ thì xưng là phù mi bun (người có phúc). Về sau đi tù cũng nhiều...

   - Trên Bôlôven yên chửa?

   - Chưa. Cụ Côm Ma Đam chưa hàng. Cái dân La Ven ấy, khó trị lắm. Đánh nhau hơn hai mươi năm rồi mà nhà nước chưa dám cho quan về vùng họ.

   - Thế ra đánh lâu hơn người Mẹo. Chết chết sao mà nhà nước lắm lính thế. Bao nhiêu nghìn quân người Việt người Miên, kéo những cỗ súng bằng cột nhà về đánh. Lại máy bay thả bom nữa...

   - Sao họ làm loạn nhỉ?

   - Nghe đâu nhà nước đánh thuế từng gốc thuốc phiện, bòn lắm quá.

   - Cái dân La Ven nghĩ cũng gớm!

   - Dân Mẹo không ghê à?

   Bác Bun thở phào một hơi thuốc lá, đủng đỉnh:

   - Thế chỉ có dân Lào là ruột mềm lưng cúi thôi chứ gì!

   Câu nói như ngọn roi trăm sợi quất vào mặt mọi người tê rát. Bố Văn Thon nghé mắt dòm ra ngoài, rồi nhô đầu, trợn mắt, trên trán mạng đường nhăn hình cánh chim hằn sâu, nói rít răng:

   - Bác Bun nói phải. Người Lào cứ khinh mãi dân thiểu số đi, bây giờ mới thấy nhục nhé! Bao nhiêu năm nay, người Mẹo không xuống núi đi phu, nhà nước làm gì được họ tốt!

   - Thua đứt dân thiểu số chứ lị!

   - Chầu mường mới tốn tí nước bọt, các cụ lão làng đã vâng dạ, chúng tôi xin lỗi ạ, chúng con biết tội rồi ạ, đây rượu lợn tiền chúng con xin nộp ạ. Mả xỉ mè măn! Phỏng thử quan đồn có dám bắn chết cả làng không nào?

   - Súng Tây ác lắm, ăn một phát hai ba người...

   - Súng kíp không ăn được người à?

   - Cái quân vô đạo ấy, về sau quỷ vương Thê-va-thắt cứ là vặt như sung nẫu.

   - Thời buổi này sao mà láo nháo! Dà ơi!

   Họ thức khuya bàn những chuyện như thế và tia lửa dữ nhóm lên trong mắt. Chưa ai nói ra miệng cái ý nghĩ chung đang thít dần vào bấy nhiêu khối óc như sợi dây leo thít vỏ cây: “Cơ ngơi này không sống nổi, phải chống sưu thuế”. Bao giờ chống, chống cách nào, ai cầm đầu, họ chưa biết tí gì. Bác Bun chỉ hút thuốc lá, thỉnh thoảng đế vào một câu lơ lửng mà cay như ớt chuột, người nghe cứ nảy mình lên.

   Về sau, bác Bun lên tỉnh dạy học, chỉ về làng ngày chủ nhật. Bác nói chuyện riêng với bố Văn Thon rất nhiều, dúi cho những tờ giấy in chữ Lào. Mẹ hỏi, bố bảo là bài con lâm của người tỉnh hay hát. Văn Thon một hôm chơi nghịch lấy tờ giấy ra bày mâm cúng, bị bố tát cho một cái. Bố mẹ Văn Thon không đánh con bao giờ, dân làng cũng thế. Mẹ dỗi bố, bỏ cơm. Bố theo dỗ mẹ mãi, bảo rằng kinh Phật in trên giấy không được làm uế tạp. Văn Thon đâm sợ những cái giấy vừa là bài hát vừa là kinh Phật ấy.

   Đột ngột, cuộc đấu tranh nổ.

   Những người đánh voi và chở thuyền mang cá khô lên tỉnh bán, cùng hối hả quay về làng rỉ tai bà con: Chợ búa nghỉ hết, dân thợ không đi làm. Họ kéo nhau hàng trăm đi chật phố, giơ một cái nắm tay đòi bớt thuế.

   - Nghe đồn thợ mỏ thiếc Phôn Tiu bỏ việc, bắt nhà nước trả thêm tiền tháng.

   - Các làng gần tỉnh rục rịch cả. Họ cũng đói như ta.

   Dân làng đi phu lục tục trốn về. Trước cổng chùa ai dán mấy tờ giấy hệt những bài vừa con lâm vừa kinh Phật của bố Văn Thon. Trong giấy viết rằng nhà nước phải bớt sưu thuế, bỏ hết những lệ cắm rừng, cắm sông, ở hầu quan, làm ruộng nhà quan. Lão chầu mường dẫn lính về bóc giấy, bảo dân đừng nghe cộng sản. Chả ai biết cộng sản với Nga đỏ ở xứ mô tê nào mà chỉ thấy sưu thuế è cổ ra đấy, quan đồn với chầu mường ăn của dân béo hú ra đấy, tức nước vỡ bờ chúng ông phải làm loạn đây, phải làm loạn đây. Lão chầu mường bí thế, chuồn thẳng về Viêng Chăn. Quan đồn cho lính ra nằm dọc bờ rào quanh đồn, đợi dân đến là bắn.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #42 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:19:00 pm »

   Cả làng sôi sục. Bố Văn Thon ở Viêng Chăn về, giữa lúc dân làng họp giữa chân chùa. Bố nhảy lên bục cao, đọc một tờ giấy, giơ một nắm tay, kêu gọi dân làng đi đấu tranh đòi giảm sưu thuế. Đi tay không, nhà nước không có phép bắn. Ở Viêng Chăn, dân phố đi chật đường, hô khẩu hiệu. Bọn mật thám gây sự, họ phá luôn nhà mật thám. Bác Bun làng ta đứng lên thay mặt dân nói tiếng Pháp với quan nhà nước như vai vế. Nhà nước hứa cho dân miễn sưu, giảm thuế, tự do làm ăn, không bắt bớ.

   Nghe những tin ấy lòng người cứ cồn mãi lên. Ba trăm dân làng kéo lên đồn, các nhà sư và chức dịch lão làng đi đầu, con trai cầm khèn chứ không đeo súng kíp. Đồn nổ súng bắn chết bốn người, một ông sư bị thương. Dân làng ùa chạy về làng lấy súng, nhưng ô tô Pháp chạy nhanh hơn nhờ có con đường 13 mới đắp. Lính bổ vào làng, đốt, bắn, soát, bắt đi hơn hai chục đàn ông. Các làng bên cũng bị thế cả. Từng xâu người, từng cây số người nối nhau kéo về Viêng Chăn nằm nhà pha. Sưu thuế vẫn nguyên như cũ, rồi nặng hơn cũ. Lâu lâu còn vẳng đến làng một tin vùng dậy ở đâu Thà Khẹc, Xà Vằn, mỏ thiếc Phôn Tiu, như trận lửa rừng gặp cơn mưa dông mà chưa chịu tắt hẳn. Rồi đâu đó lại im ắng 17.

   Lúc bấy giờ Văn Thon mới lên mười bốn tuổi. Sau cơn đảo lộn ấy, bố bị đày ra hòn đảo to bên nước Việt, đâu gần nước Xai Ngòn (Sài Gòn). Nhà cháy trụi. Mẹ khóc sưng hai con mắt bằng quả nhót, sang ở nhờ bà con. Văn Thon làm hùng hục nuôi mẹ. Tính Văn Thon lỳ, hung, ít nói, chỉ nghĩ mãi xem vì sao nhà mình khổ, làng mình đói. Có người đánh tiếng muốn lấy mẹ, chú bé vác dao ra mài, nói: “Ai ngủ với mẹ tao, tao cắt gân!”.

   Được ít lâu, mẹ bảo Văn Thon:

   - Con thương mẹ thì con đi tu cho mẹ được phúc, làng nước không ai chê cười nhà ta bỏ đạo.

   Một ông chú biện cái lễ, đưa Văn Thon đến chùa. Văn Thon cạo trọc đầu và lông mày, mặc áo vàng không tay, làm xăngcanen (chú tiểu). Vừa quét chùa hầu sư vừa học chữ. Mẹ nhìn con, sướng chảy nước mắt. Công mẹ nuôi con từ trứng nước đến nay đã được đền bù, mẹ thấy con mặc áo vàng một lần là nhắm mắt được rồi.

   Ba năm sau mẹ ốm chết, vẫn mang một điều mong là con mình tu cho trọn phúc rồi hãy ra chùa lo vợ con.

   Văn Thon theo ý mẹ. Anh tu luôn mười năm, lên đến chức a chan xổm đết, nổi tiếng giỏi kinh và có đạo đức.

   Nhiều chàng trai cắt tóc cạo lông mày vào chùa, chỉ học qua loa mấy bài kinh chữ Phạn, bụng ngong ngóng chờ lúc ra chùa để cưới vợ và khỏi phải nhịn cơm tối theo lệ tu hành. Văn Thon không thế. Anh học ngày học đêm đến thuộc những pho kinh dày hàng gang tay chép trên lá cọ. Cụ a chan trụ trì chùa làng gửi anh lên học trên tỉnh, tu trong chùa lớn. Đi đâu Văn Thon cũng là nhà sư trẻ tuổi mà chăm chỉ nhất, sáng dạ nhất.

   Đêm khuya, chùa im ắng. Trong một góc nhà cút tí, nơi sư ở, Văn Thon cúi đầu trên pho kinh ghi lời Phật dạy cách đây ngót hai mươi lăm thế kỷ mà đến nay còn sáng rỡ lời vàng:

   “Các ngươi chớ vội tin lời ta nói, chớ vội tin các tục lệ vì lẽ đã được nhiều đời truyền lại, chớ vội tin một câu chuyện vì lẽ nhiều người cùng nói, chớ vội tin kinh sách vì lẽ một bậc thánh hiền đã viết ra nó, chớ vội tin những điều phỏng đoán, chớ vội tin một lời dạy bảo vì lẽ nó là của thầy hay anh thốt ra. Các ngươi hãy tự xem xét và chiêm nghiệm lấy, nếu thấy học thuyết nào hợp với chính nghĩa và đem lợi ích đến cho mọi người thì các ngươi hãy công nhận học thuyết đó và đeo đuổi theo nó đến cùng”.

   Văn Thon thuộc lòng lời dạy ấy trong kinh A-gút-tu-ra Ni-ca-ya. Anh tự xem xét và chiêm nghiệm để tìm ra lẽ phải, để hiểu cuộc đời.

   Bên ngoài cửa chùa, cuộc đời vẫn chảy tuôn tuôn như nước sông lớn Nậm Khoỏng. Làng xóm mỗi năm một lụi dần, nghèo dần. Vì sao? Binh lính kéo nhau dàn ra dọc bờ sông, bắn súng to sang bên Thái Lan, rồi máy bay bên Thái Lan đến giội bom xuống nhà dân, giết từ con gà mái ấp đến đứa trẻ trong nôi. Vì sao? Những kẻ ác như quan đồn Tây, như lão chầu mường kia cứ ngày càng béo núc ních, bước lên chùa oặt cả cầu thang, tay dâng lễ mà óc nghĩ điều tàn bạo, chúng nó vẫn nhởn nhơ ăn lộc Phật. Vì sao? Vì sao? Vì sao?

   Văn Thon suy nghĩ, đau khổ, dằn vặt. Nhiều lúc, anh muốn noi gương đức Đạt Ma ngồi ngoảnh mặt vào tường luôn chín năm mà nhập định, quên hết chuyện đời. Nhưng không được, Văn Thon vẫn bị kéo về chốn trần tục. Tim anh vẫn nóng hổi dưới tà áo vàng, long anh rung theo mọi nỗi vui buồn sướng khổ của người đời. Ông a chan trẻ tuổi vẫn là người dân Lào mất cha trong một vụ đòi giảm sưu thuế, mất mẹ vì nạn đói dai dẳng. Nghĩ đến những sự đền bù hay trừng phạt ở kiếp sau, Văn Thon chỉ tìm thấy một chút an ủi rất mong manh. Văn Thon chỉ đòi ít nhiều công bằng ở kiếp này thôi, chỉ muốn cho dân làng đỡ khổ mà không được.

   Văn Thon tự hỏi: dân làng có khổ thật hay không?

   Họ làm ăn đến lấm lưỡi, đói thô lố con mắt, mà vẫn thổi khèn, hát, múa, nô giỡn. Phần vì quen vui, phần vì họ muốn quên bớt khổ. Uất lên, họ ùa dậy như sóng thần dữ dội, để rồi sau đó lại phẳng lặng như nước sông êm. Nếu họ hiểu được lẽ công bằng ở đời, chắc họ sẽ đấu tranh đến cùng, vì quả thật dân làng đang khổ.





------------------------------------------------------
(17) Cuộc đấu tranh lớn của nhân dân các thành phố dọc sông Mê Kông năm 1934-1935 được thợ mỏ và nông dân hưởng ứng, về sau bị dập tắt.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #43 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:22:34 pm »

   Người dân Lào bình thường không hay nghĩ xa. Họ không hiểu lẽ huyền của Trời Phật, và cũng không muốn tìm hiểu như Văn Thon. Chùa là nơi thờ cúng và hội hè của họ, sư là người dạy chữ và cúng lễ cho họ được phúc, giáo lý là lời Phật răn bảo họ ăn ở thế nào cho phải chăng. Chỉ có thế. Đạo Phật bước vào làng Lào đã trút bỏ bộ mặt thần bí thâm nghiêm để hòa theo tiếng khèn điệu múa của một dân tộc luôn luôn yêu đời, dù cuộc đời ấy nhiều nước mắt hơn mật ong. Người Lào không cần và không thích một thứ tôn giáo khổ hạnh, ép xác, bắt tín đồ run sợ trước đấng Tối linh, quất roi vào mình mà sám hối những tội lỗi từ kiếp nào kiếp nào không ai biết. Họ cũng không muốn héo mòn trên sách kinh như Văn Thon. Văn Thon dần dần đi vào bế tắc, tuyệt vọng. Anh không tìm ra chân lý.

   Anh trở nên cáu bẳn, lánh mặt mọi người. Suốt kỳ phăn xả ba tháng, các bạn tu phải ngồi yên trong chùa tụng niệm, họ sốt ruột lắm. Riêng Văn Thon thấy dễ chịu. Những tháng khác, anh cũng chỉ sớm sớm đi khất thực một vòng quanh làng, tụng hai bài kinh Nhặt thả và Xắp phi, nhận mấy nắm cơm bỏ vào âu đồng rồi lặng lẽ ra về. Sư cụ thấy anh gầy đến chỉ còn hai con mắt đen hoắm trên khuôn mặt luôn luôn sa sầm, bèn mượn lời Phạ In khuyên đức Phật ngày xưa mà răn anh: “Muốn cây đàn nhị kêu đúng tiếng thì chớ để dây căng quá hay chùng quá”. Văn Thon lầm lầm không đáp. Anh sống một mình một cõi, chán ngấy tất cả.

   Một hôm có người nghèo đến ngủ nhờ nhà chùa. Một ông lão trán cao, tóc và râu lốm đốm bạc, lưng hơi còng, mặc phạ xà lùng vá nhiều chỗ. Lễ sư cụ xong, ông lão xuống nhà khách. Văn Thon ngờ ngợ mãi, đi theo ông lão một quãng mới nhận ra bác Bun dạy học, hay nói chuyện với bố mình ngày xưa. Bác chóng già quá. Anh vội hỏi tin bố. Bác ngập ngừng một lúc rồi nói tự nhiên, không “bạch thầy” với Văn Thon nữa:

   - Bố anh chết ở Côn Lôn rồi. Tôi định ghé vào đây xem anh bây giờ ra sao, và nhắc lời bố anh dặn tôi trước khi chết: “Bảo con tôi đừng quên nước Lào, đừng quên thù làng, thù nhà. Nó quên thì bác cứ bắt nó đổi tên khác, đi làng khác mà ở”.

   Văn Thon không khóc. Lệ thường không nên khóc người chết, mà nên mừng cho kẻ được siêu thoát. Tuy vậy trưa đến Văn Thon bỏ cơm đi nằm.

   Suốt đêm, Văn Thon trộm phép sư cụ ra nhà khách nói chuyện với bác Bun. Trước kia bác cũng tu ba năm rồi mới sang học chữ Pháp, vì thế người làng thường gọi là Thít Bun. Bác vừa đi dạy vừa học thêm, vào tù bác cũng học nhiều, hiểu đến chuyện nước Pháp, Mỹ, Nga. Bác nói:

   - Tôi bây giờ lấy tên là Thông Phun. Mới vượt ngục về đây. Hạn tù còn sáu năm nữa, nhưng có nhiều việc phải làm, không đợi được. Tôi có đến thăm con gái, đứng xa nhìn thấy nó khỏe đẹp. Anh chớ nói cho vợ tôi biết mà lộ.

   Văn Thon nhớ ngay đến cô gái trẻ trán cao ở làng, thường nhìn anh đăm đắm khi anh ngồi trên bục tụng kinh. Lòng anh chợt dào lên một chút vui và ấm. Anh vội hỏi lảng sang chuyện khác. Nhưng bác Bun vẫn dè dặt, bác hỏi lại:

   - Nghe họ bảo anh muốn thành ông sư hạt xa đi 18 phải không?

   Văn Thon bỏ lối xưng hô nhà chùa, xưng cháu với bác Bun như ngày bé:

   - Không ạ. Cháu không rời dân làng được đâu.

   - Anh còn nhớ bố anh vì sao mà chết chứ?

   - Nhớ, cháu nhớ lắm. Càng nhớ càng khổ, lắm lúc như người ra dại. Muốn quên cũng không quên được bác ạ.

   Bác Bun nhắc câu kinh Phật:

   - Chớ sầu thảm, chớ rên la, chớ khóc ]óc, hãy mở lớn mắt ra mà xem, hãy nhìn cho rõ mà hiểu.

   - Xem nhiều rồi, nào có hiểu gì!

   - Hay là không muốn hiểu?

   Văn Thon bật to tiếng:

   - Bác coi cháu ra hạng người nào hở?

   - Tôi coi anh là người tốt, nhưng trốn việc đời. Anh như người Vanula ngủ bảy năm trở mình một lần, tên bắn vào tai không dậy.

   Văn Thon uất lên, không nói được. Anh ra trước hiên nhà khách đứng lặng một hồi lâu. Mùi hoa đại tẩm sương thơm lạnh trong mũi anh, xông đầu anh nhẹ dần. Anh lẩm nhẩm mấy câu thơ cổ. Đến hai câu cuối cùng, anh vô tình đọc to:

      Xa-si-ta pa-ri-yô đa-pha-nam
      E-tam Bu-đa-nu-xa-xa-nam

      (Rửa sạch cõi tâm,
      ấy là đạo Phật).


   Một tiếng cười chế giễu mé sau. Bác Bun vuốt râu, nháy mắt:

   - Anh giỏi kinh lắm. Nhưng Phật khuyên rửa sạch cõi tâm để cứu đời hay để đắp chiếu nằm ngủ? Sao anh không nhớ lời kinh Pa-đa-ma xụt-ta dạy: “Thà tôi chết để tranh đấu với cái ác, chứ không chịu để cái ác nó thắng tôi”?

   Văn Thon cúi đầu, hết cãi lý.

   Bác Bun ngày đi vắng, đêm về ngủ nhờ nhà chùa. Văn Thon kể hết với bác những nỗi băn khoăn, nghi ngờ, chán nản của anh. Bác cởi dần cho anh từng mối trong mớ bòng bong ấy. Bác nói những điều Văn Thon chưa hề nghe. Đế quốc, cách mạng, khởi nghĩa, độc lập... bấy nhiêu thứ quay cuồng trong óc Văn Thon, say người như men rượu.

   - Phải cầm súng đạn mà chống lại súng đạn cháu ạ. Thằng Pháp trước kia, thằng Nhật bây giờ đều giống người Bà La Môn nọ định chặt đủ một trăm đầu để lên trời, đã chặt chín mươi chín cái, còn đuổi theo chém mẹ định lấy đầu. Đối với quân quỷ ác không cãi bằng mồm được. Ta chịu đưa đầu cho nó chém sao?

   Chân tay Văn Thon rậm rật. Đây rồi, cái chân lý hợp lẽ đạo tình người, cái chân lý có sức mạnh đổi đời! Trong đôi mắt hõm sâu vì đói ngủ dần dần ánh lên ngọn lửa mới, giống như mắt bố ngày xưa. Nhà sư Văn Thon đã tìm ra chân lý, và quyết đeo đuổi theo nó đến cùng như lời kinh A-gút-tu-ra Ni-ca-ya đã dạy!

   Bác Bun giao cho anh việc tuyên truyền cách mạng trong các nhà sư, rồi lên Viêng Chăn. Năm hôm sau, cách mạng nổ ra ở thủ đô. Lúc bấy giờ là tháng tám năm 1945, tức là năm 2489 theo Phật lịch. Quyển sách đời của Văn Thon lật sang những trang mới, do bàn tay của bác Bun tức đồng chí Thông Phun, nhà cách mạng Lào từ Côn Đảo vượt ngục về.



------------------------------------------------------
(18) Nhà sư tu ẩn trong rừng núi, không ở làng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #44 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:24:08 pm »

*
*    *

   Chân trời loãng dần một góc. Những dải mây lăn tăn ửng lên một đường viền da cam nhợt. Hai chóp núi đá nhô lên đen thui như những răng chuột nhọn hoắt cắn vào mây. Trong rừng chỗ đội nằm còn tối sẫm. Đại đội trưởng Văn Thon mở mắt, lại nhắm. Giấc mơ đã dứt. Chính ủy Thông Phun và cô con gái trán cao giống bố biến hẳn. Văn Thon nghĩ lười biếng: “Chợp một lúc nữa. Vài phút thôi...” Rồi anh lật người, chống tay ngồi dậy. Tối qua, anh thiếp đi với ý nghĩ cuối cùng đọng lại “Phải tìm cho ra đường số 2”. Thì sáng nay ý nghĩ ấy bật lên đầu tiên, dựng anh dậy.

   Anh cuộn chăn buộc ngang lưng, vớ con dao. Vóc người to lớn biến vào lớp sương mù giăng qua các gốc cây.

   Tiếng phạt gai lá lọt vào tai Khiêm, kèm theo một tiếng gì ồng ộc ngay bên cạnh. Khiêm mấp máy đôi môi đỏ như ớt chín, rồi nghiêng đầu, dòm. Chánh đang uống nước. Hắn dốc ngược cái ống nứa, nước tóe qua miệng ròng ròng. Khiêm chồm lên, giằng tay hắn. Cả đội chịu khát, mà hắn vừa uống vừa đánh đổ mất già nửa ống. Khiêm muốn đấm vào mặt hắn.

   Chánh quệt mép, khà một tiếng, nheo mũi:

   - Còn phần mày đấy, cuống cái gì?

   Khiêm nhổ nước bọt:

   - Sao mày hèn thế hử?

   - Hèn cái phải gió! Đến chỗ suối tao đền. Chỗ anh em mày đừng nói với anh Lương. Mày hót cán bộ là mày hèn.

   Chánh đủng đỉnh quay về chỗ nằm. Hắn nhìn Pha đang ngủ, quay đi, lại nhìn. Bây giờ hắn mới thấy Pha đẹp. Xanh, gầy, ho lao, nhưng vẫn đẹp. Hắn chép miệng: “Con bé được cái “co” cũng khớ”. Rồi hắn cao hứng khoa tay đi mấy đường quyền cho dãn gân:

      Tả hữu tấn khai thập tự
      Luyện diệp liên ba
      Đả phát túc tọa hồi mai phục...

   Tiếng chân nhảy huỳnh huỵch đánh thức mọi người. Lương chống tay đứng dậy, lại ngã ngồi. Một sợi gân ở khoeo chân cứng như gỗ. Lương quay lưng về phía anh em, bóp nắn chân một lúc, rồi vịn thân cây đứng lên được Anh hỏi Pha:

   - Pha mệt không?

   - Em không mệt.

   - Hôm nay đi nhiều đấy. Lúc nào mệt Pha bảo nghỉ nhé.

   Pha nhìn đăm đăm vào đường nhăn dọc đứng trên trán Lương:

   - Em đi được. Chỉ sợ anh đau chân thôi. Ban nãy anh đau lắm hở?

   Thì ra Pha tinh mắt, thấy hết. Lương lảng chuyện, ghé lại chỗ Khiêm. Trong ngực anh thoáng một hơi ấm dịu. Một người cứng rắn cố giấu nỗi khổ của mình mà được người khác kín đáo hỏi thăm, vẫn thường thấy ấm lòng như thế.

   Văn Thon từ trong sương bước ra, hai vai ướt đầm:

   - Đi thôi. Vẫn chưa thấy dấu vạc đâu cả mới tức chứ!

   Hôm ấy Lương đi với Chánh, tỉ tê nói chuyện rất lâu. Đến chỗ nghỉ Chánh đi đun nước chè rừng, rót cho Lương những nửa ca. Chánh cười hì hì:

   - Lần sau tôi say thế nữa, anh cứ trị thẳng tay cho tôi nhờ! Anh thương tôi anh mới mắng cho mấy tiếng chứ. Nói có mặt trời, tôi mà làm bậy nữa thì... thì không bằng con chó nhá!

   Khiêm giương mắt nhìn Chánh, rồi mỉm cười, gãi tai không nói gì.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #45 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:26:34 pm »

VIII

   Suối! Đến suối rồi!

   Khiêm nhảy cẫng, định ào xuống suối. Văn Thon túm áo Khiêm, xua tay. Anh lên đạn súng ngắn, vạch bờ lau chui xuống trước. Rồi anh hú một tiếng khẽ.

   Chao ôi, nước ngọt như đường phèn, thơm hơn cơm tám, vào đến đâu biết đến đấy. Ở đời hẳn không gì thú bằng uống nước. Văn Thon cúi đầu, một tay hắt nước lên mồm uống hùm hụp theo kiểu Lào. Khiêm lóng ngóng bắt chước, bị sặc. Văn Thon bật cười ha hả, ra hiệu cho Khiêm phải há mồm tợp thật nhanh. Lương quỳ hai chân uống từng hơi dài bù những ngày nhịn khát. Nước ngấm vào người, từng thớ thịt nở ra, dẻo ra.

   Đội nghỉ lại đây nấu ăn. Pha chạy loăng quăng hái rau, nhặt nấm. Hôm nào Pha cũng tìm ra thức ăn. Anh em Việt không quen rừng, sục đến rã chân cũng chỉ được nắm rau tàu bay, rau dớn, lá lốt. Pha cười, trêu họ. Pha vui hẳn lên. Như trước đây Pha sống trong cơn mê kinh khủng, nay tỉnh ra thấy mừng lạ. Pha bẻo lẻo như hồi còn bố mẹ. Pha hay hát một mình. Pha không biết mình gầy rộc đi vì ho lao, mà chỉ nhớ mình mới có hai mươi hai tuổi, về vùng căn cứ chữa bệnh, đi học lớp Itxala, gặp anh Pheng.

   Văn Thon ngăn Pha:

   - Chị nghỉ, chốc nữa còn đi.

   - Em nghỉ rồi. Anh kiếm được gì?

   Văn Thon mải tìm đường không tìm thức ăn. Lương chìa ra nắm lá lốt và hai ngọn măng cứng như tre chẻ lạt. Pha cười khanh khách, má ửng đỏ. Pha trút cái phạ phe đầy căng xuống đất: một đống vả chín, dẻ gai, hạt gắm. “Em nhìn ra cây vả, gọi anh Khiêm trèo. Anh trèo như sóc ấy,” Lương gãi tai: “Nhất cô!” Nhưng rồi anh lội xuống suối mò cá, một lúc xách lên hai chú sốc bằng bàn tay. Dân chài biển cũng biết ăn nhờ vào sông suối.

   Văn Thon ngừng tay mài dao, vẫy Lương lại:

   - Lạc xa đường số 2 rồi. Muốn tìm được dấu phải dừng một chỗ, đi quanh hình xoáy trôn ốc may ra mới gặp.

   - Dừng lại... chậm mất. Năm ngày nữa chúng mình phải đưa báo cáo về đến nơi.

   - Hỏng bét!

   - Hay là ta đi chéo qua lại như con rắn, may ra gặp dấu. Phải đi thật nhanh, thật gấp Văn Thon ạ.

   Văn Thon nhìn xuống chân Lương. Ống quần Lương loang lổ, cứng như mo nang. Lương rụt chân, không nói. Văn Thon hỏi khẽ:

   - Sáng nay anh không đứng lên được hả?

   - Chả sao, hơi buốt tí thôi.

   - Nếu đi nhiều quá, có thể...

   Lương gạt luôn:

   - Tôi quen rồi, đừng ngại. Chỉ lo sức khỏe chị Pha...

   Anh ngừng giữa câu. Pha cầm con dao đi đến, hỏi:

   - Anh Văn Thon có thấy dấu chân cọp không?

   - Không. Vùng này vắng thú.

   - Em đi tắm đây.

   Văn Thon rút súng ngắn đưa cho Pha. Pha hoảng: “Ấy chết, cất đi anh. Nó nổ!” Pha cầm con dao, lần dọc theo bờ suối tìm chỗ khuất.

   Một lát sau, Chánh cũng đi về phía ấy.

   Trong đội Chánh khỏe nhất, vật tay đổ cả Văn Thon. Đến mỗi chỗ nghỉ, Chánh lùi lũi đi vào rừng như con cuốc, kiếm ăn lẻ. Đói quá, đói kinh người, rụng chân rụng tay. Ở cái chiến trường nhịn đói đánh giặc này, Chánh không chịu được.

   Hồi đầu kháng chiến, Chánh rời tay quay maniven cho xe chở hàng, về đánh xe ngựa ở hậu phương khu Bốn. Gặp khách tản cư hay con buôn lậu là vớ bở nhất. Đếm số nhân tình nhân bánh dọc đường đánh xe vừa đầy năm đầu ngón tay. Những anh bộ đội trèo lên xe thường đeo súng côn bạt, lòng thòng sợi dây dù đánh xoắn con rết. Oai lắm. Các cô hàng nước ngắm họ không chớp, các ông công an cũng kiềng mặt. Chánh dần dần nghiệm ra cái nghề đánh xe có sướng thật đấy nhưng không oai. Uống xong bữa rượu túy lúy, Chánh đến chỗ tuyển tân binh, xin nhập ngũ. Anh cán bộ đeo sao vành vàng đuổi ra quầy quậy. Hôm sau Chánh không uống rượu, được tuyển ngay. Các cô ả dăng dện kia trố mắt nhìn Chánh mặc quân phục. Họ đãi rượu rộng tay hơn trước gấp mấy, tối ngủ với Chánh cứ tỉ tê hỏi anh đóng cấp gì. Chánh nghĩ, thấy xưng cấp đại đội có lẽ hơi quá, nên khiêm tốn nói rằng chỉ mới tạm một chân trung đội.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #46 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:29:12 pm »

   Bất đồ đơn vị Chánh nhận nhiệm vụ sang giúp Lào. Hỏi dò chắp nối từng mẩu chuyện, Chánh thích mê. Nghe đâu quân ta sang bên ấy uống rượu cần cứ tít cung thang, dân cho gà lợn ăn mứa, lại tán gái suốt đêm chả ai nói gì. Chánh hăm hở đi. Lên đến nơi, sự thể không giống lời kể. Chánh ức quá, nằm lỳ. Định đào ngũ về Việt Nam, nhưng đường xa quá đành chịu. Cuối cùng Chánh được điều về mặt trận bộ quay ragônô. Chánh hẹn với mình: “Thôi, cứ cố đủ ba năm bộ đội là về”. Nằm xó rừng, ăn mãi cơm nếp một ngày bốn lạng, động hở ngón nào lại bị kiểm thảo nhừ tử, Chánh ngấy lắm.

   Tuy vậy gặp việc gì ưng ý, Chánh làm rất hăng. Đi ném mìn bắt cá hay săn hươu nai chẳng hạn. Một khẩu súng, một gói muối ớt, một bi đông rượu, Chánh đi lùng rừng bắn nai, có khi một ngày đêm được những bốn con. Chánh xẻo một đùi nướng ăn uống rượu, ngủ một giấc, rồi về gọi anh em ra khiêng. Nhiều lần Chánh được bầu xuất sắc về cải thiện sinh hoạt. Ngoài ra ai muốn học võ Thiếu lâm, Mai hoa, Chánh dạy rất sốt sắng.

   Hôm mặt trận bộ chọn người đi với đội chuẩn chiến 3, Chánh giơ một nắm tay, xung phong. Ai cũng nói trinh sát sướng trần đời. Chính ủy trung đoàn mỗi bữa một bát cháo, chứ trinh sát cứ sữa hộp với thuốc lá cô táp tì tì. Cơ sở trong vùng địch quý anh trinh sát hơn vàng. Đánh nhau, anh trinh sát thường vớ được đồng hồ, bút máy, nhẫn của lính địch về bán tiêu vung. Ngang dọc một mình, khoái nhất có anh trinh sát! Nào ta đi trinh sát!

   Chánh được chọn đi theo điện đài. Rồi Chánh lại chán kinh những sự đói rét bệnh tật trong cái hang tối om trên núi Vượn. Ơi chao, mau cho hết cái hạn ba năm để Chánh lại về đánh xe ngựa, uống rượu với dồi chó, tối tối ngủ với nhân tình! Chánh trót dại đi theo cái súng côn bạt một lần, từ nay xin cạch đến già!

   Chánh đi xuôi theo bờ suối, tìm. Các thứ rau đdớn, rau vừng, rau tàu bay ăn sống chấm muối đỡ đói ra dáng. Chánh trữ sẵn một lọ muối phòng thân. Đến các làng thiếu muối, chỉ một vốc con đủ đổi chẹt lấy đôi gà giò. Hoặc như những lúc lạc rừng này, muối sắp hết, Chánh càng khen mình khôn mọc lông trong bụng, Chánh cũng muốn chia cho thằng Khiêm ăn chung, nhưng sợ nó mách ông Lương thì phải đem ra công cộng, nên lại thôi.

   Đang với tay bẻ một ngọn lá mắt mèo, Chánh dừng phắt. Hắn ngó chăm chăm xuống suối. Hai tai hắn đỏ dần. Hắn rón chân vạch lá, ghé mắt. Người đàn bà tắm dưới suối quay lưng về phía hắn. Đôi vai trắng nõn lấp lóa trong bụi nước.

   Hắn đứng im không thở, da sởn gai, đầu bốc cháy. Đàn bà... chất men say người, điên người. Hắn thè lưỡi liếm môi. Môi hắn khô bỏng. Ban nãy uống no bụng, sao hắn khát đến thế?

   Bỗng hắn giật mình, ngó quanh. Anh em trong đội bắt gặp thì hắn chết. Ông Lương hắc lắm. Không cho một phát, thì cũng tống về tòa án binh.

   Hắn đi lùi mấy bước. Rồi máu tức ở đâu ộc lên cổ: “Sợ đếch gì lão chột! Lạc rừng một lũ với nhau, ai bắt nạt được ai. Quân hồi vô lệnh...” Hắn vụt nhớ đến ả nhân tình thứ ba... không, thứ tư. Con bé đi buôn lậu sợ công an tóm, ngủ nhờ lại trên xe ngựa. Nửa đêm hắn bốc máu làm liều. Cô nương chỉ ú ớ gọi là, về sau thích mê, đi chuyến hàng nào cũng tạt vào nhà hắn. Có sao đâu? Đàn bà chỉ làm bộ giữ gìn, chứ đứa nào cũng một duộc... Hắn lại đứng im không thở, da sởn gai, đầu bốc cháy.

   Tiếng chân lội nước róc rách. Người đàn bà bước lên bờ. Thân thể rõ dần từng nét, từng nét, đến sát bụi cây, trước mặt Chánh có ba thước.

   Chánh gầm một tiếng trong cổ họng, không ra đến mồm. Hai chân hắn đi tới như cái máy, hai tay vờn như đấu quyền.

   Pha giật mình, rú lên: “Cứu tôi…”. Bàn tay lập cập bịt miệng Pha. Xác người to khỏe như trâu điên quật Pha xuống. Pha cắn, đạp, cấu xé. Tay pha chới với chạm con dao. Không đôi hồi, Pha nắm giữa lưỡi dao, chém bừa một nhát.

   Chánh bật người lên, nhảy lùi. Máu ròng ròng trên bắp tay hắn. Pha vơ cái áo che mình, run, thở. Thằng kia biến mất, Pha còn run.

   Máu loang trên lưỡi dao. Pha bưng mặt, nhưng vẫn thấy máu đỏ. Ghê gớm quá. Pha ngồi một lúc mới nhớ ra thằng kia là người trong đội. Sao lại thế hở trời? Pha ho rũ, khạc. Mùi tanh trong cổ họng thoảng xông lên mũi. Pha nhìn những sợi máu li ti trong bãi đờm, nhìn máu dính trên tay, suýt ngất đi.

   Về đến chỗ đội nghỉ, Pha len lét ngồi xệp xuống giữa Lương và Văn Thon. Pha cầm quả vả đưa lên miệng, chợt nhớ đến máu, lợm giọng nôn thốc luôn. Thằng kia đã băng vết chém. Hắn liếc trộm anh Lương và Pha. Pha định nói cái chuyện ban nãy, nhưng thấy hắn lấm lét lại thôi. Anh Lương bắn chết hắn mất. Hắn không ác như Muôn, không phải là Pháp.

   Ăn xong, đội lên đường ngay tuy đã xế chiều. Pha chen đi giữa anh Văn Thon và anh Lương như ban nãy. Chánh tụt lại cuối hàng. Đợi Khiêm vượt lên trước, hắn kéo tay Sử, nói hấp tấp:

   - Đứng lại, tao bảo... Nguy mất mày ạ. Họ bắt đi như mã hồi. Ông Lương xem ngần này mạng người không bằng cái báo cáo. Rồi chết chả còn mống nào.

   - Sao mày xanh thế? Ốm thì đề nghị...

   - Đề nghị cái phải gió! Phần mày có thân thì liệu. Mày về đến mặt trận không bị tống giam thì chớ kể!
 
   - Ô…

   - Riêng cái tội vất đài đủ mọt gông. Tao nghe rõ ông Lương bàn với ông Văn Thon, tính kế trị mày. Bám theo đội thì chắc chết, không chết cũng về ngồi tù. Thấy chưa?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #47 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:31:16 pm »

   Mồ hôi vã lấm tấm trên mang tai Sử. Sử hoảng quá, không kịp nghĩ rằng Chánh không biết tiếng Lào mà bảo nghe lỏm được Lương với Văn Thon bàn mưu. Chánh xốc lại ba lô đeo máy, hất hàm:

   - Khôn hồn thì liệu chuồn cho sớm. Vào đồn hay làng vũ trang cũng được. Mày có bà con trong thành, sẵn nơi ăn học, sướng nhé.

   - Đào… đào ngũ theo địch à?

   - Ngốc! Ai bảo mày theo địch? Nghĩa là... là bỏ về nhà làm ăn thôi, thiết đéo gì theo ai. Mày đi học lên kỹ sư bác sĩ, sau này độc lập rồi ra giúp nước, cũng ông này ông nọ chứ đứa nào dám khinh mày? Còn hơn làm cái nghề điếc tai chai đít này mãi, rồi chết rấp trong xó rừng, phí cả cái tài mày đi. Tao thương mày tao bảo thật. Mày phới chứ?

   - Ô…

   Chánh thở phì. Hắn sốt ruột không chịu được. Có lẽ Pha đi phía trước đang kể tội hắn với Lương. Nguy mất!

   - Không phới thì mất xác, không mất xác cũng vào tù. Chỗ sống không muốn, lại đâm đầu theo chúng nó. Đồ ngu như lợn! Tao bảo sau này hết giặc mày vẫn ra giúp nước cơ mà! Mày sợ thằng Lương hở?

   Sử vụt hiểu tất cả, kinh tởm đến rùng mình:

   - Đếch sợ. Ban nãy tao nghe chị Pha kêu to, thấy mày bị chém tay... Mày đểu lắm. Đừng hòng dọa tao nhé!

   Mặt Chánh trắng bệch. Hắn chồm tới trước, chặn Sử:

   - Mày tâu với thằng chột chưa hử?

   - Chốc nữa tao nói hết...

   Huỵch! Một quả đấm nện vào ngực Sử. Sử ngã ngồi, há mồm định kêu. Chánh vung ngược khẩu súng, trợn mắt:

   - Câm họng, vỡ sọ bây giờ! Mày vù không!

   - K… không!

   Chánh túm cổ áo Sử, day Sử rũ rượi như bó giẻ rách, rít răng:

   - Đ. mẹ, mặc mày, ông vù một mình! Ông vù một mình nghe chửa? Mày biết gì phải để bụng. Hót với chúng nó thì ông cho về chầu tổ!

   - Mày... làm gì tao?

   - Hè, ông chối biến. Bây giờ ai thèm tin thứ mày. Rồi qua chỗ vực sâu, ông hẩy một cái, thằng nào biết được đòn ngầm của ông...

   Hắn huých cùi tay sang bên. Mặt hắn rúm lại, quai hàm bạnh như con rắn hổ mang. Hắn cười gằn, tiếng cười nghe buốt gân, dựng tóc.

   Hai giờ sau, đằng trước đi chậm rồi dừng. Lương đứng trên tảng đá, súng ngắn cầm tay. Con mắt bên phải nhìn soi xói, như móc vào ruột, moi ngược xuôi trong người Chánh. Hắn cúi mặt, ẩy lưng Sử: “Dồn lên kìa!” Sử lạnh toát từ đầu đến chân. Cái cùi tay to và đen trũi đang kề sẵn bên sườn, cái vực sâu há mồm chờ Sử chỉ cách một bước…

   Lương đợi mọi người đến đủ mới nói:

   - Tất cả soát lại đồ đạc, buộc thật gọn. Cởi dép xách tay. Sắp vượt qua tỉnh lộ số 6, cách đồn nó chỉ bốn trăm thước. Nếu gặp bất trắc, đồng chí Văn Thon sẽ dẫn đội chạy thẳng, tôi và Khiêm cầm cự.

   Sử đứng không vững. Hơi thở Chánh nóng ran trên gáy Sử. Con cọp vẫn rình mồi.

   Lương nhắc lại lần nữa bằng tiếng Lào, cho mỗi người nhảy thử vài lượt xem đồ đạc thật gọn chưa. Mặt trời chỉ còn cách đỉnh núi nửa con sào. Bóng tối đọng dưới đáy thung lũng đang lừ lừ bò lên các sườn núi. Một tràng súng máy nổ xa, nghe rời từng tiếng một.

   Con đường ô tô rải đá lọt thỏm giữa hai bức tường xanh cao ngất. Những thân cây nâu, trắng, xám xếp thành hai hàng chấn song khổng lồ. Như trong một trận đánh thành phố, từng người một vọt qua đường, đâm bổ vào rừng rậm trước mặt, biến mất. Mũi hít nhanh mùi xăng dầu khét nồng, chân giẫm lép nhép mấy bước trên mặt đá phẳng, rồi rừng lại tỏa cành lá úp chụp bóng người.

   Bên kia, Văn Thon đứng đợi sẵn trong bụi rậm:

   - Chạy thẳng vào, đợi nhau chỗ gốc cây to.

   Sử dừng trước mặt anh, ngoái cổ nhìn ra sau. Văn Thon giẫm chân:

   - Nhanh lên, địch đến lại lạc bây giờ!

   Sử đến chỗ tập trung, hổn hển:

   - Anh Lương coi chừng... Chánh đào ngũ...

   Lương đứng ngây một loáng, vụt chạy ào trở ra đường. Văn Thon hỏi ngay:

   - Chánh đến chưa?

   Lương biến sắc mặt, hộc tốc phóng sang bên kia đường. Cái ba lô đựng máy và khẩu súng trường Anh của Chánh nằm trên cỏ. Lương quát Khiêm đeo ba lô. Thấy Lương xách súng lao vút trên đường lớn về phía đồn, Văn Thon và Khiêm đâm bổ theo.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #48 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:32:43 pm »

   Rừng kéo dài một quãng ngắn, rồi tụt về sau. Trước mắt Lương là quãng đồi trọc đổ xuống suối. Đồn địch sừng sững trên đỉnh đồi bên kia, một hàng lỗ châu mai hau háu nhìn sang. Một bóng người tất tả chạy xuống chiếc cầu bắc qua suối. Lương tạt vào rừng, lên đạn đánh rắc, giương súng. Cái đầu ruồi nhảy nhót trong lỗ ngắm, rồi dừng lại trên lưng đứa đào ngũ. Vừa lúc ấy, một bàn tay chụp nòng súng. Viên đạn réo lên trời một tiếng mèo rít ngắn.

   - Anh... anh cố giết nó sao?

   Văn Thon lắp bắp. Anh hiểu rằng Chánh trốn vào đồn. Nhưng vì sao Lương phải giết hắn? Hắn đào ngũ nhưng bỏ lại súng. Nghĩa là hắn chỉ muốn thoát thân, không chống lại ta.

   Lương gạt tay Văn Thon, lên đạn, ngắm. Chánh đã chạy xuống đến chân đồi, khuất biến. Lương từ từ hạ súng, nói lập cập:

   - Địch tra hỏi hắn khai hết… chiến dịch hỏng… phải bịt mồm hắn, hiểu chưa? Phải bịt mồm...

   Văn Thon lùi lại sau, mắt đỏ ngầu. Bóng người lại nhô trên sườn đồi bên kia suối, nhỏ tí. Lương bấm cò phát thứ hai trong khi tay còn run. Một chấm bụi tóe trên mặt đường. Trước cổng đồn, mấy tên lính địch chạy nhốn nháo. Khiêm chống các bin xướng dõng dạc như đang quan sát bắn bia:

   - Chỉnh đi anh. Cự ly ba trăm, vặn lại thước ngắm cho đúng. Đường ngắm cho lên hai thước, sang phải nửa thước là vừa.

   Các bin bắn xa không bảo đảm, nên Khiêm không bắn. Cái giọng tỉnh khô của Khiêm và hai phát súng vừa nổ giúp cho Lương bình tĩnh hẳn. Anh giống như người tân binh đánh trận đầu, phải nghe giọng chỉ huy và lẩy vài phát đạn mới hết hồi hộp. Chiến đấu đã trên năm mươi trận, Lương không còn cái cảm giác bụng thót lại và lạnh lưng nóng đầu trước kẻ thù. Nhưng anh đang bắn theo Chánh, cố giết một người mới ban nãy còn rót bát nước nóng đưa cho anh... Lương kê bắp tay trái lên thân cây. Chấm đen đang chạy lom khom lại từ từ chạm đầu ruồi. Khẩu súng đã chắc tay, gắn vào người anh, biến thành xương thịt của anh. Viên đạn sắp vọt ra, chính là ngón tay sắt của anh xỉa vào lưng thằng phản bội. Lương nín thở. Tất cả tan biến chung quanh Lương, chỉ còn một lỗ ngắm tròn, một đầu ruồi vuông, một hình người méo mó xộc xệch, cả ba nằm dọc theo một đường thẳng, chập vào nhau to tướng trong mắt Lương, choán hết trời đất. Anh bóp cò.

   Như con đỉa đang trườn bỗng co tròn lại, cái bóng bên kia lăn lông lốc theo sườn đồi một quãng. Rồi hai tay, hai chân duỗi ra, ngó ngoáy. Hắn cố bò lên đồn. Hai viên đạn nữa xuyên qua bụng, qua sọ. Cái xác nằm vắt ngang đường. Con đỉa bị đóng đinh căng giữa sân.

   Súng trên đồn nổ ran. Mấy loạt súng máy chém cây rần rật trên đầu Lương. Đạn đại bác 75 ly hú dài. Lương đi lảo đảo, vác khẩu súng trường rỗng trên vai, không nghe gì thấy gì. Từng đường gân thớ thịt đau buốt. Chưa bao giờ anh thấm mệt như lúc này.

   Đội xuyên sâu vào rừng tránh địch. Dưới đường, ô tô và xe bọc sắt đổ ra sục sạo. Bóng đêm đã tỏa lên trùm các ngọn cây. Các bụi rậm vươn móng nhọn quều quào móc áo người, níu lại. Đèn bấm trong tay Văn Thon quét ánh xanh, soi con dao phát đường. Đến gần nửa đêm, đội mới dừng bên một vũng nước.

   Lương ngồi gác cho đội ngủ.

   Anh nghe tiếng ngáy phì phò cạnh mình, lại nhớ những đêm đắp chung chăn rủ rỉ với Chánh, những lúc Chánh tập cho anh đi quyền. Trong tổ Đảng, Lương được giao giúp đỡ Chánh. Rồi đến nay chính tay Lương bắn chết Chánh mà không biết vì sao hắn đào ngũ. Thương xót, hối hận, tủi nhục cùng một lúc đè lên ngực Lương. Anh giật tung cổ áo, vẫn thấy khó thở.

   - Anh để tôi gác thay. Gớm, càng đói càng buồn ngủ tợn.

   Khiêm dụi mắt; ngáp dài. Lương vẫn ngồi im như anh không biết Khiêm đến. Khiêm lay vai anh: “Vào chợp một lúc đi anh”. Lương từ từ ngẩng mật. Con mắt phải sáng lóng lánh, hơi ướt. Anh nói chậm, nói một mình:

   - Đúng, phải bắn chết nó. Mình tồi thật. Nó mất tinh thần mà không biết. Để cái nhọt sưng tấy lên rồi mới khoét thịt…

   Khiêm lại ngáp. Nghĩ một lúc, Khiêm bàn góp:

   - Tồi gì. Nó chịu khổ không nổi, nó cút. Chỉnh huấn mười ngày rồi, bạn thù bè bè ra đấy, nó chạy theo địch tức như nó là địch anh ạ.

   - Không, mình chỉ nói về phần mình...

   - Hừ, cán bộ chứ có phải vú em?

   Lương sực nhớ đến vẻ hốt hoảng của Sử ban chiều: “Coi chừng... Chánh đào ngũ...”. Ừ lạ, sao Sử biết trước mà không nói? Lương dò dẫm đến chỗ cậu hiệu thính viên ngủ. Anh đặt tay lên vai Sử định lay, lại rụt về. Thôi để lúc khác.

   Lương nằm xuống ổ lá của Khiêm, nhắm mắt, ngáy một lúc để buộc mình ngủ. Rồi anh lật nghiêng người, thì thầm như có Chánh nằm bên mình:

   - Chánh ơi, sao mày ngu thế? Mày còn khỏe gấp mấy tao, sao mày trốn? Giá tao chặt một cánh tay cho mày sống, tao cũng chặt ngay. Sao mày ngu thế Chánh ơi?

   Một giờ sau, Lương gác thay cho Khiêm đến sáng, không gọi người khác. Lương có một gói thuốc lá thơm định mang về cho bạn. Từ ngày vào trinh sát anh đã cai thuốc lá, sợ có mùi lạ khó vào đồn. Suốt đêm ấy, một đốm lửa cháy lập lòe chỗ Lương ngồi. Sáng hôm sau, mắt Lương thâm và trũng hẳn đi, mấy đầu ngón tay anh sém vàng khói thuốc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #49 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2010, 08:35:02 pm »

IX

   Đồng chí tiểu đoàn trưởng chủ lực hô nghiêm, chạy đến trước mặt Tuyên, gân tay chào rất đẹp:

   - Báo cáo trung đoàn trưởng, cán bộ tiểu đoàn 3 đang họp.

   Tuyên lóng ngóng chào lại, ngón tay cái xòe rồi lại khép. Bốn năm liền không chào quân sự còn gì. Anh bắt tay tiểu đoàn trưởng, hỏi mấy câu, rồi len qua dãy súng cối 82 ly, đi thẳng. Có tiếng cười rúc rích mé sau. Tuyên cũng cười thầm. Đứng giữa hàng cán bộ của trung đoàn 217, trông anh chả có thớ quân sự tí nào. Anh béo lùn, lại mặc phạ xà lùng sồ sề, đầu quấn phạ phe sặc sỡ. Bộ đội nhìn anh chăm chắm, cười, rỉ tai nhau: “Ông xã đội!” Cái tên đùa ấy lan đến đây lúc nào không biết.

   Anh liếc sang trung đoàn trưởng Mành đi bên cạnh. Chính quy có khác. Bộ quân phục xanh lá cây vừa khít thân hình cao ngót thước tám, càng làm nổi bật nước da đỏ hồng của Mành. Tư thế nhanh, chắc, hiên ngang. Cả câu nói cũng gọn, đĩnh đạc, to vừa đủ ba nghìn người nghe rõ. Tuyên nói với Mành cứ phải ngửa đầu, cổ mỏi nhừ. Hôm mới gặp trung đoàn 217 dọc đường hành quân về Tây Nam, Tuyên phải lẻn vào rừng tập chào một lúc cho thuần tay, và thắng bộ quân phục đã lâu không mặc. Đêm đêm anh đến ngủ với trung đội trinh sát. Ở đâu cũng vậy, chiến sĩ trinh sát là giới thạo tin nhất, dễ cởi mở với cấp trên nhất trong đơn vị. Qua một tuần, anh đã biết được rất nhiều mẩu chuyện không hề ghi trên các báo cáo.

   Các đơn vị Lào và Việt tập trung trên bờ sông Xê Ban đã ba ngày. Đội chuẩn chiến 3 vẫn bặt tin. Gạo bắt đầu cạn, máy bay địch lượn vòng dòm ngó.

   Tuyên và Mành luồn dưới rừng vầu, đi về cơ quan Ủy ban kháng chiến. Hội nghị Ban chỉ huy chiến dịch mở rộng sắp họp tại lán của Thông Phun. Câu chuyện đứt quãng lại tiếp tục. Mành hỏi về công tác chuẩn bị chiến trường đến lần thứ mấy không nhớ. Tuyên sầm mặt:

   - Có lẽ CC3 gặp tai nạn mất. Đảng ủy lo sốt vó. Các tổ trinh sát phóng đi đón đường chưa thấy về.

   Mành gãi gáy. Đó là dấu hiệu bực ngầm.

   - Nghe đồn trinh sát trên này chúa ăn chơi tự do thì phải.

   - Cũng tùy nơi, tùy người...

   - Cậu Đại nhà tôi được nước đua đòi, khéo lại vất hết quân phục, may ka ki rồi cũng nên.

   Tuyên dè dặt, chỉ trả lời nhát gừng:

   - Không đến nỗi thế đâu. Lương nó nguyên tắc đấy, tôi biết.

   - Hừ, ngại các ông lắm. Chưa chắc đã gặp trắc trở. Không chừng các tướng nghỉ lại dọc đường, cà phê sữa hộp với nhau, để bộ đội nằm chết gí ở đây. Thiếu gì lý do! Cái trò đi công tác lẻ là chúa lề mề, cấp trên biết đấy là đâu. Tôi thì tôi cho đánh sang hướng tây ăn chắc hơn nhiều…

   Mành vẫn quay trở về đề nghị đánh hướng tây. Khi nghiên cứu nhiệm vụ giúp Lào, anh không thắc mắc gì với đường lối, phương châm. Nhưng đến đây, anh giữ mãi  ý kiến mở chiến dịch sang phía sông Mê Kông, vừa dễ đánh vừa ăn to.

   Nghe Mành nói, Tuyên thấy rân rân mặt. Anh không bực với Mành, chỉ xấu hổ. Nếu đội CC3 về đúng hẹn, thì hướng đánh không còn phải bàn cãi gì nữa, bộ đội đã tiến thẳng xuống nam từ hôm qua. Ba nghìn người ăn măng và rau tàu bay nằm đợi một bản báo cáo, thật là vô lý. Cũng vô lý như những trận đánh lớn thất bại vì một phát súng nổ cướp, một vết dép cao su in trên đường, một cái đồng hồ của cán bộ chỉ huy bị đứng.

   Mành bẻ một cành cây, quất vào những bụi dành dành bên đường. Tay chân anh luôn luôn ngứa ngáy, đòi hoạt động. Anh nhìn Tuyên, nói dằn giọng như thách thức:

   - Chốc nữa vào hội nghị, tôi sẽ đưa vấn đề hướng chiến dịch ra tranh luận. Được chứ?

   - Được thôi. Nhưng theo ý tôi, Đảng ủy đã bàn kỹ và thống nhất với bên Ủy ban từ trước.

   Mành quật cành lá vào ống quần, cáu kỉnh:

   - Tôi sợ khi gửi kế hoạch lên Bộ Quốc phòng Lào, các đồng chí chưa xét kỹ các mặt. Vả lại Bộ đã giao quyền quyết định hướng đánh lại cho Ban chỉ huy chiến dịch. Chúng ta tùy tình hình mà xử trí. Thế nào là cơ động linh hoạt?

   - Đánh Pà Thạc lợi như thế nào anh đã biết đấy.

   - Biết, tôi biết. Anh nhắc đến nghị quyết của Đảng ủy tôi hiểu ý ngay. Nhưng nếu trong hội nghị các đồng chí Lào theo đề nghị của tôi thì sao?

   - Tất nhiên họ có toàn quyền quyết định. Xưa nay vẫn thế.

   - Được, tôi sẽ đề nghị bỏ chủ trương đánh Pà Thạc.

   - Tôi sẽ phản đối đến cùng.

   Mành thích lối tranh cãi thẳng thắn ấy. Nếu cần, có thể đập bàn vỗ ghế, mang hết lý lẽ đập nhau không tiếc lời, để rồi thống nhất ý kiến với nhau đến chân tơ kẽ tóc. Anh vỗ vai Tuyên, cười:

   - Xin điếu thuốc. Bộ đội thèm thuốc lá ghê quá, cuộn cả lá chuối khô mà hút. Chiến trường Lào gian khổ thật! Chịu các cậu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM