Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:27:27 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo  (Đọc 164623 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #180 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2011, 09:02:41 pm »


Tây soái được thư, thấy tôi đã là quan lớn của Triều đình, đã có danh vọng, có thể thu phục được lòng dân sáu tỉnh. Vả lại vì đạo mà bị tội mới đến đây thì một là y sẽ đem lòng thương xót, hai là sẽ trọng tư cách làm người của tôi mà tin lắm, không nghi ngờ gì mà lại trọng dụng thêm. Tôi liền nói: “Nếu vội nhận chức quan to, sợ Triều đình ghét mà bắt tội anh em. Tôi hãy xin tạm ở ngoài giúp việc, đợi khi nào bí mật đem được người nhà vào Nam, sẽ nhận chức. Nay chỉ xin tạm nhận chức quan suông mà thôi, còn bổng lộc thì quyết chưa dám nhận” (nếu nhận bổng lộc của họ mà lại ôm kế độc đối với họ thì hại nghĩa tôi không yên lòng). Lúc bấy giờ tôi sẽ giúp việc cho họ đôi chút. Chẳng bao lâu, tôi sẽ mật báo với họ rằng: “Nghe nói nước Nam, việc ngoài Bắc đã yên, rất giận việc nước Tây không trả đất đai lại, muốn ngấm ngầm xúi dân làm loạn để phá rối ta, chưa biết có quả như thế không? Nhưng tình hình này không thể không có. Tôi xin đi khắp sáu tỉnh để bí mật thăm dò. Nếu có quan Nam triều ẩn núp, tôi sẽ biết và mật báo về. Tôi còn xin đi lại những nhà có thế lực, và các lương dân chịu chức của Tây, dò xem tình ý như thế nào để chuẩn bị. Tôi lại đem đạo giáo dụ họ, xem ý họ thế nào. Tôi lại lấy mưu làm loạn thử họ, mới biết được đích xác. Như nói rằng: Ta tuy bị Triều đình trách phạt, nhưng mối tình đất cũ khó quên. Vả lại với người Tây chỉ có thể chung hoạn nạn, chứ không thể chung hưởng yên vui. Như các nước trên thế giới đã bị người Tây v.v... Nay tôi nghĩ, nếu được sáu tỉnh phản Tây, thì chẳng những ta chuộc được tội mà còn có công lớn. Các người cũng vậy, nếu quả không quên lòng trung nghĩa thì có thể cùng tôi mật định làm việc nghĩa. Nếu việc thành được, Triều đình sẽ thưởng công to. Dụ dỗ như thế, nếu người nào quả có lòng tất đồng ý với tôi. Lúc đó tôi bí mật ghi hết, bẩm lên đại soái biết để phòng bị. Rồi kiếm cớ khác mà buộc tội chúng.

Ở trước mặt Tây soái tôi đã mật mưu như thế, thì ngày sau tôi đi dụ dỗ khắp nơi, nếu có người biết mà mách lại sẽ bị Tây soái cười thầm. Như thế những người đồng lòng với tôi sẽ giữ được vô sự. Tôi đã họp được nhiều người, ở đâu chuẩn bị ở đó, như các khoản đã nói trong các tờ bẩm trước. Lúc bấy giờ tôi lại nói với Tây soái rằng: “Tôi rất oán ghét nước Nam, ý muốn nhóm họp nhiều người đợi ngày nào nước Tây gây việc với nước Nam, sẽ xin ra giúp sức để hả cơn giận. Tôi đã dò được những người giỏi trong sáu tỉnh, phần nhiều có lòng bất bình với nước Nam, nhưng chỉ vì quan Tây nghi ngờ quá chừng mà không dùng họ giúp việc. Họ đã yên cư lạc nghiệp ở đây, cũng muốn có một phen bày tỏ tâm tình, để cởi mở lòng nghi mà chưa có cơ hội. Nay nghe tôi có sự bất bình với nước Nam, muốn đi chiêu tập báo thù, cho nên bọn họ cũng muốn hợp sức làm với tôi, để tỏ rõ là đã dứt tình với nước Nam rồi. Vả nếu tôi nhóm họp được bọn họ tại chỗ, bọn họ lại nhóm họp được thủ hạ tại chỗ rồi ghép thành đội ngũ, mượn lãnh khí giới, để tùy lúc mà luyện tập, còn tôi thì đi lại các nơi để đốc thúc công việc. Đến ngày ra đánh Bắc, có thể dùng họ làm quân tiên phong cho người Tây. Việc thành chẳng những tôi hả được cơn giận, mà bọn họ cũng tỏ rõ được tâm tình. Lúc đó đại soái tùy theo tài năng cất dùng họ để trả công lao, như vậy người sáu tỉnh mới yêu mến quý soái”.

Như thế chúng tôi tập hợp người tại chỗ để chuẩn bị mà người Tây không thể nghi ngờ gì cả. Tôi lại nói với Tây soái rằng: “Lúc trước tôi ở Bắc kỳ, tất cả những người có thầm ôm chí khác từ Quảng Nam trở ra Bắc, đều đi lại với tôi, những người có tài năng dùng được ước chừng bốn, năm trăm người, trong đó có chừng 100 người rất là kiệt hiệt, đã từng nói với tôi là muốn vào Gia Định, nhờ thanh thế người Tây, để lo mưu Bắc tiến, nhưng chỉ ngại không người giới thiệu, sợ Tây không tin. Nay nghe tôi vào Gia Định làm việc giúp Tây, đầu đảng của họ có bí mật gửi thư vào, nhờ tôi giới thiệu để được cùng vào trong này làm việc với Tây, số này hơn người sáu tỉnh nhiều lắm. Đến khi lông cánh đã thành, sẽ xin ra Bắc gây việc. Nếu được họ xin hứa vĩnh viễn trung thành với quan Tây v.v... Nay xin đại soái viết cho một số mật hiệu mỗi miếng giấy cắt vuông một tấc, có ám hiệu bằng chữ Tây, chừng 400 cái giao cho tôi, để tôi gửi ra cho đầu đảng, hễ ai lén vào Gia Định, trình xét mật hiệu, rồi tôi mới tùy chỗ, giao cho ở chung với những người đồng lòng với tôi ở sáu tỉnh”.

Còn các phủ huyện, nếu quan Tây muốn dùng chúng để sai khiến, thì cũng tùy theo đó mà phân bố. Cách sắp đặt đều y như lời đã nói trong tờ bẩm trước. Như thế chắc chắn người Tây không làm sao biết được, mà còn dễ cử sự hơn là cách đưa người Bắc vào, như tôi đã nói trong tờ bẩm trước.

Còn mật hiệu của Tây tôi sẽ xin gửi ra, để cất giữ tại Bộ. Bấy giờ Triều đình sẽ phái vào nhiều người dòng Tôn Thất, các quan võ và những người tình nguyện vào ngũ như tôi đã nói trong tờ bẩn trước, và sẽ trao mật hiệu của Tây cho họ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #181 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2011, 09:03:26 pm »


Ngoài ra lại xin một viên quan thân tín, giả làm đầu đảng vào trước, để trông coi việc ấy. Còn ngoài ra, có quan nào vào, tôi chỉ nói với nguyên soái đấy là hạng kiệt thiệt. Còn những người tình nguyện vào ngũ có lén vào, tôi sẽ bảo đều là hạng thủ hạ của đảng ấy, có thể sai khiến được. Rồi sau mỗi phủ huyện dùng kế, cho năm sáu người được thân cận với họ, kết hợp với người sở tại Nam kỳ, như thế cũng đủ đánh úp được.

Và gần trước ngày cử sự, tôi đã tìm một nhà người có đạo (Phải người có đạo, Pháp mới không nghi) ở huyện Tân Hòa, một nhà ở Gia Định, chuẩn bị thật chu đáo bí mật. Rồi quan tổng binh đại thần giả làm người buôn đến ở huyện Tân Hòa, quan phó đại thần đến trú ở Gia Định để chỉ thị phương lược, bố trí vòng lưới. Còn tôi thì qua lại truyền báo cách bài trí.

Đến đêm khởi sự, một mặt tôi dùng kế (Khoản này các câu bẩm trước chưa nói đến) phá đê ngăn nước thì các thuyền Tây ở mặt dưới, không kể lớn nhỏ, đều bị chìm hoặc bị vùi xuống dưới bùn, hoặc trôi xuống ngã ba mà tan rã hết. Còn việc bố trí trên đường bộ, cũng giống như các tờ bẩm trước đã nói, nay không bẩm lại nữa.

Trong khi việc đã tạm định, Triều đình giả sai quan viên thường thường qua lại vấn an Tây soái, mà lại dùng lời nói ngọt khiến hắn thích ý hả lòng, rồi giả vờ đem tin đồn nghe được những việc hiện tại ra mà trách hắn chắc chắn hắn sẽ đem việc đó báo với các quan mưu sự của ta. Lúc bấy giờ quan nào đã được phái cử sự ở Gia Định đều đến Gia Định, giả bí mật bàn tính với hắn kiếm cách che giấu Nam triều. Vả lại nói rằng cơ mưu đã tiết lộ, chúng ta cần phải gấp rút soạn sửa biến động, sợ để lâu ngày Nam triều sẽ chuẩn bị đầy đủ, những người cộng sự đều đã gọi về Gia Định cả rồi, xin nguyên soái nghiên cứu việc binh để quyết định xem có dùng được không? Nhân đấy để tiện khởi sự.

Vả lại khi việc đã gần được phân nửa, tôi sẽ nói với hắn rằng: “Tất cả những người tiềm phục ở Bắc kỳ, một nửa đã vào Nam giúp việc cho Tây, như cọp mọc cánh. Nếu ngày sau Tây triều muốn hoành hành nước Nam, theo đà ấy cũng không khó. Chỉ thiếu một điều là các quan võ nước Tây không khéo trị dân, vì thế mà ân đức chưa thấm vào lòng dân. Nếu được quan văn đến cai trị dân, như nước Tây thì rất tốt”. Như thế Tây soái tất sẽ đổi hết quan võ, rút hết lính chiến đấu về để làm công trạng cho mình, mà xin quan văn sang ngồi một chỗ mà cai trị, thì thế lực họ lại bị cô lập thêm.

Tôi lại nói rằng (Khoản này cũng ở lúc công việc đã làm được phân nửa): “Tất cả những người ở miền Bắc vào, đều mong chờ nước Nam có biến cố. Vả lại đợi thu thập được một nửa người Bắc kỳ để làm nội ứng, mới hành động. Nếu chưa có cơ hội, thì còn làm việc với Tây. Bọn họ đều đã mang tiếng bỏ nước, quyết không dám trở về làng xóm. Chỉ khi nào thành sự mới dám về. Nếu không thì chết già ở sáu tỉnh mà thôi. Bọn họ lại giả xây dựng gia đình, để vững lòng Tây soái.

Tôi lại nói rằng: “Bắc kỳ đất xấu dân nghèo, nếu quan Tây có lòng chiêu mộ, tôi xin viết thư mật gởi về cho những người quen, mời vào ăn ở, như thế thì phàm những người chuộng lạ đều không quản xa xôi mà vào. Đấy là: Trong cửa có người tốt thì ngoài cửa người tốt sẽ đến vậy. Lúc đó đại soái tùy nghi xếp đặt, khiến cho bọn họ yên ở hòa hợp với người miền Nam, thì tiến lên có thể lấy, lui về có thể giữ, không phiền phải phái nhiều lính Tây để tốn nhiều của công”.

Như thế Tây soái chắc mừng lắm, lại tin là tôi có lòng vì hắn, có thể tin dùng được như thế tôi mới thi hành được kế hoạch. Còn các kế hoạch khác bồi bổ cho kế này, tôi đã nói rõ trong các tờ bẩm trước.

Làm được như thế, mới là mươi phần thỏa đáng và Tây soái phải tin phục không mảy may nghi ngờ gì nữa.

Còn tôi sau khi đã trốn vào được, Triều đình cũng nên sai một viên quan thân tín vào theo để cùng bàn bạc phải chăng với tôi, làm chỗ trông ngóng trước cho những người đồng lòng. Nhưng ở trước mặt quan Tây, tôi nhận làm người thân trong khi đi chơi nói chuyện với mọi người, tôi lại nói kín với quan Tây xin đem người ấy giả làm quan triều mang đủ ấn tín, khiến các nhà quyền quý được thấy, thì địa phương mới tin là thật. Như thế mà họ không theo, cự tuyệt không nhận, thì mới tin là thật lòng theo Tây. Như thế quan Tây sẽ cho là mưu kế tuyệt diệu, mà vị quan to ấy cũng được công nhiên không quan ngại gì nữa.

Tôi lấy các sự lý trình bày trong các tờ bẩm trước, mà suy ra kế trong tờ này, mới biết thật là vạn toàn. Nhưng kế này phải đòi hỏi khoảng hai năm mới thành. Phải đến dần dần Tây soái mới không nghi. Nếu đến một cách gấp rút đột ngột, không khỏi khiến họ ngạc nhiên, suy nghĩ. Vì thế mà phải hai năm. Nhưng cũng phải tìm người giúp ngoài thi hành song song với kế này, để ngăn chặn việc họ sẽ báo thù thì mới được hoàn toàn tốt đẹp. Mà tìm người giúp tay cũng phải nhân lúc họ có việc, mới dễ giao thiệp rộng rãi. Kế này dù khi việc nước họ bình yên rồi, dùng cũng vẫn được. Cho nên không cần vội vàng. Nếu Triều đình dùng kế đi Tây trước mà thành công được, thì đây là ở ngay nơi miếu đường mà đánh được giặc. Nếu không xong thì làm kế này, mới hả lòng. Đến lúc đó, các quan lớn Triều đình sai đi cũng biết là lúc núi cùng sông hết rồi.

Chỉ có một kế ấy mà thôi (Kế ấy chỉ thi hành được một lần, không thể thi hành thêm lần thứ hai. Nếu sai trật quyết không thể làm lại lần nữa. Xin suy cho kỹ), phải nuốt giận mà vào, thừa lúc họ đương buông lỏng không phòng bị mới có thể đuổi giết họ được.

Nếu tôi có thể phục vụ được gì, nhất nhất tôi xin theo sự sai khiến của Triều đình, quyết không có sự gì ân hận về sau. Vì vốn đã sẵn có bụng ấy mới dám nói ra, chứ hối hận thì có ai ép buộc tôi phải nói ra đâu!

Nhưng có một việc chưa yên tâm, là sau khi tôi bị đày, mẹ già tôi tất là đau thương, khiến tôi trái với đạo hiếu. Việc đó thật không có kế gì gỡ ra được. Nhưng tôi đã nhận quan chức Triều đình, thì phải làm việc công mà quên việc riêng, không thể vẹn toàn cả hai được.

Tôi lại có việc tâm sự xin trần tình một lời lên rằng: Nếu được Triều đình tin dùng thì trên đội đức Hoàng đế, uy quyền Triều đình, giữa nhờ các quan tổng binh chỉ vẽ phương lược, dưới nhờ tướng sĩ đồng lòng, may mà quét sạch quân thù, khi trở về, tôi xin từ chức về vườn ngay để phụng dưỡng mẹ già mà thôi. Khi nào Triều đình có việc cần đến, tôi lại vâng mệnh, việc xong lại xin về như trước, còn tước lộc quyết không dám nhận.

Đấy là tâm sự của tôi, muôn trông Triều đình hứa trước cho, tôi mới dám nhận chức. Nếu không thì tôi xin mình trần cam chịu sai phái mà thôi. Tấc đòng mọn mạy, kính xin bày tỏ.

(Ở đảo Tín Địa xứ Tân Châu, người da đen trong một đêm giết hết người Pháp, không phân già trẻ, hơn một vạn người. Cũng là đồng lòng đánh úp, nhưng họ bỗng chốc nổi lên, vả lại địa thế cách nhau không xa, lại ở quây quần tập trung, việc tập họp dễ dàng, không phải có định mưu trước).

Tôi Giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ ký.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #182 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2011, 09:05:43 pm »


DI THẢO SỐ 41

Bàn về việc cho Pháp thông thương để đổi lại sáu tỉnh*

(Ngày 10 tháng 2 năm Tự Đức 24, tức ngày 30 tháng 3 năm 1871)

Kính bẩm.

Trước đây trong bài Lục lợi từ tôi đã bẩm rằng cái kế mưu sinh của phương Tây, quá nửa do đoạt lấy từ nước ngoài... Phương pháp họ dùng để đoạt lấy, chủ yếu là ở xen lộn và thông thương buôn bán. Nếu sơ đầu mà không đạt được yêu cầu, họ sẽ cưỡng chiếm đất đai để làm chỗ bảo vệ việc thông thương buôn bán của họ. Nếu được ngay không có gì trở ngại, có thể cư ngụ yên ổn, họ không cần cưỡng bức chiếm cắt (Không phải bản tâm họ không muốn chiếm cắt, nhưng mới đầu, thế buộc phải làm như vậy). Trước tiên họ chỉ tiến hành thiết lập các phố buôn để tiện cư trú buôn bán mà thôi, như gần đây bọn chúng đã làm ở Nhật Bản, Trung Quốc, Xiêm La vậy. Ý họ cho rằng nếu tranh chấp sớm kết oán càng sâu1.

Theo phép liên hoành và cân bằng thế lực trên thế giới mà cái gương thành công thất bại gần ta nhất như nguyên do Ấn Độ mất toàn lãnh thổ, Miến Điện bỏ một nửa đất đai, Xiêm La, Nhật Bản, Trung Quốc được lợi lớn, có thể thấy được đại khái là do không biết thời thế. Không biết thời thế thì tri thức câu chấp, tâm tính hẹp hòi.

Nếu như vậy sẽ khó mau chóng quyết định thông thương với họ để đôi bên cùng có lợi, khiến họ không thể bắt đầu làm việc dễ trước, họ phải quyết chiếm lấy sáu tỉnh để làm hang quỷ, rồi sau đó từ từ khai thông. Tuy họ chưa được lợi lớn ngay, nhưng thế buộc không thể không làm việc khó. Đó cũng tại ta tạo cho họ thi hành mưu kế.

Trước đây trong bài Khai hoang từ tôi đã trình bày kế duy trì ba tỉnh trong. Trong kế đó cũng có một điều khẩn cấp là phải mở rộng đường buôn bán, để cho nguyên soái Gia Định được có công, để làm nguôi cái ý đồ chúng muốn lấy gấp ba tỉnh trong. Cũng vì tại ta trong tờ hòa ước đã cho họ được thông thương ba cảng lớn. Mặc dầu không nói thông thương toàn cả nước nhưng thuyền buôn của dân ta đều chở hàng hóa đến bán tại các khẩu. Như thế khác nào cho thông thương toàn cả nước? Vậy chi bằng mở rộng cho thông thương để duy trì ba tỉnh trong.

Hơn nữa, năm ngoái khi họ mang quốc thư đến, chỉ khư khư đòi cho họ được khoản “Doãn hành” 2 mà không đề cập gì đến việc thông thương. Tôi đã bảo đó là mưu kế quỷ quyệt. Bởi vì họ đã biết rõ nước ta đa nghi, nay nói rõ xin thông thương tức chọc cho ta ghét. Cho nên chỉ lấy cái gì ta dễ đáp ứng thôi. Một khi đã đạt được điều khoản “Doãn hành” rồi tức đã nắm được đầu tóc mà kéo, vĩnh viễn không thể nào vùng vẫy thoát ra được. Bấy giờ thuyền buôn của họ cứ từ cạn vào sâu, từ gần đến xa, lộng giả thành chân, chẳng những họ thông thương buôn bán khắp nước ta coi như việc nội bộ của họ mà các nước khác trên thế giới muốn thông thương với ta cũng phải xin phép họ trước. Như vậy là quyền lợi nước ta họ đã nhúm lấy trên đầu ngón tay họ rồi. Cho nên về khoản thông thương là điều sớm muộn không thể tránh khỏi. Có điều là họ biết chưa thể mưu đồ một cách gấp rút được, trước tiên chỉ cần đạt cho được điều khoản “Doãn hành”, bủa thành lưới giăng khắp trời để đề phòng không cho người khác xen vào, để có thể thong thả kinh lý phía Nam mà ổn định hang ổ. Như vậy một khi họ mở cửa ra thì đường bộ họ bọc sau lưng ta, đường thủy họ bao trước mặt ta, bấy giờ quyền lung lạc nằm trọn trong tay họ. Tất cả những mưu kế trường cửu thâm độc, họ đã trù liệu kỹ rồi.
__________________________________________
*. Bản chữ Hán: Hv 634/3 tờ 101 - 134, Hv 634 chỉ ghi Tự Đức 24. Nhưng Đào Đăng Vĩ, trong La Patrie Annamite số 243 ngày 26-3-1937 có trích dịch một đoạn của bản văn này và nói là “Ngày 10 tháng 2 năm Tự Đức 24”.
1. Người chép bản Hán văn 634/3 nói ở trang 101 là: “Bản chép bị rách mất một trang”.
    Đoạn bị mất trong bản dịch của Đào Đăng Vĩ (La Patrie Annamite số 243, ngày 26-3-1937) có phần như sau: “Và, sớm hay muộn, người ta cũng tìm cách lấy lại. Vì thế người ta không chắc rằng những mất mát do chiến tranh có thể được bù đắp bằng thương mãi. Do thế, theo họ, không có gì quý hơn là giao thương một cách hoàn hảo. Như thế, đối với một người nước ngoài các nước phương Tây buổi đầu giao tiếp, không có một thái độ nhất định. Thái độ này tùy thuộc ở cách người ta đối xử với họ. Họ có thể rất hung bạo, nhưng cũng có thể rất dịu dàng. Có lúc họ chiếm một vùng đất vĩnh viễn, họ có lúc chỉ chiếm tạm thời, rồi sau trả lại.
    “Người Pháp, khi vừa tới đất nước chúng ta, đã thấy ngay là chúng ta mù tịt về ngoại giao. Họ biết là chúng ta mù tịt về những gì xẩy ra chung quanh chúng ta: Mất Ấn Độ và Mã Lai, những tiến bộ của Nhật Bản và Thái Lan... Họ thấy là không thể dựa trên sự mù tịt của chúng ta để thiết lập các quan hệ hòa bình với chúng ta và điều đó đã đem họ tới chỗ phải chiếm đóng Nam kỳ và lập cư ở đó. Tất cá tình trạng đó là do thái độ của chúng ta với người nước ngoài.

2. Doãn hành, tức “Doãn hành tắc hành”, “có cho làm mới được làm”, một khoản trong Hòa ước 5-6-1862 mà Lagrandière muốn nới rộng ra thành hiệp ước bảo hộ. Nước nào muốn giao thiệp với Việt Nam hay Việt Nam muốn giao thông với nước nào phải được Pháp cho phép.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #183 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2011, 09:07:31 pm »


Lại nữa xét về hành động của họ thì tuy cầu lợi nhưng họ cũng biết rằng làm cái điều lợi không hợp lòng người (tức tranh chiếm) thì khó, mà làm các điều lợi thuận lòng người (như trước tiên thông thương buôn bán) thì dễ. Tạm thời phương tiện cân nhắc cái dễ cái khó cho đúng thì ai chẳng muốn làm cái dễ trước làm cái khó sau. Nay họ ra tay trong lúc cuộc diện đang còn khó khăn, tuy họ cũng thèm Bắc kỳ đến nhỏ nước dãi, nhưng biên cương hai nơi thật khó xử trí. Cho nên đường phía Bắc xa xôi chưa sớm dong ruổi được.

Nay chẳng may nước họ đang gặp loạn ly, cho đến khi quyết định được chắc cũng phải mất vài năm. Như thế là đã khó lại gặp khó thêm. Nay ta muốn lật ngược cái thế của họ mà chợt đem trình cái dễ ra trước mắt họ, lẽ nào họ không nghĩ lại mà đổi ý. Nay muốn xin lấy lại sáu tỉnh đang trong tay họ, chắc chắn trước hết phải để cho họ khinh mình rồi lật lại cuộc diện mà khinh lại họ, mới là kế hay. Biết rằng nay họ đang gặp cơn biến loạn này, nhưng cũng phải biết rằng nếu không có một nước phương Tây nào thừa cơ chân tay họ thì chỉ riêng một góc trời không cần đến sự tiếp tế viện trợ của nước họ, thế lực của ta cũng chưa làm gì được họ.

Nếu chỉ bằng vào lời nói suông của ta thừa lúc đang nguy khốn mà trao trả hết cho ta, thì chẳng những bị thiên hạ chê cười mà còn tỏ cho Triều đình ta thấy sự yếu hèn của họ. Giả như thế của họ không giữ được thì họ cũng sẽ đem đổi cho người Anh hoặc Hà Lan để mong một ngày kia cùng với bọn chúng họ còn có đường trở lại. Như trong bài bẩm trước tôi có nói: Họ thà chịu lép vế với phương Tây còn hơn chịu lép vế với ta. Nếu nay ta cho họ thông thương hết các cảng trong nước ta để xin đổi lại đất đai, chắc chắn họ sẽ nghĩ rằng được lợi lớn trong việc thông thương thì có trả lại đất đai cũng che đậy được sự xấu hổ, mà mai kia do con đường này lần hồi cũng có thể đắc chí được ở nước Nam. Xét ra thì Nam triều tính tình chuộng sự hòa hiếu, chắc chắn chưa có cái thế nhảy vọt. Nếu mai kia công việc trong nước được yên bình, mượn sự thông thương mà gây hiềm khích để mưu đồ lấy lại đất thì ngọc lụa ngoại phủ hãy còn đó, ai vào đây tranh được với mình? Nếu mình không thừa cơ liệu biến, để Nam triều thừa loạn sinh tâm cầu viện nước khác, mình cũng khó đến cùng. Thế chẳng phải thất sách sao?

Nếu họ có âm thầm hành động gì thì cũng như các tờ bẩm trước tôi đã nói. Cho nên ta phải thi hành các mưu kế trước để cho họ nghe biết thì họ mới có thể trả lại cho ta. Chính đó là điều mà tôi đã nói chịu để cho họ khinh mình trước. Sau khi ta đã thu hồi sáu tỉnh và lập điều ước thông thương, lập tức phải đi giao thiệp rộng rãi các nước để cầu giúp đỡ. Thông thương để khai thác nguồn lợi. Đối nội thì gấp rút canh tân tự cường cho thế lực ta mạnh. Bấy giờ dù họ sinh sự thì ta đã có nhiều tay kình địch khiên chế họ. Phòng ngự đã kiên cố, thế lực đã đầy đủ, họ cũng phải sợ mà co rút lại thôi.

Nếu nay không dùng kế như thế, chắc chắn sáu tỉnh khó thu hồi được. Hiện nay nếu không lấy lại được thì sau khi nước họ phục hưng, nhân sáu tỉnh đã lập xong hang ổ, họ ra ơn thâu dụng người mình, như tờ bẩm trước tôi đã nói, ta làm sao ngồi yên được? Nay nếu ta đi Tây nên đem việc này biện báo với Triều đình họ rằng: Triều đình chúng tôi xem khắp các nước phương Tây từ trước đến nay qua lại cùng các nước trên thế giới, nói chung về kế sách lớn đều là làm cho mình và người cả hai đều được lợi. Khởi đầu công cuộc mậu dịch với phương Đông là Bồ Đào Nha rồi sau mới đến Anh Cát Lợi và quý quốc. Tuy nhiều lần xin thông thương với Triều đình nhà Thanh nhưng cũng nhiều lần không được như ý.

Nhưng người Anh cũng chưa từng vì không toại điều yêu cầu mà vội khởi hấn. Đến niên hiệu Đạo Quang bắt đầu mới có đụng chạm chút ít, sau đó liền lập điều ước giao thông buôn bán, không muốn giết chóc nhiều hay cắt chiếm đất đai. Xem đó thì thấy nước Anh đối với người cũng chưa có hành vi vị kỷ quá lắm. Bởi vì đã trải 200 năm qua lại xin xỏ mấy chục lần, sau mới dùng binh lực ra mà nói chuyện chứ đâu phải mới đầu đã dùng đến vũ lực ngay. Nay quý quốc đối với Triều đình chúng tôi từ xưa chưa hề có hiềm khích và việc thương thuyết cũng đã hơn mười lần. Tự nhiên vào năm Tự Đức thứ 9 quý thuyền đột ngột đến không cần nói năng gì cả, chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ đã bắn đại pháo, như thế có khác nào đánh úp chúng tôi? Phương Tây từ trước chưa từng nghe có cử chỉ hành động như vậy. Huống chi ngày nay văn hóa giáo dục đã phổ biến rộng rãi, cái thói đánh lén của phương Tây đã tuyệt không còn nữa.

Nếu không có bản văn tuyên chiến rõ ràng thì mọi người đều biết lỗi phải tại ai. Lúc bấy giờ Triều đình chúng tôi có ý nghĩ là quý quốc đem chính sách đã thi hành ở A Nhĩ Cập (Người Pháp chiếm lấy toàn cả nước ấy) ra thi hành ở nước chúng tôi. Cho nên bất đắc dĩ phải đem lính tồi ra chịu đòn. Tuy quý nguyên soái có một hai lần đưa văn thư đến nói chuyện hòa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #184 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2011, 09:08:32 pm »


Nhưng xét những việc làm của quý nguyên soái thì thấy thuyền quý quốc từng ưu đãi bọn Lê Phụng, nói năng có ý phò Lê. Nhưng sự việc như thế hiện còn có linh mục Trường biết, có thể làm chứng. Do đó người trong nước càng thêm nghi ngờ sợ sệt, càng thêm có thái độ không thuận, mà nghĩ cách tự vệ khiến quý quốc sinh giận. Mới buổi đầu sơ giao mà giữ lẽ với nhau bằng cách tranh thành tranh đất, giúp bọn phản loạn. Tình người có như vậy được chăng? Thế là tình lý đều không hợp, đó là điều thứ nhất. Kế đến là vào Gia Định mà không báo cho nước chúng tôi biết trước. Như vậy thật không hợp với đường lối chinh phạt của phương Tây.

Lần ấy Sa soái bàn hòa, tuy mới đầu cũng đòi điều kiện lấy lại đất bồi thường tiền nhưng rốt cuộc lại tước bỏ hết. Chẳng may rồi Sa soái vội quay thuyền về nước và Triều đình chúng tôi cũng mới gặp việc giặc loạn ngoài Bắc nên chưa kịp hoàn thành việc bàn hòa. Chứ không phải chúng tôi cố ý không muốn hòa. Khi Bô soái mới đến Biên Hòa chủ trương việc giảng hòa thì lại giữ chặt sáu tỉnh và bốn trăm vạn đồng. (Khi mới bắt đầu vào thương thuyết cứ tưởng sẽ y như điều ước cũ của Sa soái, không ngờ Bô soái bắt buộc đến như thế). Không đầy hai tháng mà nguyên soái cũ, nguyên soái mới đã chia làm hai, Triều đình chúng tôi không hiểu vì sao.

Nhưng bất đắc dĩ phải hoàn thành cho xong, tạm thuận theo ý của nguyên soái ấy, hy vọng khi quý quốc bình tâm sẽ xin thương lượng lại cho được công bằng. Cho nên mới sai sứ bộ lặn lội vượt trùng dương đem việc này khẩn khoản xin với quý triều để tỏ rõ cái lượng khoan hồng xử sự của quý triều. Được quý triều ra ơn nói cho trả lại, trên đường về sứ bộ ca ngợi truyền dương, mọi người đều thấy nghe hay biết. Bấy giờ nhân dân ba tỉnh ngược xuôi thông báo vỗ tay reo mừng, cả nước không ai không ca tụng tấm lòng đại lượng của quý quốc. Đến khi Hà Ba Lý phụng mệnh trở qua để hoàn thành việc thương nghị, Triều đình chúng tôi đã một phen thiết lễ long trọng khoản đãi để làm rạng rỡ mệnh lệnh của quý triều. Sửa đổi chưa xong đã vội sinh ý khác khiến Triều đình chúng tôi sao khỏi cái nhục đi không rồi lại về không, bị thiên hạ chê cười? Đứa thất phu còn nói chẳng nuốt lời huống chi là tình giao tế giữa hai nước?

Xưa người Anh nhân khi vua nước Hà Lan bị quý quốc đuổi chạy mà đoạt lấy thương phố Trảo Oa. Sau khi Hà Lan phục quốc đem lễ xin lại, người Anh liền trả lại. Thương phố Trảo Oa kia cũng chỉ là một vật trên đường cái, Hà Lan được trước, người Anh đoạt lấy sau. Một ấp ngoài biên cương, người này lấy người kia lấy, trả hay không trả cũng chẳng hại gì. Nhưng vì cái tình khẩn khoản nài xin mà quyết định trả lại, đến nay chưa từng nói ngược trở lại bao giờ. Thể diện chính là ở chỗ tín với nhau.

Triều đình chúng tôi nghĩ rằng hòa ước lần đầu phát xuất từ chỗ bị ép buộc mà phải ký kết. Chỉ vì nguyên soái của quý quốc phái thuyền đến thôi thúc nên phải vâng mệnh nghe theo ngay. Nhưng khi đã vào đến bến Gia Định rối quý quan liền phân chia binh thuyền theo ven các sông canh giữ 4 mặt, không cho một người nào người nước chúng tôi đi thuyền được lên bờ, cũng không cho một người Nam nào trên bờ được xuống thuyền. Đã đến hòa hảo với nhau mà phòng chống như thế, xưa nay có lý nào như vậy không? Bấy giờ viên đại thần nước chúng tôi thiết nghĩ có lẽ quý quốc sẽ làm cái điều như người Anh đã làm đối với Tổng đốc Diệp ở Quảng Đông. Nếu thế thì nước chúng tôi không chịu hòa. Nhưng liều sống mái một trận thì hại đến sinh linh nên bất đắc dĩ phải ký. Thế chẳng phải bức bách ép buộc là gì?

Hòa ước đã được hình thành. Tuy việc ấy không phát xuất từ chỉ lệnh của vua nước chúng tôi nhưng vì lòng muốn kết liễu công việc nghĩ đến sinh linh nên không thể không chấp nhận việc đã rồi để thuận theo ý của quý triều, nhưng trong lòng cũng nghĩ là tạm giao nhượng đất đai để tỏ uy danh của quý quốc đối với thiên hạ. Rồi sau đó sẽ đem lễ đến xin lại để một lần nữa làm rõ cái đại lượng của quý quốc đối với người trong nước của chúng tôi, để cho nhân dân cảm mến quý quốc cùng nhau giao hảo vui vầy vĩnh viễn có lợi cho cả đôi bên. Cho nên mới thân hành đến Triều đình nước Pháp, xin y theo cuộc bàn hòa của Sa soái trước đây, mà không dám khinh suất nói chuyện xin lại tại Gia Định. Như vậy để tỏ rõ cái uy danh rất trọng vọng của quý quốc. Quý triều không xét rõ cho tấm lòng này, mới đầu thì bức lấy, kế đến thì khinh khi áp chế, hứa trả lại đó rồi lại hủy bỏ lời hứa. Xử phân như vậy Triều đình chúng tôi biết theo thế nào cho vừa? Đó là hai điều không hợp tình hợp lý.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #185 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2011, 09:09:07 pm »


Sau đó chúng tôi lại muốn sang Triều đình nước Pháp để đem sự việc thưa nói rõ ràng một lần nữa. Cho nên nhờ Giám mục Hậu sang trước để cho hai bên tin nhau chẳng may Cầm Bô ở Cao Miên làm loạn, thượng du ba tỉnh giặc cướp nhân đó nhúng tay vào. Đối với thế lực của quý quốc thì những chuyện quấy rối lặt vặt như vậy chỉ búng ngón tay một cái là dẹp xong ngay nào có hề hấn gì đến đại thế. Thế mà quý nguyên soái nhẹ dạ tin lời đồn đại, dựa vào thư người ta dèm pha vu vơ cho rằng Phan đại nhân đem binh ngầm giúp người Miên, không chịu hợp cùng Triều đình chúng tôi tra xét rõ là người nào, thư gì, có ai chứng kiến không, lại vội cố chấp lời nói một bên để làm cái cớ lấy ba tỉnh trong rồi đem binh bức lấy. Bấy giờ Phan đại nhân vì trọng sinh linh, vì lòng giữ hòa ước mà tập hợp quan binh, tay không mở cửa ra đón. Trong lòng mọi người đều nghĩ rằng phải quấy sẽ có ngày tỏ rõ, chứ trong lúc binh của quý quốc đang hăng mà tiếp đón như quân cách tức cố ý đối địch. Cho nên tạm thời tránh oai của quý soái hy vọng sau này quý soái sẽ nghĩ lại, đem sự công bằng ra nghị xử để bảo toàn tình giao hảo. Khi hai nước vì quyền lợi mà đánh nhau, công luận cũng đã biết quy lỗi phải về ai rồi. Huống chi nay một bên tiến quân bức bách cố tình khiêu khích, còn một bên lui nhượng không đáp lại một mũi tên.

Theo thường tình thì nước lớn có binh đội của nước lớn, nước nhỏ có sự phòng bị của nước nhỏ. Cho dẫu hai nước tiếp giáp nhau hòa bình không việc gì xảy ra cũng không thể triệt bỏ binh đội, phá hủy thành lũy. Có đất nước phải có như vậy. Nếu không sửa sang võ bị tức là thất kế. Nay Triều đình chúng tôi, ở ba tỉnh trong không dám đào một cái hào, đắp một cái thành, cam chịu mang tiếng thất kế, chính vì muốn xóa tan lòng nghi ngờ của quý quốc để bảo toàn tình hữu nghị dài lâu. Cũng không dám sai đại thần ngoài Bắc vào nắm giữ đất, sợ không am tường lễ nghi mà sơ suất điều gì làm cho quý quan sinh nghi ngờ chăng. Do đó miễn cưỡng bỏ lễ lệ của quan Triều đình chúng tôi, chuyên phái Phan đại thần là người địa phương lưu trú làm công việc kinh lược, để tỏ rõ sự tin nhau, để củng cố tình hòa hiếu. Còn ba tỉnh trong bất luận nơi đâu, quý quan binh đều được tự do qua lại không ngại, không lập giới hạn gì cả như người Trung Quốc, người Nhật Bản. Tất cả thường dân của quý quốc đến buôn bán và các linh mục Tây cũng đều được ưu tiên đối xử như quý quan vậy. Tuy quý triều không lấy mà đã nghiễm nhiên như là đất chung dân chung. Như ngoài Bình Thuận cũng vậy, tất cả những việc làm như thế đều để làm tỏ rõ cái nhân tình hòa mục, để cùng nhau yên ổn dài lâu. Quý triều hãy thử xem trên thế giới còn có nước nào được đón đãi đến như vậy không? Và cái tình giao hảo của chúng tôi tôn trọng tùy thuận đến thế nào?

Biết rằng tay hung hăng không đánh mặt tươi cười. Lòng người cố nhiên như vậy. Chim cắt không đánh con chim đã nằm rạp. Sư tử không vồ con thú đã tránh chạy. Loài vật còn thế, huống chi thể diện một nước bạn mà chỉ vì lòng thương sinh linh, đã phải cuốn cờ mở cửa thành ra tiếp ư? Theo phép giao tế giữa các nước, nếu nước này có những hành động gì khiến nước kia sinh nghi cũng có thể dùng quyền tự vệ mà hỏi cho ra lẽ, nghị luận cho thỏa mãn tốt đẹp mới thôi, chưa nghe cứ một tý gì là đem binh ra nói chuyện. Hơn nữa luận về giao hảo ở đời, nếu ta tận tình đem hết lễ ra báo đáp mà người thốt nhiên quay mặt đi, nếu là việc đại sự thì thường đến phẫn uất mà chết, vì lẽ mình thi thố mà không được báo đáp lại. Không hiểu tại sao quý soái không chịu biện cho rõ mà tiến hành bức lấy, khiến Phan đại thần hàm oan nhịn ăn mà chết. Đường lối nhân hậu thường tình có như vậy được chăng? Đó là ba điều không hợp tình hợp lý.

Lại nữa xét ra hòa ước lần đầu là do sự bắt buộc, thế mà Triều đình chúng tôi vẫn thủ tín không biện minh gì cả. Đến năm Tự Đức thứ 20, nguyên soái Gia Định lấy ba tỉnh trong thì hòa ước trước đã trở thành tờ giấy lộn. Xét về phép minh ước của các nước trên thế giới, nếu một nước trong đồng minh vi phạm một điều nào trong minh ước thì toàn bản minh ước đã có khả năng có thể hủy bỏ. Nếu như trên bản minh ước có nói rõ nếu phạm một điều nhưng các điều khác vẫn phải tuân thủ, hoặc chỉ rõ trong bản minh ước có một hai điều nào đó vĩnh viễn không được hủy bỏ, sau này dù có xảy ra việc gì phải lập minh ước khác cũng không được thay đổi điều này. Nay quý quốc vạch định tờ hòa ước trước không có nói rõ. Như vậy xét ra sau này không những quý triều lại sửa đổi hòa ước mà còn thủ tiêu hòa ước để lấy ba tỉnh trong. Thế mà lập hòa ước xé hòa ước đều tự quý triều bắt đầu trước. Gần đây thúc giục hòa ước tức là nơi bản hòa ước trước đã hủy bỏ lại trích lấy một điều khoản “Doãn hành”. Lấy bỏ như vậy có được công bằng không? Phải biết rằng một nước tự chủ vốn có quyền tự lập, nước khác không được biết đến việc nội chính của nước ấy. Tuy như gần đây các nước trên thế giới thiết lập đại sứ với nhau chỉ là để tham dự vào các công việc giao thông giữa hai nước chứ không thể chế tài đối với quyền nội bộ của nước bạn. Nay Triều đình chúng tôi đối với việc nội bộ trong nước từ xưa đến nay, nước là nước của chúng tôi, thế mà quý triều bỗng nhiên thêm vào một điều khoản “Doãn hành”, thì nước ấy quyền ấy như là của quý triều vậy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #186 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2011, 09:09:58 pm »


Xưa kia Na Bất Lặc Tư có việc mà Phổ Nga Áo bàn nhau muốn dự vào nội chính nước ấy, rồi Nga Phổ Áo cũng muốn bàn nhau vào nội chính của Tây Ban Nha nhưng đều bị Anh Cát Lợi bác cả. Huống chi đối với vấn đề muốn cắt đất hay không muốn cắt đất đều là vấn đề nội chính của Triều đình chúng tôi mà sao quý triều đình lại muốn chế tài? Thử xem các nước trên thế giới từ xưa đến nay hội họp minh ước nhau cũng chưa bao giờ đề cập đến khoản này. Nếu quý triều có rộng lượng, có theo công lý thì việc đó chớ nên để cho xuất hiện trên giấy tờ cũng chớ nên thốt ra lời nói, huống nữa là lập trên hòa ước và đem báo cáo ra thiên hạ ư? Giả sử Triều đình chúng tôi có vì lý do riêng mà muốn như vậy, tưởng quý triều cũng phải từ khước để bảo toàn thể diện cho hai nước. Sao lại công nhiên đòi hỏi, khiến Triều đình chúng tôi không còn mặt mũi nào với thiên hạ thì còn gì là tình nữa? Như nước Anh, trên thế giới cũng từng bảo hộ rất nhiều nước nhỏ nhưng cũng không nói đến “Doãn hành”, chính vì muốn cùng nhau giao hảo thì phải lấy tình nghĩa công bằng làm đầu. Còn nếu như chỉ dựa trên thế lực mà nói chuyện, làm sỉ nhục nhau thì tình lý đều mất cả, còn mặt mũi nào qua lại với nhau để minh ước? Không hiểu sao quý quốc nói đi nói lại vẫn không quên khoản này! Định nêu nên để làm nhục chăng? Nếu thế thì đứa thất phu còn không chịu nổi huống hồ Triều đình chúng tôi. Hơn nữa đã gọi là hòa tức cơ bản là muốn đem hai địch thủ ra thực hành lễ pháp với nhau, hai bên cam lòng chấp nhận lý của nhau, thế mới gọi là hòa. Còn nếu đem thế lực ra mà nói tức là gần như hiếp chế, sao gọi là hòa được? Giả sử ngày nay ba tỉnh trong hãy còn, hòa ước trước vẫn còn hiệu lực, Triều đình chúng tôi cũng yêu cầu cắt bỏ khoản ấy, huống chi hòa ước trước đã hủy bỏ mà lập hòa ước sau? Đó là bốn điều không hợp tình hợp lý.

Mấy năm trở lại đây có bốn điều rất bất bình không hợp tình hợp lý ấy đều do vua trước, nguyên soái trước gây ra. Xét ra năm trước quý triều đã có nói đến sửa đổi hòa ước trả lại ba tỉnh ngoài. Vậy lần này ba tỉnh ngoài đã có sự lý phải trả lại. Chỉ vì nguyên soái Gia Định muốn lập công thái quá, ra sức cản trở, rồi lại bức lấy ba tỉnh trong mà không có chứng minh rõ rệt. Tức như dẫn chứng nói rằng cuối năm Tự Đức thứ 20 ở Gia Định có phao đồn rằng quan đại thần Điện Võ Hiền của Triều đình chúng tôi lẻn đến Tân Hòa lại còn dẫn theo những người Gia Định đã từng phục sự nhiều năm cho vị đại thần ấy. Trong khi Giám mục Hậu từ Gia Định lên Kinh hiện thấy rõ ràng vị đại thần đang ở tại Bộ. Xem thế thì tất cả những chứng cớ mà nguyên soái Gia Định vịn vào như xúi giục quản đội làm loạn, nhằm giúp vua Miên v.v... cũng đều như vậy cả. Quý triều ở xa xôi muôn dặm, chỉ dựa vào lời nói thiên lệch của nguyên soái Gia Định mà quy lỗi cho Triều đình chúng tôi thì thật không chính đáng. Như quả lỗi ở Triều đình chúng tôi mà nguyên soái Gia Định có thể bắt lỗi một cách xác đáng thì phải họp nhau đối chiếu để biết mà giải quyết. Hoặc không thì cứ bắt lý một cách rõ ràng chính đáng rồi công nhiên đánh lấy. Sao lại sai Vial lên Kinh miệng thì nói yêu cầu Triều đình chúng tôi thuận giao ba tỉnh thì không những hủy bỏ hoàn toàn số tiền hai trăm vạn đồng không phải trả mà muốn gởi cho thêm cũng được, còn cho hỏa thuyền, còn cho miễn thuế tất cả thuyền người Nam đến Gia Định buôn bán, còn sai binh thuyền dẹp sạch cướp biển v.v... Những điều nói đó tuy không có giấy tờ làm bằng chứng, nhưng nay Vial hãy còn, có thể chối được sao? Nếu Triều đình chúng tôi có lỗi và nguyên soái Gia Định bắt lý xác đáng thì cần gì phải hứa như vậy? Xin quý triều hãy đem tất cả việc xưa tích cũ hiện còn qua bao năm hai bên giao tế với nhau cùng với những người ấy, việc ấy suy tìm kỹ lưỡng, nếu có một khoản nào làm sứt mẻ khiến Triều đình chúng tôi không thể trả lời được chúng tôi mới chịu lý. Tất cả những sự bất bình trước đây mà Triều đình chúng tôi không được một lần giảng giải rõ ràng hoặc không được nhờ một nước bạn chiết trung cho thì việc ấy chưa tỏ, lý ấy chưa yên, tình ấy chưa cam, giao hảo chưa được hoàn toàn.

Nay quý triều đã thay đổi quan niệm, xin hãy vì Triều đình chúng tôi phân xử lại. Có thể mời một nước bạn hoặc một vị đại thần Viện Tư pháp của quý quốc đứng làm trung gian để quý quốc khỏi mang tiếng dùng thế lực lấn lướt người và để cho Triều đình chúng tôi thỏa mãn, biết rõ phần nào là phần mình có thể được để vĩnh viễn không dám bàn trở lại nữa. Đã biết rõ những chỗ không hợp trước đây tức có thể xóa tan hận cũ, vĩnh viễn thắt chặt niềm vui mới, tạm quyền giao lại sáu tỉnh như trước đã bàn và chỉ chọn ở một hai nơi. Triều đình chúng tôi sẽ tình nguyện lập minh ước mở rộng các khẩu để cho quý quốc lưu trú thông thương, và tất cả các nước phương Tây muốn đến lập minh ước chúng tôi sẽ thỉnh giáo ý kiến rồi Triều đình chúng tôi sẽ chước lượng, để mở rộng lợi ích vĩnh viễn cho cả hai nước.

Nếu quả đường lối chính sách thay đổi được như thế thì hai nước sẽ cùng nhau yên ổn, lễ giáo văn hóa giao tiếp nhau, nhân dân hai nước ngày một thêm gắn bó, hàng hóa vận chuyển ngày một thêm nhiều, hai bên sự hiểu biết, chữ nghĩa, ngôn ngữ ngày một học tập nhau nhiều hơn, lợi càng thêm lợi, thân càng thêm thân, yên hưởng vui vầy như một gia đình vậy. Như thế thì quý quốc y như chung quyền lợi chung đất nước cùng chúng tôi. Thế còn hơn cưỡng bức chiếm lấy để cho hai bên cứ nghi ngờ sợ sệt bất bình nhau ư? Ngày nay các nước ven biển khắp thế giới đều đã giao thông với nhau, người qua kẻ lại như dệt cửi, thuyền buôn ra vào như rừng, cái có cái không trao đổi cho nhau, chỗ dư đủ chỗ thiếu thốn bồi bổ cho nhau, cùng điều hay chung điều lợi, đồng nhất đạo đức hài hòa phong tục, ăn ở chung đụng, tiếp thu trao đổi nhau, đó là do vận hội thời thế xui nên như vậy, sức con người không thể đổi dời được.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #187 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2011, 09:10:44 pm »


Tùy theo thời thế mà tạo nên cuộc diện để cùng đem lại sự tốt đẹp mãi mãi là khách là chủ của nhau chẳng cần phải cạnh tranh thì đây kia mới yên để tiếp lấy cái công dụng kỳ diệu của đạo trời, mới làm tròn cái bổn phận to tát của nhân loại. Nếu chỉ sử dụng cái lòng tham của mình, đem oai ra bức hiếp nhau, đem sức ra chống chọi nhau, lấy sự giết chóc nhiều cho là hơn, lấy sự mở rộng đất đai làm thích thú, thì làm người ai chẳng có khí huyết, một bên tham được cứ tham hoài, một bên sợ mất cứ lo cố thủ bảo vệ, bên nào trong lòng cũng đầy chật gươm đao, làm sao có thể vô sự được lâu dài mà làm việc lợi ích? Phải biết rằng việc đời không việc gì không chế ngự được oai không nên lạm dụng, oán thù không nên kết sâu, xảo thuật cũng có lúc cùng, thế lực cũng khó ỷ hết, là vì gà què cũng mổ được mắt cọp, nổi cơn thịnh nộ thì chẳng cần lượng sức.

Trước đây quý nguyên soái bảo hộ em của vua Miên mà người anh đã dám đối địch lại quý quốc là do giận nổi lên chẳng nghĩ đến thân. Bọn da đen Di Ni Á ở đảo Tây Châu, một đêm đã giết sạch quan binh của quý quốc là do sức mạnh của lòng căm thù chẳng kể mình yếu thế. Hoa Nha dùng chính sách bạo ngược thi hành ở Hà Lan mà A Tri Lan (Cô Xa) nổi dậy quyết liệt, cái lợi cai trị mấy mươi năm không đủ bù lại cái hại của một lúc tranh chiến. Xét ra chẳng được việc gì cả mà nào phải chỉ một việc này thôi. Xưa Y Pha Nho đối với các nước miền Nam Tây Châu, quyền thế biết bao mà nay đâu còn? Không nước nào bằng Hợp Chủng Quốc, đối với thế giới không cần chinh phạt, cho nên người và mình không chống đối nhau, thượng lợi lâu dài. Tưởng quý quốc đã từng lịch duyệt khắp thế giới thì những sự được mất như thế này cũng đã tính kỹ rồi. Triều đình chúng tôi gần đây cũng biết được ít nhiều về đại thế trong thiên hạ, đem nghiệm với đạo trời, suy ra việc người, xét đến tình nghĩa, phối hợp với thời thế nên không nỡ có hành động liều lĩnh sợ thương tổn hòa khí và hại đến con dân của Triều đình hai nước.

Vì vậy mà một lòng nương tựa vào thượng quốc để cầu cho mình và người đều được bảo toàn, để chờ cơ hội mà bày tỏ tấm lòng thành giải tỏa nỗi hậm hực, dẹp bỏ những sự nhỏ nhen cho đại nghĩa được vĩnh viễn hoàn toàn. Chính nay là lúc thời cơ đã đến, quý triều có nghĩ như vậy không? Tưởng quý triều sáng suốt đối với những mưu kế lớn về sự được mất thì chắc chắn cũng phải lấy con đường thông đồng thương mãi làm kết cuộc, cho nên dám trình bày một đoạn tình hình để xin được mong ơn quý triều.

Trên đây là những lý sự biện luận với họ. Nếu đại khái có thể dùng được một hai điều, xin sẽ sửa đổi bổ sung và dịch sang tiếng Tây phụ nạp một bản để Triều đình họ hiểu hết những tình thế ẩn khúc này mới có thể quyền tạm thủ xả mà đính ước cùng ta.

Theo thiển kiến đôi ba lần suy nghĩ thì sáu tỉnh là một địa thế rất tốt. Sáu tỉnh hợp với Cao Miên và vùng phía sau núi nước ta có thể thành một nước lớn. Dùng thế lực của họ mà kinh doanh khai thác, không ngoài 10 năm sẽ giàu có thịnh vượng không thua gì năm xứ Ấn Độ. Và Cao Miên và các bộ lạc dân tộc ở rải rác hai bên sông Cửu Long có thể quất roi sai sử, như người Nga đối với các bộ Bá Lợi, không phải nhọc sức dùng binh cũng thu phục được, không những đã dễ cai trị mà Đông Tây lại có hai dãy núi lớn tạo nên thế hiểm yếu. Chiếm cứ được vùng này có thể đủ sức chống chọi với người Nga, người Anh ở phương Đông. Cái lý thế ấy trong các bài bẩm trước tôi đã trình bày rõ. Nay mà giao trả lại sáu tỉnh thì trong ý họ thật muôn vàn khó khăn. Cho nên nước ta nói hòa trước xin lại sáu tỉnh thì họ chắc chắn sẽ không chịu nói hòa là vì lý do đó. Nếu nay ta có thể mở rộng thông thương, chịu để cho họ khinh, nhưng lại ngầm tỏ dấu hiệu cho họ biết rằng nếu không tạm trả lại thì rốt cuộc cũng không thể nào giữ được. Nếu sáu tỉnh ấy mà mất vào tay các nước phương Tây, sau này sẽ không còn trông mong gì được nữa. Cho nên chi bằng nay hãy trả để còn có hy vọng mà lấy lại. Như thế mới có thể trả hết được sáu tỉnh cho ta.

Lại nữa nếu đi Tây lần này, Triều đình thấy còn nghi ngại chưa quyết định, tính toán chưa được kỹ, sợ nhọc sức mà vô công, tốn kém mà không bổ ích bao nhiêu thì hãy nán đợi vài tháng để xem động tĩnh của họ ra sao cũng được. Nếu không thế thì cứ đi gấp, dùng hết mưu kế, tìm hết mọi cách để chuộc về. Nếu không đạt được yêu cầu mà còn có cách phải dùng sức mạnh lấy lại thì qua Y thông Anh cầu giúp đỡ; như các kế tôi đã bẩm trong ba tập trước, chọn lấy cái nào dùng được thì dùng để cho người trong nước biết rõ Triều đình đã hết lòng hết sức vì nước vì dân. Như thế không những có thể đem tấm lòng này gửi vào sử xanh mà còn có thể giải thích cho người trong nước rằng đây thật là điều trời làm như vậy, ta biết nói sao? Rồi từ đây về sau những sự việc trước gác qua một bên chẳng cần để dạ, chỉ sao mau mau hợp ý đồng lòng chọn lấy những nước mưu trí trên thế giới, làm theo những kinh nghiệm mà các nước ấy đã làm để được giàu mạnh. Như vậy mới có thể mưu đồ báo phục.

Vả tôi cũng có suy nghĩ một cách khác rằng hay là ta bí mật nhờ Y nói giùm với Nga và Phổ để Nga ngầm giúp nước Phổ chia lực lượng sang nước ta. Bên trong, ta sẽ có người tiếp ứng dẫn đường. Sau khi công việc thành rồi ta sẽ bồi phó phần nào cho nước ấy. Tôi thiết nghĩ Pháp Phổ chống nhau đã lâu, nếu ta dùng kế này thì người Nga vốn đã từng hận người Pháp chắc chắn sẽ giúp Phổ lật Pháp, đã khiến cho Pháp không còn tự tung tự tác ở phương Đông được nữa mà họ còn được cái lợi thông thương với ta, nên họ thấy cái thế cũng nên làm. Có điều là nếu thế thì trước hết phải lập minh ước định hạn với họ mới có thể dẫn họ đến. Nếu không thì sẽ như Ngô Tam Quế dẫn Thuận Trị qua sông, lại thất kế nữa. Nhưng khi người Pháp thấy Nga Phổ sắp hành động thì sợ vật của mình sẽ rơi vào tay kẻ thù, chi bằng nhường lại cho nước bạn để cầu giúp đỡ còn hơn. Bấy giờ người Anh ở phía Tây sẽ hợp với Pháp để khiên chế hai nước này, ở phía Đông sẽ đem binh lực ở Ấn Độ cùng nguyên soái Pháp để giữ Gia Định. Nga Phổ chưa sở trường về đường thủy cũng khó thành công được. Người Anh giúp Pháp giữ Gia Định cũng không phải bản tâm họ muốn như thế, nhưng vì môi hở răng lạnh, và nếu bỏ Gia Định để cho Nga Phổ vào hợp với Nam Triều để được mạnh thêm, điều đó chẳng có lợi cho mình. Hoặc có thể người Pháp vì thế buộc mà phải nhường lại cho Anh để nhờ cậy về mặt quân sự thì chắc chắn người Anh sẽ đưa lực lượng phương Đông đến đóng nơi hiểm yếu này, Nga Phổ cũng khó thành công được. Chính vì thế tôi muốn dùng kế này trước hết phải giao thiệp chắc chắn với người Anh mới bảo đảm không có hậu loạn. Nếu quả thật người Anh hợp nhau với Pháp thì chẳng những không thi hành kế này được mà ta hợp với nước Y cũng không thể địch lại với Anh Pháp (Đoạn này cho thấy rằng bất luận thi hành đường lối nào cũng đều lấy Anh làm trọng. Theo tình thế hiện nay, Anh ngã về bên nào thì bên ấy thắng. Như trong bài bẩm trước tôi đã nói: Nếu rốt cuộc Anh Pháp không ở vào thế chia rẽ nhau thì ta cũng khó thoát khỏi tay người Pháp). Cho nên ta muốn đem lực lượng ra chống chọi, chắc chắn trước hết phải giao thiệp rất hậu với người Anh, cho họ thông thương để họ thủy chung với ta mà hoàn toàn đứng ra ngoài cuộc thì ta mới thi hành được mưu kế.

Tôi đem sự thế của chúng mà tính toán tương lai như thế xin Triều đình thấy cái nào được thì tự chọn. Như binh gia nói: Thắng trước, sau mới đánh. Xem cái lý thế như trên thì tận lực thu hồi được sáu tỉnh mới là kế sách hay nhất. Ngoài ra thì lợi hại không định trước được, biến hóa vô thường, phải khéo cơ quyền mới dám làm. Nếu không thì cũng nên thừa lúc người Pháp chưa rảnh tay dòm ngó đến ta mà giao thiệp rộng rãi để giữ lấy những gì chưa mất (Kế này không thể làm là được ngay, phải gấp rút nhân khi người Pháp đang suy loạn mới có thể làm được. Nếu thành công được cái kế liên hoành mà lại thoát được cái điều “Doãn hành” thì nay tuy chưa được lại sáu tỉnh, sau này cũng có thể nhân kế này mà cầu được). Nếu kế này được thành công thì ta mới có thể an hưởng được những gì của ta. Nhưng cái kế ngừa hoạn này mà chưa đúng thì dù có được cũng chưa gọi là trí, chưa gọi là dũng mà sau khi ở lâu với các nước cũng khó bảo đảm không xảy ra phiền nhiễu. Bấy giờ không khỏi bị chê cười là mở cửa đón kẻ cướp và người ta còn có thể dị nghị về sau nữa. Phải biết rằng chỉ lo phòng bị sau khi đã hoạn nạn sao bằng chặn đứng các nguyên do phát sinh hoạn nạn. Ngồi xem và chờ cho hoạn nạn đến rồi mới đứng dậy kiệt lực làm để khỏi hoạn nạn, chi bằng sao không biết làm cho hoạn nạn không sinh ra để được yên ư? Hãy xem khi ở Đà Nẵng, nếu sớm hòa và cùng họ thông thương thì sáu tỉnh đã không mất mà kỳ thật sớm hòa để bảo vệ sáu tỉnh. Cái công lớn ấy có ai nhìn thấy mà quy công người đã chủ trương sớm hòa? Nhưng người xướng nghị chẳng những không có công gì, mà sau khi thông có một đôi điều rắc rối nhỏ xảy ra thì lại quy lỗi cho người trước tiên chủ hòa cho rằng dẫn giặc vào nhà để di hoạn ngày nay! Hiện nay cái lợi ích lớn của việc giao thông cũng giống như cuộc diện này. Nghĩa là cũng xem thiên hạ chúng trí vì sao thực hành giao thông mà không bỏ đường lối ấy cả. Nhân việc đã qua mà biết việc sắp đến. Cũng có thể biết lợi hại của nó như thế nào. Nếu có thể theo chúng mà tính toán rõ cái lợi của sự giao thông buôn bán thì có thể đề phòng được những cái hoạn nạn lớn lâu dài về sau, mà còn mở ra vô số lợi lớn lâu dài (Nếu muốn trình bày rõ xin sẽ trình bày ở tập tiếp theo). Như thế thì phải làm gấp.

Nay tôi có một số ý kiến như thế không biết có được chăng?

Kính bẩm.
Cơ mật viện đại thần đại nhân soi xét.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #188 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2011, 09:13:15 pm »


DI THẢO SỐ 42

Bàn về quan hệ với người nước ngoài*

(Ngày 16 tháng 2 năm Tự Đức 24, tức ngày 5 tháng 4 năm 1871).

Tôi giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ xin kính cẩn bẩm rõ về vấn đề giao thiệp với nước ngoài cần phải như thế nào.

Tôi trộm nghe rằng: Có thông hiểu tình hình thiên hạ, mới làm thành việc trong thiên hạ. Thông hiểu là thế nào? Nghĩa là đem tính tình của mình mà suy ra tính tình của người tức là biết được thiên hạ. Trong thiên hạ tuy ngôn ngữ phong tục khác nhau nhưng ai cũng đều có tính chất như nhau. Như vậy chỉ cần suy bụng ta ra bụng người thì có thể biết Đông Tây bốn biển đều như thế cả. Thế giới năm châu đều có tính chất như nhau. Thánh nhân chỉ dùng một trí hiểu biết mà thấu khắp muôn vật, do đó công dụng của nó mới không cùng. Vì vậy cho nên có muôn thứ bất đồng mới gọi là phong phú, không gì không thâu chứa hết mới gọi là vĩ đại, quy tụ chất chứa nhiều thứ mà không trái chống nhau mới gọi là tinh xảo, nhiều thế lực khác nhau mà tập hợp được thành một công dụng mới gọi là kỳ diệu. Trời đất sinh ra muôn vật không chỉ sinh một khuôn mẫu nào, không thiên một bên nào, một chức phận nào hay một vật nào mà sinh ra vô số hình thù khác nhau, xu hướng khác nhau để thu phục thống trị chúng, do đó mới thấy được cái phong phú vĩ đại tinh xảo kỳ diệu của trời đất.

Con người cũng vậy. Hãy xem các nước lớn hùng mạnh trên thế giới, không nước nào không thu phục được thiên hạ về mình, nhưng chỉ đem cái lẽ là điều gì mình không muốn thì không đem điều ấy ra thi hành ở người khác mà đối xử. Cho nên được mọi người đều đem công dụng của mình ra cống hiến. Bởi vì chỉ có người đại lượng mới có thể kết thân được những hạng người cao quý trong một nước. Một quốc gia có một chính sách đại lượng mới có thể kết tình hữu nghị với khắp các nước trên thế giới. Cho nên tất cả các nước không nước nào giao thiệp qua lại liên lạc chặt chẽ với các nước khác mà không được cường thịnh. Sách Nghiêu Điển nói: Hòa hợp với muôn nước thì dân được thay cũ đổi mới. Sách Cửu Kinh nói: Mềm mỏng với người phương xa đến thì bốn phương quy phục. Vì quốc gia đương nhiên phải cần người quy phục, mà muốn được người quy phục chắc chắn phải lấy sự mềm mỏng hòa dịu ra đối đãi với họ. Có được người thì có của cải có công dụng. Nay có được một bậc đại quân như thế thì khắp kẻ sĩ thiên hạ đều nguyện làm tôi Triều đình, người bán buôn sẽ tình nguyện xuất vốn trên đường thương mãi, nước lớn thì triều yết, nước nhỏ thì bái phục, uy danh trọng vọng biết chừng nào? Con đường ngoại giao là lôi kéo thiên hạ về mình. Ta muốn đến người tức có việc cần đến người. Người muốn đến ta tức cũng có việc cần đến ta. Như thế là quân bình về mặt tính tình. Đem tính tình của ta thế nào mà không hiểu tính tình của người cũng thế ấy, rồi chỉ đem cái bụng suy kỷ cập nhân ra mà ứng dụng thì thâu thái được nhiều vô cùng và khắp thiên hạ, thâu thái cái gì là đắc dụng cái ấy. Chứ việc gì phải quá sợ sệt để đến nỗi cho người ta thấy mình là hèn yếu? Xưa Lưu Đạo Quy trấn giữ đất Kinh Châu, một hôm Hoàn Xung trở lại, nhiều môn sinh và quan lại cũ có bụng muốn theo về chủ cũ. Biết vậy Đạo Quy đương đêm mở cửa thành để cho tự do ai muốn theo cứ đi, thế mà người ta không nỡ bỏ đi là vì lòng đã phục. Không nghi ngờ thì tình mới thỏa thiếp, hoài nghi thì tình người cách ngăn. Tình cách ngăn thì dù ở trước mặt nhau cũng chẳng qua lại, huống chi thiên hạ hết sức rộng lớn, lòng người muôn mặt mà có thể thông cảm cho nhau được sao?

Nước ta từ xưa chưa từng giao thiệp với các nước trên thế giới. Duy chỉ tiên hoàng khi thống nhất nước Việt một lần giao thiệp với nước Pháp mà được cơ nghiệp trung hưng. Khoảng thời gian giữa vì có cách trở với Pháp mà gây thành mối lo buồn của sáu tỉnh. Vậy cái lợi hại của việc giao thiệp cùng không giao thiệp, bất tất phải xem gương khắp thiên hạ mà chỉ nội trong nước mình cũng đã sáng tỏ như đuốc rồi.

Có điều là tôi đã quan sát tính tình của thiên hạ thì thấy rằng họ dễ giao thiệp với người, còn tính tình của ta thì quá khác người, cho dẫu muốn chọn lựa để giao thiệp cũng sợ việc khó thành. Phàm bình thường trong khi giao tế với người, một khi mở bày tấm lòng là đã thấy thành thực, thế còn sợ chưa thỏa lòng thay. Huống chi ngồi nói chuyện với người ta mà coi bộ bồi hồi láo liêng, như người xây xẩm, mắt cứ ngó chừng bốn phía như sợ để quên vật gì người sẽ lấy cắp đi? Như thế là mình đem cái tâm không tốt ra đối đãi với người ta mà người ta không ân hận là việc chưa từng có, đó là một cái khó. Giả sử nếu tuyệt giao thì cứ tuyệt giao đi, còn đã không thể tuyệt giao được mà giọng điệu cứ như muốn cự người ta thì chẳng những không ích gì lại còn bị người làm nhục nữa là khác. Thí dụ như năm trước việc linh mục Trường lên kinh về ghé thăm nhà quan hiệp lãnh Trung mà quan hiệp lãnh liền bị cách chức. Thế có khác nào cách biếm người pháp? Khiến đến nỗi họ reo ầm lên rằng: “Không cho vào nhà thì ta vào nước vậy”. Như thế mà sau này giao thiệp với thiên hạ, hoặc giả có quý quan của nước họ đến triều bái, chắc chắn thế nào họ cũng đến viếng thăm nhà quan ta, vì theo lễ ngoại giao họ rất trọng sự thăm viếng qua lại như vậy. Ta sang nước họ, họ đến nước ta mà rồi quan ta lại bị tội liên lạc với nước ngoài. Như thế thì ai dám ứng xử chuyện trò để mắc phải cái tai họa không ai mong muốn ấy làm gì? Nghe biết chuyện này thiên hạ đều bảo rằng quan chức nước Nam phần nhiều đều hai lòng cho nên luật pháp nước ấy cấm không cho giao thiệp nước ngoài để đề phòng khỏi sinh biến. Xem thế để thấy rõ ràng làm sao có thể cùng nhau chia sẻ gánh vác việc nước được?
__________________________________________
*. Nguyên văn chữ Hán: Hv 634/1/31-40.
    Hv 135/30-38.
    VHv 170/59-64.
    NP 120/18-21.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #189 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2011, 09:14:09 pm »


Xưa kia dưới thời Gia Long, các bậc khai quốc đại thần phần nhiều đều có bạn bè mật thiết với người Pháp. Từ thời trung diệp nhà Minh đến niên hiệu Đồng Trị ngày nay, tất cả các quan đại thần của Trung Quốc trấn giữ các vùng đất duyên hải đã từng ứng thù cư xử lâu với người phương Tây nhưng chưa thấy có câu chuyện nào, sách nào ghi lại chỉ rõ một viên quan nào vì giao thiệp mà mưu phản. Hình tích của họ ngày nay đều còn đó. Nước ta ngày nay tất cả những người phải ra làm việc tiếp xúc với người Pháp, bất luận việc lớn hay việc nhỏ đều cảm thấy như thăm dò miệng cọp, chỉ sợ thân danh sụp đổ bởi vì dễ gặp cảnh nguy hiểm gian nan. Như thế ai còn dám nói chuyện giao thiệp với họ? Đó là hai điều khó.

Thường tình con người ta khi đến một xứ lạ nào, ai cũng muốn đi dạo xem cho thỏa thích. Ta đến nước người, bất luận chỗ nào đều có thể đi qua được hết. Còn người đến nước ta, trừ thành nội là vùng đất cấm thì phải cấm, ngoài ra các làng xóm nho nhỏ vùng phụ cận thì không ở trong luật cấm, thế mà có một người nào muốn xin đến đó thì bắt phải trì hoãn ngày giờ mới có thể cất bước được, tựa hồ như phải để có thì giờ trai giới tắm gội mới được! Lại còn phải nhắm mắt bịt tai tựa hồ như đeo gươm lên điện. Phía ta thì quan nha chạy xuôi chạy ngược như bay, giấy tờ chạy đi chạy về như cánh bướm chẳng khác nào như đang bị đại địch bao vây, khiến họ trông thấy phải bật cười! Họ về nước sẽ rao truyền rằng người nước Nam mỗi khi trông thấy người Pháp thì cuống cuồng như đang lâm đại trận! Ta tình cờ mà đi thế mà khiến người ta phải vất vả sợ sệt, chẳng bằng không đi còn hơn. Làm như thế tức tỏ cho họ thấy mình là không biết giao thiệp rộng. Vậy còn ai muốn giao hảo với mình giúp đỡ mình làm gì? Đó là ba điều khó.

Làm người ai cũng có tai mắt tâm trí. Chỉ thấy bề ngoài tức có thể suy biết trong lòng thế nào. Mỗi khi thuyền của họ đến, thuyền dân bơi đi trốn tứ tản. Một người lên bờ, dân cả làng đóng cửa ẩn nấp. Phải như khi có giặc mà sợ hãi phòng bị như thế cũng còn được, huống chi đây là lúc giao tế giữa chủ và khách. Họ cũng là người có tâm địa, cũng biết lễ nghĩa, đâu phải giống sài lang hễ gặp người là cắn đâu mà không dám gần? Thế mà người mình lánh xa còn hơn giặc thù, tránh họ còn hơn tránh hủi. Vì sao vậy? Chỉ vì sợ pháp luật của ta mà thôi.

Xưa Tiêu phu nhân lên đài chỉ một tiếng cười mà bị bốn nước gây họa. Nay họ thấy ta đối đãi với họ như thế chẳng khác nào xem họ chẳng ra cái giống người vậy. Nếu ta đến người mà thiên hạ đối đãi với ta như thế ta sẽ hận đến đâu? Thường tình con người ta, nếu bị người miệt thị khinh chê mà thế không trả thù được thì thôi, nếu trả thù được lẽ nào lại chịu im? Nay họ thấy ta sợ họ đến thế, ắt biết rõ vì sao người sợ mình. Chỉ nội một điểm này thôi đủ cho bọn mưu lợi nảy sinh ra bao nhiêu chuyện phi lý thêm thắt vào cho ta, mà ta cũng vì đó bị không biết bao nhiêu chuyện phiền nhiễu. Cho nên ai ai cũng muốn nhổ đi cái đinh trước mắt cho rồi, đâu dám ân cần giao hảo với họ? Đó là bốn điều khó.

Phàm cái lẽ giao hảo với nhau thì người và ta phải coi nhau như bè bạn. Bạn bè phải kết hợp nhau bằng tình nghĩa. Nếu mỗi bên không được đối xử đúng đắn, không được theo sở thích của mình mà cố làm phật lòng người thì bắt đầu là bạn kết thúc sẽ là thù, sinh nhiều tai hại, thà không giao hảo nhau còn hơn.

Ôi trong khoảng trời đất này, cái nghĩa vua tôi là điều không thể tránh được. Thế mà thánh hiền còn răn dè chớ đối đãi như nô lệ, chớ báo đáp như giặc thù. Huống chi đối với nước bạn, bình đẳng với nhau mà lại chơi ngang được sao?

Nay nếu Triều đình muốn thực thi đường lối ngoại giao rộng rãi mà không công nhiên cho thiên hạ thấy lòng mến chuộng của mình thì còn trở ngại khó thi hành được. Bởi vì từ trước nước ta đối đãi hẹp hòi với người, trước đó bia miệng đã loan truyền khắp nơi. Nếu cứ kéo dài như thế mãi e người ta sẽ đem cái điều mình đã đối xử với người ta mà đối xử lại mình cho đồng đều cái lẽ vay trả. Như thế lại càng nhiều chuyện nữa.

Xin hãy đắn đo suy nghĩ kỹ mà làm mới có thể cải thiện được cho mai hậu1.

Kính bẩm Cơ Mật Viện đại thần, liệt vị đại nhân soi xét.
___________________________________________ 
1. Trước câu cuối cùng, bản VHv 170 có chú thích một đoạn như sau: “Bài này tôi chỉ nói ra những điều bình thường mà thôi, không dám nói hết những gì mắt thấy. Trong đó nếu nói hết những chuyện phật lòng người sợ có điều trở ngại mà còn bị coi là hạ thấp mình để đãi người. Còn đối với họ thì những chuyện họ khinh bỉ chê bai ta, đã bẩn lỗ tai rồi, không thể nghe được nữa”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM