15. “Mẫu 22”
Nước Anh đã đóng tổng cộng 14 tàu chiến “Mẫu 22” theo 3 dòng khác nhau. Ban đầu, các tàu chiến này được thiết kế như những tàu chống ngầm để thay thế các tàu chiến lớp “Linder” được đóng từ những năm 60. Kết quả là những tàu chiến lớn đã xuất hiện và lần đầu tiên trong lịch sử Hải quân Anh, pháo không phải là trang bị chủ yếu trên các tàu chiến. Bốn tàu đầu tiên gia nhập biên chế trong những năm 1979 đến 1982 (“Broadsword”, “Battleaxe”, “Brilliant” và “Brazen”) và thậm chí còn kịp tham chiến trong cuộc tranh chấp quần đảo Frankland. Vào thời điểm hiện tại, 4 tàu chiến này đã được bán cho Brazil.
Dòng tàu thứ 2 được đóng giữa những năm 1984 và 1988 (“Boxer”, “Beaver”, “Brave”, “London”, “Sheffield” và “Coventry”). Hai tàu cuối cùng được vinh dự mang tên của các tàu khu trục Mẫu 42, đã bị bắn chìm trong cuộc chiến tranh với Argentina. So với dòng tàu chiến đầu tiên, dòng tàu chiến thứ 2 có thân dài hơn, được lắp ăng ten lai của đài thủy âm Mẫu 2031, còn 4 tàu sau cùng trang bị thiết bị năng lượng mới với tuabin khí Rolls-Roys SM1 “Space” thay cho động cơ đã sử dụng trước đó “Olimpus” TM.3B. Hiện nay trong biên chế chỉ còn lại 2 tàu “Sheffield” và “Coventry”, các tàu còn lại đã không còn hoạt động.
Bốn tàu cuối cùng trong dòng thứ 3 (“Cornwall”,”Chatham”, “Cumberland”, “Campbeltown”) được hiện đại hóa một cách tích cực từ những bài học sau cuộc sung đột tại quần đảo Frankland. Như dòng tàu thứ hai, các tàu này có thân tàu kéo dài, trên phần trước boong tàu lắp thiết bị pháo 115mm, đồng thời có tên lửa chống tàu “Harpoon” thay cho tên lửa “Excocet”. Để bảo vệ tàu khỏi các tên lửa có cánh tầm thấp và máy bay trên nóc cao nhất của thượng tầng phía trước bố trí thiết bị pháo 30mm “Goalkeeper”. Sự hiệu quả của hệ thống “Sivulf” tăng cường hỗ trợ cho đài ra đa định vị Mẫu 911 và thiết bị xác định mục tiêu “Sea Archer” với sự dẫn bắn vô tuyến và hồng ngoại, có sự điều khiển cho pháo 115mm và tổ hợp tên lửa phòng không “Sibulf”. Trên các tàu này, hang ga và boong cất cánh cũng được mở rộng để có thể bố trí trực thăng “Merlin” thay cho 2 trực thăng “Links” như trên các tàu dòng thứ nhất.
Các thông số cơ bản:Phân loại: tàu chiến mang tên lửa điều khiển
Lớp tàu: Mẫu 22
Lượng choán nước: 4200 (tiêu chuẩn), 4900 (đầy đủ)
Chiều dài: 148,1m
Chiều rộng: 14,8m
Độ mớn nước: 6,4m
Thiết bị năng lượng: tuabin khí, 2 trục với bước chân vịt thay đổi; 2 thiết bị tuabin khí Rolls Roys “Space” SM1A 29 500 sức ngựa; 2 thiết bị tuabin khí “Rolls-Roys” RMZS “Tain” 10 680 sức ngựa
Tốc độ và tầm hoạt động: 30 hải lý; 4500 dặm (18 hải lý)
Thủy thủ đoàn: 250 người (tối đa)
Trang bị: 2x4 thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu Boeing “Harpoon”; 2x6 thiết bị phóng GWS-25 của tổ hợp tên lửa phòng không “Sivulf”; 1 thiết bị pháo 115mm Bikkers Mk.8; 1 thiết bị pháo 30mm “Goalkeeper”; 2 thiết bị pháo 30mm DS30B; 2x3 thiết bị ngư lôi 324mm STWS Mk.2; ngư lôi – tên lửa “Stingrei”; bẫy ngư lôi Mẫu 182 hoặc SLQ-25A
Trang thiết bị điện tử: Marconi Mẫu 967/968 – đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không và mục tiêu nổi; Marconi Mẫu 911 – đài ra đa định vị điều khiển bắn; Mẫu 1007 – ra đa hàng hải; Mẫu 2050 – đài thủy âm chủ động dò tìm và điều khiển vũ khí; Mẫu 2031 – ăng ten lai thụ động
Thiết bị bay: 2 trực thăng.
