TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #220 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2008, 05:20:16 pm » |
|
Trực thăng Vann sử dụng là mẫu mới nhất do Công ty Bell sản xuất cho quân đội. Chiếc Ranger là một máy bay nhỏ kéo dài phía trước như đầu cá mập vừa nhanh vừa dễ sử dụng rất phù hợp với anh. Có hai ghế ngồi phía trước cho phi công lái, người cùng lái và một khoảng không phía sau, cửa đẩy để chở vật dụng hoặc hai người khác. Vann bao giờ cũng ngồi ở ghế người cùng lái để dễ kiểm soát đường bay hoặc nắm lấy cần điều khiển nếu phi công lái bị trúng đanh. Trung úy Cai cũng có mặt trên máy bay. Khi tới Quân đoàn 2, Vann quyết định lấy một người phó Việt Nam thạo tiếng Anh sẽ có ích hơn một người Mỹ và bớt được một phiên dịch. Du chỉ định Cai cho anh. Cai là con một nhà buôn, được điều động sau đợt tấn công dịp Tết, trung thực, can đảm và tận tụy với Vann. Vann đi đến đâu anh cũng cùng đi tới đó.
Vann kiểm tra việc tiếp tế ở trạm chỉ huy của lữ đoàn không vận. Anh đã xác định qua chuyến bay đầu tiên vị trí súng phòng không và chỉ cho phi công lái Paul Arcement, một thượng sĩ nhất gan dạ, bay theo dọc ngọn cây để tránh làm mục tiêu. Khi chiếc Ranger đã ở phía trên chu vi phòng vệ của căn cứ Delta, Vann và Cai vẫn bỏ xuống những hòm tiếp liệu đạn dược, lựu đạn, mìn, những bình nước và thuốc men cho quân lính dù. Rồi Arcement quay nhanh lên trời, là theo ngọn cây bay đi làm đợt mới.
Khi các sĩ quan ở trung tâm hành quân Pleiku hiểu việc gì đã xảy ra, họ báo động với tướng Du. Hầm cố thủ của ban tham mưu đầy sĩ quan nghe tin qua đài còn chiếc máy bay nhỏ Ranger trở lại xếp những hòm tiếp viện và bay đi Delta, coi thường những loạt đạn của trọng pháo. Họ đi về sáu lần cho đến khi trời tối. Du kết luận :
“ Không một viên tướng Việt Nam nào làm như thế. Và một viên tướng Mỹ cũng không “.
Delta có khá đủ tiếp viện để đứng vững suốt đêm; sáng hôm sau những tiểu đoàn không vận khác đến giải phóng họ.
Quyền lực Vann đối với Du là lý lẽ chủ yếu tin chắc có thể đánh thắng quân Bắc Việt . Du lại có một món nợ đặc biệt, mùa hè trước Vann cứu ông thoát khỏi sự kết tội buôn bán heroin. Viên tướng Quân lực Cộng hòa Du thay thết tìm cách trả thù vì mất vị trí, soạn thảo rất công phu một hồ sơ chứng minh Du là một kẻ buôn lậu ma túy. Ông ta đưa cho một nghị sĩ Mỹ đi qua; ông này tuyên bố chính thức ở một hội nghị ở Washington Ngô Du là một trong những chủ buôn bán heroin ở miền Nam Việt Nam . Lời kết tội vào lúc việc buôn bán ma túy với lính Mỹ trở thành vụ bê bối chung và Thiệu bị đại sứ Bunker ép phải hành động. Thiệu nghĩ Du sẽ là một vật hiến thân tuyệt vời cho những nhân vật chính trị và đối với dư luận quần chúng Hoa Kỳ . Ông ta chuẩn bị cách chức và làm nhục Du.
John Vann không chấp nhận mất đi người anh đã đầu tư bao công sức. Du thề với anh ma túy không phải là một trong những nguồn lợi bất chính của ông và Vann tin điều đó. Anh giải thích với George Jacobson, các tướng cấp cao và đồng bọn người Trung hoa giữ gìn rất chặt nguồn lợi ma túy, họ sẽ không để một nhân vật cấp thấp như Du gặm nhấm tiền lãi của họ. Vann tổ chức một chiến dịch báo chí phản bác những lời kết tội cứu Du. Anh chuẩn bị cho Du một bản tuyên bố và hướng dẫn ông trả lời các câu hỏi. Anh tổ chức một cuộc họp báo, đưa lên truyền hình một loạt phỏng vấn. Du kinh ngạc về việc Vann tập hợp các nhà báo dễ dàng đến thế và bàng hoàng thấy một người Mỹ bảo vệ mình như vậy. Ông nói “ Anh ấy xử sự như anh trai tôi “. Lòng biết ơn Vann càng làm ông tin chắc có thể tiến lên trong sự nghiệp nhờ vào tài năng của người bảo vệ mình. Không phải bao giờ ông cũng làm theo ý Vann nhưng cũng khá đủ để những cộng sự không thích ông chế giễu là “ nô lệ của John Paul Vann “.
Chiến thắng của Vann trong trận Delta phát triển niềm tin của anh đến một cảm giác hầu như không lay chuyển. Anh viết bốn trang rưỡi một giác thư gửi các bạn, chuyển các bản sao cho ngài Robert Thompson, Joseph Alsop và các nhân vật Washington như Melvin Laird. Anh tiên đoán thảm họa của quân Bắc Việt trên tất cả các mặt trận ở miền Nam không chỉ nhờ riêng anh và tuyên bố khi cuộc tấn công kết thúc, vị thế của cộng sản sẽ suy yếu ở Lào và Campuchia. Nếu tháng Chạp năm 1969, anh báo trước với Nixon có lẽ Sài Gòn “ buộc phải bỏ một phần đất đai “ thì bây giờ anh khôn ngoan chối bỏ và công khai cam kết không nhường một tấc đất . “ Cuộc chiến khó khăn và hy sinh nhiều quân lính nhưng chúng tôi giữ được những vị trí chủ yếu trong đó có Tân Cảnh “. Sài Gòn cũng giữ được “ những thành quả khó khăn đạt được từ công cuộc bình định “ ở ven biển miền Trung, nơi Vann tập trung sức từ mùa hè năm 1971 thanh toán Việt cộng và củng cố sự kiểm soát của chế độ ở những huyện không khuất phục ở phía bắc .” Theo những gì đã xảy ra cho đến nay, tôi sẵn sàng đón nhận thách thức bắt đầu từ ngày hôm nay “. Bức giác thư đề ngày 12 tháng Tư năm 1972. Sự thách thức được đưa ra ba ngày trước đó.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #221 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2008, 02:40:43 pm » |
|
Những phiền phức bắt đầu ở chỗ người ta không chờ đợi cuộc tấn công trong tỉnh Bình Định, dọc ven biển miền Trung mà Vann tự hào đã bình định xong trong giác thư của anh. Nơi bị tấn công có vẻ không quan trọng : một căn cứ nhỏ cũ củ Kỵ binh bay gọi là Pony Zone phía tây bắc cách Qui Nhơn 70 cây số, bây giờ do một tiểu đoàn lực lượng vùng đóng giữ. Căn cứ bị ném bom và tấn công ngày 9 tháng Tư, thất thủ vào ngày hôm sau. Những người tấn công mà Vann không xác định đúng được, phản bác niềm tin chắc của Vann cho rằng quân Bắc Việt cũng lạ lẫm ở miền Nam như người Mỹ. Thực ra , đấy là một trung đoàn của Sư đoàn 2 “ Sao vàng “, cũng là đơn vị hỗn hợp quân Bắc Việt và Việt cộng , mà Moore đã đánh bại chỗ này năm 1966. Ngôi sao vàng đã là con phượng hoàng thực sự trong vùng hồi sinh từ những tro tàn thường xuyên hơn những sĩ quan tình bào mong muốn.
Một rồi hai tiểu đoàn của Trung đoàn 40 Quân lực Cộng hòa, được một đại đội M-113 từ phía bắc xuống để chiếm lại Pony và ngăn quân địch tiến xuống phía nam đến tổng hành dinh huyện Hoài An, nơi Vann đến ngày 11 tháng Tư và qua đêm ở đấy. Anh gặp lại ở đây tỉnh trưởng anh quen biết từ nhiều năm, đại tá Nguyễn Văn Chức, một sĩ quan công binh lập dị, môn đồ yoga với nghị lực của một người Mỹ đầy tham vọng. Ở đây cũng có mặt viên chỉ huy Trung đoàn 40, một người Vann đánh giá cai, đại tá Trần Hiếu Đức, đã nhiệt tình tham gia chiến dịch bình định và có vẻ là một người tổ chức giỏi. Vả lại Vann đã đề nghị với tướng Du và ông ta vừa được thăng cấp, Họ để cả đêm nghe các báo cáo và cùng xây dựng một kế hoạch phản công. Vann đưa lại can đảm cho các sĩ quan Việt Nam và cố vấn Mỹ , sáng hôm sau lạc quan ra đi.
Nhưng Đức không muốn đánh nhau. Ông ta không có một cố gắng nào để chiếm lại Pony thậm chí không giữ những ngọn đồi dọc thung lũng. Ngược lại, ông để các tiểu đoàn rút lui. Cố vấn Mỹ của ông, đại tá David Schorr thúc ông không hiệu quả; Chức, người kiểm soát tất cả các đội quân địa phương và Quân lực Cộng hòa trong tỉnh cũng không làm gì hơn được. Vann trở lại Hoài An hai lần dưới lưới lửa súng cối đều vô ích. Trong khu vực này có 29 trung đội lực lượng của tỉnh. Tất cả đang đào ngũ.
Tình hình chẳng tốt hơn ở phần còn lại trong tỉnh, nơi cho là công cuộc bình định tiến bộ nhanh, đột nhiên trở nên thù địch. Ba tiểu đoàn công binh từ miền Bắc vào được Việt cộng địa phương hướng dẫn, bắt đầu gây ra sự lộn xộn. Chỗ này chỗ kia cầu bị phá hỏng, nhiều tiền đồn bị tấn công khắp nơi. Lực lượng vùng và các đội quân của tỉnh lần lượt đào ngũ.
Ngày 18 tháng Tư, sau cuộc họp lạc quan một tuần lễ, Đức không còn giữ được một vị trí khống chế nào. Đêm hôm ấy, ông thông báo sẽ bỏ Hoài An “ Các toán quân của chúng tôi có thể rút bất cứ lúc nào. Đề nghị cho chỉ thị. Nếu các toán quân ra đi trước khi có chỉ thị, chúng tôi cũng cùng đi “. Trong ngày, Đức để quân cộng sản chiếm một bình độ cách tổng hành dinh của ông ta 700 mét, ở đấy họ bình tĩnh dội pháo . Khu vực nào đầy mùi xác lính chết, không ai muốn vào.
Mọi cố gắng thuyết phục Đức trụ lại thất bại. Vann đề nghị Du cho phép rút lui trưa ngày 19 tháng Tư. Anh muốn Đức rút có trật tự thay vì chạy trốn bất kể. Quân Bắc Việt ngăn các đường phụ nối ra đường số 1 nhưng không đủ để cản trở một lối thoát. Những xe vận chuyển bọc thép mở đường, theo sau là ô tô tải, xe jeep và lính đi bộ. Bốn mươi người bị thương của hai tiểu đoàn và lực lượng địa phương được chở trong xe bọc thép. Hai máy bay Cobras theo đoàn quân vừa bắn và bỏ bom xung quanh, còn một chiếc Huey bay trên cùng để điều chỉnh tầm pháo và các đợt tấn công của máy bay tiêm kích ném bom.
Vann không thể xuống khỏi cao nguyên để giám sát việc chuyển quân vì dãy Rockẻ Chỏm đồi bắt đầu có những phiền toái. Quân Bắc Việt đã thay đổi chiến thuật, bây giờ tấn công vào trung tâm phòng ngự. Họ đã chiếm được từng phần căn cứ Charlie bằng cách luân phiên sử dụng trọng pháo bắn chặn và bộ binh tấn công cho đến khi lính dù Quân lực Cộng hòa thiếu đạn buộc phải chuyển đi, để những người bị thương lại. Trong số 471 sĩ quan và binh lính của tiểu đoàn chỉ một nửa có thể rút lui cùng một số lớn bị thương còn đi được. Do không di chuyển được, Vann giải thích qua điện đài kế hoạch rút lui của Hoài An với trung tá Anderson trên máy bay kiểm tra Huey.
Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau giờ rút lui buổi trưa, hai loạt đạn pháo nổ gần điểm tập kết của đoàn quân. Phần lớn những người bị thương chưa đưa vào được trong xe bọc thép. Đức nhảy vào xe gần nhất cùng ban tham mưu của ông ta và đi ngay. Những chiếc M-113 khác, ô tô và xe Jeep vội vã chạy theo. Huyện trưởng, một thiếu tá Quân lực Cộng hòa, nhảy lên xe Jeep bỏ người phó xuống để đưa chiếc tủ lạnh của mình lên. Quân lính Bắc Việt phục kích chờ trong một ấp gần đấy. Người, xe M-113 của Đức và chiếc xe Jeep của huyện trưởng thoát được.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #222 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2008, 09:53:14 am » |
|
Đại tá Schorr, cố vấn của Đức đáng lẽ cùng đi với ông ta nhưng không muốn bỏ lại thiếu tá Hacker và trung úy Eisenhower đang cần mẫn đốt tài liệu mật và phá hủy điện đài. Ông chờ họ rồi cùng chạy thoát qua đồng ruộng về hướng đông và đường số 1. Xung quanh họ, binh lính Quân lực Cộng hòa vứt bỏ vũ khí, mũ và trang bị quân sự, cởi đồng phục, ủng, để biến thành nông dân thường, mặc quần đùi chạy trân chần. Các cố vấn Mỹ không đi được xa lắm vì Schorr trúng một viên đạn vào chân do quân Bắc Việt đuổi theo bắn. Trong lúc Eisenhower băng bó cho ông, Hacker và hai lính trính sát Việt cộng đào ngũ cũ trở thành vệ sĩ của các cố vấn, cố gắng chống trả những người đuổi theo. Với những người lính Nam Việt Nam đã cởi bỏ quần áo, Hacker khó phân biệt được bạn, thù. Ông bắn vào mọi người Việt lại gần có vũ khí và không mặc đồng phục Quân lực Cộng hòa. Quân lính miền Bắc bò đến chỗ họ trong lúc đồng đội bắn bảo vệ.
Đại tá Anderson trên chiếc Huey nghe được tất cả những gì xảy ra dưới mặt đất vì ông, bắt làn sóng đài mang theo của Schorr. Những chiếc Cobras không đến được trước buổi trưa quá chậm để cứu các cố vấn đang lâm nguy. Nếu Anderson cố cứu họ và bị bắn hạ, ông, người lái phụ và phi hành đoàn sẽ chết và bị cầm tù tất cả.
Các đơn vị chiến đấu Không quân là những đơn vị duy nhất của quân đội Hoa Kỳ không bị tan rã dưới sức ép của chiến tranh . Gần 6.000 phi công lái và phi hành đoàn máy bay lên thẳng chết nhưng những người bay không bao giờ ngã quỵ. Hầu hết những người bay chuyên nghiệp đều sang Việt Nam hai đợt chứ không phải một. Anderson đang làm nhiệm vụ đợt thứ hai, cao lớn, vững chắc, người bờ biển phía tây, chỉ huy toán thứ 7 của đoàn Kỵ binh Không quân 17. Anh gọi Schorr qua đài hỏi vị trí rồi thông báo với người cùng lái và phi hành đoàn họ sẽ hạ cành.
Anderson bắn khi họ bắt đầu chúc xuống cách mặt ruộng 15 đến 20 mét để tìm nhóm cố vấn. Ông dừng lại phía trên một con đê. Eisenhower giúp Schorr lên máy bay và Hacker cùng hai vệ sĩ vào ẩn bên trong. Hai lính Quân lực Cộng hòa mặc quần đùi đầy bùn từ đồng ruộng lên theo họ. Trong lúc đó , súng liên thanh bắn xả vào quân Bắc Việt cách đấy 25 mét.
Khi trở lại vùng hạ cánh gần Bồng Sơn, họ đếm lỗ thủng trên thân máy bay.Chỉ có 9 lỗ. Trưởng phi hành đoàn làm nhiệm vụ bắn súng bị nhiều mảnh đạn ở chân do một viên đạn trúng két đạn và làm nổ một viên đạn 50.
Mười hai ngày tiếp đó , cả vùng chịu số phận thảm hại như Hoài An. Miền Bắc tỉnh Bình Định với 200.000 dân rơi vào tay những người cộng sản . Mặc dù đang đánh nhau trên cao nguyên, Vann nhiều lần trở lại vùng ven biển để khuyến khích quân lính chiến đấu, làm như anh có thể bảo nước biẻn ngừng cuộn sóng. Lực lượng vùng và quân đội tỉnh đào ngũ hàng nhiều nghìn. Hai tiểu đoàn cuối cùng của Trung đoàn 40 thậm chí không cố gắng bảo vệ căn cứ English của họ.Quân cảnh để những người bị thương chết trên đường băng và bán chỗ cho lính đào ngũ ở những máy bay lên thẳng gửi đến giúp di tản, chia lợi với phi công lái.
Thời gian ấy, một thảm họa còn lớn hơn sắp tới trên vùng núi đồi. Do Vann khuyến khích, Du tập trung quân đội tương đương một sư đoàn, khoảng 10.000 người bảo vệ Tân Cảnh. Thị trấn này là vị trí xa nhất về phía bắc nên rất mạo hiểm. Nếu hàng bảo vệ dãy Rocket Chỏm đồi thất thủ và con đường 14 đi xuống phía nam và Kontum bị cắt đứt, toàn bộ trang thiết bị sẽ bị vây và cách ly. Nếu lực lượng bảo vệ Tân Cảnh hạ vũ khí, các toán quân thiếu ổn định như của Quân lực Cộng hòa không thể tổ chức một cuộc rút lui có trật tự trên con đường núi. Sư đoàn sẽ tan rã toàn diện. Trường hợp đó, nghiêm trọng hơn nữa là lực lượng cần thiết để bảo vệ Kontum không còn.
Người phó về quân sự của Vann, thiếu tướng George Wear bảo anh đang đứng trước một thảm họa. Đấy cũng là quan điểm của tham mưu trưởng, đại tá Joseph Pizzi. Điều khôn ngoan là tổ chức một chiến trường về chiều sâu để tiêu hao lực lượng tấn công và rút dần về các hàng phòng ngự kế tiếp nhau, mỗi lần như thế bắt quân địch phải trả giá đắt khi tiến lên. Nhưng như vậy cũng có nghĩa bỏ Tân Cảnh và tổng hành dinh gần Dak Tô, hy vọng sẽ chiếm lại sau này. Vann không vui vẻ gì khi nghe những gợi ý ấy. Anh nói về Quân lực Cộng hòa “ Lũ lợn con ấy phải chiến đấu hoặc tan xác “. Wear và Pizzi cố gắng thuyết phục, Vann hứa sẽ nêu vấn đề trong cuộc gặp sắp tới với tướng Abramas.
Khi trở lại vấn đề này, anh thông báo với họ câu trả lời là không : Tân Cảnh và Dak Tô phải giữ vì những lý do chính trị. Thực tế, Vann đã nói dối, không trình bày luận điểm của họ một cách vững tin vì anh đã cam kết riêng không bỏ hai thị trấn ấy. Khi Abrams đến Pleiku, Wear xúc động phát triển luận điểm của mình trong cuộc gặp vị tướng chỉ huy, với Vann và Du. Ông nói với Abrams vị trí Tân Cảnh là “ một thảm họa đang treo lơ lửng “. Vann rất mến Wear, đã cố đề nghị ngôi sao thứ hai cho ông này, nóng nảy gợi ý sẽ bàn bạc riêng sau đó. Abrams cũng không bằng lòng. Ông cho những lo sợ ấy là chủ trương thất bại.
Sự may rủi của Tân Cảnh càng đáng ngại hơn vì tính cách chỉ huy sư đoàn, đại tá Lê Đức Đạt, người Vann đã cố làm cho bị cách chức vì tham nhũng khi còn là tỉnh trưởng ở vùng Quân đoàn 3 năm 1967. Đạt bị kết tội trong thời kỳ ấy tuy có quan hệ với cấp cao vì quyền lực của tướng Kỳ yếu đi còn tổng thống Thiệu tăng lên và ông ta không thể xoay xở để phù hợp với hoàn cảnh mới. Sau đó, ông được phục hồi, trở thành chỉ huy phó Sư đoàn 22 vào năm 1970. Hai năm sau, sợ Đạt chiếm vị trí chỉ huy trưởng Vann đẩy anh ta đi với cớ lười biếng, và đề nghị một người khác. Nhưng Du không thể chống đối việc thăng cấp Đạt vốn có những quan hệ khá cao đối với ông. Đạt, một người thanh mảnh, nhanh nhẹn và đa cảm, hút thuốc lá Anh Craven A liên tục. Không bao giờ ông ta có thuốc trong người. Khi muốn hút, ông bật ngón tay và một trợ lý đưa tới, bật lửa cho ông.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #223 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2008, 11:41:52 am » |
|
Ngày 20 tháng Tư tổng hành dinh báo cho Du sẽ rút lữ đoàn không vận thứ hai của ông. Du và Vann phải giữ Rocket Chỏm đồi ở giữa đã yếu đi vì mất căn cứ Charlie ngày 14, với lữ đoàn còn lại và một toán biệt kích. Lữ đoàn và ban tham mưu sư đoàn không vận được gửi tới Quân đoàn 1 để bảo vệ Huế. Bất kể tính lạc quan trong giác thư ngày 12 tháng Tư của Vann báo trước sự sụp đổ của những người cộng sản trên tất cả các mặt trận, quân Bắc Việt đang chinh phục toàn bộ tỉnh Quảng Trị thuộc quân đoàn 1, phía nam vùng phi quân sự và bây giờ đe dọa Huế.
Nếu king đô hoàng gia cũ mất, Thiệu cũng đổ theo. Vì vậy, phải có những lựa chọn khó khăn. Toán biệt kích chuyển cho Du là đơn vị rảnh rang duy nhất. Tất cả các đơn vị dự bị khác đều bổ sung vào Quân đoàn 1 hoặc mặt trận Campuchia đang đe dọa Sài Gòn .
Ngày 21 tháng Tư, trong lúc Vann đang ở Sài Gòn dự hội nghị chiến lược với Abrams, căn cứ Delta, điểm xa nhất về phía nam của hàng Rochet Chỏm đồi thất thủ. Sức ép của quân Bắc Việt mạnh hơn sự kháng cự của lực lượng không vận. Tình hình Tân Cảnh cũng trở nên bi thảm. Kế hoạch của Vann dự kiến quân địch sẽ bị đập nát trước các công sự của anh không dự kiến Quân lực Cộng hòa ẩn mình và chờ đợi trong các hầm hố và lô cốt. Anh muốn lính Sài Gòn ra tiếp xúc để trọng pháo và máy bay dội bom đạn xuống quân Bắc Việt đang hoạt động, phải chỉ ra những vị trí mấu chốt và phải phản công lấy lại đất đai đã mất. Thay vì việc đó, Đạt chỉ chiếm một số vị trí cao xung quanh thị trấn và ngồi dưới đất. Ông ta không muốn động đậy, thậm chí không cử quân tăng cường hoặc vực dậy một trong những tiểu đoàn bị tấn công. Sư đoàn 2 bộ binh Bắc Việt cô lập dần những vị trí phòng thủ của ông len lỏi giữa các vị trí ấy, mỗi lúc càng tiến gần đến công sự chỉ huy của Đạt.
Khi cố vấn, đại tá Phillip Kaplan bảo ông điều quân ra chiến đấu, Đạt giải thích lính Bắc Việt hơn hẳn lính miền Nam, không thể làm gì được đối với họ. Nếu điều quân họ sẽ bao vây và tiêu diệt hết. Ông ta xử sự như phần đông chỉ huy khác của Quân lực Cộng hòa trong hoàn cảnh ấy : ẩn nấp trong công sự, cho rằng quân của ông giữ được khá lâu để không lực Hoa Kỳ buộc quân địch phải rút lui.
Việc bảo vệ Tân Cảnh có hiệu quả đặt ra vấn đề đánh và đánh trả dữ dội trên một vùng đất khó khăn, một trận đánh mà Quân lực Cộng hòa không tiến hành được. Vann đưa đội quân anh cố sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình vào một cuộc đụng độ quá sức. Anh tìm cách kích thích Đạt trở thành một chỉ huy như anh mong muốn. Một tối họ ngồi trong phòng lô cốt trước tấm bản đồ có những chỉ dẫn đáng lo ngại. Vann gõ trên bản đồ, giọng mũi khàn khàn khô khan miêu tả Đạt phải làm thế nào để sống sót.
- Đại tá Đạt, ông sẽ là người chỉ huy đầu tiên của Quân lực Cộng hòa để mất đơn vị, ông sẽ bận ngập đầu và bị tiêu diệt nếu ông không … - Ồ , không, điều ấy không xảy ra đâu. Đạt trả lời.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #224 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2008, 11:20:11 am » |
|
Điều ấy bắt đầu xảy ra sáng ngày chủ nhật 23 tháng Tư năm 1972. Một tiểu đoàn bộ binh Quân lực Cộng hòa chống lại quân Bắc Việt gần chỗ trú quân Tân Cảnh. Việc bắn phá tăng đều đặn từ thứ sáu bây giờ đạt nhịp điệu mỗi phút một loạt đạn súng cối, trọng pháo và rốc két. Độ chính xác đủ lớn cho thấy có những nhóm nhỏ quân địch vào cách mấy trăm mét làm quan sát viên. Phil Kaplan được báo một xe tăng bị bắn trúng trên đường vào chính. Ông rời boong ke cùng người phó ra xem đi trong đường hầm tránh đạn. Một người lính Quân lực cộng hòa nói tiếng Anh bảo đã thấy một tên lửa bay trên không đâm vào chiếc xe. Tên lửa chống tăng chỉ huy bằng vô tuyến điện, vũ khí đáng sợ vì tính chính xác dù cách xa, được một sĩ quan Không quân Pháp sáng chế những năm 50. Người Nga phát triển thành một loại mạnh hơn gọi là Sagger chưa bao giờ thấy ở Việt Nam . Kaplan đang tiếp tục hỏi người lính thì một Sagger khác bay phía trên, rít lên và đến xuyên thủng một chiếc xe nữa cách đấy khoảng 60 mét phía trong vành đai.
Chậm hơn một ít trong buổi sáng đến lượt trạm chỉ huy. Có cái gì đó, chắc một Sagger khác xuyên qua các bao cát chỗ gần lỗ thông hơi, làm nổ tung phòng điện đài, đốt cháy xà ngang trên trần. Gỗ thấm creosote hoặc chất tương tự tỏa khói đặc ngòm. Không ai nghĩ đến trang bị máy cứu hỏa và trong lô cốt không có thùng nước. Chẳng mấy chốc mọi người ngạt thời, dẫm lên nhau chạy ra cửa.
Ban tham mưu sư đoàn 22 biến thành một đống túi cát bốc khói, xà ngang cháy đổ xuống chiếc này nối tiếp chiếc khác. Một trạm chỉ huy tiếp theo được bố trí trong một hầm tránh đạn gần đấy và những người bị thương được trực thăng đưa đi trong buổi chiều. Kaplan chỉ có một vết rách ngoài da, đại tá Đạt nguyên vẹn nhưng thiếu tá John Wise bị thương nặng ở đầu và cánh tay. Khoảng một chục nhân viên ban tham mưu cũng bị thương nặng, không kể khoảng bốn chục lính ở trong vành đai. Vann từ Pleiku đến ngay giám sát việc di chuyển khó khăn vì không ngớt bị bắn phá. Vann không tìm cách tự bảo vệ. Trước khi anh trở lại Pleiku, Kaplan bảo anh nếu sự việc tồi tệ hơn, các cố vấn sẽ tập hợp lại để di chuyển đi ở một sân trực thăng khác phía tây tuyến phòng ngự mà trước đây máy bay Cobras dùng làm chỗ đỗ.
Suốt ngày chủ nhật, quân Bắc Việt tiếp tục bắn tên lửa vào những xe tăng đậu trong vành đai. Trong số tám xe hoạt động buổi sáng, đến chiều chỉ còn một chiếc. Tối đến Đạt lấy một chiếc ghế, ngồi xuống và nói với Kaplan “ Ngày mai chúng ta sẽ bị chiếm “.
Mười giờ tối, họ được báo cáo các lực lượng tỉnh trong một ấp phía tây bắc gần đường 14 nghe tiếng xe tăng. Rồi một tiểu đoàn đóng trên độ cao nhìn xuống đường thông báo qua điện đài cũng nghe tiếng xe bọc thép và thấy đèn pha của đoàn xe. Kaplan đề nghị Không quân gửi đến một máy bay C-130 Spectre có trang bị do thám bằng tia hồng ngoại. Phi công thông báo “ Trên đường có 11 chiếc xe tăng “. Họ tiến về phía đông Dak Tô. Đại úy Richard Cassidy, cố vấn của huyện chạy vội đến cửa ra vào Dak Tô, thấy ánh đèn pha ngụy trang của xe quân sự cách đấy 500 mét. Chiếc máy bay Spectre thả một chùm pháo sáng; Cassidy thấy đoàn xe tăng ngoằn ngoèo tiến về phía mình. Ông hét lên “ Họ bắn vào chúng ta đấy “. Nhưng những chiếc xe tăng không nổ súng. Cassidy không phải sợ. Xe bọc thép được lệnh bỏ quan nơi đồn trú của ông, đi qua trước mặt không bắn phát nào.
Quân Bắc Việt tiến hành một cuộc hành quân họ gọi là “ đánh vào đầu rắn “. Đây là một chiến thuật cũ thường dùng trong chiến tranh nhưng có vẻ luôn luôn mới khi thực hiện bất ngờ. Các lực lượng cộng sản không quan tâm đến những căn cứ Nam và Sáu cùng tất cả những tiểu đoàn xung quanh mà xông thẳng vào tổng hành dinh của Đạt. Mười lăm chiếc tăng, không phải mười một, tiến xuống phía nam là những T-54 Xô viết của những năm 50, thuộc về Sư đoàn 2. Chúng đi theo đường mòn Hồ Chí Minh trong tháng Hai, kéo theo những rơ moóc đạn dược và các bình đi ê den, chờ ở Lào hai tháng và vào lại Việt Nam hai tuần lễ trước. Những ngày cuối cùng trước cuộc tấn công, chúng giấu mình phía trên Tân Cảnh trong các thung lũng gần những con đường mòn ra đường 14.
Sự hoài nghi không hợp lý của Vann về việc có xe tăng Bắc Việt trên vùng đất của anh, góp phần vào tác dụng bất ngờ. Tuy nhiên thật lô gíc, nếu quân địch dùng xe tăng tấn công ở Quân đoàn 1 và đưa những chiếc khác xuống tận Quân đoàn 3 không có lý do gì họ không làm thế ở Quân đoàn 2.Nhiều bằng chứng xác nhận điều ấy : những tù binh và lính đào ngũ đã nói đến xe tăng, lính tuần tra của Quân lực Cộng hòa tìm thấy dấu vết bánh xích ở Lào và thung lũng phía tây hàng Rocket Chỏm đồi, một tiểu đoàn T-54 khác trong Sư đoàn 320 Bắc Việt đã vào miền Nam Việt Nam .
Thói kỳ quái tự mình xác định mọi báo cáo trở thành một dạng tự phụ của Vann đến mức anh không kể đến việc gì nếu không tự mình thấy. Mỗi lần người ta nói có xe tăng, anh lên máy bay đi tìm, không thấy. Từ đó, anh suy luận những báo cáo ấy dựa vào sự phóng đại của những người sợ hãi và chỉ là những chiếc PT-76, loại xe lội nước nhỏ quân Bắc Việt thường dùng , lớp bọc thép mỏng , không tấn công được.
Thế nhưng trước đó hai ngày, ba chiếc T-54 được sử dụng trong đợt tấn công cuối cùng vào căn cứ Delta; Vann lúc ấy đang ở Sài Gòn và khi về không chú ý vào báo cáo. Khi Kaplan qua đài thông báo với anh máy bay Spectre xác nhận có xe tăng, anh trả lời với lối hóm hỉnh trước cảnh chết chóc và phản ứng tự vệ “ Nếu thế, xin hoan nghênh ! Đây là những chiếc đầu tiên chưa từng thấy ở Quân đoàn 2 “.
Vượt qua tác động của sự bất ngờ không hẳn là thắng trận. Quân lực Cộng hòa có đủ thì giờ cần thiết để ngăn chặn và có đủ vũ khí để tiêu diệt xe tăng. Những chiếc T-54 tiến lên đơn độc không có bộ binh đi kèm, dễ bị sát thương đối với đối thủ trang bị vũ khí chống tăng, đặc biệt về đêm, bô binh di chuyển không bị trông thấy và tổ chức phục kích kín đáo. Tuy nghi ngờ, Vann vẫn chú ý để các đội quân của Sư đoàn 22 và lực lượng huyện Dak Tô được vũ trang hàng trăm súng M-72, loại ba dô ka cải tiến dùng thời kỳ ấy. Binh lính được huấn luyện sử dụng và mỗi đại đội có những toán chuyên dùng. Một trong những ca nông không giật cỡ 106 của sư đoàn, loại tử thần đối với xe bọc thép, được bố trí dọc đường cùng đầy đủ phụ tùng. Trọng pháo của sư đoàn cũng sẵn sàng và Đạt còn những chiếc tăng đậu cách đấy vài cây số thay thế cho những chiếc bị Sagger phá hủy.
Lực lượng cảnh sát tỉnh giữ chiếc cầu đầu tiên xe tăng Bắc Việt phải vượt qua, có súng ba – dô – ka . Họ nhận được lệnh phục kích nhưng bỏ trốn. Khi Kaplan bàn với Đạt cho triển khai các toán chống tăng của Quân lực Cộng hòa, ông ta trả lời :
“ Đồng ý, sẽ làm “.
Nhưng quân lính vẫn bám chặt vào hầm hố.
Khi Kaplam bảo cho gọi những xe tăng khác đến, Đạt trả lời :
“ Tôi ra lệnh rồi “.
Nhưng xe tăng không động đậy. Còn chiếc ca nông 106 đặt ở bờ đường 14 không hề bắn một loạt đạn.
Trong thời gian đó, chiếc máy bay ném bom Spetrec cố làm công việc thay Quân lực Cộng hòa. Các kỹ thuật viên khéo léo đưa lên máy bay một súng cối 105. Khẩu súng bắn rất chính xác vì có máy tính chỉ huy và máy tính được thông báo bằng máy do thám. Bắn ba đợt phi công tuyên bố đã “ bắn trúng “ một chiếc tăng. Nhưng máy bay Spectre không được báo trước, không mang theo vũ khí chống tăng mà chỉ là đạn nổ bình thường. T-54 là một loại xe to khỏe. Ba người trong xe bị thương; chỉ một chiếc bị bỏ lại. Cảnh sát bắt người lái, một người miền Bắc 18 tuổi dẫn vào đồn chỉ huy địa phương. Một nhóm nhỏ quân Bắc Việt đến can thiệp ngay, đuổi lính cảnh sát, đưa chiếc tăng lên đường đi theo những chiếc kia về hướng trạm chỉ huy của Đạt.
Kaplan gọi trọng pháo can thiệp với chiếc Spectre điều chỉnh tầm bắn. Xe tăng tản ra ngay từ loạt đạn đầu. Các quan sát viên Bắc Việt hướng dẫn bắn vào đồn trú quân, bây giờ tổ chức phản pháo. Các pháo thủ Quân lực Cộng hòa chạy vào hầm trú ẩn ngay từ những viên đạn cối đầu tiên.
Người phó của Kaplan kêu lên với Đạt :
- Đại ts, cho trọng pháo bắn đi chứ ! - Họ đang bắn đấy, đại tá ! Đạt trả lời.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #225 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2008, 07:59:28 pm » |
|
Trở lại Tân Cảnh sáng ngày 24 tháng Tư năm 1972 là John Vann viết bản di chúc đời mình. Lần cuối cùng anh về thăm em trai ở Norfolk, Frank J. hỏi anh có sợ chết ở Việt Nam không. Vann đã trả lời “ Lạy Chúa, không “. Anh thoát khỏi biết bao tình huống xấu nên tin chắc chiến tranh không bao giờ đòi nợ anh. Nhưng sau bước đầu cuộc tấn công anh bắt đầu đặt lại câu hỏi. Anh viết thư cho Dan Ellsberg nói việc phòng không của quân địch nguy hiểm đến nỗi lần này rất có thể không thoát khỏi.
Anh đã nói nhiều lần với Annie đã bố trí đảm bảo tương lai cho con gái nếu có điều gì xảy ra với anh. Thực tế, anh chẳng làm gì cho cô bé Việt Nam . Vả lại anh chẳng có gì nhiều. Khoản trợ cấp đóng góp cho vợ và các con ở Littleton cản trở anh dành tiền lại. Anh có món bảo hiểm nhân mạng khoảng 85.000 đô la và nếu để lại vợ góa, chị sẽ được lĩnh trợ cấp của quân đội và cơ quan phát triển quốc tế. Nhưng trong tình thế hiện tại, Annie không có quyền gì lĩnh trợ cấp, tốt nhất cũng chỉ được một phần nhỏ tiền bảo hiểm của anh. Bận bịu về cuộc tấn công thậm chí Vann không vận động bước đầu để tuyên bố việc cưới Annie ở Đại sứ quán trong những lần đến Sài Gòn . Hiện tại chị sống với con gái trong một ngôi nhà ở bên bờ biển Nha Trang, tư dinh chính thức của Vann ở Quân đoàn 2. Di chúc mới nhất của anh viết trong cuộc hành quân năm 1968, lúc con gái mới 6 tháng, để lại tất cả cho Mary Jane và những đứa con Mỹ, đăng ký ở Colorado, đấy là bản duy nhất có giá trị.
Hôm ấy, khi đi nằm ở Pleiku lúc hai giờ sáng, rõ ràng anh không thể làm gì để ngăn chặn những chiếc xe tăng và cần ngủ một ít cho ngày sắp sáng. Anh bị đánh thức dậy lúc sáu giờ rưỡi, được biết Kaplan đòi anh lập tức đến Tân Cảnh. Vội vàng mặc quần áo , anh cùng phi công lái chiếc Bell Ranger nhỏ bay đi Tân Cảnh ngay. Có lẽ anh sẽ di tản được các cố vấn trong vòng vây của những chiếc xe tăng đang xông lên. Có lẽ không được.
Vann luôn mang trong túi áo một cuốn sổ tay nhỏ cỡ bảy trên mười phân để ghi chép. Trong lúc bay, anh lấy ra mở trang có tiêu đề in “ Nguyện vọng cuối cùng và di chúc”, viết lúc 7 giờ và ngày tháng ở góc trên bên phải rồi ghi bên dưới “ Vợ tôi … và con gái tôi .. cùng chia sẻ tài sản của tôi. Tất cả những gì tôi có ở miền Nam Việt Nam phải được bán đi và tiền giao lại cho vợ tôi … “ ( Vì những lý do tế nhị, tác giả không để tên gia đình Annie và Lee. Cũng không cho một chỉ dẫn nào về những điều đã biết ). Anh ký tên “ John Vann “ rồi bỏ cuốn sổ vào túi áo. Có vẻ anh nghĩ nếu người ta thấy nó trong người anh, người ta sẽ cung cấp cho cuộc sống của Annie và con gái Việt của anh.
Anh không nói mình đã viết gì với viên phi công , chuẩn úy Robert Richards. Những đám mây lướt nhanh của gió mùa sắp tới, sương sớm và khói cháy do bom đạn che khuất Tân Cảnh. Richards xuống phía dưới mâu. Một chiếc Ranger khác do đại úy Dolph Todd lái ở ngay phía sau máy bay của Vann. Hôm trước, Todd tình nguyện hỗ trợ Vann trong ngày ấy. Anh thích những chuyến bay nguy hiểm nhưng không biết lần này có việc gì đang chờ đợi anh.
Vann nói qua điện đài với Kaplan, Mc Clain và bảy cố vấn khác. Kaplan đã mất hy vọng kích thích một sự kháng cự và ra lệnh cho toán của mình rời bỏ hầm tránh đạn dùng lúc bình minh. Ông kiểm tra hai người trong bọn họ mang điện đài theo trước khi đi để có thể liên lạc với máy bay lên thẳng. Đạt và ban tham mưu theo người Mỹ ra khỏi hầm trú ẩn và sau mấy phút có vẻ lại yên ổn. Để vô hiệu hóa đối thủ, trong lúc xe tăng tiến lên, quân Bắc Việt tăng cường bắn phá mỗi phút đến ba, bốn loại súng cối, trọng pháo và rốc két. Vann, Richards và Todd qua điện đài biết họ có nguy cơ hạ cánh trên mìn. Thực vậy, các cố vấn thông báo họ đang ở giữa một bãi mìn bảo vệ phía tây vùng phòng thủ.
Kế hoạch lúc đầu về di tản của Kaplan tỏ ra không thực hiện được. Vùng đậu máy bay Cobras, chỗ Vann phải đến tìm họ bây giờ dưới lưới lửa của hai chiếc T-54 chốt ở cửa ra vào và bộ binh Bắc Việt đến phía sau. Một chiếc tăng thứ ba tiến lên đúng dưới một bể nước bê tông, cũng đe dọa vị trí của họ. Kenneth Yonan, một đại úy 23 tuổi từ trường WestPoint ra, trèo lên đỉnh bể nước với người đồng chức Việt Nam chỉ đạo bắn vào xe tăng, việc làm trở nên vô ích vì mây và sương mù. Anh bị xe tăng cầm tù trên ấy và không bao giờ người ta gặp lại anh nữa.
Trung sĩ Walter Ward, hạ sĩ quan hành chính, tìm một cách đi qua bãi mìn cách xa chiếc tăng ở bể nước. Trong số 1200 sĩ quan và lính Việt Nam của tổng hành dinh, 900 làm công việc truyền tin, công binh và những công việc phụ. Khi những chiếc T-54 đi về hướng cửa vào vành đai, họ sợ hãi, chạy trốn qua dây thép gai và bãi mìn bao quanh Tân Cảnh. Nhiều người nhảy lên xe riêng của mình. Ward gợi ý dẫm lên bước chân những người đi ra yên ổn để chắc chắn không bước vào chỗ nguy hiểm. Các cố vấn dừng lại trên một con đường cũ đi qua khoảng đất chênh cao hơn bãi mìn. Kaplan cho rằng chỗ ấy có thể che dấu một phần máy bay lên thẳng khi đậu xuống. Những người Mỹ nằm xuống đất, xung quanh là lính Quân lực Cộng hòa đang hoảng sợ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #226 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2008, 10:54:02 am » |
|
Nhìn từ trên trời, chỗ này xem chừng không phải là nơi ẩn nấp tốt cho Bob Richards. Anh chỉ thấy ống canông 100 ly trên ụ tăng dưới bể nước chĩa thẳng vào chỗ các cố vấn nằm mà anh sẽ hạ cánh.
Có mìn hay không Richard cũng liều mạng đậu xuống, chân máy bay sát mạnh vào mặt đất. Todd đến ngay sau đó, Kapaln đưa ba trong các cố vấn leo lên trong mỗi máy bay. Ông không muốn mạo hiểm chở quá nặng. Kaplan và Mc Clain, sĩ quan cấp trên, ở lại chờ chuyến sau cùng viên đại úy mang điện đài . Richards cất cánh, mắt nhìn vào khẩu ca nông to lớn. Anh rất ngạc nhiên thấy nó không bán, cũng không có ai khác bắn.
Hai lính Nam Việt Nam ở trong bãi mìn bám vào cột ăng ten đài một bên trực thăng khi máy bay cất cánh; hai người khác bám vào càng. Vann thấy cũng cảnh ấy ở máy bay của Todd. Lúc đấu, anh dự kiến chuyển các cố vấn đến trại Lực lượng đặc biệt ở Bến Hét, cách vài chục cây số về phía tây, một trong những hòn đảo nhỏ hiếm hoi lực lượng Sài Gòn còn giữ được dọc biên giới Lào và không bị đe dọa vì một cuộc tấn công sắp tới. Lên trên không những chiếc máy bay chịu được quá tải nhưng Vann sợ những người lính Quân lực Cộng hòa rơi xuống chết nếu đi xa. Anh bèn quyết định để tất cả xuống vùng Dak Tô II chỉ cách đấy hai cây số. Anh biết quân Bắc Việt sẽ đến chiếm nhưng có một chiếc Huey đang bay, sẽ đến trước họ. Vann gọi phi công lái Huey, ra lệnh đến ngay chở các cố vấn đi Pleiku.
Richards và Vann trở lại tìm Kaplan và hai người kia. Nhưng không may. Để chắc chắn, họ bay sát mặt đất và trong mây thấp. Một người lính Bắc Việt thấy họ đến gần ra khỏi bụi cây bắn một loạt với khẩu AK-47 vào buồng lái. Richards giật mạnh máy bay vòng lên những đám mây. Đạn vào buồng lái, phá hỏng điện đài, đâm thủng sàn dưới chỗ Vann ngồi. Anh chắc chắn bị thương hoặc tệ hại hơn nếu không có tay lái nhào lộn của phi công và đạn AK-47 cũng tương đối nhỏ và ít nhanh thoáng, kẹt vào sàn lỗ tổ ong bằng nhôm mất hết sức mạnh.
Vann gọi Todd qua đài cấp cứu để anh ta đi tìm ba người cố vấn cuối cùng chở đến Pleiku, chỗ anh cũng sẽ tới. Trong lúc bay, mức xăng hạ xuống một cách bất thường. Khi hạ cánh xuống tổng hành dinh Quân đoàn 2, Richards thấy chất đốt chảy qua những lỗ thủng ở thân máy bay.
John Vann không chậm trễ. Anh nhảy lên máy bay của Todd ngay khi Kaplan và hai cố vấn vừa xuống. Anh lại đi Tân Cảnh, người trợ lý Việt Nam. Cai nhảy lên ghế sau đi theo anh. Vann bảo Todd hạ xuống gần khu đất Dak Tô II để cứu một thiếu tá Mỹ, cố vấn của tiểu đoàn lính dù địa phương. Trên đường băng bây giờ quân địch đã chiếm, lực lượng Sài Gòn hoàn toàn hoảng sợ. Viên thiếu tá Mỹ và người phiên dịch lên máy bay và trong lúc Todd cất cánh, Vann dùng báng súng đánh những lính dù Việt Nam bám vào càng phía anh ngồi. Nhưng phía sau Todd cũng có nhiều người như thế làm máy bay mất thăng bằng, một trong những cánh chong chóng xát vào đất. Chiếc máy bay lảo đảo, bẹp nát. Cai bị kẹt ở dưới. Vann kéo anh ra, lấy một chiếc đài trong xác máy bay hướng dẫn máy bay tiêm kích ném bom Cobras bắn vào quân Bắc Việt . Những người cộng sản tiến lại gần hơn; Vann bắn liên thanh tưới đạn vào họ để tự bảo vệ. Một phi công Huey đậu xuống được, giải thoát cho Vann, Cai, Todd và hai cố vấn khác khỏi làn đạn của bộ binh Bắc Việt đang tiếp tục bắn vào máy bay.
Vann để Cai lại trạm y tế Kontum chữa vết thương ở vai, lấy một trực thăng khác trở lại Tân Cảnh. Trải qua những lúc nguy hiểm, anh nhớ lại bản di chúc , dừng lại Võ Đình chỗ đại úy Peter Kama, người Hawail , là cố vẫn lữ đoàn. Anh xé tờ giấy trong sổ tay, nhờ Kama ký làm chứng và để lại cho ông này bản di chúc.
John Vann không thể ở lại trung tâm hành quân của Quân đoàn 2 trong công sự Pleiku nghe Du than thở. Anh chỉ đạo trọng pháo tấn công xe tăng, ra lệnh bỏ bom các kho vũ khí xung quanh Tân Cảnh, cho di tản các cố vấn của các căn cứ lân cận và đi tìm hai người ở Dak Tô. Anh phải hoạt động, dù kết quả ra sao, trong thảm họa mà anh đã góp phần gây ra.
Nhiều nghìn lính Quân lực Cộng hòa thoát được chạy về phía Kontum. Họ chạy nhanh đến nỗi dân miền núi chứng kiến gọi là “lính thỏ”. Đạt đã chết. Cuối cùng, ông ta rời bỏ hầm tránh đạn, cầu khẩn Du gửi cho một chiếc trực thăng để di tản không được rồi đến khu Dak Tô II, bị thương ở đó và có lẽ đã tự sát bằng một phát súng ngắn. Kaplan và McClain may mắn vì chức vụ cao phải ở lại đi sau cùng với Steward. Ba trong số sáu cố vấn được Richards và Todd đưa đến Dak Tô II bị tử nạn khi chiếc Huey của Vann cho đến chở bị bắn hạ khi cất cánh. Trung sĩ Ward chở họ qua bãi mìn là trong số người sống sót.
Nếu việc đuổi theo là truyền thống của quân Bắc Việt thì có lẽ quá trình chiến tranh đã thay đổi. Tân Cảnh sụp đổ đã tạo những điều kiện lý tưởng, trong lúc này quân địch mất tinh thần đến nỗi cứ không ngừng chạy trốn mà cũng không biết vì sao. Nếu các chỉ huy quân Bắc Việt củng cố lại đoàn xe tăng trong đêm 24 tháng Tư năm 1972 ấy, chở mấy tiểu đoàn bộ binh bằng xe Jeep,ô tô, xe bọc thép Quân lực Cộng hòa bỏ lại tất cả trong vùng Tân Cảnh gồm 200 xe, và nếu họ thọc vào 40 cây số đường 14 đến tận Kontum, thành phố đã thuộc về họ trong buổi sáng. Hoặc nếu không muốn mạo hiểm với một cuộc hành quân chớp nhoáng, họ có thể đuổi theo quân địch, tranh thủ thời gian bình tĩnh đi xuống Tân cảnh và dãy Rocket Chỏm đồi một số ngày, thậm chí một tuần lễ hoặc mười ngày thì Kountum “ sẽ tự tan rã “, sau này Vann thừa nhận như vậy.
Và nếu Kontum bị mất năm 1972, nỗi hoảng sợ bao giờ cũng ngầm ẩn trong quân đội Sài Gòn sẽ bung ra thành một bệnh dịch không kiểm soát nổi khắp Quân đoàn 2. Cao nguyên sẽ bị mất và phần lớn vùng ven biển miền Trung cũng không giữ được. Tỉnh Bình Định đã chao đảo sau khi thất thủ các huyện phía bắc, những người cộng sản đã có thể chiếm hải cảng Qui Nhơn, đe dọa những thành phố lớn ven biển khác sau khi các Sư đoàn Bắc Việt ở cao nguyên liên lạc với “ Sao vàng “ ở Bình Định. Các đơn vị cộng sản sẽ không bị gián đoạn do thiếu tiếp tế vì đối phương bỏ lại khá đủ cho nhu cầu của họ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #227 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2008, 11:26:05 am » |
|
Chính quyền Nixon nghĩ vùng ven biển sẽ được quân lính đánh thuê giữ thật đảm bảo. Với hàng trăm triệu đô la giúp về kinh tế và quân sự cho Nam Triều Tiên. Mỹ đã thuyết phục Seoul để hai trong số các sư đoàn của họ bảo vệ dọc bờ biển từ Nha Trang đến Qui Nhơn. Nhưng lính Triều Tiên không trụ lại một mình nếu các đội quân Sài Gòn tan rã xung quanh họ. Họ đã chối bỏ vai trò lính đánh thuê, vận dụng những chỉ thị mật của Seoul phải hạn chế tổn thất. Thậm chí họ không giữ liên lạc thẳng bằng đường 19 giữa các kho hàng ở bến tàu Qui Nhơn và các kho Pleiku. Hai tiểu đoàn của Sư đoàn Bắc Việt “ Sao vàng “ chiếm giữ con đường qua đèo An Khê vào giữa tháng Tư. Vann phải chửi rủa các tướng Nam Triều Tiên trong hai tuần để làm cho họ mở lại con đường. Trong lúc chờ đợi, anh đành phải tiếp tế hàng không hoặc tho một con đường khác dài hơn nhiều từ Nha Tranh mà cũng có thể bị cắt bất cứ lúc nào.
Việc đàm phán ở Paris đang cầm chừng. Tháng Giêng, Nixon đưa ra công khai những cuộc trao đổi bí mật giữa Kissinger và Lê Đức Thọ để chứng tỏ những người cộng sản Việt Nam ngoan cố. Đúng là họ cứng đầu, họ yên lặng để Nixon tiếp tục thách đố hai bên cùng rút quân. Bây giờ, cuộc chiến diễn ra có lợi , họ càng không lay chuyển hơn bao giờ hết, buộc Hoa Kỳ đơn phương rút quân về nước và xoa bỏ chế độ Thiệu để đổi lấy một thỏa thuận hòa bình. Nixon trở lại tập kích máy bay vào miền Bắc, chuẩn bị thả mìn phong tỏa Hải Phòng và các cảng khác. Nhưng chính kết quả ở miền Nam mới là đáng kể. Kissinger muốn có một sự thỏa hiệp, nếu các sư đoàn cộng sản nối liên lạc giữa cao nguyên và vùng biển, miền Nam sẽ bị cắt làm hai, không còn vấn đề gì lớn để đàm phán.
Joe Pizzi, tham mưu trưởng của Vann nhận thấy không khí hoảng sợ và biết Pleiku sẽ tan rã ngay nếu Kotum thất thủ. Dân chúng thành phố di tản, chỉ còn một phần tư so với trước cuộc tấn công, trong lúc sĩ quan Quân lực Cộng hòa dần dần chuyển gia đình và tài sản của họ trở lại Sài Gòn , Nha Trang hoặc một thành phố xa xôi khác. Để có một vé máy bay thường ngày của Hàng không Việt Nam , phải đút lót nhiều trăm đô la. Máy bay lên thẳng và các loại máy bay của Không quân Việt Nam không sẵn sàng cho các nhiệm vụ quân sự vì những người lái và phi hành đoàn để thời gian chuyên chở người và vật phẩm về vùng biển lấy tiền.
Một buổi sáng Pizzi phát hiện ra các kiểm soát viên hàng không đào ngũ nhiều đến nỗi khó thực hiện việc lần lượt kiểm tra vùng đất chính của Pleiku. Ông ta xây dựng một kế hoạch bí mật di tản tất cả những người Mỹ bằng máy bay lên thẳng và C-130 từ căn cứ Mỹ Holloway phía bên kia thành phố. Vann thán thành kế hoạch ấy vì không có sự lựa chọn nào khác. Pizzi bắt đầu giảm số lượng người di tản bằng cách chuyển đến Nha Trang tất cả những người Mỹ không thật cần thiết ở Pleiku.
Vann giao cho Cai kín đáo lấy những gì thiết yếu trong tủ và những tài sản riêng của anh chuyển theo các chuyến bay hành chính về Nha Trang. Anh cũng gửi đi một chiếc hòm nhỏ, sơn nâu, đóng khóa chỉ riêng anh có chìa. Anh gọi là “ chiếc Hhp “ từ đó không bao giờ rời anh. Nó đựng những album ảnh của anh và các anh chị em ở Norfolk, ảnh anh làm một bước nhảy mạo hiểm trên cát ở Ferrum hoặc mặc đồng phục học sinh sĩ quan máy bay trên một chiếc B-29 cùng những ảnh của Mary Jane và các con ở Rochester, Nhật Bản hoặc Đức. Trong đó có giấy tờ binh nghiệp, huân huy chương và những phần thưởng , chiếc hộp thuốc lá các nhà báo tặng năm 1963 về tinh thần can đảm và trung thực nghề nghiệp. Cũng có những bức ảnh của anh và các bạn làm tình.
Anh vừa cười vừa nói :
- Nếu xảy ra bất cứ việc gì đối với tôi, nhờ các anh giữ gìn cần thận chiếc hộp này. - Có gì trong đó vậy ? Một thuộc hạ hỏi. - Có tôi, Vann trả lời.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #228 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2008, 09:57:47 am » |
|
Quân thù của Vann để chậm cuộc tấn công Kontum sau khi Tân Cảnh bị mất 20 ngày cho anh thời gian đang cần. Kinh nghiệm quân đội Bắc Việt chống lại việc đuổi theo, buộc phải xây dựng một kế hoạch và chuẩn bị có phương pháp cho mỗi đợt chiến dịch. Vann tranh thủ từng ngày một.
Tướng Du, “ nô lệ “ của anh như những người Việt khác gọi làm anh mỏi mệt như Cao đã làm 10 năm trước đây. Tệ hơn nữa, ông ta có ý đồ chống lại anh, bí mật mưu mô bỏ vùng cao nguyên. Tân cảnh tan vỡ được hai ngày thì Thiệu triệu tập Du về Sài Gòn ra lệnh giữ “ Kontum bằng bất cứ giá nào “. Ngay tối hôm đó, trao đổi với Thiệu, ông đến gặp tướng Cao Văn Viên, tham mưu trưởng quân đội hỗn hợp, trong tâm trạng vô cùng bối rối. Ông giải thích, Kontum và Pleiku đều không bảo vệ nổi. Phải bỏ hai nơi này cùng Ban Mê Thuột, trong vùng núi quá về phía Nam và di chuyển tất cả các lực lượng Sài Gòn vùng bờ biển. Du muốn Viên giúp ông thuyết phục Thiệu việc rút lui từng mảng này. Ông nói thêm, rút bảo cao nguyên cũng nằm trong kế hoạch người Mỹ.
Viên trả lời chưa ai nói với mình điều đó và lệnh cho Du trở về Pleiku tìm cách bảo vệ kontum. Du không nói với Vann câu chuyện giữa ông và Viên. Thần kinh quá căng thẳng và không ngủ được, đêm đã khuya, ông điện thoại cho Thiệu và Viên lại đề nghị cho phép rút lui. Thiệu muốn đuổi ông ta ngay nhưng Viên không tìm được một tướng nào khác thay thế. Ông kêu gọi nửa tá viên tướng hai, ba sao nhận chỉ huy Quân đoàn 2. Một số trả lời thầy bói của họ đã nghiên cứu tử vi, thấy năm nay không thuận lợi đối với họ. Những người khác cho rằng mình đang ốm yếu. Không người nào muốn chấp nhận, họ xem tình hình vùng cao nguyên chắc chắn sẽ mất.
Đồng thời lúc đó Du phối hợp một kế hoạch với tỉnh trưởng Kontum và nhiều sĩ quan cao cấp của thành phố xúc tiến gấp việc rút lui. Ông ta suýt thành công vì bản thân Vann cũng chao đảo và thất vọng sau thất bại Tân Cảnh. Nhưng anh phục hồi lại đúng lúc, kịp ngăn chặn mưu đồ của Du. Sau đó, Viên tìm được một người thay thế : tướng Nguyễn Văn Toàn. Toàn đang bị bỏ rơi vì tha hóa quá đáng và có một vụ bê bối với gái đĩ. Vann đề nghị ông ta vớt lại sự nghiệp mình và tranh thủ một ngôi sao mới nếu tình nguyện nắm quyền chỉ huy Quân đoàn 2. Toàn, con người can đảm , đã chấp nhận ; Viên nhắc ông phải lắng nghe Vann.
Cơn giận dữ tăng gấp đôi sức mạnh của Vann. Trong một cuộc tranh luận với Ellsberg sau đợt tấn công dịp Tết, anh thừa nhận, nếu chế độ Sài Gòn không thay đổi trong lúc Hoa Kỳ rút bớt lực lượng ở Việt Nam, “ sẽ dẫn đến một tình hình tệ hại ; chúng ta sẽ bị bao vây khắp nơi và buộc phải tự chiến đấu để sống sót “. Đúng điều đó xảy ra với anh bây giờ. Thất bại làm u ám tình thế, anh không giành giật được những ngôi sao, không dự báo chiến thắng với những quan chức cấp cao được. Một người bị dồn đến bước đường cùng thật nguy hiểm. Vann đã là người như thế.
Weyand bảo anh có thể có một thiếu tướng như anh muốn làm phó, thay thế Wear đã di tản. Vann xin John Hill, xác nhận ông ngày chiến đấu tốt. Họ là người cùng thời, quen biết nhau trong một trại huấn luyện sau chiến tranh Triều Tiên, lúc đó Hill chỉ huy đại đội trong Sư đoàn 1 kỵ binh. Nhỏ người, vai gù, Hill thông minh, sáng tạo, nhất là thích đánh nhau. Thời gian chủ yếu trong sự nghiệp, ông ở đoàn bộ binh cơ giới trước khi được đào tạo về trực thăng và lên cấp thiếu tướng. Vann để Hill tự do trong lĩnh vực thông thạo : tổ chức bay và hỏa lực. Hàng ngày và liên tục, một chiếc Huey chỉ huy, được mệnh danh “ thép của ông chủ “ bay trên vùng trời Kontum để phối hợp những đợt tập kích của máy bay Cobras, những tiêm kích ném bom, những chuyến bay trực thăng quan sát tìm nơi tập hợp quân Bắc Việt chỉ mục tiêu cho B-52, những đợt tiếp tế của C-130 và Chinooks, các kế hoạch nổ súng của trọng pháo phòng thủ. Nguyên tắc của Hill là đảm bảo tất cả sự phối hợp trong sự hoàn hảo và không một cố gắng nào bị lãng phí. Đại tá không quân trong ban tham mưu của Vann muốn ở lỳ trong văn phòng mình tại Pleiku. Ông đuổi ông ta đi, thay thế bằng một người theo sát tất cả những hoạt động trên bầu trời Kontum.
Năm 1965, Vann chửi rủa những nhà lãnh đạo cao cấp Hoa Kỳ vì họ từ chối “ trực tiếp chỉ huy hoàn toàn mọi tạp nham ở Việt Nam “. Đó chính là điều anh đang làm. Anh vứt bỏ việc chỉ huy trên danh nghĩa ở Quân đoàn 2 và hoàn toàn khống chế Du. Bây giờ, anh có một sĩ quan quyết tâm bảo vệ Kontum. Đó là một người quen cũ, Lý Tòng Bá, nguyên chỉ huy những chiếc M-113 ở trận ấp Bắc, nạn nhân sự nóng giận của Vann trong ngày quyết liệt ấy. Họ đã làm việc cùng nhau khi Bá là tỉnh trưởng trong Quân đoàn 3 và Vann nhận thấy Bá không phải một mẫu mực chiến đấu thì ông ta cũng không pahỉ là một kẻ lừa đảo và là người quân nhân tốt nhất trong đa số các sĩ quan quân lực Cộng hòa. Quan hệ mới của họ chứng tỏ Van đồng hóa chế độ Sài Gòn đến mức nào : Bá không có người bảo trợ Việt Nam nào khác và những sĩ quan khác gọi ông là “ người của ông Vann “. Cuối tháng Giêng năm 1972, Vann đưa Bá bấy giờ là đại tá, chỉ huy Sư đoàn 23 bảo vệ phía nam cao nguyên. Một trong những trung đoàn của ông được cử đi bảo vệ Kontum trong tháng Tư; Vann không muốn rút đi của phía nam quá nhiều , khuyên Bá hài lòng trước tình hình đó. Nhưng Bá phản ứng, đòi phải có nhiều người hơn để chống cự. Vann nhướng bước và cử phần còn lại của sư đoàn đi Kontum.
Vann đưa tới một cố vấn Bá tin tưởng : đại tá Rhotenberry, một người Texas giản dị và to lớn, thường trở lại Việt Nam , ở lại bốn đợt, Cao Văn Viên gọi là “ Rhotenberry, con người phiêu lưu “.
Khi ông xuống sân bay Tân Sơn Nhất sáng 14 tháng Năm 1972, một máy bay hai động cơ Beechcraft chờ đưa ông đến thẳng Kontum mà cuộc tập kích đầu tiên, ấn định vào năm giờ rưỡi sáng. Trung đoàn cuối cùng của Bá đã được chuyển đến đấy hai ngày trước. Vann bay trên trận địa trong chiếc Ranger của anh nên Rhotenbery ngủ được mấy tiếng đồng hồ. Người ta đánh thức ông dậy, báo trước Vann sẽ đến tìm đưa đến trạm chỉ huy Bá bố trí trong một công sự của Lực lượng đặc biệt ở phía tây thành phố.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #229 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2008, 10:52:19 am » |
|
Với đơn vị quan trọng cuối cùng của Quân đoàn 2, mối nguy hiểm rất đáng kể; không người nào ở Sài Gòn , các nhà quân sự Mỹ cũng không nghĩ Kontum chống cự được. Người phó của Bá đào ngũ trong 24 giờ đầu trận đánh, lẩn trốn ở Kontum hy vọng trốn thoát. Vann ý thức được những nguy hiểm nhưng không phải là vấn đề quan trọng nhất đối với anh. Anh nó với Rhotenberry trong máy bay lên thẳng “ Lòng tin của tôi đang được thử thách. Chính tôi bố trí quân ở Tân Cảnh. Tôi bảo có thể phòng thủ được nưhng mặt trận tan vỡ. Bây giờ, sự nghiệp của tôi được thử thách vì tôi nói chúng ta có thể phòng thủ Kontum. Nếu chúng ta thất bại, tôi sẽ không còn một lòng tin nào và đo đó không còn tương lai “.
Những người cộng sản tấn công với lòng hăng hái không yếu đi qua những năm chiến tranh nhưng họ đụng đầu với trường hợp không ai tự chủ được. Kontum ở trong thung lũng. Để chiếm lĩnh, quân Bắc Việt phải dồn quân trên những ngọn đồi khống chế con sông và vào thung lũng để tấn công dọc những con đường luôn luôn có trực thăng thám thính quan sát. Việc bắt làn sóng liên lạc và trực tiếp xác định vị trí cũng cho phép theo dõi những hoạt động của họ.
Trong giai đoạn chiến tranh mà kinh nghiệm và kỹ thuật công nghiệp đã nâng cao việc sử dụng máy bay ném bom càng làm họ dễ bị sát thương. Cơ quan chiến lược chỉ huy không quân qua việc bao vây Khe Sanh đã rút được bài học chỉ ba chiếc B-52 thay vì sáu chiếc đã có một tác động đủ phá hoại. Một hệ thống Radar mới cho phép đánh dấu các vị trí bạn trong khoảng cách một cây số. Rhotenberry và Bá không ngần ngại giảm xuống bảy trăm mét. Chu vi thả từ trên cao xuống, rộng một, dài ba cây số, có thể thay đổi ba giờ trước cuộc ném bom. Rhotenberry tính toán chính xác chương trình từng chiếc B-52 để có thể điều chỉnh thời gian và địa điểm tấn công khi đang hoặc sắp có một cuộc tập kích của quân Bắc Việt.
Ba tuần lễ thời hạn lùi lại cũng làm cho quân Bắc Việt phải trả giá với sự mất lợi thế từ những chiếc tăng T-54. Bá có thời gian tổ chức các toán quân , huấn luyện họ bắn vào vỏ xe bọc thép bằng súng ba dô ka mới. Trong thời hạn ấy, Lầu Năm Góc, theo yêu cầu của Abrams, gửi gấp một mẫu thực nghiệm vũ khí chống tăng đặt trên trực thăng, TOW, một ống phóng tên lửa điều khiển qua vô tuyến. Hai chiếc Huey được trang bị loại ấy chở trên một máy bay vận tải C-141 ở bang Arizona gửi thẳng đến Pleiku. Các chỉ huy quân Bắc Việt dùng xe tăng tổ chức một cuộc tập kích ban đêm sẽ tiếp tục cả ngày. Những chiếc Huey trang bị tên lửa TOW lao vào Kontum khi trời vừa sáng và mọi chiếc T-54 trông thấy được đều bị tấn công. Một tổ lái đưa con quái vật của họ vào cố lẩn tránh trong một ngôi nhà. Chiếc Huey phóng tên lửa qua cửa sổ bắn trúng nó.
Máy bay ném bom là vũ khí riêng của Vann. Anh có thể để cho người phó, tướng Hill và Rhotenberry kiểm soát B-52 nhưng anh muốn tự mình làm lấy. Tướng Toàn và ban tham mưu Việt Nam ở Pleiku chỉ còn gọi anh là “ ông B-52 “. Cứ ba giờ một cơ quan chiến lược chỉ huy không quân cử đến cho Creighton Abrams ba chiếc B-52 từ căn cứ Guam hoặc phía nam Thái Lan. Giữa tháng Năm, khi cuộc tấn công bắt đầu ở Kontum, tình hình các mặt trận khác đã cải thiện nhiều hơn. Quân lực Cộng hòa đồn trú ở An Lộc trên mặt trận Campuchia vùng đồn điền cao su chống cự tốt. Phía bắc, Quân đoàn 1 trong tỉnh Quảng Trị, sức ép cũng yếu đi dưới áp lực của không lực Hoa Kỳ . Huế có vẻ đang trụ vững. Kontum là cơ may cuối cùng của những người cộng sản Việt Nam biến cuộc tấn công thành mục tiêu quan trọng nhưng hạn chế trong một thành công gây ấn tượng mạnh. Cũng như mối quan tâm chủ yếu của Abrams, Vann có thể nắm tất cả những máy bay ném bom theo anh muốn. Trong đợt đánh cao nhất, Vann bố trí cho riêng anh 21 trong số 24 phi vụ hàng ngày của B-52 trên đất Việt Nam .
Giữa ngày 14 tháng Năm và cuối tuần đầu tháng Sáu, John Vann thả xuống số lượng bom của 300 đợt tấn công B-52 vùng xung quanh Kontum. Để tăng cường an toàn cho các vị trí bạn, cơ quan Chiến lược chỉ huy không quân chỉ thị cho các máy bay ném bom bay chiếc này sau chiếc khác và nhắm vào trung tâm vùng thả bom. Cách này không phủ được một diện tích đủ làm Vann thỏa mãn. Anh điều chỉnh chế độ, cho ba chiếc B-52 bay từng đợt. Chiếc thứ nhất bay gần vị trí Quân lực Cộng hòa nhất để phủ một phần ba vùng chu vi đầu tiên, chiếc thứ hai nhằm đúng từ chỗ ấy để thả vào trung tâm và chiếc thứ ba xa hơn để phủ phần còn lại. Vann bay trên những vùng ấy ngay trước khi B-52 tới và sau cuộc ném bom ; khi khói và bụi đã lan tỏa hết, anh trở lại, bay thấp để xác định kết quả. Để kết thúc công việc, anh bắn từng tràng M-16 vào các hố bom. Không còn nguy hiểm gì nữa, một hôm anh giải thích cho hai nhà báo đi theo như vậy. Nếu có kẻ nào “ còn sống trong đó, anh ta bị choáng đến mức phải nửa giờ sau mới có khả năng bấm vào cò súng “. Một hôm khác, anh thấy khoảng dăm chục lính Bắc Việt quanh hồ bom bèn dùng điện đài gọi Cobras đến tiêu diệt hết.
Lary Stern, phóng viên Washington Post đến Pleiku phỏng vấn Vann, kinh ngạc khi gặp người mình tìm. Anh chưa bao giờ thấy một người năng nổ , hào hứng như vậy. Đôi mắt anh sáng lên khi tả lại đã điều khiển máy bay ném bom như thế nào “ Gió bấc thổi lúc B-52 biến vùng đất thành mờ mịt, người ta biết hiệu quả của cuộc ném bom qua mùi hôi thối của chiến trường. Vann nói với anh. Ngoài Kontum, mỗi lần thả bom, người ta làm bay tung lên những xác chết “.
Nhưng quân Bắc Việt chống chịu được với B-52. Bốn trung đoàn bộ binh, được tăng cường lính công binh, phòng không và hơn một chục chiếc xe tăng trong số bốn mươi chiếc lúc xuất phát , đi vào phía đông Kontum lần lượt từ phía bắc và phía nam thị xã ngày 25, 26 và 27 tháng Năm. Mục tiêu của họ là nối liên lạc giữa hai cánh quân rồi tấn công phía tây, đập tan quân dự bị của Bá và chiếm vị trí chỉ huy. Họ suýt thành công; không nối liên lạc được với nhau vì hai hàng công sự ở mỗi bên sân bay. Những người chiếm được công sự cũng là người Việt Nam ,làm vinh dự cho truyền thống dân tộc của họ. Bá và Rhotenberry tập hợp lại quân lính và phản công. Dần dần, thất vọng, những người lính cộng sản phải bỏ cuộc, rút lui để lại hàng nghìn đồng đội ở chiến trường giữa, trong và ngoại vi Kontum.
Ngày 30 tháng Năm, Thiệu đến nâng tinh thần cho các đội quân tuy ở một vài khu vực trong thị xã còn rời rạc tiếng súng và tiếng bom nổ. Vann đưa tổng thống nền Cộng hòa Sài Gòn lên chiếc Ranger của anh đến tận trạm chỉ huy của Bá rồi sau đó đưa về Pleiku. Bá báo cáo với tổng thống; ông này ghim một ngôi sao lên ve áo trận của ông. Quân đội Nam Việt Nam sáng tạo một cấp bậc chỉ một ngôi sao bắt chước người Mỹ. Danh hiệu chính thức không phải thiếu tướng như trong quân đội Mỹ mà là “ chuẩn tướng “. Dù tính chất ra sao chính cấp tướng mới là quan trọng. Vann được biết Bá sẽ được khen thưởng, anh để dự phòng trong túi một cặp ngôi sao trong trường hợp Thiệu quên.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|