Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:11:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 3  (Đọc 110483 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #30 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 10:50:00 pm »


Lực lượng chủ lực của quân khu bao gồm sư đoàn 320, 304; lữ đoàn 330, 350..., trung đoàn 42, 50, 157... và một số đơn vị binh chủng kỹ thuật, bố trí trên địa bàn các tỉnh từ Hà Bắc, Hải Phòng, Hà Nội..: đến Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, huấn luyện bảo đảm khả năng phối hợp với chiến tranh nhân dân địa phương tác chiến ở các hướng phòng thủ của quân khu trên địa hình đồng bằng, ven biển và sẵn sàng cơ động chi viện cho các chiến trường làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc và nghĩa vụ quốc tế.

Lực lượng dân quân, tự vệ được biên chế thành các đại đội trung đội ở hầu khắp các xã, huyện, xí nghiệp, công trường… tổ chức học tập, huấn luyện theo hướng vừa sản xuất vừa làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ trị an địa phương.

Tháng 4-1964, Quân khu uỷ Quân khu III triển khai những nhiệm vụ quan trọng của Quân uỷ Trung ương giao:

- Hoàn thành kế hoạch phòng thủ và chuẩn bị chiến đấu của toàn quân khu. Thực hiện tốt và gọn việc điều chỉnh bố trí lực lượng theo đội hình tổ chức quân khu.

- Tiếp tục huấn luyện, xây dựng bộ đội tiến lên chính quy hiện đại phù hợp với khả năng và thực tiễn của ta, phù hợp với nhiệm vụ phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu của quân khu nhằm tăng cường sức chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội.

- Cùng với cấp uỷ địa phương củng cố, nâng cao chất lượng chính trị, trình độ quân sự cho dân quân, tự vệ nhằm nâng cao khả năng tác chiến, bảo vệ trị an, đối phó có hiệu quả với hoạt động phá hoại của địch, đồng thời là lực lượng nòng cốt xung kích trong mọi công tác ở địa phương.

- Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng.

Căn cứ nhiệm vụ nói trên, Quân khu uỷ tập trung chỉ đạo ba nhiệm vụ cơ bản: Nhiệm vụ tác chiến, nhiệm vụ xây dựng lực lượng thường trực và hậu bị, nhiệm vụ chỉ đạo quan hệ giữa kinh tế và quốc phòng.

Giữa năm 1963, hệ thống phòng thủ của quân khu bao gồm: hệ thống đường hầm, công sự, công trình quốc phòng trên địa bàn quân khu theo phương án tác chiến cơ bản chống chiến tranh xâm lược từ nhiều phía được xây dựng, hoàn thiện.

Quán triệt các nhiệm vụ chính trị - quân sự - kinh tế, của Quân khu uỷ và Bộ Tư lệnh quân khu, gần sáu vạn quân chủ lực và hơn một triệu dân quân, tự vệ trong quân khu đã kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Lực lượng vũ trang và bán vũ trang thực hiện lời dạy của Hồ Chủ tịch “Mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi xóm làng, xí nghiệp, khu phố, cơ quan là một pháo đài”, ngày đêm ra sức xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ở các vùng xung yếu ven biển, hải đảo và các trục đường giao thông quan trọng, thực hành huấn luyện và diễn tập, không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu. Dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, với tinh thần cảnh giác cao, dân quân, tự vệ các huyện miền núi Bắc Giang, quân và dân các tỉnh Thái Bình, Hải Phòng đã phối hợp chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ các toán biệt kích thâm nhập bằng đường bộ, đường không, đường biển vào địa bàn quân khu. Đặc biệt, quân và dân tỉnh Ninh Bình do chuẩn bị tốt công tác phòng chống gián điệp, biệt kích, sẵn sàng chiến đấu cao, đêm ngày 1 rạng ngày 2-7-1961 đã nổ súng kịp thời, chính xác bắn rơi chiếc máy bay C47 của Mỹ, ngụy tại bãi biển Cồn Thoi (Kim Sơn), diệt và bắt 10 tên, thu toàn bộ vũ khí khí tài hoạt động. Việc tiêu diệt và bắt sống toàn bộ toán gián điệp, biệt kích ngụy do Mỹ huấn luyện, trang bị thả ra miền Bắc, chứng tỏ tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao của quân, dân tỉnh Ninh Bình, là kết quả bước đầu của việc xây dựng kế hoạch chiến lược bảo vệ miền Bắc theo tinh thần nghị quyết của Bộ Chính trị tháng 2-1961.

Trên địa bàn Quân khu IV1, xuất phát từ đặc điểm tình hình nằm trên tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngay từ những năm đầu của kế hoạch quân sự năm năm lần thứ nhất (1955-1960), Quân khu IV đã ra sức xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh để làm thất bại các hành động khiêu khích phá hoại của địch, đồng thời tích cực xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, đáp ứng được với nhiệm vụ chiến đấu mới.

Bước vào năm 1961, khi kế hoạch quân sự năm năm lần thứ hai của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương được triển khai, Quân khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu IV, một mặt, vừa lãnh đạo lực lượng vũ trang ba thứ quân luyện tập nâng cao sức mạnh chiến đấu; mặt khác, lãnh đạo quân và dân trong quân khu triển khai và củng cố hệ thống phòng thủ, lập nhiều phương án tác chiến phòng ngừa địch tiến công từ nhiều hướng đất liền, trên biển, trên không vào quân khu.

Với phương châm kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng các làng xã chiến đấu ở các vùng trọng điểm (ven biển, ven giới tuyến, trục đường quốc lộ quan trọng) với việc bố trí lực lượng ba thứ quân thành thế liên hoàn, dễ cơ động, sao cho khi xảy ra tác chiến, các đơn vị có thể đối phó kịp thời làm thất bại mọi hành động xâm lược của địch.
_____________________________________
1. Gồm các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #31 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 10:50:35 pm »


Tháng 7-1962, Đại hội đại biểu đảng bộ quân khu lần thứ hai vạch ra phương hướng nhiệm vụ cơ bản của các lực lượng vũ trang quân khu với tư tưởng chỉ đạo “đánh thắng trận đầu, bắn trúng, bắn rơi khi địch xâm phạm không phận, hải phận quân khu”.

Dưới sự chỉ đạo của quân khu, đầu năm 1963, lực lượng vũ trang nhân dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình mở cuộc vận động “xây dựng lực lượng hậu bị” nhằm củng cố và tăng cường chất lượng đội ngũ dân quân, tự vệ và bộ đội địa phương, thực hiện tốt công tác đăng ký huấn luyện quân dự bị. Đặc biệt, trên địa bàn Vĩnh Linh, nơi tiếp giáp với địch ở miền Nam, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh quân khu cùng đảng uỷ, chính quyền địa phương thống nhất chủ trương chỉ đạo các lực lượng vũ trang tăng cường cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, bình tĩnh không để địch khiêu khích, đồng thời hoàn thiện các phương án tác chiến, giữ thế chủ động. Cuối năm 1963, quân khu đã hoàn thành việc xây dựng ba tuyến phòng thủ cơ bản: tuyến phòng thủ giới tuyến, tuyến phòng thủ bờ biển và tuyến phòng thủ biên giới Việt - Lào.

Sau ba năm triển khai kế hoạch quân sự năm năm lần thứ hai, quân khu đã xây dựng được lực lượng vũ trang ba thứ quân gồm: Lực lượng chủ lực quân khu có sư đoàn 325, 341, lữ đoàn 324... các đoàn 924, 925, 927, 22, 271... với hơn năm vạn quân được trang bị vũ khí cá nhân và hoả lực tương đối hiện đại. Các đơn vị được huấn luyện chiến thuật tiến công và phòng ngự, phản công cấp tiểu đoàn, trung đoàn trên các địa hình và trong công sự vững chắc, sát với thực tế chiến đấu ở chiến trường B, C. Lực lượng dân quân, tự vệ gần 60 vạn người, 825 xã đã xây dựng được trung đội và đại đội dân quân. Đội ngũ dân quân, tự vệ đông đảo này vừa là lực lượng xung kích trong lao động sản xuất, vừa là lực lượng quan trọng bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên các địa phương. Từ năm 1961 đến năm 1963, lực lượng dân quân, tự vệ Quân khu IV đã truy quét 95 toán gián điệp, biệt kích xâm phạm vùng biển, biên giới địa bàn quân khu. Nhiều gương điển hình trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu xuất hiện ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Các địa phương Kỳ Lợi (Hà Tĩnh), Cửa Hội (Nghệ An), đã được quân khu tặng danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”. Nổi bật nhất là dân quân xã Mai Thuỷ (Lệ Thuỷ, Quảng Bình) được Hội đồng Chính phủ tuyên dương “Đơn vị tiên tiến” năm 1962.

Quân khu Việt Bắc1, căn cứ địa của cách mạng, “thủ đô” của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau năm 1954, hoà bình được lập lại trên miền Bắc, quân và dân trong quân khu đã tập trung sức lực, trí tuệ khôi phục nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Do đặc điểm vùng cao, đa số là đồng bào các dân tộc thiểu số, trình độ văn hoá, dân trí thấp, đến năm 1960, khu tự trị Việt Bắc vẫn chưa theo kịp các quân khu đồng bằng về xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá và cung cố quốc phòng an ninh, v.v…

Năm 1961, để thực hiện kế hoạch quân sự năm năm lần thứ hai (1961-1965) của Quân ủy Trung ương, Quân khu uỷ và Bộ Tư lệnh quân khu đã đề ra chủ trương “xây dựng kinh tế đi đôi với củng cố quốc phòng; xây dựng quân đội củng cố quốc phòng kết hợp chặt chẽ với xây dựng kinh tế”, trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng bộ đội chủ lực quân khu, nâng cao sức mạnh chiến đấu tại chỗ và cơ động; đồng thời, ra sức phát triển lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc hậu phương, thực hiện chi viện sức người, sức của cho miền Nam, làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào.

Lực lượng chủ lực của quân khu trong những năm 1961-1964 được Bộ Quốc phòng quy định 6.000 quân. Trung đoàn bộ binh 246 được biên chế khoảng 2.000 người, trang bị vũ khí, khí tài tương đối đầy đủ. Hai lữ đoàn 305, 368 (là khung huấn luyện) được biên chế khoảng 1.000 người. Số quân còn lại ở các trung đội, đại đội của 10 tỉnh, trường quân chính, quân khu Bộ...

Lực lượng dân quân, tự vệ tăng cường theo mức quy định hằng năm, lúc đông nhất (1964) khoảng 30 vạn, chiếm 9% dân số trong khu. Đội ngũ này được biên chế thành trung đội, đại đội, trong số đó có 6.000 người thuộc diện dự bị loại một, luôn sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ chiến đấu.

Lực lượng vũ trang ba thứ quân được huấn luyện sát với thực tế chiến đấu, sát với địa hình, đối tượng tác chiến. Bộ đội chủ lực huấn luyện tác chiến hiệp đồng binh chủng, tác chiến độc lập, tác chiến trong điều kiện có chuẩn bị hoặc không được chuẩn bị, nhằm đáp ứng nhiệm vụ chiến đấu ở miền Nam và Lào. Dân quân, tự vệ huấn luyện thuần thục 5 môn kỹ thuật, hiệp đồng chíến đấu trên các địa bàn (liên xã, huyện), huấn luyện khoa mục bắn máy bay tầm thấp... do kết hợp tốt nhiệm vụ sản xuất với sẵn sàng chiến đấu, những năm 1961-1964, quân và dân trong quân khu đã giành được thắng lợi to lớn trong việc tiễu phỉ, trừ gian trong nội địa và tiêu diệt các toán biệt kích do Mỹ, ngụy thả xuống địa bàn Việt Bắc. Năm 1961, quân và dân tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai... gọi hàng và bắt 5 toán thổ phỉ gồm 115 tên. Sau khi đập tan cuộc bạo loạn cướp chính quyền của bọn phỉ ở huyện Đồng Văn cuối năm 1959, quý một năm 1962, quân và dân Hà Giang lại cùng với quân và dân các tỉnh Cao Bằng, Lào Cai mở đợt truy quét toàn bộ hang ổ bọn phỉ ở Tây Côn Lĩnh, diệt và bắt 41 tên, thu nhiều tang vật. Các đợt truy quét thổ phỉ thắng lợi tạo đà cho quân và dân trong quân khu tiêu diệt các toán gián điệp do Mỹ - ngụy tung ra. Trong 3 tháng (4,5,7-1963), Mỹ - ngụy thả ba toán gián điệp xuống Khe Cót, Văn Bàn (Yên Bái), Bảo Thắng (Lào Cai), bị quân và dân hai tỉnh diệt năm tên, bắt mười hai tên. Năm 1964, quân và dân Phủ Thông (Bắc Cạn), Trấn Yên (Yên Bái), Lạng Sơn, Lào Cai diệt và bắt gọn 12 toán gián điệp gồm 48 tên, thu nhiều vũ khí, trang bị... Kết quả này tạo điều kiện cho cuộc vận động “cải cách dân chủ”, phát triển sản xuất thắng lợi ở các tỉnh trong quân khu.
_____________________________________
1. Gồm tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phú Thọ có 72 huyện, 1.575 xã, 2,5 triệu dân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #32 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 10:51:11 pm »


Quân khu Tây Bắc1 được biên chế hai lữ đoàn 335, 316, một trung đoàn bộ binh 148, bốn tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật (pháo binh, công binh, thông tin, cao xạ) và một số đại đội tiểu đoàn trực thuộc tỉnh đội, huyện đội với tổng số quân khoảng 5000 người.

Xuất phát từ đặc điểm của một quân khu vùng cao, đất rộng, người thưa, núi non hiểm trở, có đường biên giới với Lào dài hàng trăm cây số, phái phản động cực hữu Lào tay sai Mỹ móc nối với bọn thổ phỉ nội địa thường xuyên quấy phá làm cho tình hình kinh tế - xã hội và an ninh ở quân khu vốn đã khó khăn càng khó khăn hơn. Để thực hiện kế hoạch quân sự năm năm lần thứ hai (1961-1965) của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, tháng 6-1961, Quân khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu Tây Bắc đã cùng với tỉnh uỷ, uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La, Lai Châu họp bàn về nhiệm vụ kết hợp xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng, tích cực xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, bảo vệ vững chắc địa bàn quân khu và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào.

Bộ đội chủ lực được huấn luyện thành thạo các hình thức tác chiến tiến công, tập kích, phục kích, đánh địch đổ bộ đường không cấp tiểu đoàn, trung đoàn; trong đó chú trọng huấn luyện chiến thuật phân đội nhỏ trên địa hình núi cao rừng rậm, thời tiết khác nhau với đối tượng tác chiến là Mỹ- ngụy (miền Nam và Lào) và bọn phản động Thái Lan, diễn tập đánh địch ở một số vùng trọng điểm biên giới (Việt - Lào), ở một số huyện địch có khả năng đổ bộ đường không... nhằm nâng cao trình độ tác chiến mọi mặt.

Cuối năm 1964, dân quân, tự vệ toàn quân khu có khoảng 219.867 người, chiếm tỉ lệ 8,2% dân số. Hơn 10.000 người trong số đó được tuyển làm dự bị loại một, số còn lại là dự bị loại hai. Mỗi năm có khoảng 650 chiến sĩ xuất ngũ theo chế độ nghĩa vụ quân sự chuyển sang ngạch dự bị một. Lực lượng dân quân, du kích, tự vệ ở các huyện được biên chế thành trung đội, đại đội; riêng huyện Phù Yên xây dựng được tiểu đoàn. Nội dung huấn luyện cho dân quân, tự vệ biết sử dụng thành thạo các loại vũ khí cá nhân (CKC, tiểu liên, trung liên), hợp luyện chiến đấu trung đội, đại đội giữ gìn trật tự, trị an, diệt thổ phỉ, biệt kích, trấn áp bọn phản cách mạng, sẵn sàng tham gia bộ đội thường trực.

Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu: Sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt quân địch xâm nhập vào quân khu bằng đường bộ hoặc đường không, dập tắt các cuộc bạo loạn nội địa, chuẩn bị lực lượng, khi có lệnh xuất kích ra tuyến ngoài được nhanh chóng, tiếp tục chuẩn bị mọi mặt cho phòng thủ lâu dài, Quân khu Tây Bắc dự kiến phương án tác chiến đánh biệt kích đổ bộ đường không hoặc đường rừng qua biên giới để móc nối phối hợp với bọn phản động nội địa phá hoại hậu phương ta. Các phương án tác chiến và kế hoạch được phổ biến xuống tận làng xã. Một số tỉnh như Lai Châu, Sơn La thành lập “Ban phòng thủ trị an”, “Ban chống biệt kích”.

Do làm tốt nhiệm vụ phòng thủ và nhiệm vụ xây dựng lực lượng ba thứ quân, trong ba năm (1961-1963) quân và dân trong quân khu lùng bắt được 12 vụ xâm phạm trái phép biên giới, 10 toán thổ phỉ 40 tên, năm toán biệt kích 20 tên, 240 tên phản động nằm vùng, bảo vệ an ninh địa bàn quân khu, tạo điều kiện cho nhân dân các dân tộc phát triển kinh tế - văn hoá.

Song song với việc cải tiến tổ chức, biên chế, trang bị, Đảng và Nhà nước coi công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho lực lượng vũ trang, đặc biệt là trong quân đội thường trực nhằm nâng cao nhận thức, mục tiêu, lý tưởng cách mạng và thường xuyên trau dồi đạo đức cộng sản cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân.

Bước vào những năm đầu của kế hoạch quân sự năm năm lần thứ hai, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng tăng cường chỉ đạo chặt chẽ việc biên soạn tài liệu công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, xây dựng hệ thống chương trình học tập về chủ nghĩa Mác - Lênin (triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học), lịch sử Đảng để giảng dạy trong các nhà trường, học viện đào tạo sĩ quan và giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị. Các tài liệu Công tác bí thư đảng uỷ, Công tác chính trị đại đội được in thành sách cấp phát tới tiểu đoàn, đại đội để cán bộ chính trị các cấp nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ công tác đảng, công tác chính trị, hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của mình.

Được giáo dục thường xuyên và tương đối có hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng, trình độ giác ngộ chính trị, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội được nâng lên một bước rõ rệt. Cán bộ cao cấp, trung cấp đều chủ động đi sâu nghiên cứu nghệ thuật quân sự Việt Nam, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn để soạn thảo nội dung, phương pháp huấn luyện bộ đội sát thực với đối tượng tác chiến mới. Cán bộ đại đội, tiểu đoàn, căn cứ nội dung chương trình huấn luyện của trung đoàn, sư đoàn, xây dựng kế hoạch huấn luyện bộ đội theo nền nếp chính quy. Cán bộ trung đội, tiểu đội thông qua học tập tại chức và tại trường, duy trì huấn luyện tốt chiến sĩ trong đơn vị tinh thông kỹ thuật, chiến thuật, rèn luyện bản lĩnh chiến đấu, chịu đựng dẻo dai, bền bỉ. Chất lượng đội ngũ cán bộ là khâu quyết định việc xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội, vì vậy, cơ quan cán bộ và Bộ Quốc phòng căn cứ vào tiêu chuẩn chính trị trong sạch, lập trường giai cấp vững vàng, có năng lực tổ chức, chỉ huy đơn vị hoàn thành mọi nhiệm vụ để đề bạt, sắp xếp cán bộ, bảo đảm chất lượng. Đây là thành công quan trọng của kế hoạch quân sự năm năm lần thứ hai, một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.
_____________________________________
1. Gồm các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #33 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 10:51:53 pm »


Đến năm 1964, số cán bộ quân đội ở miền Bắc có 41.420 người (trong tổng số 52.041 trên cả nước) chiếm 18% quân số ở hậu phương lớn. Đội ngũ cán bộ có cơ cấu đáp ứng nhiệm vụ xây dựng quân đội chính quy, hiện đại gồm nhiều binh chủng hợp thành1. Trong ngạch dự bị, số cán bộ đăng ký lên đến 123.000 người. Đội ngũ cán bộ chỉ huy dân quân, tự vệ lên đến 320.000, trong đó có 54.000 đã được tập huấn ở các trường quân sự.

Công tác xây dựng đảng trong quân đội cũng được kiện toàn, củng cố. Các đại đội đều có chi bộ đảng, 60% chi bộ có đủ đảng viên để bầu cấp uỷ; 30% số tiểu đội bộ binh và khẩu đội pháo binh có đảng viên. Trong quá trình xây dựng, huấn luyện, hàng vạn đoàn viên ưu tú, hàng nghìn cán bộ, nhân viên kỹ thuật trở thành đảng viên.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội xây dựng trong 10 năm (1954-1964) đặc biệt là trong kế hoạch quân sự năm năm lần thứ hai (1961-1965) không chỉ đảm bảo lãnh đạo chỉ huy một quân đội gồm nhiều quân, binh chủng sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ thắng lợi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn có ý nghĩa chủ động chuẩn bị trước một bước đội ngũ cán bộ quân sự - chính trị có đủ đức đủ tài sẵn sàng đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn, lâu dài và rất ác liệt của địch.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội, đặc biệt là huấn luyện cán bộ, Bộ Quốc phòng chủ trương tổng kết kinh nghiệm chiến đấu của quân đội ta, vận dụng kinh nghiệm chiến đấu của quân đội các nước anh em, khẩn trương nghiên cứu, biên soạn các tài liệu huấn luyện chiến thuật, chiến dịch để sử dụng thống nhất trong toàn quân. Công tác huấn luyện được đấy mạnh làm cho mọi đơn vị và cơ quan thuộc các quân chủng, binh chủng có thể hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trong mọi tình huống.

Qua hai năm (1961-1963) Bộ Quốc phòng đã biên soạn được nhiều công trình tổng kết kinh nghiệm đấu tranh vũ trang, xây dựng lực lượng vũ trang trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong đó có một số công trình có giá trị thiết thực như: Tổng kết một số chiến dịch quan trọng của bộ đội chủ lực, tổng kết chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, tổng kết công tác đảng, công tác chính trị, tổng kết công tác hậu cần của từng chiến dịch, chiến trường... Tổng kết những kết quả bước đầu trong việc nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự, Bộ Quốc phòng chỉ đạo biên soạn bổ sung, nâng cao các giáo trình huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, huấn luyện sát với thực tế chiến đấu. Huấn luyện đánh quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc hoặc đóng quân bên ngoài, huấn luyện chiến thuật đánh thọc sâu đánh địch co cụm, kết hợp đột phá tiến công vào những hướng địch sơ hở với bao vây vu hồi, tạo thế bao vây chia cắt tiêu diệt từng bộ phận quân địch. Trong phòng ngự, từ chỗ dựa vào các tuyến chiến hào liên hoàn, bộ đội chuyển sang huấn luyện chiến đấu phòng ngự theo hướng, chốt chặn giữ vững trận địa trên những hướng quân địch tiến công, kết hợp phản kích đánh địch đột nhập trận địa, đánh quân địch đổ bộ đường không, đường thuỷ...

Thực tiễn cuộc chiến đấu đang diễn ra ở miền Nam thôi thúc cán bộ, chiến sĩ học tập, huấn luyện sát thực tế chiến trường và yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu. Các đơn vị phòng không, công binh, hoá học, vận tải, quân y... trong khi làm nhiệm vụ đã kết hợp với huấn luyện tác chiến hiệp đồng quy mô nhỏ và vừa. Đồng thời, thông qua thực tế chiến trường, các đơn vị (nhất là bộ binh) huấn luyện cán bộ, chiến sĩ biết sử dụng nhiều loại vũ khí, trang bị để có thể kiêm nhiệm, thay thế nhau trong chiến đấu.

Để đánh giá kết quả xây dựng, huấn luyện quân sự trong từng giai đoạn (1961-1963), (1963-1964), các sư đoàn chủ lực trực thuộc Bộ Quốc phòng và các lữ đoàn chủ lực các quân khu đã tổ chức nhiều cuộc diễn tập chiến đấu hiệp đồng binh chủng trong tiến công và phòng ngự trên các địa hình rừng núi, đồng bằng có nhiều sông suối, đầm lầy và trên những trục đường giao thông có nhiều cầu, phà để bộ đội biết xử lý những tình huống phức tạp. Cuộc diễn tập của sư đoàn bộ binh 308 có pháo binh, thiết giáp, công binh, thông tin, vận tải phối hợp ở khu vực Thanh Oai (Hà Tây) năm 1961, ở khu vực Cẩm Giàng (Hải Hưng) năm 1962, đánh dấu bước phát triển mới về khả năng cơ động, trình độ chiến đấu của lực lượng chủ lực cơ động trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Bộ đội chủ lực các quân khu cũng tổ chức nhiều cuộc diễn tập chiến đấu tiến công và phòng ngự trên địa hình rừng núi, địa hình đồng bằng, đánh địch đổ bộ đường không, đường biển ở những địa bàn dự kiến khi có chiến tranh xảy ra. Thông qua diễn tập, Bộ Tổng tham mưu, bộ tư lệnh các quân khu, quân, binh chủng kịp thời rút kinh nghiệm bố sung về tổ chức chỉ huy, tổ chức hậu cần, biên chế, trang bị, vận dụng các hình thức tác chiến và mối quan hệ hiệp đồng chíến đấu giữa các binh chủng, giữa lực lượng chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương.
_____________________________________
1. 1954: 90% cán bộ là bộ binh.
    1964: 50% cán bộ là bộ bình, 50% là cán bộ binh chủng kỹ thuật.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #34 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 10:52:21 pm »


Như vậy, trong thời kỳ xây dựng kế hoạch quân sự năm năm lần thứ hai (1961-1965), các lực lượng vũ trang nhân dân ta đã có những bước phát triển mới cả về số lượng lẫn chất lượng, đáp ứng được yêu cầu bảo vệ miền Bắc, sẵn sàng chiến đấu chi viện cho miền Nam. Riêng Quân đội nhân dân, trong vòng năm năm (1961-1965) xây dựng đã hình thành cơ cấu tổ chức của một quân đội hiện đại gồm ba quân chủng Lục quân, Phòng không - Không quân, Hải quân. So với kế hoạch quân sự năm năm lần thứ nhất (1955-1960), thời kỳ đặt nền móng cho quân đội ta xây dựng chính quy, tương đối hiện đại, thì rõ ràng thành tựu thời kỳ xây dựng kế hoạch quân sự năm năm lần thứ hai, sức mạnh chiến đấu của bộ đội ta được nâng lên một bước rõ rệt về mọi phương diện (từ con người đến vũ khí, trang bị, từ lý luận chính trị, quân sự đến nghệ thuật tác chiến, v.v…). Đặc biệt, bộ đội chủ lực cơ động trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh và của các quân khu không những được tăng cường một bước về trang bị vũ khí, kỹ thuật tương đối hiện đại, mà về tổ chức biên chế từng đơn vị cũng được bảo đảm cho nhiệm vụ xây dựng, sẵn sàng chiến đấu, khi cần có thể nhanh chóng mở rộng lực lượng theo yêu cầu của chiến tranh. Đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội trưởng thành nhanh chóng về số lượng, chất lượng nhờ sự tăng trưởng toàn diện về văn hóa - xã hội - kinh tế mà chế độ xã hội chủ nghĩa đã đem lại. Đối với lực lượng dân quân, tự vệ qua bốn năm (1961-1964) xây dựng và phát triển, 1,5 triệu công dân nam từ 18 đến 45 tuổi đã đăng ký quân dự bị, trên 10 vạn bộ đội xuất ngũ làm nòng cốt. Mỗi xã xây dựng được hàng trăm dân quân, du kích. Các tỉnh, thành và quân khu tổ chức động viên lực lượng quân dự bị tập dượt sẵn sàng chiến đấu trên các vùng trọng điểm chống biệt kích đường biển, đường không, bắn máy bay, v.v… Nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, Đảng, nhân dân và quân đội ta đã vượt qua nhiều khó khăn của một nước nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp chưa phát triển, xây dựng được một số quân, binh chủng kỹ thuật, cải tiến một bước quan trọng trình độ trang bị của các lực lượng vũ trang.

So với chỉ tiêu kế hoạch, đặc biệt là trước nhiệm vụ chiến đấu ngày càng khẩn trương ở các chiến trường, quân đội ta còn thiếu pháo cơ giới, vũ khí phòng không tầm cao, xe tăng, thiết giáp, khí tài công binh, thông tin, xe vận tải. Mặc dù vậy, thành tích đã đạt được về phát triển lực lượng, tổ chức biên chế, trang bị, huân luyện là một bước tiến mới trên con đường xây dựng chính quy, hiện đại, có ý nghĩa quyết định nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta, của các lực lượng vũ trang nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Lúc này, tình thế chiến lược và yêu cầu phát triển cuộc kháng chiến ở miền Nam đặt ra cho hậu phương miền Bắc những nhiệm vụ rất to lớn và nặng nề. Làm thế nào để chi viện kịp thời, đầy đủ cho chiến trường trong khi đường vận tải biển chưa khai thông, đường Trường Sơn gùi thồ mới mở đến phía bắc A Túc (Tây Thừa Thiên)? Trước tình hình đó, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng quyết định tăng thêm lực lượng cho Đoàn 559 khẩn trương soi đường gùi thồ vào Nam, đồng thời, điều hai tiểu đoàn bộ binh 929, 44, tiểu đoàn cao xạ 14, tiểu đoàn 15 công binh thuộc Quân khu IV phối hợp với lực lượng Pathét Lào mở chiến dịch 128 nhổ bật các vị trí địch ở biên giới Việt - Lào theo lộ 12 đến Nađu, Nhommarát. Hạ tuần tháng 4-1961, ta và bạn mở tiếp chiến dịch Trung Lào đánh dọc đường số 9, giải phóng Cha Ky, Bản Đông, Sêpôn, Mường Phin, giúp bạn mở rộng vùng căn cứ kháng chiến Trung - Hạ Lào, qua đó, đề nghị với bạn giúp ta chuyển con đường vận tải chiến lược sang phía Tây Trường Sơn. Được Trung ương bạn đồng ý và giúp đỡ, cuối tháng 4-1961, Bộ Tư lệnh Quân khu IV điều hai tiểu đoàn công binh 15 và 25 thuộc sư đoàn 325, tiểu đoàn 3 công binh, trung đoàn 101 và tiểu đoàn 929 tỉnh đội Hà Tĩnh mở đường ô tô 129 nối đường 12 với đường số 9. Do nhận thức rõ yêu cầu cấp bách của chiến trường, cán bộ, chiến sĩ công binh đã khắc phục mọi khó khăn về vật chất và thời tiết, lao động quên mình, chỉ trong hai tháng, đã mở xong đường ô tô từ ngã ba Khe Ve (đường số 15 và số 12) đến Banaphào, đường số 9, Ha Lạp. Trung đoàn 98 công binh của bộ được điều vào nam đường số 9, khôi phục con đường từ Bản Đông đến Mường Noòng, sau đó, mở tiếp đến sông Bạc. Trong khi các đơn vị công binh mở đường, Tổng cục Hậu cần cũng khẩn trương tổ chức các khu tập kết tạm dừng để vượt trọng điểm trên đương số 15 tại ngã ba dốc Bò Lăn, Trại Lạt, Tân Kỳ, Linh Cảm, Truông Bát, Địa Lợi, Thanh Lạng, Ka Táng, Hang Rục, Khe Gát, Troóc... Cuối tháng 6-1961, Tổng cục Hậu cần điều đoàn xe 225 và 245 chở hàng từ các tổng kho ở Hà Nội đến tổng kho R đặt tại Hoá Thanh, Hoá Tiến ở ngã ba Khe Ve, tạo thành chân hàng tại đây cho Đoàn 559 vượt Trường Sơn, vận chuyển tiếp vào Mường Phin, Sê Pôn. Cuối năm 1963, Bộ Tổng tham mưu tăng cường hai trung đoàn công binh 83 và 98 cùng với lực lượng 559 mở tiếp đường vận chuyển cơ giới đến sông Bạc. Những năm tiếp theo, tiếp tục mở các đường ô tô trục ngang từ đông Trường Sơn sang tây Trường Sơn là đường số 10, số 18, số 16, số 42 để tạo thành hệ thống đường vượt khẩu chống địch ngăn chặn. Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 325 cũng được lệnh hành quân gấp sang nước bạn sửa chữa, khôi phục sân bay Tà Khống theo thoả thuận giữa ta và Pathét Lào. Song song với việc mở đường ô tô, ta xoi đường gùi thồ xuyên qua các cánh rừng rậm và dốc núi cheo leo vào đến Tây Nguyên để nối thông với mạng vận tải từ miền Đông Nam Bộ, từ khu VI mở ra. Đường hẹp, ngoằn ngoèo, dốc đứng chỉ đủ cho người đi bộ và gùi thồ hàng. Trong khi các đoàn xe vận tải chở hàng vào các tổng kho Khe Ve, Banaphào... thì trung đoàn không quân vận tải 919 do phi công Liên Xô lái cũng gấp rút vận chuyển hàng trăm tấn hàng sang sân bay Tà Khống. Từ các chân hàng ở đường số 9 và sân bay Tà Khống, các chiến sĩ trung đoàn 70 (Đoàn 559) dùng xe đạp thồ, ngựa, gùi vận chuyển đến A Túc để lực lượng vận tải các chiến trường (chủ yếu là Quân khu V) vận chuyển tiếp vào Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Các cung trạm giao liên dọc đường Trường Sơn được tổ chức, đảm bảo đưa đón được các đơn vị cấp đại đội tiểu đoàn hành quân vào chiến trường. Qua tuyến vận tải chiến lược 559 đến giữa năm 1963, gần 4 vạn cán bộ, chiến sĩ (phần đông là cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết) trong đó có 2000 cán bộ cao cấp, trung cấp, nhân viên kỹ thuật hành quân vào đến tiền tuyến lớn (chiếm 50% lực lượng vũ trang tập trung, 80% số cán bộ, nhân viên kỹ thuật trong các cơ quan chỉ đạo, chỉ huy ở miền Nam lúc bấy giờ). Khối lượng vật chất, kỹ thuật vận chuyển theo con đường Trường Sơn mang tên Bác đến chiến trường khu V, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ trong năm 1964 tăng gấp bốn lần năm 1963. Đó là những lực lượng rất quan trọng góp phần tăng nhanh số lượng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #35 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 10:52:48 pm »


Đường Trường Sơn được mở cả đường ô tô và gùi thồ bao gồm các trục dọc và ngang tạo thành hệ thống đường chiến lược không thể chia cắt là một kỳ công của hậu phương lớn, là biểu tượng của ý chí và niềm tin của toàn đảng, toàn dân tộc quyết tâm chiến thắng giặc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam.

Việt-Lào là hai nước anh em có chung một kẻ thù và cùng sát cánh bên nhau vì cách mạng của mỗi nước, do vậy Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh Việt Nam đã họp bàn với ban lãnh đạo Pathét Lào đáp ứng yêu cầu của bạn đã chỉ thị cho Quân khu IV, Quân khu Tây Bắc đưa một số quân tình nguyện sang phối hợp chiến đấu với lực lượng vũ trang Pathét Lào. Tiếp theo chiến thắng Trung Lào tháng giêng năm 1961, liên quân Lào - Việt mở chiến dịch phản công ở Thượng Lào, giải phóng Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng rồi tiến thẳng đến SalaPhucun trên quốc lộ số 13, uy hiếp thủ đô Viêng Chăn. Bị giáng đòn đau, thất bại nặng nề, chính quyền phái hữu Lào lúng túng, Mỹ đang gỡ thế bí ở miền Nam Việt Nam, chúng chủ trương tạm thời hoà hoãn ở Lào, chấp nhận mở hội nghị quốc tế về Lào có ba phái tham gia tại Gionevơ tháng 5-1961.

Chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng làm cho thế và lực cách mạng Lào phát triển, lực lượng vũ trang mạnh thêm, uy tín của Neo Lào Hắcxạt ngày càng tăng mạnh trong nhân dân Lào, vùng giải phóng được mở rộng, tương đối hoàn chỉnh. Đây cũng là sự hỗ trợ tích cực, mạnh mẽ đối với cách mạng Việt Nam.

Mùa xuân năm 1962, cách mạng Lào phát triển mạnh. Từ tháng Một đến tháng Ba năm 1962, bộ đội Pathét Lào giải phóng hầu hết phía bắc tỉnh Luông Pha Băng. Đầu tháng 4-1962, theo yêu cầu của bạn tiếp tục mở rộng vùng giải phóng Trung và Thượng Lào, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam điều động bảy tiểu đoàn bộ binh và một số đơn vị binh chủng sang phối họp chiến đấu với lực lượng vũ trang Pathét Lào. Cuối tháng Tư, liên quân Lào - Việt tiến công diệt một số vị trí địch ở vòng ngoài, tạo thế tiến công địch ở Nậm Thà. Sau một tháng tiến công liên tục, ngày 8-5, liên quân Lào- Việt loại khỏi vòng chiến đấu 16.000 tên địch, giải phóng Mường Sinh, Nậm Thà, mở rộng vùng giải phóng Bắc Lào thêm 800 km2 với 76.000 dân.

Bị đánh đau, Mỹ vội vã phản ứng bằng cách tăng cường sự có mặt của lực lượng tàu biển Mỹ tới vùng biển Đông, cho một số đơn vị lính thuỷ đánh bộ lên đất Thái Lan để ngăn đe. Nhưng, trước áp lực dư luận quốc tế và sức mạnh cách mạng Lào, Mỹ buộc phải lùi một bước chấp nhận giải pháp lập chính phủ liên hợp ba phái và tiếp tục đến Giơnevơ ngồi vào bàn hội nghị. Ngày 12-6-1962, ba phái ở Lào thoả thuận ký kết lập chính phủ liên hợp. Ngày 2-7-1962; Hội nghị quốc tế về Lào có 14 nước tham gia họp tại Giơnevơ. Ngày 23-7-1962, hội nghị kết thúc với tuyên bố Mỹ phải rút hết 666 cố vấn ra khỏi Lào, cam kết “tôn trọng nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Lào”.

Với chiến thắng Nậm Thà, trên thực tế, Mỹ đã thua trong cuộc chiến tranh đặc biệt ở Lào. Từ Nậm Thà có thể thấy khả năng của Mỹ là có hạn, dù chúng rất ngoan cố, chứng minh nhận định đúng đắn của Đảng ta là chiến tranh đặc biệt của Mỹ tiến hành ở miền Nam Việt Nam nhất định sẽ thất bại.

Cuối năm 1963, sau khi chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm bị lật đổ, tình hình cách mạng ở miền Nam phát triển mạnh mẽ. Quốc sách “ấp chiến lược” của Mỹ - ngụy tiếp tục phá sản, lực lượng cách mạng tiến bộ rất nhanh. Ta đã kiểm soát một số vùng đông dân trong một số tỉnh chủ chốt.

Để ngăn chặn cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, Mỹ ngoan cố tăng cường và mở rộng cuộc “chiến tranh đặc biệt” ở Việt Nam, hòng khắc phục tình hình đang suy sụp của ngụy quyền, ngụy quân. Âm mưu của Mỹ là bình định cho được nông thôn, chiếm dân, lấn đất, tiêu diệt các tổ chức cách mạng, kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Nam Việt Nam. Đối với miền Bắc, chúng dự định sẽ dùng không quân đánh phá, gây sức ép buộc quân và dân ta phải ngìrng chi viện cho cách mạng miền Nam và Lào.

Trước âm mưu và hành động chiến tranh mới của Mỹ và tay sai, tháng 3-1964, Bộ Quốc phòng quyết định thực hiện biên chế thời chiến cho các đơn vị trong toàn quân, đưa số quân thường trực trong năm 1964 lên 300.000 người. Quân chủng Phòng không - Không quân và một số đơn vị Hải quân chuyển trạng thái từ thời bình sang thời chiến, chuẩn bị trận địa và hợp đồng các phương án chiến đấu giữa các lực lượng vũ trang trên những địa bàn trọng yếu (các khu vực quân sự, chính trị, kinh tế, giao thông ở một số thành phố, thị xã), vừa trực chiến vừa huấn luyện nâng cao kỹ năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, quyết tâm đánh thắng địch ngay từ trận đầu.

Trên các quân khu và các tỉnh, thành, các lực lượng vũ trang địa phương (bao gồm bộ đội địa phương và dân quân tự vệ) bắt đầu đào hệ thống hầm hào chiến đấu, hầm hào phòng tránh máy bay địch ở các cơ quan, nhà máy, trường học, bệnh viện. Các cơ quan dân, chính đảng. khẩn trương làm công tác giáo dục phòng không nhân dân, tổ chức báo động chiến đấu, tập cứu thương, cứu hỏa, vây bắt giặc lái, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu.

Qua ba năm đầu (1960-1963) thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội nhân dân, miền Bắc nước ta đã tiến những bước đáng kể. Các ngành kinh tế quốc dân phát triển tương đối đồng đều. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được củng cố. Đời sống của nhân dân ổn định. Công cuộc củng cố quốc phòng toàn dân và xây dựng Quân đội nhân dân đạt được những thành tích to lớn. Hầu hết các tỉnh, thành thuộc các quân khu đã xây dựng xong hệ thống phòng thủ chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Các binh chủng kỹ thuật của Quân đội nhân dân phát triển và được luyện tập. Hệ thống chính quyền và các đoàn thể từ Trung ương đến địa phương được củng cố. Nhân dân giác ngộ chính trị cao, đoàn kết chặt chẽ chung quanh Đảng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hăng hái phấn đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Mặc dù cuộc sống chưa thật no đủ, lại phải đương đầu với chiến tranh, nhưng đồng bào, chiến sĩ ta quyết tâm “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó là nền tảng tinh thần vững chắc để tạo ra sức mạnh tổng hợp đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #36 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 10:54:43 pm »


Chương XI
BẺ GẪY KẾ HOẠCH BÌNH ĐỊNH MIỀN NAM TRONG VÒNG 18 THÁNG CỦA MỸ
CHIẾN THẮNG ẤP BẮC


I - ĐẤU TRANH GIẰNG CO QUYẾT LIỆT CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN MỚI CỦA ĐỊCH

Trong lúc cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống kế hoạch càn quét, gom dân của quân ngụy đang diễn ra quyết liệt thì đế quốc Mỹ ráo riết tăng thêm viện trợ quân sự kinh tế - chủ yếu là phương tiện chiến tranh cho ngụy quân, ngụy quyền; trực tiếp huấn luyện quân đội tay sai sử dụng các chiến thuật và vũ khí hiện đại của Mỹ hòng tiêu diệt các lực lượng cách mạng, làm cho cường độ cuộc chiến tranh ngày càng ác liệt. Được sự huấn luyện, chỉ huy của các cố vấn Mỹ, quân chủ lực ngụy sử dụng chiến thuật “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận” để cơ động nhanh, bất ngờ đổ quân bao vây tiêu diệt các đơn vị du kích tập trung, lùng bắt cán bộ cách mạng. Chúng còn đặt hàng vạn máy thu, phát thông tin tự động ở những nơi xa xôi, hẻo lánh để phát hiện lực lượng của ta rồi nhanh chóng điều động lực lượng không quân, bộ binh đến bắn phá, bao vây, chụp bắt. Quân chủ lực và quân địa phương ngụy tổ chức càn quét những vùng do ta làm chủ, vùng giáp ranh, phối họp với lực lượng bình định dồn dân vào các ấp chiến lược. Quân, dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, tiến hành đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, binh vận trên khắp ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị.

Tại đồng bằng sông Cửu Long, lực lượng vũ trang tỉnh Sóc Trăng cùng du kích các xã Phong Thạnh, Gia Hoà, Hoà Tú, Vĩnh Hưng đánh bại cuộc hành quân càn quét của sư đoàn 21 ngụy, diệt nhiều trung đội địch. Phối hợp với cuộc chiến đấu của các lực lượng vũ trang, ngày 2-2-1961 trên hai vạn người quanh thành phố Cần Thơ tổ chức đấu tranh chính trị. Địch cho lực lượng đàn áp, bắn chết 13 người, bắt đi 400 người. Lập tức, quần chúng tràn vào thành phố, bao vây dinh tỉnh trưởng ngụy, bắt bồi thường nhân mạng, thả những người bị bắt. Cảnh sát ngụy dùng hơi cay, với rồng đàn áp. Đồng bào ta quyết không lùi bước, tiếp tục đấu tranh hai ngày liền, làm tê liệt thành phố và gây náo động vùng phụ cận, buộc địch phải đáp ứng những yêu sách của nhân dân.

Tại Bến Tre, ngày 20-1-1961, đại đội 261 cùng với bộ dội địa phương huyện Mỏ Cày đánh bại cuộc càn quét của thuỷ quân lục chiến vào xã Đa Phước, diệt hai trung đội, thu 30 súng. Du kích xã Hữu Định (Châu Thành) dựa vào xã ấp chiến đấu, trong một ngày liên tiếp đánh trả 17 đợt xung phong của một tiểu đoàn địch, bẻ gãy cuộc càn quét của chúng. Phối hợp với Mỏ Cày, Châu Thành, ngày 31-1-1961, trên 10.000 quần chúng từ khắp các xã trong huyện Giồng Trôm trương cờ kéo đến thị trấn đòi địch chấm dứt ném bom, bắn phá, tàn sát nhân dân, họ hô vang khẩu hiệu: “Đả đảo Ngô Đình Diệm”. Ngày 13-2, hàng ngàn nhân dân trong tỉnh, từ nông thôn đến thị xã, thị trấn, được huy động “đi chợ tết” đế biểu dương lực lượng, nêu cao tinh thần đoàn kết đấu tranh chống Mỹ, Diệm.

Tại miền Đông Nam Bộ, quân nguỵ mở hàng loạt cuộc hành quân lớn, nhỏ càn quét, hỗ trợ cho các đoàn bình định dồn dân, chiếm đất, lập bộ máy tề xã, tề ấp. Cuộc đấu tranh để giữ vững quyền làm chủ thôn, xã diễn ra hết sức quyết liệt. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh ngày 1-1-1961 của 10.000 phụ nữ các xã kéo lên quận lỵ Trảng Bàng (Tây Ninh), trong đó có cả gia đình binh sĩ ngụy. Địch dùng mọi thủ đoạn ngăn cản, đàn áp. Không chịu khuất phục, chị em dùng gậy, đá, cây mía, đánh trả, giành lại những người bị bắt. Lực lượng phía sau đến tiếp viện, phá bỏ các vật chướng ngại, hô to các khẩu hiệu: “Đả đảo khủng bố”, “Không được bắn vào ấp”. Trước khí thế đấu tranh sôi sục của quần chúng, tên quận trưởng phải chấp nhận các yêu sách của dân, bồi thường cho những người chúng đánh bị thương.

Ngày 16-3-1961, tiểu đoàn 800 của khu mở cuộc tiến công vào chi khu quân sự Hiếu Liêm. Sau 30 phút chiến đấu ta tiêu diệt hoàn toàn chi khu, thu một pháo 105 ly, 80 súng các loại, một kho đạn. Thừa thắng, sáng 17-3, đơn vị hành quân dọc bờ sông Đồng Nai, tiến công bốt Lạc An, uy hiếp một số bốt khác, đồng thời phát động nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kiềm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #37 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 10:56:20 pm »


Đầu năm 1961, hàng vạn người bị dồn vào các khu dinh điền, khu trù mật Long Khốt, Mộc Hoá, Thành Phước, kênh 12, Vàm Xáng, Cà Ná, Gò ông Lê... đã vùng dậy đấu tranh phá vỡ từng mảng lớn các khu dồn dân, trở về làng cũ.

Tại Trung Trung Bộ, cuối năm 1960, địch bắt đầu xây dựng hệ thống phòng ngự cứ điểm, cụm cứ điểm liên hoàn ở các vùng đô thị, dọc đường giao thông chiến lược và đóng thêm 132 chốt điểm ở vùng giáp ranh từ Quang Trị đến Quảng Nam. Ở Tây Nguyên, địch rút một số đồn, bốt lẻ, cô lập đóng thêm cứ điểm trên các đường 14, 19, 21, 18 hợp cùng với các trại lực lượng đặc biệt, các đồn biên phòng Đắc Pét, Đắc Xút, Đắc Siêng, Cơ Leng, Lây Me, Đức Cơ, E Xúp, Đức Lập dọc biên giới phía Tây thành một hệ thống phòng thủ ở Cao Nguyên Trung phần. Dựa vào hệ thống phòng ngự kiên cố, địch tổ chức hành quân, càn quét kết hợp với hoạt động biệt kích, dùng máy bay đánh phá vùng căn cứ cách mạng, gom dân vào các khu dinh điền, ấp chiến lược, ngăn chặn các cửa khẩu không cho đồng bào ta mua bán muối, vải, dao rựa lên vùng cao. Cuộc sống của nhân dân vùng căn cứ, vùng giáp ranh hết sức căng thẳng.

Tháng 2-1961, Liên khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu V chủ trương động viên mọi lực lượng kiên quyết tiến công địch, làm chủ rừng núi, củng cố và xây dựng căn cứ địa, giành lại đồng bằng. Thực hiện chủ trương này, tháng 2-1961, quân, dân Thừa Thiên chặn đánh địch hành quân càn quét ở Nam Đông, Đá Mộc, Hoà Mỹ, đường số 4 và chống càn quét ở sông Bồ, Ô Lâu. Ở Quảng Trị, quân du kích bao vây, khống chế, diệt và gọi địch hàng ở một số đồn lẻ, buộc chúng phải co cụm lại.
Tháng 3-1961, lực lượng vũ trang Liên tỉnh 41 tiến công địch ở quận lỵ Lạc Thiện (Đắc Lắc), diệt một số đơn vị bảo an, giải phóng phần lớn huyện Lắc và Buôn Hồ.

Quân và dân các khu căn cứ Bác Ái (Ninh Thuận), Kim Sơn (Bình Định), Trà Bồng (Quảng Ngãi) đánh bại các cuộc càn quét dồn dân của địch. Lực lượng vũ trang các tỉnh đồng bằng tiến công tiêu diệt một loạt cứ điểm của địch ở Mỹ Tường, Vĩnh Hy (Ninh Thuận), Bình Nhơn (Bình Thuận), Bình Phương, Bình Trung (Quảng Ngãi). Tháng 5-1961, lực lượng vũ trang Liên tỉnh 3 phối hợp với tỉnh Bình Thuận tiến công các quận lỵ Di Linh và Đờ Răng, tạo điều kiện phát triển phong trào lên bắc Lâm Đồng, Tuyên Đức.

Đêm 18-6-1961, lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên tiêu diệt quận lỵ Củng Sơn, giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị địch giam giữ ở đây. Trước đó mấy ngày, địch đưa ông về quản chế tại thị xã Tuy Hoà. Không giải thoát được luật sư nhưng trận đánh đã có tiếng vang lớn2.

Chỉ tính trong bốn tháng đầu năm 1961, quân và dân Khu V diệt, làm bị thương và bắt 2.100 địch, cơ sở cách mạng phát triển khá, riêng vùng nam Đắc Lắc, Quảng Đức, Lâm Đồng phát triển cơ sở mới ở 557 thôn.

Miền tây Quảng Trị, nhân dân các dân tộc ở sáu tổng nổi dậy tước vũ khí bọn dân vệ, giải phóng miền núi bắc đường số 9.

Phối hợp với đấu tranh quân sự, nhân dân trong các vùng còn bị địch kìm kẹp, ở các thành phố, thị xã, thị trấn cũng vùng lên đấu tranh với địch.

Ngay sau khi các tổ chức chính trị của nhân dân như Hội thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân giải phóng, Hội lao động giải phóng…3 ra đời và tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng công khai tổ chức nhiều cuộc mít tinh và biểu tình chống Mỹ - Diệm.
_____________________________________
1. Từ tháng 4-1955 đến tháng 10-1961, Khu V lập bốn liên tỉnh:
    - Liên tỉnh 1: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam.
    - Liên tỉnh 2: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.
    - Liên tỉnh 3: Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng.
    - Liên tỉnh 4: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc
    Mỗi liên tỉnh có Liên tỉnh uỷ do một đồng chí khu uỷ viên phụ trách.

2. Theo Sơ thảo lịch sử đảng bộ tỉnh Phú Khánh, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Phú Khánh xuất bản, 1986, trang 52: Trong báo cáo gửi cho tên Bộ trưởng Nội vụ ngụy ngày 27-6-1961, tỉnh trưởng Phú Yên Lê Ngọ Triển phải thú nhận: “Đêm 18 rạng ngày 19-6-1961, vào khoảng 2 giờ sáng, khoảng 2 đại đội “việt cộng” vũ trang đầy đủ, kéo theo một số đồng bào Thượng, tiến công đồn bảo an và quận lỵ hành chính Sơn Hoà. Sau hơn một giờ cầm cự, vị trí này thất thủ, ta bị thiệt hại nặng nề về nhân mạng cũng như vũ khí đạn dược...”.
3. - Ngày 9-1-1961, thành lập Hội Thanh niên giải phóng và Hội liên hiệp học sinh, sinh viên giải phóng miền Nam Việt Nam.
    - Ngày 8-3-1961: thành lập Hội phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam
    - Ngày 24-3-1961: Hội nông dân giải phóng miền Nam Việt Nam.
    - Ngày 27-4-1961: Hội lao động giải phóng miền Nam Việt Nam (sau đổi là Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam Việt Nam).
    - Ngày 1-1-1962: Đoàn thanh niên Nhân dân cách mạng miền Nam Việt Nam.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #38 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 10:57:23 pm »


Ngày 17-1-1961, hàng ngàn giáo chức, học sinh các trường lớn ở Sài Gòn đấu tranh đòi giảm học phí trường tư, đòi cải thiện đời sống giáo chức. Những người biểu tình nêu ra khẩu hiệu “chống bắt lính, miễn quân dịch cho học sinh, sinh viên”, “giảm lệ phí cho các kỳ thi”, “tăng học bổng cho học sinh nghèo”, học sinh “chuyên ngữ ở đại học” v.v… Ngày 1-5-1961, Hội lao động giải phóng phát động được 16.000 công nhân lao động họp mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế lao động giương cao khẩu hiệu “Chào mừng Hội lao động giải phóng miền Nam”. Nhân ngày Quốc tế lao động, nhân dân Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc tổ chức đấu tranh chống địch càn quét, gom dân. Tiếp theo, hơn 40.000 đồng bào Tân An, Chợ Lớn họp mít tinh hô vang các khẩu hiệu: “Đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam”, “Đánh đổ tên bán nước Ngô Đình Diệm”, “Chấm dứt càn quét, khủng bố, bắt phu, bắt lính”.

Tháng 4-1961, nhân dân Khu V đấu tranh chống “bầu cử tổng thống” gian lận của Diệm. Ở Gia Lai, đồng bào 600 thôn vùng địch kiểm soát tẩy chay “bầu cử”, đốt thẻ cử tri. Giữa tháng 5-1961, gần 200 đại biểu đại diện cho 22 dân tộc Tây Nguyên và nhân dân các tỉnh Nam Trung Bộ họp đại hội hoan nghênh tuyên ngôn, chương trình của Mặt trận, kêu gọi đồng bào các dân tộc kiên quyết đấu tranh chống Mỹ, Diệm.

Tại Sài Gòn, Hội liên hiệp sinh viên, học sinh giải phóng thành lập đội vũ trang, hoạt động hỗ trợ cho đồng bào thành thị phá thế kìm kẹp của địch và tạo điều kiện cho phong trào cách mạng trong sinh viên, học sinh phát triển. Đội do anh Lê Hồng Tư phụ trách. Ngày 6-4-1961, đội diệt tên Uyliam Tômát chuyên viên cao cấp không quân Mỹ tại đường Ngô Thì Nhậm. Hôm sau (7-4), đội dùng lựu đạn ném vào trụ sở cơ quan VSOM của Mỹ tại đường Trần Hưng Đạo, diệt bảy tên cố vấn Mỹ. Sau vụ tập kích nhằm giết tên đại sứ Mỹ Nâutinh không thành, Lê Hồng Tư bị bắt. Chúng tra tấn rất dã man nhưng không khai thác được gì ở anh. Tháng 8-1961, do một vài sơ hở, địch đã phát hiện và đánh vào căn cứ Ban cán sự thành đoàn ở xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hoà. Đồng chí Trần Quang Cơ, Bí thư Ban cán sự anh dũng hy sinh; Lê Quang Vịnh và một số anh em bị địch bắt.

Để tăng cường lực lượng cho cuộc đấu tranh ngày càng phát triển của đồng bào miền Nam, công tác mở đường vận tải trên bộ và trên biển để vận chuyển người và hàng vào chiến trường cũng được khẩn trương triển khai tích cực.

Sau chuyến tàu vận tải biển chở vũ khí vào Nam của tiểu đoàn 603 đầu năm 1960 không thành, Quân uỷ Trung ương quyết định tạm dừng vận tải biển để chuẩn bị thêm. Lúc này, yêu cầu của cuộc chiến đấu ở miền Nam cấp thiết, Bộ Chính trị và Quân uỷ quyết định thành lập lại Đoàn vận tải biển - Đoàn 759 do Đoàn Hồng Phước làm đoàn trưởng, Võ Huy Phúc làm chính uỷ. Đoàn 759 được giao nhiệm vụ trước mắt mua sắm phương tiện, vận chuyển tiếp tế cho miền Nam bằng đường biển. Bộ Chính trị chỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam Bộ đưa thuyền ra Bắc nhận vũ khí. Nhận được chỉ thị tháng 2-1961 của Bộ Chính trị, các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, Trà Vinh, Bà Rịa liền tổ chức sáu thuyền vỏ gỗ gắn máy do các đồng chí Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Văn Tiến, Lê Công Cẩn, Nguyễn Thanh Trầm, Bông Văn Dĩa, Nguyễn Văn Phe và các đồng chí Đoàn, Kết, Đấu, Tranh, Thắng, Lợi cùng một số thuỷ thủ có kinh nghiệm vượt sóng gió biển khơi lần lượt ra Bắc1. Các đồng chí đi trên thuyền đóng vài ngư dân có giấy tờ tuỳ thân hợp lệ. Lương thực và nước ngọt được chuẩn bị đầy đủ, song các đồng chí vẫn trải qua những ngày đấu trí, đấu lực căng thẳng để vượt qua sóng gió biển khơi và sự kiểm soát gắt gao của tàu địch để đi đến đích. Kết quả, bốn chiếc ra đến miền Bắc an toàn, ba chiếc phải quay lại do thuyền hỏng và sự o ép của địch. Còn hai chiếc đi lạc đường một thuyền đến Ma Cao, thuộc địa của Bồ Đào Nha, một thuyền lạc vào đảo Hải Nam, Trung Quốc. Khi bị bắt giữ, các thuyền viên đều khai là người Việt Nam đi đánh cá bị bão dạt vào đây. Qua khám xét không phát hiện được gì, họ đã trả thuyền của ta trở về miền Bắc.

Sau khi nghe báo cáo tình hình cụ thể của các đồng chí phụ trách các thuyền ở Nam Bộ mới ra, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh xét thấy chưa đủ điều kiện để tổ chức cho tầu chở hàng vào Nam. Công việc quan trọng bậc nhất lúc này là tìm cho được bến để tàu vào và nắm chắc được quy luật hoạt động trên biển của địch. Vì vậy, Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh quyết định cử một thuyền đã từ Nam ra Bắc cùng một số thuỷ thủ có kinh nghiệm trở lại Nam Bộ báo cáo chủ trương của Trung ương với Trung ương Cục và trinh sát lại tình hình để khi tàu chở vũ khí vào, ra có chỗ trú đậu, bốc dỡ hàng nhanh chóng, bí mật, an toàn. Đội thuyền Cà Mau do Bông Văn Dĩa làm thuyền trưởng, Hai Tranh, thuyền phó, cùng các đồng chí Năm Kỳ, Tư Phước, Sáu Dũng, Bảy Của được lựa chọn trở về Nam Bộ thực hiện nhiệm vụ.
_____________________________________
1. Ngày 11-6-1961, chiếc thuyền đầu tiên của tỉnh Bến Tre ra Bắc do đồng chí Nguyễn Văn Hải làm đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Tiến làm chính trị viên.
    - Thuyền thứ hai của tỉnh Bến Tre, đồng chí Lê Công Cẩn chỉ huy.
    - Hai thuyền của tỉnh Cà Mau do đồng chí Nguyễn Thanh Trầm và Bông Văn Dĩa chỉ huy.
    - Thuyền của tỉnh Trà Vinh gồm sáu đồng chí: Đoàn, Kết, Đấu, Tranh, Thắng, Lợi (tên do Tỉnh uỷ Trà Vinh đặt).
    - Thuyền của tỉnh Bà Rịa do đồng chí Nguyễn Văn Phe làm thuyền trưởng.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #39 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 10:58:56 pm »


Khi nhận được chủ trương của Trung ương do đồng chí Bông Văn Dĩa truyền đạt, Trung ương Cục hoàn toàn nhất trí và chỉ thị cho các khu khẩn trưởng tổ chức thực hiện. Trung ương Cục tổ chức tại Khu IX, một Ban hàng hải của Nam Bộ do đồng chí Ba Bổn làm trưởng ban, đồng chí Dương Quang Đông, phó ban, trực tiếp tìm bến bãi và phương tiện vận chuyển.

Khu uỷ Khu IX phân công một khu uỷ viên cùng với số anh em ở miền Bắc mới vào đi khảo sát các đảo và các sông, rạch ven biển. Việc lựa chọn bến bãi có nhiều giải pháp được đặt ra nghiên cứu, trong đó có cả giải pháp tình thế, nếu ở trong đất liền không chọn được, thì có thể chọn ở các đảo ngoài biển để làm bến trung chuyển, dùng thuyền nhỏ chuyên chở hàng vào. Sau một thời gian đi nghiên cứu các đảo Hòn Ông, Hòn Bà, Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Thổ Chu đến quần đảo Nam Du và các sông, rạch trên đất liền, đoàn khảo sát thấy việc tìm kiếm các bến có nhiều khó khăn không thực hiện được, nhưng một số cửa sông ở Cà Mau có thể cải tạo làm bến trú đậu, cất giấu vũ khí. Vùng này có địa thế hiểm trở, hệ thống sông rạch chằng chịt, có nhiều cửa sông đổ ra biển như Bồ Đề, Rạch Gốc, Rạch Tàu, Ông Trọng, Bảy Háp được bao phủ cả một màu xanh của cây rừng ngập mặn. Nhân dân ở đây giàu lòng yêu nước, cơ sở cách mạng vững, đã từng đùm bọc, che chở cho nhiều cơ quan của tỉnh, của khu làm việc, cho bộ đội ta náu mình đánh giặc.

Nếu ở Cà Mau, miền Tây Nam Bộ có được cái thế “địa lợi nhân hoà” thì ở miền Đông Nam Bộ việc lựa chọn bến bãi lại khó khăn hơn nhiều. Một đoàn cán bộ do đồng chí Dương Quang Đông phụ trách đi từ Bình Châu, Hàm Tân, Cù Mi, La Gi, Kẻ Gà tới Bình Tuy để khảo sát thực địa. Đi ròng rã ba tháng trời, vượt qua bao đồn bốt của địch, nhiều lúc gạo không có ăn, chỉ ăn chuối xanh, bột cây thiên tuế và củ rừng. Cuối cùng, đoàn đã tìm được bến Lộc An ở Bà Rịa.

Tổ chức bến bãi ở đây nếu được sẽ có nhiều thuận lợi là hàng sẽ đến các đơn vị nhanh hơn, tạo cho miền Đông, Khu VI và chủ lực của Miền đỡ tốn công vận chuyển từ Khu IX, Khu VIII lên và tạo được yếu tố bất ngờ đối với địch, song cũng rất mạo hiểm, vì nó gần các căn cứ hải quân Vũng Tàu, sân bay Biên Hoà và Sài Gòn. Đây là những căn cứ lớn, địch canh phòng nghiêm ngặt, lại có nhiều phương tiện, máy móc hiện đại để phát hiện.

Công việc khảo sát, xác định bến bãi đã khó, nhưng tổ chức nạo vét, nắn dòng chảy chỗ cửa sông bị cạn, cong queo này cho tàu, thuyền vào được cũng không kém phần gian khổ. Để làm được công việc “dòi non, lấp biển” đó, việc đầu tiên phải sử dụng một tiểu đội do vợ chồng đồng chí Mười Vinh, cán bộ dân vận địa phương phụ trách, sau tăng cường thêm một trung đội tiến hành nạo vét. Dưới ánh sáng đèn pha quét liên tục từ các đồn địch, với công cụ thủ công, anh em ta cứ ngày ngủ, đêm vừa đào vừa canh chừng địch, ròng rã hai tháng trời mới đào sâu và nắn lại được dòng sông bảo đảm cho tàu ra vào thuận tiện.

Có bến bãi rồi, lại phải có thuyền, có máy để đi biển an toàn. Muốn vậy phải có tiền, mà nếu có thì mua ở đâu? Khó khăn này đã được chị Mười Vinh trực tiếp giúp đỡ. Chẳng những chị đã xuất cho mượn hai cây vàng và 5.000 đồng1, chị còn vào ấp chiến lược Phước Hải, để nhờ cơ sở ta mua thuyền, mua gạo, mua lưới, chuẩn bị cho chuyến đi. Đồng bào còn giúp chạy thử đi đánh cá cho hợp pháp để địch quen mắt, không nghi ngờ.

Đến cuối tháng 1-1962, nhân dân Phước Hải đưa thuyền ra đến Hồ Cóc (vùng giải phóng) bàn giao cho ta. Bà con còn xin được giấy thông hành của chính quyền ngụy cấp cho sáu thuyền viên để đi qua được các trạm xét hỏi trên biển của địch.

Sau khi xác định được bến bãi, xây dựng kho tàng, mua sắm tàu thuyền, Thường vụ Khu uỷ Khu IX quyết định cử hai thuyền do đồng chí Tư Mâu phụ trách đi ra Bắc báo cáo với Trung ương, xin cho tàu chở hàng quân sự vào các bến đã chuẩn bị.

Ngày 24-7-1962, thuyền do đồng chí Tư Mâu phụ trách rời cửa Bồ Đề (Cà Mau) đi miền Bắc. Đoàn thủy thủ gồm Mười Thương (thuyền phó), Ba Xuân, Sáu Dũng, Ba Mạnh, Sáu Mập. Hai ngày sau (26-7-1962), thuyền do đồng chí Bông Văn Dĩa phụ trách, xuất phát từ Vàm Lũng (Cà Mau), gồm các đồng chí Tư Đanh (thuyền phó), Sa Vinh, Sáu Thông, Năm Kỷ, Bảy Của. Ngày 30-7-1962, thuyền của đồng chí Tư Mâu đến ngang Cửa Việt thì bị tàu Đống Đa 07 của hải quân địch bắt đưa về Đà Nẵng. Sau hơn 8 tháng giam giữ, chúng không khai thác được điều gì, mọi công việc của ta vẫn giữ được bí mật.
_____________________________________
1. Anh Mười Vinh đã hy sinh trong mặt trận bom B52 của địch. Sau ngày giải phóng miền Nam, chị Mươi về sống với các con ở Phước Hải. Nhà nước ta đã hoàn lại số vàng và tiền cho chị Mười.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM