Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:28:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đứng vững đến cùng  (Đọc 107023 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #30 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2010, 02:05:18 am »

2.

Trung tá Phrăn-xơ Lây-man, sau này đã xác định được là phó xếp thứ nhất của cục quân báo cụm tập đoàn quân “Noóc-đơ” thất thểu rảo bước đi theo Ta-ghi-xla-ép-người mà hắn thầm rủa là “thằng châu Á mắt to”. Trên chiếc cổ béo phị của hắn lủng lẳng ba khẩu tiểu liên và quàng qua vai là chiếc cặp da màu vàng, căng phồng. Lây-man lo lắng nhất về chiếc cặp da này. Trong đó toàn là các tài liệu mật và tối mật của cục quân báo… Lây-man sẵn sàng đổi tất cả để làm sao đốt được các tài liệu này đi. Nhưng hắn biết, hắn sẽ không thể làm gì được khi đôi tay đã bị trói quặt ra sau lưng.

Viên trung tá tình báo này bước đi, đầu cúi gầm, rũ rượi. Hắn nhớ lại, mới chiều hôm qua thôi, sau bữa tiệc tối chiêu đãi các sĩ quan tham mưu tại khách sạn sang trọng ở Pơ-xcốp. Trung tá Lây-man đã được cử đến cái vùng Xtơ-ru-ga Đỏ đáng ba lần nguyền rủa này và tuy không muốn đi nhưng hắn vẫn không thể hình dung nổi tình cảnh lại như thế này. Chỉ cần nghĩ đến một điều là-một sĩ quan chủ yếu của cơ quan quân báo Cụm quân “Noóc-đơ” bị rơi vào tay bọn lính Nga, những kẻ mà theo hắn nghĩ, đang bị đánh cho tơi tả. Số phận thật trớ trêu!…

Vừa nuốt nước bọt, Lây-man vừa thầm rủa thậm tệ sự do dự của mình. Trong xe, ngay trên chiếc cặp da vàng của hắn là một khẩu tiểu liên còn nguyên cả băng đạn. Chỉ cần với tay lấy nó và lia một loạt là cũng đủ để thoát thân. Thậm chí trí tưởng tượng “yêng hùng” của hắn còn quay trở lại những giây phút diễn biến vừa qua. Hắn đang ngồi trong xe, tay cầm tiểu liên bắn thẳng vào bọn “lợn Nga”… Sau đó, hắn vớ lấy chiếc cặp da vàng và nhảy xuống gầm xe rồi một mình,-chỉ một minh thôi, chọi lại bọn Nga trong khi gã đại úy Phi-sơ đáng nguyền rủa lúc nào cũng vênh váo kia chưa kịp chạy tới, mặc dù Phi-sơ được cử đi cốt là để bảo vệ vị trung tá, tình báo này.

Càng nghĩ, ngài trung tá tình báo quân đội quốc xã càng thấy căm giận gã đại úy Phi-sơ vênh váo kia. Đồ tự cao tự đại, đồ nhãi ranh. Hắn nhớ lại…

Tất cả mọi chuyện đều bắt đầu tại bữa tiệc ở Pơ-xcốp. Gã đại úy vô lễ nốc hết cốc này đến cốc khác và rống lên như lợn. Người ta phải khiêng hắn vứt ra xe bọc thép. Thực ra thì gã trung tá có thể hoãn chuyến đi đến sáng mai, nhưng trước sự cam đoan là đường đi “rất sạch sẽ về mọi phương diện” và để bảo đảm an ninh tuyệt đối, một chiếc xe tải chở đầy lính đã được phái đi dọn đường. Chiếc xe tải xuất phát khoảng nửa tiếng rồi xe của gã mới đi. Theo Lây-man, đó là nguyên nhân của mọi “chuyện chết người này. Sau đấy, khi qua cầu bắc trên con suối, chiếc xe bọc thép bị trật bánh trước, do một cây gỗ tròn bị gãy và cả khối sắt nặng nề đó nằm bẹp dí trên cầu. Lúc ấy lẽ ra không nên vội vã và cứ chờ cho chiếc xe tải quay lại quay lại kéo lên. Thế nhưng gã không muốn chờ vậy…

Tên trung tá cảm thấy nghẹt thở. Quả thật, vừa bị thúc đi nhanh với đôi tay bị trói quặt sau lưng không phải là điều dễ chịu gì. Mấy chiếc quai súng như nghiến lấy cổ và chiếc cặp da đeo nặng trĩu như đè ấn xuống vai gã. Hễ hơi chậm bước là bị một mũi súng lạnh lìn thúc ngay sau lưng.

-Nhanh lên, nhanh lên nào! Chạy đi!

Giọng nói của người lính Nga đầy vẻ căm thù làm cho ngài trung tá không còn bình tĩnh được nữa. Gã hiểu rằng, mấy người lính Hồng quân này không ngại gì mà không kết liễu gã trung tá Đức Lây-man. Đối với họ, gã chẳng là của báu gì… Chỉ có điều khó hiểu là, tại sao đến tận giờ gã vẫn chưa bị một phát đạn găm vào lưng. “Cũng chẳng có gì là khó hiểu cả-Lây-man nuốt nước bọt, thầm nghĩ và toát mồ hôi,-chẳng qua là chúng cần mình làm con vật thồ hai chân mà thôi”.

Con đường mòn trong rừng mỗi lúc một dốc cao lên. Trời mỗi lúc một rạng dần. Những ngôi sao biến mất trên bầu trời rạng sáng. Lây-man vẫn lầm lũi bước đi, mệt nhọc, nặng nề lê đôi chân rã rời và thầm cầu trời cho đừng bị gục xuống đây… Trong thâm tâm gã vẫn không muốn cuộc đời kết thúc trong tình huống vô nghĩa này. Gã vẫn le lói niềm hy vọng được cứu thoát một cách tình cờ. Dĩ nhiên giờ đây ở bộ tham mưu người ta đã được báo động về tình hình của trung tá. Và có lẽ tên đại úy kênh kiệu Phi-sơ cũng đã được đưa về bộ tham mưu. Người ta đã biết được mọi chuyện.

3.

Trong lúc Mi-cla-sốp và các bạn chiến đấu của anh đang thúc tên trung tá Đức béo lùn qua ngọn đồi trọc thì cũng là lúc, phía xa bên kia, một chiếc xe con đang len lỏi trong khu rừng công viên ngoại vi thành phố. Các chiến sĩ ở trạm kiểm soát, sau khi đã kiểm tra kỹ giấy tờ liền mở cửa chắn cho xe đi. Đây là chiếc xe của đại tá cục trưởng cục kỹ thuật, ông vừa ở cuộc họp Hội đồng quân sự mặt trận nghiên cứu về tình hình vùng Lu-ga.

Máy nổ, đều đều, chiếc xe lăn bánh trên nền cát của khu rừng thông già. Trong tai ông vẫn còn văng vẳng lời thông báo của tham mưu trưởng mặt trận: ”… các đơn vị trung đoàn bộ binh và sư đoàn chống tăng đã phải rút về bên sông Pli-út dưới sức ép cũat và mô-tô Đức. Khoảng hai chục xe tăng Đức đã bị bắn cháy trong cuộc chiến đấu ác liệt này”. Tuyến phòng thủ mới trên bờ sông Pli-út kéo dài đến hữu ngạn sông Lu-ga vừa được tổ chức xong. Tư lệnh mặt trận tướng Mi-khai-lô-vích Pô-pốp cầm cây bút chì đỏ vạch một đường trên bản đồ và ra chỉ thị:

-Ngày mai sẽ mở cuộc phản công ở dải sông Pli-út. Nhiệm vụ chính là đẩy quân Đức sang bên kia sông.
Sau cuộc họp, tướng Pô-pốp mời đại tá cục trưởng kỹ thuật ở lai. vừ xoa xoa cằm, tư lệnh vừa ra chỉ thị:

-Theo tin tức quân báo thì trong các nhà ở Xtơ-ru-ga Đỏ nơi mà chúng ta đã đặt bộc phá đều có quân Đức đóng, phải cho nổ ngay ba khối bộc phá lớn.

Các quả bộc phá đã được chôn và ngụy trang rất khéo trước sự giám sát của đại tá, trên mỗi quả đạn lớn được nối với hệ thống điều khiển vô tuyến điện. Loại mìn điện vô tuyến này chỉ vừa mới được sản xuất trước chiến tranh ít lâu.

Chiếc “Em-ca” của đại tá vẫn nhẹ nhàng lướt trên quãng đường rừng bằng phẳng, len lỏi qua những hàng thông, sồi, bạch dương cao lớn, qua những quán hàng xinh xắn, những đường lát đá trắng phau… Bên trái thấp thoáng mặt hồ, nhấp nhô những hòn đảo nhỏ xanh rờn bóng cây. Nơi này cách đây không lâu còn là một khu nghỉ mát lúc nào cũng náo nhiệt, vui vẻ, lúc nào cũng vang lên những bản nhạc, bài ca vui tươi. Chả lẽ lại để cho gót giầy quân Đức giẫm đập lên đây chăng?

Chiếc “Em-ca” còn phải dừng lại hai lần nữa trước trạm kiểm soát. Trong một góc công viên um tìm, có một chiếc xe tải lớn đang đậu, phủ kín lá ngụy trang. Chiếc xe này được bảo vệ nghiêm ngặt vì nó chính là chiếc xe điện đài cực mạnh. Đại đội trưởng đại đội vô tuyến điện trong những ngày gần đây hầu như không lúc nào rời khỏi hệ thống điện đài phức tạp này.

-Chỉ huy đâu?-Đại tá cục trưởng hỏi anh lính trực ban cao gầy.

-Báo cáo đại tá, đồng chí ấy vừa chợp mắt.

-Đánh thức dậy!

Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #31 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2010, 02:06:12 am »

Anh chiến sĩ vội chạy vào lều bạt. Thoáng sau một sĩ quan trẻ khoảng hai mươi lăm tuổi thân hình cao lớn cân đối của một nhà thể thao, đôi mắt sâu tham quầng vì thiếu ngủ vội vã chạy tới. Vừa chạy vừa cài khuy cổ áo quân phục, vẻ mặt còn ngái ngủ, anh đứng nghiêm trước mặt đại tá, báo cáo:

-Thượng úy I-a-cô-vlép có mặt…

Đại tá giơ tay chào đáp lại và hạ lệnh ngắn gọn:

-Cho nổ ba quả bộc phá ở Xtơ-ru-ga Đỏ.

Vẻ ngái ngủ liền biến khỏi nét mặt thượng úy. Anh còn nán lại vài giây nhìn thẳng vào người chỉ huy cao cấp của mình, rồi đập gót quay ngoắt ra sau và chạy vội về xe. Các khẩu lệnh đanh gọn vang lên. Cả đơn vị điện đài nhỏ bé này sôi động hẳn. Máy nổ khởi động đều đều. Tiếng máy réo lên, đèn xanh đỏ nhấp nháy. I-a-cô-vlép nhìn vào các bảng điện và kiểm tra một lần nữa. Anh giơ tay phải lên và băm mạnh xuống kèm theo khẩu lệnh.

Đèn nhấp nháy, tiếng rít trong máy reo vang. Người ngoài không thể biết được rằng, trong những giây ngắn ngủi đó, một làn sóng điện cực mạnh được phóng lên không trung… Và cũng ngay lúc ấy, ở vùng Xtơ-ru-ga Đỏ cách đấy hơn một trăm ki-lô-mét, nơi các đơn vị quân Đức đang chiếm giữ, các thiết bị vô tuyến đặc biệt lắp ở các khối bộc phá lớn đã tiếp nhận được làn sóng điện theo ký hiệu mã quy định.

-Báo cáo đại tá xong!-I-a-cô-vlép báo cáo.

-Thế thôi ư?-đại tá hỏi lại có vẻ như đây là lần đầu tien ông được chứng kiến việc phóng sóng điện điều khiển từ xa này. Tuy nhiên, cũng có thể hiểu được tâm trạng của đại tá vì đây cũng là lần đầu tiên ông ra một mệnh lệnh cho nổ thực sự vào kẻ địch chứ khôngphải là để diễn tập như các lần trước.

-Đồng chí cho phép đề nghị được không ạ?

-Được, tôi nghe đây.

-Đề nghị đại tá thông báo với không quân cho máy bay đi kiểm tra kết quả.

4.

Lên đến đỉnh đồi, Mi-cla-sốp quyết định dừng lại nghỉ. Những bụi cây rậm rạp lúp xúp là vật che chở đáng tin cậy của tổ chiến đấu nhỏ bé này. Quả là liều lĩnh và mạo hiểm khi cứ liều sâu vào vùng chiến sự giữa ban ngày.

-Nghỉ đến chiều chứ?-A-lếch-xan-đrin hỏi.

-Có thể như vậy-Mi-cla-sốp ngập ngừng đáp.-Để xem xét tình hình và sẽ quyết định sau.

Khi chân trời phía đông đỏ rực, chân trời phía tây mảnh trăng vẫn còn cố dùng dằng chưa muốn khuất hẳn sau cánh rừng xa nhấp nhô như răng cưa, Mi-cla-sốp thong thả đi một vòng kiểm tra ngọn đồi. Không khí ban mai yên tĩnh, mát lạnh. Từ ngọn đồi thưa cây này có thể nhìn rõ bằng mắy thường toàn cảnh thị trấn Xtơ-ru-ga Đỏ và nhà ga đường sắt. Giữa những mái nhà gỗ xám xịt nổi bật lên những ngôi nhà ngói hai tầng.

-Xtơ-ru-ga Đỏ đây phải không?-A-lếch-xan-đrin hất đầu về phía thị trấn, hỏi.

-Chính nó đấy.

Tên trung tá Lây-man, ngồi bệt xuống bãi cỏ dưới lùm thông non, đoi chân ngắn ngủn đã mỏi nhừ và hắn có cảm giác không phải là chân mình nữa. Đôi tay bị trói tê nhức. Họ đã bỏ món hàng nặng trên cổ và vai hắn ra, và hắn nhớ lại bài học iôga hồi trẻ, liền há miệng hít thở một hơi thật sâu đầy lồng ngực. Miệng và cổ khô khốc, khát cháy họng. Khi nghe đến tiếng Xtơ-ru-ga Đỏ, hắn cũng quay đầu nhìn về cái thị trấn đầu mối giao thông này và chua xót nghĩ rằng, quan thầy hắn không còn mong gì hắn đến đấy nữa.

Đúng vào lúc ấy, ngay giữa trung tâm thị trấn, nơi nổi bật mấy ngôi nhà ngói hai tầng bỗng lóe ánh chớp vàng rực kéo theo ba cột khói và đất bùng lên cùng một lúc… Cảnh tượng giống như một cuộc ném bom vậy.

-Kìa!-Ta-ghi-xla-ép kêu lên và giơ tay chỉ nơi phát ra tiếng nổ-Quân ta ném bom.

Chưa ai kịp nhìn kỹ, đám đất bị tung lên cao chưa kịp rơi xuống thì ngay lúc ấy một làn chớp nữa xuất hiện, khói lại cuộn bốc lên… Rồi lại một vụ nổ thứ ba… Toàn khu thị trấn ngập chìm trong màn khói đen đặc.

-Không, không phải là ném bom,-Mi-cla-sốp nhận định.-Bầu trời không một bóng máy bay. Hình như công binh chúng ta đang cho bọn Đức nếm mìn điện đấy. Chà, khá lắm!

Gã trung tá trố mắt về khu thị trấn và lặng đi vì vui sướng. Ai có thể đoán trước được như vậy. Hình như chính mệnh trời cứu Lây-man khỏi tai họa khi phải lọt vào tay ba gã lính Nga lang thang tan tác vì lạc đơn vị này. Té ra số phận trớ trêu vẫn còn mỉm cười với gã! Chẳng phải nghi ngờ gì nữa, chính những tiếng nổ kia là nhằm vào gã, vào ngài sĩ quan tình báo của quân đội Đức này. Chính chúng nó đã cứu ta, trung tá Lây-man tốt số này. Bị bắt làm tù binh còn hơn bị tan xác theo đám đất bụi kia chứ! Nếu không có ba gã lính Nga lạc ngũ này thì có lẽ Lây-man đã đến ngay cái trung tâm thị trấn bị phá hoại kia từ lâu rồi.

Lây-man ngẩng mặt nhìn trời, miệng lẩm bẩm cầu kinh. Hắn cảm ơn trời, chúa, đức bà Ma-ri-a và mọi thánh thành thiêng liêngkhác.

Mát-vây A-lếch-xan-đrin quỳ nhổm dưới bụi liễu hoàng diệp ngay sau lưng gã trung tá. Anh kéo chiếc xắc lại, mở khóa và hỏi:

-Tổ trưởng, lót dạ được rồi chứ?

Vừa hỏi anh vừa lôi trong chiếc túi xắc ra mấy thỏi xúc xích tròn tĩnh, mấy ổ bánh mì gối trắng tinh, một nửa thỏi pho-mát, mấy hộp thịt, chai cô-nhắc Pháp, năm thanh sô-cô-la, hộp bánh bích-quy xốp v.v… Cái túi chiến lợi phẩm của gã trung tá thật là phong phú… Dưới đáy xắc còn mấy hộp thuốc viên tròn tròn.

-Thuốc bệnh à?-Ta-ghi-xla-ép hỏi.

-Vi-ta-min đấy,-Mát-vây đáp vẻ thành thạo.

Nhìn đống thức ăn ngồn ngộn, Mi-cla-sốp bèn cất một nửa thỏi xúc xích và pho-mát, cùng mấy hộp thịt cất đi. Vừa phải thôi, ai biết được quãng đường phía trước sẽ thế nào?

Ta-ghi-xla-ép mở dao găm và thái thức ăn bày trên áo quân phục vừa được trải ra.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #32 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2010, 02:07:20 am »

Chương mười ba

1.

Trung úy Đra-tun không rời mắt khỏi Pết-ca. Cả hai lặng lẽ bước theo lối mòn mờ mờ trên cỏ, có cảm giác như vệt đường mòn này chỉ loanh quanh tại chỗ, nhưng anh vẫn luôn ngước mắt nhìn ngôi sao Bắc đẩu trên bàu trời và dải lạu mờ mờ của chòm sao Ngân hà, nhìn vào vành trăng khuyết đanh nhích dần về hướng tây và vững tin đi về phía Nam. Anh đã hình dung rõ nét vị trí của vùng này và đây là khu vực anh bay tập trong thời bình, giờ đây anh đứng ở đâu đó chếch về phía tây khu ga thị trấn Xtơ-ru-ga Đỏ, cách không xa con sông nhỏ có cái tên giống như người Liu-ta.

Vệt đường mòn len lỏi giữa những hàng cây cao ngất. Những cây thông đuôi ngựa thẳng tắp, đứng thành hàng đều đặn, nghiêm chỉnh như hàng cột vươn tấm thân cao lớn màu đồng xám. Những hàng thông non chen lấn giữa hàng thông cổ thụ. Điểm thưa thớt những cây sồi, bạch dương trắng muốt. Đến bờ suối họ dừng lại.

Va-xi-li bỗng cầm tay Pết-ca im lặng quay nhìn sang phải. Pết-ca cũng nhìn theo và lặng người đi. Cách họ độ ba chục mét một con lợn to lớn đang ủi đất cạnh bụi phi tử. Lưng phẳng lì, lông màu xám đen, chân cao khỏe, béo mập và hai chiếc răng nanh nhô lên trên mõm như hai chiếc sừng. Nó bỏ bụi cây khịt khịt tới bên bờ suối và gục đầu uống nước. Lát sau nó ngửng lên, vẻ thỏa mãn, hai bên mép còn kéo theo hai vệt nước.

Cảm thấy có người, chú lợn nghếch mõm lén thận trọng, mũi khịt khịt đánh hơi. Pết-ca muốn nói với nó vài lời âu yếm, vỗ về nhưng bỗng nó nhảy phóc một bước lên bờ, chui vào bụi rậm và biến luôn trong đó.

-Đẹp thật!-Đra-tun thở dài, tiếc rẻ.

-To như một con bò ấy-Pết-ca hưởng ứng theo,-và nhanh hơn con thỏ.

Con đường mòn len lỏi qua cây cối rậm rì dẫn người phi công và em bé tới một khu rừng bạch dương.

-Ôi, bao nhiêu là nấm?-Pết-ca thở dài.

Sau rừng bạch dương lại đến một dải rừng thông sẫm mờ hơi sương, khi trời sáng hẳn và cây cối đã mất đi vẻ bí hiểm của nó bỗng vang lên tiếng nổ trầm trầm ở đâu đó phía sau họ. Va-xi-li quay lại và chưa kịp định hướng thì vang lên hai tiếng nổ tiếp nhau.

-Bom?.. Bom của chúng ta?

Đra-tun nhìn bầu trời bạc trắng ban mai, lắc đầu.

-Chẳng nghe có tiếng máy bay gì cả.

-Bắn súng lớn chăng?-Pết-ca lại khẽ hỏi.

-Không giống tiếng súng lớn.

-Vậy thì tiếng gì?

-Phải nhìn thì mới xác định được. Nhưng đứng ở đây thì chả thấy gì cả.

-Sắp tới một ngọn đồi, có thể thấy rõ thị trấn Xtơ-ru-ga Đỏ được. Cháu với bố thường đến vùng này đi câu mà. Sau đồi là một cái hồ lớn. Trại hè thiếu niên vẫn hay đóng ở đấy. Đứng ở trên đỉnh có thể trông rõ tất cả.

-Im lặng!-Đra-tun dừng lại.

Anh không thích cái khu đồi họ vừa đến, vì nó trống trải và nếu có bất trắc, nguy hiểm thì không biết trốn
vào đâu, chỉ có một cách duy nhất là ngâm mình dưới hồ. Phải tắm mình trong nước bùn đặc quánh kia thì anh không hề muốn tý nào. Anh linh cảm thấy hình như có một mối nguy hiểm gì đó quanh khu vực trống trải này nhưng là cái gì thì chưa xác định được. Tuy nhiên, linh cảm thường không đánh lừa anh.

-Chú Va-xi-li, trông kìa… Con sếu,-Pết-ca lai khẽ thở dài chỉ sang phía bờ hồ.

Con sếu cách họ không xa lắm. Nó đang lặng lẽ và có vẻ lười nhác đứng im trong nước, chờ mồi. Nhưng bỗng nhiên chú chim cao cẳng đó ngếch mỏ, vẻ thận trọng và kêu lên. Ngay lúc ấy, từ trong bụi lác, cô bạn sếu cái của nó xuất hiện. Chúng kéo nhau chạy một quãng và sải cánh bay lên. Vừa bay vừa kêu, chúng đảo một vòng hẹp trên hồ rồi bay thẳng.

-Chúng mình làm nó sợ,-Pết-ca nói.

-Loài chim thông minh thật.

-Chú Va-xi-li, cháu hỏi thật chú một câu được không?

-Hỏi đi.

-Chú được thưởng huân chương Cờ Đỏ vì chuyện gì đấy?

-Ồ chuyện dài dòng lắm, Pết-ca ạ?

-Do đẫ bắn rơi nhiều máy bay Đức à?

-Tất nhiên phải bắn rơi nhiều máy bay Đức, nhưng huân chương này là hồi chú còn chiến đấu ở Mông Cổ.
Anh có thể kể tiếp những ngày tháng được tham gia chiến đấu ở biên giới phía đông Mông Cổ, tại khu vực sông Khan-kin-gôn nhưng cũng ngay lúc đó, trong bầu không khí yên tĩnh ban mai quanh hồ vọng lại tiếng chó sủa lanh lảnh.

-Chó sủa,-Pết-ca ngạc nhiên,-hình như ai đi săn ấy.

-Tình hình này mà còn đi săn,-Đra-tun lầu bầu định chửi đổng nhưng ngay lúc đó lại có tiếng súng nổ.

-Có tiếng súng đấy, phải không chú?-Pết-ca nhìn anh, hỏi-Lại một loạt nữa. Chú có nghe thấy không?

-Có.

Tiếng nổ có vẻ đanh và liên hồi hơn. Đra-tun vẫn đứng im, lắng nghe. Chỉ có tiếng súng tiểu liên Đức thôi. Tiếng tiểu liên dễ phân biệt được ngay. Có cả tiếng súng lực rời rạc. Đra-tun rủa thầm và cố phán đoán lực lượng địch qua tiếng súng. Nếu đây là tiếng súng quân, có thể khẳng định đó là tiếng súng phá vây của những người bị lạc đơn vị như mình đang tìm đường về. Hay có thể là đội đặc biệt của ta chăng? Bởi vì mới vang lên ba tiếng nổ xong. Chúng đã phát hiện ra mục tiêu và đang săn đuổi…

Đra-tun rút khẩu súng lục, còn một băng nguyên vẹn và băng cũ còn sáu viên. Tất nhiên với khẩu súng này thì không phải để tấn công.

-Đi thôi!-Anh bảo Pết-ca-Em tìm lối đi ngắn nhất, hiểu chứ? Lối đi ngắn nhất.

-Có thể đi thẳng… lội qua hồ,-Pết-ca trả lời với vẻ cố làm cho chú phi công tin tưởng: cậu ta rất muốn được tận mắt xem một trận đánh thực sự.

-Có lội qua được không?

-Được, hồ này không sâu. Cháu đã có lần đi đánh tôm ở đây mà-Cậu chỉ nói vật thôi, chứ thực ra cậu ta mới đến đây có một lần mà là đi cắm trại:-Chú có thấy cái cây bạch dương đổ kia không. Lội thẳng sang đấy và vượt lên bờ, rồi… Đi chứ.

-Ừ, thì đi,-Đra-tun đành đồng ý.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #33 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2010, 02:08:17 am »

2.

Bọn Đức xuất hiện bất ngờ. Chúng đã bí mật rải quân thành một hình vòng cung, tiến lên ngọn đồi. May mà Ta-ghi-xla-ép kịp phát hiện trước. Đôi tai của người thợ săn vùng thảo nguyên trước đây đã phân biệt được tiếng chó sủa từ xa. Chó nào lại đến đây thế này? Chó của ai?

Anh nuốt vội miếng xúc xích, đứng bật dậy.

-Cậu đi đâu đấy?-Mi-cla-sốp ngăn lại.

-Có tiếng chó… Để xem xem…

-Cậu cứ tưởng tượng thôi,-Mát-vây nói theo.

Với khẩu tiểu liên, Ta-ghi-xla-ép luồn ngay vào bụi cây. Anh không tin vào mắt mình nữa: cách họ khoảng hơn hai trăm mét xuất hiện hai tên Đức vừa đi vừa chạy lom khom, tay lôi chiếc dây da căng lên vì hai con chó săn rất lớn đang dằng chạy. Cổ họng Ta-ghi-xla-ép khô đặc lại, giương súng lên, anh ngắm thật kỹ tựa như khi bắn tập nhằm vào tên chạy trước và bóp cò. Tên Đức ngã sấp xuống cỏ. Con chó trong tay hắn lồng lên, sủa ầm ĩ và cứ muốn bật ra khỏi sợi dây da mắc trong tay chủ hắn. Thêm nhiều tiếng chó sủa rộ lên cả khu rừng sôi động hẳn. Bọn Đức từ nãy vẫn im lặng chạy theo sau đàn chó, đột ngột dừng lại và đồng loạt nổ súng về phía trước.

-Chúng ta bị bao vây!-Ta-ghi-xla-ép kêu lên-Báo động!

Mi-cla-sốp và lac vội lấy súng. Tên trung tá Lây-man cũng hoạt bát hẳn lên. Thế là quân ta đã đến! Hắn mừng thàm và đứng phắt dậy tựa như kẻ đang làm chủ tình thế, hách dịch hét lên:

-Này, bọn lợn Nga. Cắt ngay dây rtói cho ngài sĩ quan! Nhanh lên! Không được bắn! Ta là sĩ quan lớn! Ta hứa cho mày, mày và thằng kia được hưởng chế độ tù binh tốt! Ta hứa sẽ cho chúng mày sống!

Mi-cla-sốp ôm chặt chiếc cặp da căng phồng. Giấu nó đi đâu bây giờ? Nếu là cái xắc thì còn có thể đeo được. Đằng này lại là cái cặp nên không thể nào đeo được, còn xách thì lại càng bất tiện vì còn tay đâu mà bắn. Song lại không thể vứt đống tài liệu quan trọng này, anh không được phép làm như vậy. Anh đành cởi thắt lưng da, vòng qua quai thắt chặt lại trước bụng rồi ôm xốc ngực gã trung tá Lây-man, dựng hắn dậy.

-Nào, đứng dậy.

-Rút đi,-A-lếch-xan-đrin hét lên và nhìn về phía bọn Đức đang hò la, bắn loạn xạ-I-go, khử con rắn độc này đi thôi.

-Còn kịp chán!…

Mi-cla-sốp quàng thêm hai khẩu tiểu liên lên cổ, suy nghĩ giây lát rồi cúi xuống, cầm lấy thắt lưng tên sĩ quan Đức, nhấc lên vai như một bao bột.

-Đi thôi!

Anh chạy xuống chân đồi, rồi len lỏi chạy biến vào đám cây um tùm. Anh bỗng vấp ngã xoài trên cỏ ướt hơi sương. Mi-cla-sốp vứt tên tù binh xuống đất, và bò lên, kéo nó lê trên cỏ, vừa nổ những loạt đạn ngắn yểm hộ cho hai bạn rút. Cứ thế ba người thay nhau lùi dần vào rừng sâu. Vùng trên đầu Ta-ghi-xla-ép sổ bung ra. Anh thở dốc ngắt quãng.

-Trung sĩ! Hết đạn rồi! Thật xấu số.

-Bắn điểm hai phát một thôi!... Bắn thật chắc vào…

Mi-cla-sốp hiểu rằng họ không kháng cự lâu được. Anh bật dậy, xốc gã trung tá lên vai, hắn hầu như đã ngất xỉu đi vì khiếp sợ.

A-lếch-xan-đrin và Ta-ghi-xla-ép chạy theo anh. Phía sau vẫn vang lên lanh lảnh tiếng chó sủa, tiếng hò la của bọn lính Đức và tiếng đạn tiểu liên chiu chíu vút qua đầu. Bọn lính đi lùng sục vẫn chưa kịp dừng lại.
Rừng cây thưa dần một cách bất lợi. Những hành bạch dương và thông lớn đã lùi lại sau, chỉ còn lại những đám thông, bạch dương khẳng khiu và những bụi câp lúp xúp… Đang chạy họ bỗng thấy hiện ra trước mặt một mặt nước long lanh, điểm những bụi cói, lau rập rạp.

-Hồ nước!-A-lếch-xan-đrin thở dài, thốt lên-Hết đường rồi.

Lúc này không còn có thể quay sang hướng khác được nữa. Ba mặt hầu như đều có tiếng chó sủa, tiếng hò la và súng nổ. Hình như bọn Hít-le đã nghĩ trước và bố trí tình huống này. Chúng cố ý dồn cho tổ lính Nga này chạy ra hồ và sẽ bắt sống họ.

A-lếch-xan-đrin nhìn quanh.

-Thế nào đây, tổ trưởng?

Ta-ghi-xla-ép giật phăng cuộn băng thấm máu đã khô tím sẫm kêu lên:

-Đánh thôi!

-Lội xuống hồ!-Mi-cla-sốp lạnh lùng hạ lệnh.-Các anh hiểu ý tôi chứ?-Ta sẽ dìm bọn Đức tại đây… Miễn là
chúng dám liều lĩnh xông xuống đây! Hãy yểm hộ cho tôi!

Xốc lại cái khối thịt nặng trên vai, Mi-cla-sốp lội xuống hồ, cố bước tới đám cỏ lác rậm rạp. Bùn lầy dưới chân lún xuống, bọt sục lên ùng ục, một mùi hôi nồng nặc xông lên. Tên trung tá vẫn nằm còng queo gập xuống vai Mi-cla-sốp và trông như không còn sự sống trên nét mặt nó nữa. Bỗng anh lại mất đà ngã chúi người ra sau, đầu tiên tù binh nhúng xuống nước, nó hồi tỉnh lại, hai chân cố quẫy quẫy, miệng gào thét lên kinh hoàng vì bị sặc nước. I-go vội ôm hai chân tên Đức, ghì chăth như trong một trận đấu vật. Lây-man vẫn cố gắng giấy giụa, rên hừ hừ.

Cuối cùng Mi-cla-sốp cũng đã lội tới được bụi cói. Bùn dưới chân sôi lên, nhưng anh vẫn cố bước tiếp trong nước bùn. Càng ra xa, bùn lun càng sâu. Thỉnh thoảng lại bị hẫng một cái, nước ngập đến cổ và mỗi lần như vậy thì Lây-man lai giãy giụa cố ngoi lên miệng kêu the thé.

Đến giữa hồ, nơi cỏ lau mọc dày như bức tường xanh, I-go không còn chịu đựng nổi nữa liền vất phịch lão trung tá tù binh vào thảm cỏ lác dày, rồi anh trườn lên, tìm chỗ thuận lợi, nằm nghỉ và lôi chân tên Lây-man lại gần. Tên Đức chỉ còn biết có ngửa đầu lên để thở, tránh mùi bùn và lá thối nồng nặc.

-Bây giờ thì mày muốn rống thở bao lêu tùy thích!-Mi-cla-sốp thở hồng hộc và nói thêm bằng tiếng
Nga:-Chung quanh mày là chếc chóc cả… Chỉ có bùn và nước thối đấy…

Để tên Đức nằm chết lặng đó. Mi-cla-sốp quay lại yểm hộ cho đồng đội. Họ cũng đang bìb õm vừa lội vừa chạy, tới mấy bụi lau rậm rì giữa hồ. Trên mé hồ đã nghe tiếng chó sủa lồng lên vì bất lực. Bọn Đức kêu loạn xạ, đứng lố nhố nhưng xem ra không có tên nào dám liều mình nhảy xuống hồ cả.

Cái im lặng và lạnh lùng của mặt hồ với những lùm cỏ lác rậm rạp làm chúng ngần ngại, sợ sệt…
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #34 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2010, 02:09:12 am »

3.

Mi-cla-sốp nghe rõ tiếng súng tiểu liên rền đanh, tiếng súng trường phát một và tiếng lựu đạn thưa thớt. Tưởng chừng như toàn khu rừng đang nổi giận, đang dương oai bằng những tiếng nổ và chớp lửa. I-go vẫn căng tai lắng nghe. Trong tiếng nổ hỗn loạn, tuy rất khó phân biệt nhưng hình như anh vẫn thoáng nghe
có giọng tiếng Nga: “Bắn đi!”, “Hãy gầm lền!”.

Trên bờ hồ đã xảy ra một cái gì đó rất khó hiểu. Hình như có ai đó đang bắn vào bọn Đức. Mi-cla-sốp nhổm người lên, rẽ đám cỏ lác để nhìn.

-Quân ta! Đằng kia có quân ta.

Khi anh lội được vào bờ thì cuộc đấu súng đã ngừng. Ta-ghi-xla-ép đang ngồi dưới gốc một cây tùng già.
Người anh ta ướt sũng, đầy bùn và một anh lính Hồng quân lạ mặt đang băng cánh tay trái cho anh.

-Chỉ sầy da thôi, đồng chí trung sĩ ạ,-Ta-ghi-xla-ép định đứng dậy nhưng người Hồng quân giữ anh lại.

-Chưa chạm đến xương, anh ta nói, giọng có vẻ am hiểu.-Cậu còn sống được đến ngày cưới đấy!

Một phi công xuất hiện, bộ quân phục của anh cũng đầy bùn, dán chặt lấy người, làm nổi bật lên vóc người cân đối. Khẩu tiểu liên Đức đung đưa trước ngực. Cạnh anh là một cậu bé, cũng trang bị tiểu liên. Gần mắt trái anh phi công có một bết sẹo dài. “Trông quen quen,-Mi-cla-sốp thầm nghĩ.-Mình đã gặp anh chàng này ở đâu rồi ấy nhỉ?”.

-Cậu đấy à?-anh phi công kêu lên vui sướng vỗ lia lịa vào vai nhà cựu võ sĩ quyền Anh. Xin chào nhà vô địch!…

-Xin lỗi, tôi không nhận ra anh đấy… Hình như chúng ta đã gặp nhau ở đâu rồi ấy nhỉ?

-Ở trên xe ô-tô khi chúng ta rời Lu-ga… Cậu còn nhớ không, hôm ấy mới là ngày chiến tranh thứ hai…

-Sao lai không nhỉ?-Mi-cla-sốp nhớ ra và cũng hỏi lại. Cậu cũng có một mình?

-Sao lại một mình?-Còn một người bạn đường cừ khôi đây!…

Một chuẩn úy gầy gò đi đến bên họ. Đra-tun vừa chỉ vào I-go vừa nói nhỏ gì đó với anh ta. Anh này gật đầu nhìn Mi-cla-sốp với vẻ quý trọng và không giấu nổi vẻ tò mò.

-Anh đã làm khuấy động lên đấy,-chàng phi công vui mừng nói oang oang, vỗ vỗ vai Mi-cla-sốp, làm cho
bọn Đức bấn lân.

-Tổ trinh sát à?-Mi-cla-sốp hỏi, tay cởi thắt lưng cầm lấy chiếc cặp da. Các anh từ phía ta ra đi lúc nào đấy?

-Đúng tôt trinh sát. Nhưng chúng tôi chưa về tới chỗ quân ta được. Chỉ mới đi mở đường thôi! Chuẩn úy bắt đầu nhìn lên chiếc cặp, hỏi.

-Chủ nó đâu?

-Cách đây hơn nửa giờ hắn đã tắm bùn phải không?-Bọn tôi nghe rõ cả tiếng kêu thét của hắn.

-Phải đến mấy bụi cỏ lác kia mà tìm hắn. Có lẽ còn sống đấy.-Mi-cla-sốp nói. Bọn tôi đã trói chắc hắn lại
rồi.

-Nếu còn sống thì có lẽ hắn đã rống to lên, chàng chuẩn úy nói, giọng đùa cợt. Quân Đức không phải là dân ngu đâu.-Anh đưa hai ngón tay lên miệng:

-Hiệu lệnh tập hợp đấy, đến giờ về tồi,-anh chuẩn úy nói.-Người của anh đủ cả chứ?

-Chúng tôi chỉ có hai người thôi.-Đra-tun nói và hất đầu chỉ vào cậu bé đang giúp các chiến sĩ Hồng quân thu nhặt vũ khí.

Pết-ca vui hẳn lên, cậu khoác hai vai hai khẩu tiểu liên và cài thêm ba băng đạn quanh thắt lưng.

-Còn chúng tôi chỉ có ba tay súng thôi.-Mi-cla-sốp đáp. Tất cả đã sẵn sàng

-Vậy thì đi thôi.

Các chiến sĩ lên đường, mang nặng súng đạn chiến lợi phẩm. Tinh thần phấn chấn, họ cười đùa, nói chuyện với nhau một cách sảng khoái.

-Này cứ the thé như ngựa đực ấy! Tinh thần phấn chấn quá đấy.-Chuẩn úy làm ra vẻ kẻ cả, và nhìn khắp lượt những con đại bàng của mình. Mới bốn hôm trước đây mặt mày ủ rĩ nặng nề như đưa đám ấy. Có lẽ cho đến khi chết mỗi người chúng ta sẽ vẫn còn nhớ mãi cái ngày mồng mười tháng Bảy này. Đấy không phải là một ngày bình thường nữa mà tự như là ngày tận cùng của thế giới ấy. Đến bây giờ mình cũng không hình dung nổi là tại sao chúng ta vẫn còn sống được!…

-Cậu nói, ngày mồng mười à? Này, có phải đúng vào ngày sư đoàn cậu phải rút khỏi Pơ-xcốp tới bờ sông Lu-đô-nhi không?-Mi-cla-sốp hỏi, khi nhớ lại ngày rực nắng ấy cùng với trận chiến đấu căng thẳng trên đường quốc lộ chính.-Đại đội phòng không chúng mình được lệnh phải chặn bọn không quân Đức trên bầu trời vùng này… Thế mà hóa ra lại đánh nhau với xe tăng…

-Mình không biết là bên phòng không đã chặn chúng lại nhưng quả thật bọn mình đã được bảo vệ một cách thật sự! Chúng mình đã tiến lên theo đội hình tấn công. Và bỗng bọn “Gioong-ke” và “Méc-xéc” ập tới, chúng cứ việc lao vào xả hết bom đạn, chưa kịp hoàn hồn thì lũ xe tăng nghễu nghện tới.

Chuẩn úy Xê-men Sa-pi-cốp vừa kể về những thử thách vừa hết lời ca ngợi người chỉ huy đội đặc biệt là chính trị viên tiểu đoàn Gri-gô-ri Phê-đô-rô-vích Va-xi-chin, một con người dũng cảm và bình tĩnh khác thường. Ông đã tìm cách tập hợp hầu hết các sĩ quan và chiến sĩ bị tan tác vì bọn xe tăng Đức lại, thành lập một đơn vị chiến đấu và chọc thủng vòng vây đưa về hành quân quân ta năm chục xe tải chở đầy vũ khí, đạn dược.

-Một con người có ý chí gang thép! Trông bề ngoài thì chẳng có gì đặc biệt cả. Được thưởng huân chương Cờ Đỏ từ thời nội chiến cơ đấy.

Chuẩn úy kể lại cuộc chiến đấu ngày hôm ấy, nhắc lại cả việc chiếc xe tăng “T.34” từ vùng bị quân Đức chiếm đóng lao về đơn vị.

-Và các cậu biết không, chỉ cần một xe tăng là cũng có đủ sức mạnh rồi!… Ngoài họ ra còn ai có thể bảo vệ cho đoàn xe chở đạn của chúng mình nữa. Đội trưởng xe tăng ấy là cậu chuẩn úy Cun-ga.

-Ai, cậu nói là Cun-ga à?-Mi-cla-sốp sôi nổi hỏi.-Nếu là cậu ấy thì mình biết quá rõ đấy. Chính cậu ta cùng ở trong đội tuyển với mình mà. Cậu ấy còn sống ư, đúng là Cun-ga chứ?

-Cậu ấy đang chiến đấu mà!-Chuẩn úy nâng khẩu tiểu liên lên ngang ngực và nghiêm giọng, ra lệnh-Đi đều bước!…
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #35 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2010, 02:10:19 am »

Chương mười bốn

1.

-Nào, Sa-pi-cốp nhanh lên… Va-xi-chin đang đợi.

Ban ngày, đơn vị nhỏ này dừng lại nghỉ trong rừng thông rậm. Đoàn xe được giấu kín dưới các tán cây lớn và các chiến sĩ chia ra thành từng nhóm một. Chỉ huy đơn vị nằm trên chiếc áo bạt trải rộng gần chiếc tăng “ba tư tấn” cắm đầy cành thông ngụy trang đang nhìn vào tấm bản đồ và ghi chép điều gì đó vào quyển vở dày. Từ xa Đra-tun đã nhận ra tấm bản đồ địa hình quen thuộc của vùng này.

Cặp bút chì vào quyển vở, Va-xi-chin đứng dậy. Anh trạc tuổi trung niên, thân hình cao to vạm vỡ chắc nịch. Nhìn quân hàm và mấy ngôi sao trên ve áo, Đra-tun biết được anh ta là chính trị viên tiểu đoàn. Bộ quân phục sạch sẽ, chiếc cổ là thẳng tắp đập vào mắt Mi-cla-sốp. Nghe xong báo cáo của người trung sĩ, Va-xi-chin quay sang hỏi anh phi công:

-Anh có chứng minh thư gì không?

-Báo cáo đồng chí chính trị viên, có!-Đra-tun mở khuy áo ngoài để lộ ra tấm huân chương Ngôi Sao Đỏ trên ngực áo quân phục và rút trong túi ra tấm chứng minh thư sĩ quan cùng thẻ đảng.

“Thượng sĩ không quân Va-xi-li I-van-nô-vich Đra-tun”,-Va-xi-chin đọc thành tiếng, liếc nhìn tấm ảnh và xem kỹ tấm thẻ đảng rồi hỏi thêm:-Anh được thưởng huân chương vào dịp nào và vì sao?

-Báo cáo, huân chương Ngôi Sao Đỏ này được tặng thưởng do chiến đấu dũng cảm ở mặt trận Khan-khin Gôn theo Sắc lệnh ngày mười lăm tháng Mười năm bốn mươi,-Đra-tun nghiêm trang trả lời.

-Anh bị bắn rơi ở đâu?

-Phía bắc hồ Đen. Theo lệnh của trung đoàn trưởng tôi đã bay để đánh lạc hướng bọn máy bay Đức. Chúng tôi đã oanh tạc vào đội hình tăng bị bắn phá ở hướng Pli-út-xa… Chúng tôi đã yểm trợ bộ binh và pháo binh. Tôi đã đếm được mười tám đống lửa dọc đường cái lớn!…

-Và họ đã ngăn chặn được?-Trong ánh mắt Va-xi-chin lộ rõ vẻ lo lắng và hi vọng.-Các phi công ở trên cao đã trông rõ xe tăng bị ngăn chặn?

-Mệnh lệnh là phải ngăn chặn bằng bất cứ giá nào. Tôi tin rằng bọn Đức không thể tiến lên được.-Rồi anh nói thêm:-Sông Pli-út-xa chỉ là trận địa tiền tiêu của tuyến hai phòng ngự chiều sâu. Không thể vượt qua nó bằng tấm lá chắn xe tăng được!

-Chúng tôi cũng hi vọng rằng chúng nó không chọc sâu hơn được,-Va-xi-chin nói một cách tin tưởng và trả lại chứng minh thư cho Đra-tun. Suy nghĩ một lát, anh nói thêm:-Chúng tôi không có máy bay, nhưng lại có xe tải. Vậy nếu không chê thì đồng chí thượng úy, xin mời.

-Xin phép đề nghị được không?-Đra-tun nói, vẻ kiên quyết.

-Tôi sẵn sàng nghe đây.

-Đồng chí chính trị viên tiểu đoàn, tôi là sĩ quan chiến đấu… Xin phép đồng chí cho tôi được tham gia chiến đấu như một người lính thường. Tôi không có ý định được làm người chỉ huy.

-Cứ yên tâm, đồng chí thượng úy ạ! Tôi sẽ không cử đồng chí làm chỉ huy như đồng chí đã định khước từ, mà sẽ cử phụ trách đoàn xe chở đạn. Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là điều quan trọng, đồng chí đã vượt qua vòng vây an toàn, lành lặn và phải sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ, đồng chí còn hỏi gì nữa không?

-Không, thưa đồng chí chính trị viên tiểu đoàn!-Trong tiếng trả lời của Đra-tun vang lên vẻ hài lòng.-Xin phép được thi hành.

-Thi hành đi!

Đra-tun quay đi và Pết-ca cũng vội bước theo anh.

Chính trị viên quay sang nhóm của Mi-cla-sốp. Anh nghiêm khắc nhìn từng chiến sĩ, ánh mắt như xoi mói vào những áo quân phục bị nhàu nát và những chiếc quần xộc xệch, ống cao ống thấp. Mi-cla-sốp đứng “nghiêm như trời trồng” cảm thấy mặt bóng bừng. Đúng là vẻ bên ngoài của nhóm anh không đúng điều
lệnh gì cả.

-Bỏ chạy lâu chưa?

-Chúng tôi không bỏ chạy,-A-lếch-xan-đrin đáp, nhìn thẳng vào mắt Va-xi-chin với vẻ tức giận.

-Tôi không hỏi anh. Tôi hỏi trung sĩ. Tên họ anh là gì?

-Mi-cla-sốp, I-go Mi-cla-sốp.-I-go đáp và thấy hối hận về thái độ do dự của chính mình… Trung sĩ Mi-cla-sốp.-Chúng tôi rút ra khỏi trận địa chứ không phải là bỏ chạy. Đây là tất cả những anh em còn lại của đại đội phòng không… Chúng tôi đã phải đánh trả bọn xe tăng ở đường lớn, thưa đồng chí chính trị viên tiểu đoàn. Chúng tôi đã chiến đấu trực diện với chúng!…

-Thế ra là…-chính các anh đã chiến đấu như vậy đấy!-Nét mặt Va-xi-chin liền thay đổi-Vẻ giận dữ đã chuyển thành kính trọng và khâm phục-anh bước đến ôm lấy Mi-cla-sốp rồi A-lếch-xan-đrin và Ta-ghi-xla-ép…-Đúng là bằng cả một đại đội! Mọi người đã nghe và tôi đã thấy được từ xa… Nhưng chúng tôi không có cách nào chi viện được!

-Trong kính quan trắc tôi trông rõ bọn máy bay phóng pháo gầm rú bay quanh các đồng chí,-Mi-cla-sốp đáp và anh bỗng đổi giọng, nói:

-Xin phép cho tôi báo cáo, được chứ ạ?

-Hãy báo cáo đi!

-Tối hôm qua, hay chính xác hơn, là sáng sớm hôm nay… Chúng tôi đã bắt cóc được chiếc xe tham mưu ở trên đường Xtơ-ru-ga Đỏ. Cả ba tên đều chết… Chiếc xe đã bị đốt cháy. Còn đây là cặp tài liệu của chúng! Còn tên trung tá Đức chúng tôi cũng không giữ nổi. Bây giờ thì hắn đang làm mồi cho cho lũ ếch nhái ở dưới hồ,

-Có phải vì vậy nên bọn Đức đã dùng chó đi lùng bắt các anh không?

-Đúng là đi lùng bắt chúng tôi,-Mi-cla-sốp đưa chiếc cặp căng phồng đầy tài liệu cho chính trị viên.-Đề nghị đồng chí nhận hộ, xin tha lỗi cho nếu có tài liệu nào bị ướt. Quả thật chúng tôi không muốn phải lội xuống hồ làm gì.

Chúng tôi sẽ chuyển về ban tham mưu. Ở đấy họ sẽ phân tích xem đây là loại tài liệu gì.-Va-xi-chin cầm lấy chiếc cặp và đặt lên chiếc áo bạt trải sẵn trên cỏ.

Gri-gô-ri Cun-ga lách qua những người đang tò mò đứng nghe, bước đến gần. Bộ quần áo bảo hộ của anh bê bết dầu mỡ xe, chiếc mũ sắt chụp xuống gần cặp lông mày, trên mặt vẫn còn vương mấy vết dầu ma-dút. Anh lính tăng này có lẽ vừa sửa chữa xong động cơ hỏng hóc và chẳng kịp rửa tay liền chạy tới đấy ngó qua mấy anh chàng lính mới. Từ xa anh đã nhận ra một khuôn mặt quen quen. Nhìn kỹ, Cun-ga liền kêu to:

-I-go!… Chả lẽ lại là cậu ư?

Cun-ga dang tay ôm chầm lấy vai anh bạn trung sĩ, ghì chặt lấy và xòe rộng đôi bàn tay vỗ đồn độp vào lưng:

-Ai có thể nghĩ được là… hả?-Thật là không thể tin được!…

-Gri-sa!… đúng là như mơ ấy!…
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #36 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2010, 02:11:15 am »

Cun-ga liền xoay Mi-cla-sốp quay sang phía chỉ huy của mình không giấu nổi vẻ vui mừng giới thiệu:

-Báo cáo chính trị viên, đồng chí hãy làm quen đi! Đây là võ sĩ I-go Mi-cla-sốp, kiện tướng thể thao nhà vô địch quyền Anh thành phố Lê-nin-grát đấy.

-Cậu chậm mất rồi, Gri-gô-ri ạ,-Va-xi-chin vui vẻ đáp.-Chúng tôi đã nhận ra là võ sĩ Mi-cla-sốp từ lâu… Có lẽ cậu nghĩ rằng nếu là chính trị viên thì sẽ không bao giờ xem thi đấu cả phải không? Cậu nhầm rồi đấy!
Chúng ta đang ở phía sau quân địch và ở đây kiện tướng thể thao Mi-cla-sốp trước hết phải là trung sĩ bộ đội chiến đấu đã. Có đúng thế không trung sĩ?

-Đúng đấy, đồng chí chỉ huy?

Các chiến sĩ của đội Va-xi-chin vẫn chăm chú ngắm nhìn Mi-cla-sốp. Còn sao nữa-nhà võ sĩ nổi tiếng đứng ngay trước mặt họ…! Va-xi-chin cử Mi-cla-sốp và các bạn anh vào đội quân báo của chuẩn úy Xê-men Sa-pi-cốp. Hài lòng với sự ủng bổ sung mới này, Xê-men phấn khởi mời ba chiến sĩ dũng cảm này về đội. Nhưng Cun-ga nhất định không chịu rời Mi-cla-sốp và sau khi thuyết phục được chỉ huy đồng ý, anh kéo
Mi-cla-sốp về xe tăng của mình.

2.

Va-xi-chin đi ra giữa bãi rừng thưa. Các chiến sĩ buồn rầu và mệt mỏi, dõi theo bóng người chỉ huy của mình. Anh bỗng khoát tay ra hiệu cho mọi người yên lặng. Anh nói ngắn gọn tình hình toàn đội đang bị vây hãm và bị chặn lại trước đầm lầy này.

-Bọn Đức cho rằng chúng ta sẽ bị tiêu diệt, sẽ không có lối thoát khỏi đây.-Nhưng chúng đã lầm. Chúng ta sẽ có lối thoát!-Vừa nói chính trị viên vừa chỉ ra phía đầm hồ.-Kia là lối thoát của chúng ta! Chỉ cần làm một đường nổi dài hai cây số qua đoạn đường lầy này…

Giờ đây quả là không có một lời kêu gọi hay mệnh lệnh nào có thể làm rung động những người chiến sĩ đã quá mệt mỏi, thiếu ngủ, thiếu ăn và phải chiến đấu liên tục bao lâu nay bằng những lời nó chân thực ngắn gọn như vậy của người chính trị viên. Các chiến sĩ tựa như có một sức mạnh mới không biết từ đâu tới! Họ đốn hạ những cây thông lớn, cưa những thân cây thẳng tắp và ghép lại với nhau xếp dần qua mặt đầm… và chiếc cầu ghép nổi đã hình thành. Ngay đêm hôm ấy một chiếc xe đầu tiên chở đầy đạn pháo đã đi thử qua con đường ghép này. Những thân cây oằn xuống, xô đẩy và kêu răng rắc dưới sức nặng chiếc xe. Thế nhưng chiếc xe vẫn lầm lũi tiến xa dần. Cuối cùng từ bên kia bờ người ta báo hiệu sang: chuyến xe đã qua hồ an toàn…

-Tốt rồi,-Va-xi-chin thở dài nhẹ nhõm và hạ lệnh cho đoàn xe bắt đầu đi qua.

Suốt đêm hôm ấy trong màn đêm mở ảo năm mười chiếc xe chở dạ pháo cùng các thương binh và đơn vị trực thuộc, qua đoạn đường ghép nổi đó, vượt đoạn đầm lầy chưa hề có ai đặt chân tới an toàn. Các chiến sĩ còn có sức dìu và mang hộ súng đạn cho những người yếu qua đầm. Rồi sau đấy đến lượt Cun-ga cũng lên xe và lái chiếc tăng “ba tư tấn” bò theo đoạn đường ghép. Các chiến sĩ công binh là những người đi sau cùng vừa đi vừa gài mìn trên con đuờng rút lui độc đáo đó.

Khi những tia nắng mặt trời đầu tiên vừa ló lên ở chân trời phía đông thì đội quân mà bọn Đức cho rằng đã bị tiêu diệt ấy bất ngờ đánh tập hậu vào sườn chúng bằng một đòn hết sức táo bạo. Đập tan sự kháng cự của địch, đội quân vận tải này tiến về phía quân ta đang chiến đấu ở khu vực phía tây làng Xốp-ca Lớn…
Thật khó mà tả nổi niềm vui sướng hon hỉ hiện lên như thế nào trên những khuôn mặt mệt mỏi và hốc hác của các chiến sĩ, những ánh mắt rạng rỡ khi biết rằng họ đã đến được vùng lãnh thổ không bị quân thù chiếm đóng.

Ngay ngày hôm ấy, sau khi đến gặp ban tham mưu trung đoàn mà đơn vị này được lệnh sát nhập vào, Va-xi-chin và Mi-cla-sốp được xe ô-tô đưa ngay về Lê-nin-grát-về bộ tham mưu mặt trận…

3.

Trung tá Tê-lê-va-rốp lấy tấm bản đồ trong tủ sắt ra. Mới đây tấm bản đồ này còn trong tay viên trung tá I-ô-gan Phơ-ran-xơ Lây-man, phó cục trưởng thứ nhất cục quân báo cụm quân “Noóc-đơ”. Ông trải tấm bản đồ lên bàn.

Ông cầm chiếc bút chì đỏ trong lọ gỗ đặt trên bàn và vân vê trong tay. Sau đó ông mở quyển vở khá dày, lần đọc từng trang cần thiết và tỏ vẻ hài lòng. Ông đánh dấu chữ thập đỏ sẫm lên những ký hiệu riêng của Lây-man. Mỗi dẫu chữ thập tương ứng cho một tiên điệp viên bị loại trừ.

Từ lâu này. Ôi! Chẳng biết là bao nhiêu lâu rồi Tê-lê-va-rốp chưa từng có cái cảm giác sung sướng vì công việc kết quả như vậy. Các tài liệu của “bộ chỉ huy-014” cục quân báo Đức đã chứng minh cho sự đúng đắn, chính xác về các nguồn tin mà cơ quan an ninh Lê-nin-grát đã thu thập được, nó đã mở thêm hướng hoạt động cho họ để giành thắng lợi mới trong cuộc đọ sức bí mật này. Ngay cả trước khi ban tham mưu mặt trận chưa có trong tay chiếc cặp của trung tá Lây-man, với bản danh sách tỉ mỉ thì cơ quan an ninh chũng ta đã nắm chắc được một bộ phận lớn, và làm mất hiệu lực-một bộ phận khác đang bị ban đặc biệt theo dõi, phát hiện. Tuy nhiên chưa thể khẳng định được rằng sẽ không còn những hang ổ nguy hiểm cài cắm sâu hơn mà chúng ta chưa phát hiện kịp, chưa nắm được chúng.

Tê-lê-va-rốp nhìn tấm bản đồ và thầm suy nghĩ:

-Thế là hầu như khắp khu vực này đều có nấm độc… Trong thành phố cũng vậy, ở ngoại ô, ở Lu-ga, ở Cra-xnô-gơ-va-đây-cơ và cả tít tận Kin-xi-péc nữa… Phía bắc thành phố lên tới cả Vư-boóc-ghe cũng có điệp viên của chúng. Chỉ có quân cảng Crôn-xtát là sạch sẽ. Không có một ký hiệu nào! Cơ quan phản gián hạm đội Ban-tích làm ăn khác đấy. Khá lắm, anh em Ban-tích cừ thật.

Trung úy trực ban đột ngột vào phòng trung tá. Anh còn trẻ dáng người cân đối.

-Báo cáo đồng chí trung tá, nhóm dã chiến đã lên xe.

-Được, được, tôi ra ngay đây.

Trung tá Tê-lê-va-rốp cẩn thận gấp tấm bản đồ ghi màng lưới điệp viên Đức, cất vào tủ sắt. Ông rút trong tập phích của Lây-man, một tấm phích nhỏ đã ngả màu vàng có ghi dòng chữ “Điệp viên 015”.

Bên trái tờ phích dán tấm ảnh một phụ nữ trẻ, xinh xắn, nét mặt tươi tỉnh. Một dòng chữ Đức rành rọt: Họ Miu-le, tên Mác-ta Liu-da, năm sinh 1911.

Ông ghi địa chỉ, ký hiệu loại máy thu phát vô tuyến, độ dài sóng, cột mã, giờ phát sóng rồi nhìn kỹ vào tấm ảnh của “nữ sinh viên Vin-ma” một kẻ tình nghi đã bị bắt giữ trướchiến sĩ ngàu chiến tranh xảy ra một tháng và đã trốn thoát. Có mối liên hệ nào giữa “nàng sinh viên Vin-ma” hồi ấy với Mác-ta Liu-da Miu-le hiện này không?

Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #37 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2010, 02:12:15 am »

4.

Chiếc xe tải mui trần chở đầy chiến sĩ đang phóng trên đường phố tối tăm vắng lặng. Còi báo động vang lên. Thành phố sôi động hẳn. Từng luồng đèn pha vàng rực xuyên thẳng vào bầu trời đầy sao, chao đi đảo lại lùng quét tìm máy bay địch. Pháo phòng không hối hả điểm từng loạt ở phía ngoại ô. Tiếng đại liên ùng ục từng tràng dài. Các chiến sĩ đèn pha đã bắt được một tốp hai máy bay địch. Chúng bay lượn vòng vèo nghiêng ngả nhưng vẫn không thoát được những luồng ánh sáng đang chĩa thẳng vào.

Chiếc xe vẫn phóng đi tựa như không quan tâm tới những diễn biến xung quanh. Tiếng bom, tiếng súng phòng không, tiếng đại liên vang lên sau nó. Đây đó bùng lên những cột lửa và những đám cháy bập bùng. Bọn Đức ném bom cháy vào các phố đông dan. Bóng người Lây-man động nhấp nhô qua ánh lửa. Tiếng còi xe chữa cháy rú lên. Những chiếc xe “cấp cứu” phóng vun vút kéo theo những ánh đèn xanh biếc, nhấp nháy. Tiếng truyền lệnh lanh lảnh… Các chiến sĩ cứu thương vác cáng chạy hổi hả… Có cả tiếng kêu cứu thất thanh…

-Đồng chí chỉ huy nhìn kia!-Anh lái xe chỉ lên bầu trời. Từ trong màn đêm mờ sao một khối lửa lớn đang đâm thẳng xuống đất.

-Kia nữa… Chiếc thứ hai! Thấy chưa, phía ngoại ô kia kìa!…

Cả bỏ đuốc lớn nở tung tỏa ra xung quanh. Chiếc máy bay tan tác, những mảnh lớn vẫn cháy phừng phực lao xuống đất kẻ thành một vệt lửa dài trên bầu trời.

Chiếc xe vòng vào một phố vắng, mờ tối ở Matxcơva. Những ngôi nhà cổ có một tầng nối nhau chạy dọc hai bên đường phố, lẫn trong các hàng cây xanh.

Chiếc xe dừng lại giữa phố, cách khá xa ngôi nhà mà tên điệp viên đang ở. Các chiến sĩ vũ trang cùng trung úy nhảy xuống xe. Chàng trung úy gầy tập hợp chiến sĩ lại, định báo cáo trung tá, nhưng ông giơ tay ra hiệu không cần và đưa mắt kiểm tra từng người một. Họ chia ra làm hai tổ, tiến về phía ngôi nhà được xác định hình thành một vòng vây bán nguyệt.

Tê-lê-va-rốp và trung úy đi thẳng đến ngồi nhà đã được trinh sát kỹ. Một ngôi nhà bình thường cũ kỹ, hiền lanh, có ba cửa sổ trông ra mặt đường. Theo điều tra ban đầu của trung úy, thì người thuê căn nhà này là một phụ nữ trẻ sơ tán từ Vi-nhi-út tới.

Trung úy gõ từng chập ba tiếng một vào cửa. Lát sau nghe có tiếng đàn bà hỏi vọng ra, giọng ngái ngủ, lo lắng:

-Ai đấy? Ai ngoài ấy đấy?

-Mở cửa hộ, tôi đến gặp cô Liu-da, trung úy lên tiếng.

-Đợi cho chút xíu.

Tiếng then cài lách cách rồi tiếng xích loảng xoảng, tiếp đến tiếng cửa cót két mở ra. Trung úy lách ngay vào phòng ngoài và bấm đèn pin. Trước mặt anh là một bà già, gầy, thấp, vai choàng chiếc khăn vải lanh.
Bị chói mắt, bà ta đưa tay lên che mặt.

-Cô Liu-da có ở nhà không?-trung úy hỏi.

-Đang ngủ. Hôm qua toàn đường phố đi đào hào chống tăng. Tôi cũng không được trừ. Cầu cho trời tru đất diệt thằng Hit-le đi.-Anh là gì với Liu-da đấy?

Nhưng khi thấy thêm mấy chiến sĩ cầm tiểu liên đi vào, bà già cụt hứng, im bặt. Trung úy và Tê-lê-va-rốp đề nghị bà già dẫn họ vào phòng Liu-da.

-Phòng cô ấy ở đâu?-Trung úy hỏi.

-Đây thôi,-bà già đáp và chỉ vào cánh cửa ngay trước mặt vẻ sợ hãi nhìn mấy người khách lạ lùng.

-Cô ấy ở một mình à?-Tê-lê-va-rốp hỏi.

-Từ tối đến giờ thì chỉ có một mình…

Bà già làm dấu thánh.

Trung úy định gõ cửa nhưng một cô gái đã xuất hiện khá đột ngột. Dáng người cân đối, tầm thước, làn tóc vàng sáng buông xuống đôi vai trần. Cô mặc chiếc áo ngủ xa tanh màu trắng, hai khuy dưới không cài để hở cặp đùi mập mạp. Trông bề ngoài cô ta trạc độ hai lăm tuổi. Từ thân hình toát lên vẻ tươi trẻ, khỏe mạnh.

-Các ông hỏi tôi?

-Vâng.

-Xin mời vào.

Họ vào phòng cô ta. Cửa sổ được dán kín giấy phòng không. Trên bàn một chiếc lọ cắm mấy bông hoa đã nở rộ. Mùi nước hoa thoang thoảng, dễ chịu. Thật sạch sẽ, lịch sự. “Ai có thể tin rằng, đây lại là hang ổ của một con gián điệp”,-trung tá thoáng nghĩ, đưa mắt quan sát nhanh căn phòng.

-Điện đài ở đâu?-Tê-lê-va-rốp hỏi ngay không cần bóng gió rào đón gì cả.

-Ông nói gì thế? Điện đài nào ở đây? Một nét mặt nhiên gượng gạo thoáng hiện trên khuôn mặt xinh đẹp cùng với nụ cười tỏ ra duyên dáng,-ông đùa gì lạ thế.

Tê-lê-va-rốp im lặng, nhìn ả người Đức một lúc. “Một cô ả lõi đời và cao tay,-ông thầm đánh giá.-Biết tự kiềm chế!”. Ông từ từ rút trong túi tấm phiếu điệp viên 015 và chìa ra trước mặt Mác-ta.

-Hình như đây là tấm ảnh của cô, còn đây là vân ngón tay cái của cô… và cả chữ ký nữa. Nào, cô Mác-ta
Liu-da Miu-le, chúng ta sẽ nói chuyện cở mở với nhau chứ?

Nụ cười đưa tình biến mất trên đôi môi tươi tắn.

-Không, không, tôi sẽ không chối cãi đâu.

-Điện đài đâu?

-Liu-da kéo lật tấm thảm phủ ở sát chân giường lám lộ ra một ngăn tường.

-Lấy máy ra!-Tê-lê-va-rốp bình thản hạ lệnh tựa như đang nói một điều hết sức bình thuờng.

-Vâng, có ngay.

Liu-da với tay qua giường và lôi từ ngăn tường ra một rương gỗ nhỏ. Trong đó để một chiếc va-li con xách tay bằng da. Trung úy I-va-nốp cầm lấy và đặt lên bàn.

-Hết rồi?-Tê-lê-va-rốp hỏi.

-Vâng.

-Hãy mở ra xem.

Liu-da đến bên bàn. Cô mở va-li và trong đó lấp lánh chiếc máy thu phát xách tay rất xinh xắn.

-Chiếc máy không đến nỗi tồi,-Trung tá Tê-lê-va-rốp nhận xét.-Hãng “Tê-lê-phun-ken”. Cô còn nhớ thượng úy Xô-lô-man-kin không?

-Ồ, thưa ông, cái loại bồ bịch đó thì tôi có quá nhiều nên không nhớ hết được,-Liu-da nói, nét mặt cô tỏ ra
khinh khỉnh.

-Cô đóng vai nữ sinh viên Vin-ma từ bao giờ?

-Từ, từ… Liu-da cố lảng tránh.

-Sửa soạn đồ đạc đi.

Tại cuộc hỏi cung đầu tiên, Liu-da đã thú nhận tất cả tội lỗi của mình, duy có buổi phát tin cuối cúng vừa đây là ả ta im lặng. Một giờ trước khi các chiến sĩ phản gián xuất hiện ả đã kịp phát đi một bức điện báo địa điểm kho lương thực chính của thành phố-khu kho lớn Ba-da-ép-xki.

Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #38 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2010, 08:18:26 pm »

Phần hai-Đến miền đất lạ


Chương một

1.

Ma-ri-na Rúp-xô-va, hay như tên ghi trong hộ chiếu là An-na Run-ke, xuống bến tàu điện cuối cúng. Đi qua ba dãy phố, chị rẽ vào một ngõ nhỏ ở gần ngoại ô Brúc-xen. Những dãy nhà cũ xây bằng đá hộc, xám xịt cổ kính chen chúc nhau với các mái nhọn hình tháp nhô cao, dáng dấp giống như bàn tay những con chiên ngoan đạo đang thành kính cầu nguyện giữa bầu trời tháng Mười hai âm u. Ngõ phố vắng vẻ, chỉ còn thấy lờ mờ, mặt đường lát đá vuông vắn nhãn bóng. Chiếc xe hòm màu cỏ úa, to lớn nặng nề phủ bạt kín đang đỗ ở góc hiệu bánh mỳ che khuất gần hết nửa ngõ phố.

Liếc mắt nhìn chiếc xe lạ, Ma-ri-na nhẩm tính như vậy là ba ngày nay nó thường xuyên xuất hiện đúng vào lúc chập choạn tối này. Chẳng có gì đáng nghi ngờ cả-xe nào chả là xe.

Ma-ri-na rảo bước trở về căn phòng nhỏ của chị mà nửa tháng trước đây, sau khi hoàn toàn tình cờ và thần kỳ thoát khỏi cuộc bủa vây của bọn Giét-ta-pô. Chị đã phải chuyển đến Brúc-xen và đã được bố trí ở tại căn phòng thuê với giá phải chăng trong khu nhà lớn này. Đúng là những ngày thật nặng nề. Tất cả cơ quan báo chí, đài phát thanh địch đều làm rùm beng về thắng lợi dứt khoát sắp đạt được của sức mạnh quân sự Đức. Những chiếc loa tâm lý chiến không ngừng đưa tin về bước tiến như vũ bão của quân đội quốc trưởng đang tiến gần đến chân tường điện Crem-li và buổi lễ duyệt binh của những người chiến thắng sẽ được tổ chức ngay tại Hồng trường, đúng bào ngày lễ truyền thống của Cộng sản Bôn-sê-vích, mồng Bảy tháng Mười một năm một ngàn chín trăm bốn mươi mốt. Và cũng chính hôm mồng Bảy tháng Mười một mưa phùn lạnh lão ấy, Ma-ri-na đã chuyển được va-li đựng điện đài tới căn phòng nhỏ ở tầng bốn này một cách an toàn. Nhưng trong lòng chị lại ngổn ngang trăm mối vừa buồn rầu day dứt, vừa lo lắng đau xót. Ngay hôm ấy, sau khi thu xếp xong, bất chấp cả nguyên tắc bảo mật, chị đã khóa chặt cửa lại không kịp cởi áo khoác ngoài, liền bật máy thu. Ngón tau chị run run hồi hộp vặn chiếc núm tìm làn sóng đài phát thanh Mát-xcơ-va thân thuộc. Ở đấy đang có gì lạ? Liệu có gì bất hạnh xảy ra? Ai đang làm chủ ở đấy? Và chị đã không kìm được dòng nước mắt tự nhiên ứa ra khi từ trong máy khe khẽ vang lên giọng nói xiết bao thân thương quen thuộc của nữ phát thanh viên đang đọc bản tin cuối cùng trong ngày. Ma-ri-na còn nghe được phần cuối bản tin, qua đó chị cũng biết được cuộc diễu binh đã diễn ra trên Hồng trường, nhưng không phải là của chúng nó mà là cuộc diễu binh của Hồng quân. Hơn nữa lại còn nghe được một đoạn cuối bài diễn văn của Sta-lin… lòng nhẹ nhõm và thanh thản, chị cảm thấy dường như mình đang được ở nhà, đang đứng trên ngã tư phố A-rơ-bát, đang gặp những người thân yêu… Mát-xcơ-va vẫn còn đó, Mát-xcơ-va vẫn nguyên vẹn, vẫn đứng vững.

Ma-ri-na bất giác mỉm cười nhớ lại buổi phát thanh tường thuật ngày lễ tháng Mười một hôm ấy và bên tai chị vẫn còn vang vọng giọng nói hào hùng phấn khởi và trang trọng của người phát thanh viên Mát-xcơ-va. Còn gì vui bằng suốt một năm ròng rã sống ở đây chị không được nghe lấy một câu tiếng Nga nào cả. Đâu đâu cũng chỉ là tiếng Pháp thánh thót và cái thứ tiếng Đức đáng ghét. Nếu muốn nghe trộm đài Mát-xcơ-va thì chỉ được phép các bản tin bằng tiếng Pháp và Đức. Tuyệt đối không được nghe bằng tiếng Nga. Nguyên tắc nghiêm ngặt này là điều bắt buộc đối với tất cả các nhân viên tình báo khi sống ở xa Tổ quốc. Cuộc sống đã rèn cho Ma-ri-na quen suy nghĩ qua tiếng Đức hoặc tiếng Pháp và để khỏi quên tiếng mẹ đẻ thân yêu, đêm đêm chị thường tự cho phép mình trùm kín chăn khe khẽ đọc một vài bài thơ của Pu-skin mà chị đã học từ thời phổ thông.

Van-te Lan-gren đến An-véc-pen đột ngột và đúng vào lúc gay cấn nhất. Trước đây Ma-ri-na chưa được gặp cũng như chưa hề biết anh nhưng mới đây chỉ được báo tin là sẽ có “một đồng chí” của ta đến gặp chị. Van-te với chiếc va-li đựng điện đài và pin dự trữ, đưa vé tàu cho chị và hướng dẫn ga phải chuyển để đi đường vòng đến Brúc-xen, thủ đô Bỉ.

Xuống ga Brúc-xen, Ma-ri-na đến ngay trung tâm thành phố tìm quán cà phê nhỏ gần nhà băng quôc gia như họ hẹn gặp nhau, Van-te trao hộ chiếu mới cho Ma-ri-na mang tên An-na Run-ca, một ít tiền và địa chỉ thuê phòng.

-Bây giờ chị đi thẳng, qua ngã tư thì rẽ trái,-Van-te nói khẽ khi hai người rời quán giải khát.-Ở đó có hiệu uốn tóc nữ khá lắm. Chị phải làm lại tóc, phải cải dạng mái tóc đi. Nên nhuộc lại màu khác.

-Vâng, tôi sẽ làm ngay.-Ma-ri-na đáp.

-Chưa hết đâu. Chị nên nghĩ cách nào đó thay đổi đặc điểm trên mặt nữa.-Van-te vừa nói vừa ngắm khuôn mặt chị làm Ma-ri-na hơi ngượng.-Nên tạo một nốt ruồi hay hạt cơm nhỏ ở đâu đấy. Tóm lại chị phải có gì
đổi khác so với lúc ở đấy.

Anh không nói rõ là như lúc ở An-véc-pen nhưng thế cũng đủ hiểu. Ma-ri-na muốn đi cạnh người chỉ huy mới của mình một lúc nữa, nhưng anh đã chào tạm biệt và quay đi ngay.

Tên họ thật của Van-te là gì, dĩ nhiên Ma-ri-na không biết được. Nhưng không hiểu sao chị có cảm giác là, ở bên ấy, ở nước Nga quê hương, anh có tên gọi thật giản dị và đáng yêu-Va-nhia và anh sinh ra, lớn lên nơi nào đó ở vùng U-ran. Song hỏi Van-te thì không muốn vì chị biết công việc của họ phải hết sức thận trọng, họ không được phép tò mò tới những việc không liên quan và thật ra nếu có cố hỏi thì anh ta cũng chỉ cười xòa lảng tránh bằng một câu đùa vui khác thôi.

Những cuộc tiếp xúc của họ thường nhanh gọn, ngắn ngủi đến mức những người xung quanh không hề nghĩ rằng họ quen biết nhau. Trong những buổi gặp như vậy, Van-te chỉ kín đáo trao cho chị bao diêm hoặc một vài thứ gì đó bên trong có cuộn tổ sâu một vài tờ giấy mỏng dính chưa đựng nội dung một bức điện, một báo cáo khẩn cấp nào đấy. Ma-ri-na phải mã hóa nó và chuyển ngay về Trung tâm. Nếu có mệnh lệnh hoặc các yêu cầu của Trung tâm thì Ma-ri-na lại chuyển cho Van-te.

Buổi gặp thường lệ hôm nay chị lại nhận được chiếc bao diêm. Cất cẩn thận bao diêm vào túi xách tay đựng vài thứ lặt vặt khác như mẩu sáp môi, lọ nước hoa Pa-ri và ví tiền. Tất cả chỉ có thế vì biết làm sao hơn được trong hoàn cảnh chị phải tiết kiệm tiêu dùng mọi thứ, trừ những thứ thật cần thiết.

Ma-ri-na trở về ngôi nhà cũ kỹ, thong thả bước theo cầu thang lên lầu bốn, vào phòng xong liền đóng chặt ngay cửa lại. Cởi áo khoác, việc đầu tiên của chị là nhóm lò đun nước. Quàng chiếc khăn ấm lên đầu, chị đến giá sách lấy cuốn “Ba người lính ngự lâm” của Đuy-ma và bước lại bàn vừa lần giở trang cần thiêt. Rút mẩu giấy cuộn thuốc lá trong bao diêm ra, chị chăm chú đọc những hàng chữ thẳng tắp, nét chữ cứng cáp rõ ràng và ngồi xuống dịch mã. Từng dãy cột số dần dần hiện ra trên tờ giấy học sinh bình thường.

Soát lại lần nữa bản dịch mã, Ma-ri-na đến bên bếp lửa, dí mẩu giấy thuốc lá vào ngọn lửa đang reo. Trong nháy mắt, mẩu giấy đã biến thành đám tro tàn. Giờ đây, ngoài Ma-ri-na ra, có thể nói trên châu Âu này không còn ai có thể đọc được những dõng chữ số bí hiểm này nữa.

Ma-ri-na vừa nhìn bếp lửa, vừa thầm nghĩ đến người đồng chí bí mật chưa hề quen biết nào đó đã phải mạo hiểm ra sao để lấy những tin quan trọng và giá trị này. Người đó là ai? Chẳng hiểu vì sao bỗng dưng Ma-ri-na lại hình dung rằng nhất định đấy là một con người to lớn, đẹp trai.

Ở Brúc-xen này, khi nhận từ tay Van-te bản tin Ma-ri-na đã để ý ngay đến nét chữ cứng cáp, rõ ràng giống như nét chữ trong các bản tin khi còn ở An-véc-pen. Ở đấy người chuyển tin cho chị là Han-xơ, một người Đức tuổi trung niên dáng chắc nịch và thái độ rất lịch thiệp. Có thể cũng chính là nét chữ của Han-xơ, nhưng Ma-ri-na gạt bỏ ngay giả thiết này vì chính chị đã chứng kiến bọn phát-xít giết anh như thế nào. Có thể nói anh ấy đã hy sinh ngay trước mắt chị và nhờ đó chị đã thoát khỏi cuộc bủa vây của chúng.

Hôm ấy chị đến chỗ hẹn muộn nên phải đi tắc-xi. Gần đến chỗ hẹn ở đài phun nước, Ma-ri-na từ xa đã trông thấy Han-xơ. Anh đứng quay lưng về phía chị, tay cầm tờ báo. Qua cửa kính tắc-xi, Ma-ri-na bỗng thấy hai người đàn ông mặc thường phục và một tên Giét-ta-pô tiến đến sau lưng anh.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #39 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2010, 08:19:18 pm »

Ma-ri-na không nhớ rõ mình đã hét lên như thế nào với lái xe mà chỉ nhớ là chị đã run lên kinh hoàng, líu lưỡi bảo anh ta quay ngay xe lại hướng cũ, chạy thật nhanh thoát khỏi chỗ Han-xơ đang đứng. Người lái xe đứng tuổi sợ hãi, không muốn dính vào chuyện nguy hiểm, thốt lên một lời chửi thề rồi vòng ngay xe lại, rú ga phóng như bay về đường cũ. Khi Ma-ri-na bình thâm lại thì họ đã ở xa trung tâm, đã ra đến ngoại ô An-véc-pen.

-Khóc đủ rồi đấy, người lái xe nói giọng cau có khi thấy Ma-ri-na vẫn thổn thức.-Hãy bình tĩnh lại đi.
Ma-ri-na vừa gật đầu vừa lau nhanh nước mắt. Đợi cho người khách lạ bình tâm hẳn, ông ta mới cho xe đỗ gần bến xe buýt.

-Thưa bà, mong bà hiểu cho, tôi cũng là người yêu nước Bỉ thân yêu của tôi. Tôi cũng căm thù bọn phát-xít! Nhưng mong bà thông cảm và tha lỗi cho vì trên vai tôi còn sáu đứa con nhỏ.-ông vừa nói vừa vỗ vỗ bàn tay lên chiếc cổ cháy nắng.-Tôi còn sáu đứa con, bà hiểu chưa?

-Để tôi trả tiền… Ma-ri-na nhìn vào đồng hồ báo số ki-lô-mét và biết ngay rằng mình không đủ tiền trả.

-Thôi, không cần đâu,-người lái xe lầu bầu.-Tốt nhất xin bà hãy quên chiếc xe tôi đi. Bà cứ coi như chưa bao giờ đi tắc-xi cả.

-Xin cảm ơn ông, cảm ơn ông rất nhiều…

Chờ Ma-ri-na xuống khỏi xe, ông ta liền vòng gấp đưa chiếc “Rơ-nô” về hướng cũ.

Ma-ri-na đứng lại bên vệ đường một lúc, đôi mắt vẫn trân trần nhìn thẳng những chị chẳng nhìn thấy gì cả. Trong đầu óc vẫn còn đọng lại rõ ràng hình ảnh kinh hoàng trước đài phun nước. Chị như vẫn nhìn thấy rõ ràng, hai tên mật vụ đã bất ngờ xô Han-xơ ngã ngay vào chiếc xe ô-tô đang phóng tới và chồm lên anh, chạy thẳng. Đây là lần đầu tiên chị chứng kiến vụ giết người Ma-ri-na rợ do bọn phát-xít gây ra trước mắt mình. Thật dã man không thể hiểu nổi.

Trời cuối thu nên ngày chóng tối. Từ phía kênh đào trải dài một dải sáng xanh mờ ảo dọc theo đường lớn, gió biển ấm áp thổi nhẹ vào thành phố. Phía chân trời mặt trăng lấp ló sau đám mây đang cố nhô cao chậm chạp như bóng ma mờ ảo buồn tẻ của một ngày thu tàn.

Ma-ri-na lặng lẽ chậm rãi cất bước dọc theo bờ kênh, nhớ lại một câu đã đọc trong tờ báo cách đây không lâu: “Chiến tranh-là sự điên loạn cao nhất của con người”. Hôm nay chị đã biết thế nào là chiến tranh.
Chị uể oải bước dọc theo bờ kênh, lòng ngổn ngang suy nghĩ. Cuộc sống xếp đặt thật kỳ lạ. Chỉ là một trường hợp ngẫu nhiên đã cứu chị. Nếu như bà chủ nhà không tự dưng giữ chị lại ở chân cầu thang để huyên thuyên ca cẩm về tư cách bọn thanh niên ngày nay toàn là một bọn hư hỏng. Và nếu không có mấy phút dừng chân bất đắc dĩ đó thì có lẽ Ma-ri-na đã xa vào móng vuốt bọn Giét-ta-pô cùng với Han-xơ rồi.
Chị đi ô-tô buýt về thành phố. Sau đó chị biết rằng một tên khiêu khích đã khai ra Han-xơ ngay cái đêm chị chuyển chiếc va-li đựng điện đài đến căn phòng dự bị.

… Tất cả những hồi ức này cứ dồn dập đến ngay khi chị đang điều khiển điện đài phóng lên không trung những tín hiệu quy ước. Một lát sau, chị đã chuyển tiếp những con số lần lượt từ cột này đến cột khác. Trong những phút giây ngắn ngủi ấy chưa bao giờ chị cảm thấy mình gần gũi Tổ quốc thân yêu như vậy, chưa bao giờ cảm thấy sự đóng góp nhỏ bé của mình vào cuộc chiến tranh vĩ đại lại cụ thể và quan trọng như vậy. Làm xong buổi liên lạc thường kỳ mà Ma-ri-na vẫn thường ví như những “loạt liên thanh”, chị đốt ngay tờ giấy sao điện và cất giấu điện đài.

Chị vui sướng vì buổi liên lạc diễn ra tốt đẹp, người ta tiếp nhận tín hiệu của chị ngay từ “loạt đạn đầu”.

2.

Gió thổi mạnh, phả những hạt tuyết nhỏ lạnh buốt vào mặt, vào mắt. Mi-cla-sốp kéo chiếc cổ áo da lông cừu dày trùm kín mặt thong thả dạo quanh trận địa đèn pha. Tuyết lạo xạo dưới chân. “Băng đã cứng rồi?!-Tốt quá!-Anh thầm nghĩ khi nhìn về xa xa, nơi đoàn xe tải đang chậm chạp bò trên mặt hồ La-đô-ga đóng băng cứng ngắt và từ đấy đang vọng lại tiếng động cơ ì ầm nặng nề. Băng cứng thật có lợi cho chúng ta, đường đi sẽ chắc hơn”.

Bước tới hầm đặt đèn pha giữa các tảng băng lớn, nước hai bên thành hầm chảy ri rỉ, anh chui vào chiếc lều bạt đang trĩu xuống vì tuyết phủ dầy. Gió đang dồn tuyết lại trên mái lều. “Cần phải quét sạch nó đi,-anh quyết định,-nếu không thì toàn đội sẽ bị chìm trong tuyết và không xoay xở gì được khi có báo động”. Hồ La-đô-ga đông băng hun hút gió mang theo từng đợt tuyết dồn thành đống to lù lù trên mặt đường băng, án ngữ cả đoàn xe tải đang nối đuôi nhau theo khoảng cách đều đặn kéo dài từ bờ bên này sang bờ bên kia. Tuy vậy, đoàn xe vẫn lầm lũi bò đi. Các đoàn xe từ hướng đông tới xe nào cũng chất đầy hàng phủ kín vải bạt. Nó chở đến Lê-nin-grát đang bị phong tỏa nào thực phẩm, chất đốt, đạn dược, thuốc men. Còn các đoàn xe từ hướng tây sang thì chở nặng máy móc, thiết bị quý giá của các nhà máy và xí nghiệp lớn ra khỏi Lê-nin-grát.

Việc vận chuyển trên con đường băng liên tục suốt ngày đêm, đã nhiều làn bọn Đức cố tình cắt đứt sợi chỉ mỏng manh nhưng vô cùng quan trọng này. Không quân của chúng đã tấn công hầu như từng ki-lô-mét đường nhưng những trận bom đó cũng không mang lại kết quả gì đáng kể. Mạng lưới phòng không dày đặc đã bảo vệ vững chắc tuyến đường băng thiên tạo này. Các ụ súng đặt ngay trên mặt băng. Thời kỳ đầu, lúc băng chưa thật cứng, một vài khẩu pháo đã bị lăn xuống hồ… Người dân Lê-nin-grát đã nhanh chóng dùng đệm mềm lót cho pháo để khi bắn chúng không bị trơn tuột mỗi khi giật lùi lại sau. Bọn giặc lái Đức đã quyết định chuyển sang đánh đêm. Khi bay đến mục tiêu chúng ném pháo sáng xuống trước và từng đoàn xe hiện rõ ngay trong tầm mắt chúng. Để đánh trả bọn cướp đêm này, suốt dọc tuyến đường đã được bố trí gần trăm ngọn đèn pha mạnh đủ độ sáng bắt mục tiêu cho pháo và các loại súng phòng không bắn được chính xác.

Mi-cla-sốp chỉ huy một trong những đội đèn pha đó. Anh trở về đơn vị mình từ đầu tháng Tám sau khi tạm thời nhập vào đội đột kích của thiếu tá Va-xi-chin chọc thủng vòng vây quân Đức tìm đường về phía quân ta. Đầu tiên họ được phân công bảo vệ sân bay gần thị trấn Can-mu-lốp và về sau được điều về hồ La-đô-ga vào đầu tháng Chạp. Sau vài ngày ra sức xây dựng trận địa họ đã dựng lên trên mặt băng lạnh giá này đầy đủ công sự cho đèn, hầm chỉ huy, ngụy trang xe kéo đèn và mọi lều trại khác.

Do thành tích chiến đấu dũng cảm từ những ngày đầu chiến tranh, nhất là thành tích bắt được tài liệu quan trọng trong chiếc xe tham mưu Đức, Mi-cla-sốp được tặng thưởng huân chương Sao Đỏ đúng vào ngày lễ tháng Mười năm bốn mốt. Anh được mời đến điện Xmôn-nưi. Chuyến đi này để lại trong anh nhiều kỷ niệm khó quên. Sau lễ trao tặng huân chương những người nhận phần thưởng cao quý được mời dự chiêu đãi của bộ tư lệnh mặt trận. Từ ngày đầu chiến tranh đến hôm ấy, lần đầu tiên họ được thưởng thức một bữa ăn ngon lành như vậy. Mỗi người được mời một đĩa cháo kiều mạch thơm phức và béo ngậy. Rồi đến món lợn quay béo ròn, bí tết vàng rộm cùng những cốc vốt-ca đầy tràn. Sau cùng là những chiếc ca nhôm nước trà đường nóng bỏng. Món cháo giản dị hôm ấy hóa ra lại là món ăn ngon nhất, Từ cái ngày đáng ghi nhớ đó đã trong một tháng và cũng từ đấy thỉnh thoảng trước mặt những người lính đèn pha, lính phòng không ở đây cũng có được những ca cháo kiều mạch béo ngậy như vậy.

“Hôm nay bao nhiêu độ nhỉ”-Xốc lại khẩu tiểu liên trước ngực, Mi-cla-sốp thầm hỏi khi gần đến đống tuyết lớn. Giờ đây hầm của họ đã vững chãi hơn. Nó dựng thành một túp lều được bao bọc bởi một lớp tường tuyết dày. Nhờ vậy bên trong “nhà” ấm hơn. Gió không thể thổi vào được nữa. Từ ngoài hoặc trên cao nhìn vào thì nó chỉ là một đống tuyết lớn, không hơn không kém, rất khó phát hiện.

Cửa hầm được đóng một tấm phớt và do bị không khí lạnh làm đông cứng lại nên càng chắc chắn hơn. Trên cánh cửa đó người ta đã khoét một lỗ vuông nhỏ lắp kính và treo chiếc hàn thử biểu vào đấy. Họ tình cờ nhặt được cái đo nhiệt độ này ở trong làng nơi mà các chiến sĩ thường gọi là “miền đất lớn”, gần sân bay.
Mi-cla-sốp lấy tay chùi những hạt tuyết xù xì bám trên bảng chia độ. Cột thủy ngân hạ xuống con số âm 30 và đang có cơ tụt dần xuống con số âm 40 độ.

Ráng chiều lờ mờ của buổi hoàng hôn giống như ánh phản chiếu yết ớt của một đám cháy đang tắt dần báo hiệu một đêm đông giá lạnh đang đổ xuống hồ La-đô-ga.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM