Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:24:29 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201772 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #140 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 12:24:29 am »

+ SKR-53 (số hiệu xưởng 174); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-53; 30 tháng 11 năm 1961 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 10 tháng 12 năm 1962; 9 tháng 2 năm 1963 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1965; 29 tháng 9 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen và nhanh chóng thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Âu từ Baltic tới biển Bắc; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; từ 17 tháng 12 năm 1982 đến 12 tháng 8 năm 1983 ở “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze ở Sevastopol trải qua trung tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và năm 1991 tháo kim loại ở Sevastopol.

+ SKR-24 (số hiệu xưởng 175); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-8; 14 tháng 3 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 10 tháng 2 năm 1963; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1965; 2 tháng 11 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 5-10 tháng 6 năm 1974 tới thăm Goetenbog (Thụy Điển); 1 tháng 10 năm 1974 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và lúc đầu neo đậu ở Baltic và 30 tháng 1 năm 1985 ở Liepai; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ kim loại; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể; năm 1991 bị đắm khi tháo máy móc và hệ thống gần cảng hải quân Liepai do các bộ phận thân đáy bị xuống cấp nặng; sau đó được Hải quân Nga trục vớt và bán cho công ty Lativa tháo kim loại.

+ SKR-83 (số hiệu xưởng 181); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-55; từ 9 tháng 6 năm 1980 là “60 năm Đoàn viên thanh niên cộng sản Belarus”; 20 tháng 7 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 10 tháng 12 năm 1963; 21 tháng 5 năm 1964 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 3 tháng 9 năm 1966; 17 tháng 10 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 28-29 tháng 19 năm 1967 tới thăm Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); 20-24 tháng 7 năm 1978 – tới Gdưnia (Ba Lan); từ 6 tháng 1 đến 7 tháng 3 năm 1975 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad) trải qua trung tu; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1991 giải thẻ; năm 1992 bị đắm khi tháo máy móc và hệ thống gần cảng biển Baltic do các bộ phận đáy thân bị xuống cấp nặng.

+ SKR-84 (số hiệu xưởng 176); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-51; 17 tháng 5 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 10 tháng 4 năm 1963; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1965; 25 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; mùa hè năm 1966 thực hiện cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Âu từ Baltic tới Sevastopol; 31 tháng 8 năm 1966 ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen; từ 2 tháng 2 năm 1978 đến 12 tháng 4 năm 1979 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol và từ 17 tháng 12 năm 1985 đến 5 tháng 5 năm 1989 ở xưởng “quân khí Hải quân” tại Varna (Bulgaria) trải qua trung tu; 3 tháng 7 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.

+ SKR-48 (số hiệu xưởng 177); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-48; 28 tháng 6 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 21 tháng 6 năm 1963; 27 tháng 1 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1965; 25 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; mùa hè năm 1966 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh châu Âu từ Baltic tới Sevastopol; 31 tháng 8 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; từ 1 tháng 10 năm 1969 đến 31 tháng 1 năm 1970 ở khu vực chiến đấu, làm nhiệm vụ trên Địa Trung Hải, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; từ 31 tháng 1 năm 1975 đến 30 tháng 1 năm 1978 và từ 17 tháng 1 năm 1984 đến 22 tháng 5 nawm1 986 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol trải qua đại tu và trung tu; 26-30 tháng 5 năm 1982 tới thăm Turnis (Tuynidi); 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 8 năm 1990 giải thể và tháo kim loại ở Sevastopol.

+ SKR-12 (số hiệu xưởng 178); 19 tháng 5 năm 1966 là PKL-12; 12 tháng 9 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 18 tháng 5 năm 1963; 21 tháng 5 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 30 tháng 5 năm 1966; 16 tháng 6 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 29 tháng 7 – 2 tháng 8 năm 1969 tới thăm Helsinki; 24-29 tháng 6 năm 1974 – tới Turka (Phần Lan); từ 6 tháng 4 năm 1973 đến 25 tháng 10 năm 1974 ở xưởng tại Kronshtadt trải qua trung tu; 1 tháng 10 năm 1989 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở Liepai; 1 tháng 10 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể; 1 tháng 6 năm 1994 khi các đơn vị quân Nga rút khỏi Latvia đã ở trong tình trạng nửa đắm gần cảng Liepai; sau đó được công ty Latvia tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #141 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 11:52:48 am »

+ SKR-19 (số hiệu xưởng 179); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-19; 25 tháng 2 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1964; 21 tháng 5 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1966; 29 tháng 7 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 1-6 tháng 9 năm 1978 tới thăm Copenhagen (Đan Mạch); từ 24 tháng 5 năm 1974 đến 7 tháng 4 năm 1976 ở xưởng “Yantar” tại Pribaltic (Kaliningrad) trải qua đại tu; 29 tháng 10 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể.

+ SKR-35 (số hiệu xưởng 180); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-35; từ 25 tháng 7 năm 1967 là “Gangutets”; 19 tháng 12 năm 1962 khởi công trên ụ xưởng số 820 ở Kaliningrad; hạ thủy 27 tháng 9 năm 1963; 21 tháng 5 năm 1965 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 30 tháng 8 năm 1966; 9 tháng 9 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 28-29 tháng 10 năm 1967 tới thăm Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể; cuối năm 1990 bị đắm khi tháo máy móc và hệ thống do các bộ phận đáy thân bị xuống cấp nặng.

+ SKR-6 (số hiệu xưởng 182); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-6; 10 tháng 4 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 6 tháng 2 năm 1964; 12 tháng 3 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1966; 12 tháng 12 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 28 tháng 7 năm 1967 ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen, mùa hè năm 1967 và 1 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1968 nằm ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; từ 19 tháng 7 năm 1976 đến 2 tháng 3 năm 1978 và từ 23 tháng 1 năm 1984 đến 8 tháng 4 năm 1986 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol đã trải qua đại tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ phế liệu; 1 tháng 8 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.

+ SKR-13 (số hiệu xưởng 183); 19 tháng 5 năm 1966 là PLK-13; 31 tháng 5 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 13 tháng 10 năm 1964; 12 tháng 3 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1966; 7 tháng 1 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 19 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu chống ngầm; 28 tháng 7 năm 1967 ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen; 1-31 tháng 6 năm 1967 và từ 1 tháng 10 năm 1969 đến 31 tháng 1 năm 1970 nằm ở khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; trong giai đoạn từ 7 tháng 2 năm 1977 đến 21 tháng 9 năm 1978 và từ 17 tháng 12 năm 1982 đến 9 tháng 4 năm 1984 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopok trải qua trung tu và đại tu; 24 tháng 6 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1991 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.

+ SKR-90 (sô hiệu xưởng 184); 10 tháng 2 năm 1964 khởi công trên ụ xưởng số 820 tại Kaliningrad; hạ thủy 30 tháng 11 năm 1964; 24 tháng 8 năm 1966 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên chế 30 tháng 5 năm 1967; 10 tháng 7 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; từ 31 tháng 7 năm 1978 đến 12 tháng 4 năm 1979 trên xưởng “Yantar” ở Pribaltic trải qua trung tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể.

+ SKR-117 (số hiệu xưởng 185); 15 tháng 10 năm 1963 khởi công trên ụ xưởng số 820 (xưởng “Yantar”) tại Kaliningrad; hạ thủy 25 tháng 2 năm 1965; 12 tháng 1 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; gia nhập biên ché 29 tháng 6 năm 1967; 29 tháng 7 năm 1967 gia nhâp biên chế Hạm đội Biển Đen, mùa hè năm 1967 hoàn thành cuộc hành quân liên hạm đội quanh Châu Âu từ Baltic tới Sevastopol; 1-31 tháng 6 năm 1967; 1 tháng 8 – 31 tháng 12 năm 1968 và từ 1 tháng 10 năm 1969 đến 31 tháng 1 năm 1970 nằm trong khu vực chiến sự, hoạt động trên Địa Trung Hải, làm nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; 9-12 tháng 8 năm 1969 tới thăm Varna (Bulgaria); từ 25 tháng 2 năm 1974 đến 7 tháng 2 năm 1977 ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol; từ 14 tháng 8 năm 1980 đến 24 tháng 8 năm 1981 trên xưởng ở Kerchi trải qua trung tu; 19 tháng 4 năm 1990 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ làm phế liệu; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể và sau đó tháo kim loại ở Sevastopol.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #142 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 12:00:53 pm »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 960

+ hoàn toàn: 1132

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 82,4 (78)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 9,2 (8,9)

+ lượng mớn nước tối đa (trung bình): 5,84 (3,02)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin khí – diesel GTK-DZ

+ 2 máy nén khí tuabin khí D-3E, tổng công suất, sức ngựa (kW): 36 000 (26 400)

+ 2 động cơ diesel, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8820)

2 trục; 2 bánh lái chân vịt lắp trong hầm

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 34

+ tiết kiệm năng lượng: 14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2000 (14)

Thời gian hoạt động: 10 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 96…103 (9).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #143 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2012, 12:08:04 pm »

Vũ khí

+ thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 400mm PTA-40-159: 2x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ bom chìm RGB-60: 120

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshte-59”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Fut-N” (Slim Net) hoặc

+ 1xMR-302 “Rubka” (Strut Curve)

Đài ra đa định vị đạo hàng: 1x”Vaigach” (Don II)

Đài thủy âm

+ “Titan” (Bull Horn)

+ “Vưchegda”

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Bizan-4B” (Watch Don)

+ các máy bảo vệ thủy âm

Đài ra đa định điều khiển hỏa lực

+ 1x”Fut-4B” (Hawk Screech) hoặc

+ 1xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho pháo

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại: High Pole B, 2xSquare Head.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #144 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2012, 12:00:05 am »

Tàu tuần tra kiểu “Bditelnưi” – Đề án 1135 “Burevestnik” – Lớp Krivak


Tổng số tàu đã đóng: 21

Các biến thể

+ 1135 (lớp Krivak-I) – đề án cơ sở tàu tuần tra trên đại dương với tuabin khí (1970)

+ 1135-M (lớp Krivak-II) – thay thiết bị AK-726 đã lắp thiết bị pháo 100mm AK-100, đài thủy âm mới “Titan-2T” (1975)

+ 11351 (lớp Krivak-III) – tàu tuần tra biên phòng với thành phần vũ khí mới

+ 11352 (biến thể lớp Krivak-I) – thay RBU bằng tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Uragan”, cải tiến các khí tài các chiến điện tử (những năm 1980)

+ 11353 (biến thể lớp Krivak-I) – tàu tuần tra nâng cấp với tổ hợp thủy âm mới “Zvezda-MG” (1984).

Khi phát triển hàng loạt các tàu ngầm, tàu hoạt động trên đại dương và tàu lớn các đề án 1134-A và 1134-B, lãnh đạo Hải quân đã quyết định bắt đầu thiết kế tàu chống ngầm loại lớn kích thước nhỉ để đảm bảo phòng thủ chống ngầm và phòng không trong cụm tàu và tìm kieemstauf ngầm trên khu vực biển mở (rộng), nơi mà hiệu quả hoạt động của các tàu tuần tra đề án 159 và đề án 35 là không đảm bảo. Năm 1964, nhiệm vụ kỹ - chiến thuật thiết kế tàu chống ngầm lớn cấp II đã được giao cho Phòng thiết kế Phương Bắc – đề án 1135 dưới số hiệu “Burevestnik”. Chế tạo đề án tàu có lượng choán nước tương đối không lớn, có khả năng giải quyết phạm vi rộng các nhiệm vụ dẫn đoàn tàu vận tải trong khu vực xung đột vũ trang cục bộ và bảo vệ lãnh hải đã được giao cho tập thể giáo sư V.Yukhin, Tổng công trình sư là N.P.Sobolev, giám sát viên chính từ Hải quân là Thuyền trưởng cấp 2 I.M.Stetsyur. Việc thiết kế tàu đã kết thúc năm 1966.

Khi so sánh lượng choán nước tiêu chuẩn bị hạn chế trong 2800 tấn, tàu có vũ khí chống ngầm đủ mạnh gồm thiết bị phóng 4 ống tên lửa chống ngầm “Metel”, 2 thiết bị ngư lôi 4 ống phóng 533mm và 2 RBU-6000. Tàu chống ngầm lớn có trang bị thủy âm tương tự như tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B: đài thủy âm “Titan-2” trong mũ chụp hình cầu và đài thủy âm lai “Vega”. Ngoài ra, có 2 đài phát hiện tàu ngầm theo vết rẽ nước. Vũ khí phòng không gồm có: 2 tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” (tổng cơ số đạn 40 tên lửa) và 2 thiết bị pháo đa năng nòng đôi 76,2mm AK-726 với 1 đài ra đa định vị điều khiển “Turel”. Trong vai trò đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp, trên tàu sử dụng đài ra đa định vị “Angara”. Tàu đề án 1135 không có vũ khí tên lửa tấn công và chỉ có thể tiêu diệt các mục tiêu nổi bằng pháo (rất yếu) và ngư lôi. Cuối cùng, tầm phát hiện tàu ngầm bằng thủy âm thấp hơn rất nhiều so với tầm bắn của tên lửa chống ngầm. Nếu trên các đề án 1134-A và 1134-B để dò tìm tàu ngầm trên tầm xa lớn có trực thăng Ka-25, thì trên tàu này không có. “Các nhà lý luận” khi đó tính toán việc sử dụng tàu hoạt động theo các cặp: 1 tàu dò tìm, còn tàu thứ hai tấn công và theo cách đó sẽ tận dụng được toàn bộ tầm bắn của ngư lôi chống ngầm. Để chứng minh lý thuyết đặc sắc này cần viết hết một quyển luận văn khoa học. Ý kiến chế tạo chuyên môn hóa theo các nhiệm vụ của tàu trong trường hợp này đã đi tới vô nghĩa, trong kết quả chế tạo tàu chuyên dụng theo chiến thuật tiếp nhận chiến đấu. Rõ ràng khi biết việc này, Tư lệnh Hải quân đã bày tỏ quan điểm rằng các tàu này… “sẽ có nhiệm vụ hoạt động cùng với không quân chống ngầm, cụ thể, với các trực thăng chống ngầm đóng căn cứ trên bờ”. Chỉ sau khi tiếp nhận vào trang bị tổ hợp tên lửa chống ngầm điều khiển “Rastrub-B” (thay cho “Metel”), có khả năng tiêu diệt mục tiêu nổi, hệ thống vũ khí trên tàu mới nhận được sự cân bằng hơn.

Tàu tuần tra (như nó được phân loại từ năm 1977) đề án 1135 có cấu trúc nửa thùng với thành nổi tương đối cao, cho phép nó hoạt động (chống chịu) trên biển tốt khi có sóng lớn. Tuy nhiên, sự bố trí pháo và vũ khí không được xem là thành công. Nó ở trong cấp đội gợi lại sự bố trí trên tàu tuần dương tên lửa đề án 58: ở bộ phận mũi bố trí thiết bị phóng dẫn bắn tên lửa chống tàu điều khiển “Metel” (1x4), còn cuối mạn tàu – 2 thiết bị pháo (như đề án 58). Tổ hợp tên lửa phòng không được bố trí thành công hơn – theo 1 tổ hợp ở mũi và mạn tàu.

Trong vai trò thiết bị năng lượng chính đã tiếp nhận thiết bị tuabin khí – khí M-7 tương tự M-5 được lắp trên tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B, nhưng chỉ với 1 tuabin khí tăng lực trên mỗi trục. Nhờ thiết bị đặc biệt của bộ truyền động đã đảm bảo hoạt động của một động cơ hành trình trên 2 trục. Đồng thời như thiết bị năng lượng chính của đề án 1134-B, các tuabin khí có bộ (sự) đảo chiều khí, cho phép nhận được tầm bơi xa hơn 4000 dặm trong tốc độ tiết kiệm năng lượng.

Trong tổng thể, tàu tuần tra đề án 1135 đã nhận được và có các chất lượng cơ động trên biển tốt. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng, khả năng cơ động trên biển của “Burevesnik” theo sự dụng vũ khí cho phép ở sóng cấp 5, còn đài thủy âm lai có thể sử dụng khi sóng cấp 4. Ở phương Tây, tàu này nhận tên gọi “lớp Krivak-I”.

Nếu so sánh tàu tuần tra đề án 1135 và các biến thể của nó với tàu tương tự của nước ngoài, thì có thể nhấn mạnh rằng chúng nếu thua kém về khả năng chống ngầm thì không nhiều (các tàu chiến Mỹ lớp “Nosk có đài thủy âm tốt hơn, nhưng tổ hợp tên lửa chống ngầm điều khiển tầm xa kém hơn), còn khả năng phòng không của các tàu Liên Xô thậm chí còn cao hơn (chỉ có 6 tàu chiến Mỹ lớp “Bruc” mạnh hơn). Tuy nhiên, thiếu vũ khí phòng không và pháo yếu (đặc biệt trên đề án 1135) đã giảm đáng kể khả năng chiến đấu của tàu Liên Xô. Việc nâng cấp được thực hiện trong những năm 1970 và trang bị thêm của nhiều tàu chiến Mỹ và Anh bằng tổ hợp tên lửa phòng không lớp “Sea Sparow”, tên lửa chống tàu có cánh “Harpoon” và “Excocet”, các trực thăng đa năng đã dẫn tới sự thua thiệt rất lớn cho các tàu tuần tra đề án 1135. Cuối cùng, việc đóng ở Mỹ dòng tàu lớn (theo kế hoạch 86 tàu) chiến phòng không đa năng lớp “Oliver H.Perri” đã dẫn tới sự tụt hậu lớn về chất lượng của các tàu tuần tra Liên Xô.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #145 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2012, 12:02:19 am »

Các biến thể

Hình vẽ tàu tuần tra "Đoàn viên thanh niên Leningrad"


Trong quá trình đóng các tàu tuần tra đề án 1135 đã quyết định tăng cường trang bị pháo của chúng theo tính toán lắp thiết bị pháo 100mm AK-100 với đài ra đa định vị điều khiển “Lev”, còn sau đó lắp đài thủy âm hiện đại hơn “Titan-2T”. Những sự tăng cường này đã dẫn tới sự tăng lượng choán nước tiêu chuẩn lên gần 140 tấn. Tàu tuần tra được nâng cấp đề án 1135-M được đóng song song với loạt cơ sở từ năm 1975 (ở phương Tây chúng nhận tên gọi “lớp Krivak-II).

Trên một số tàu tuần tra đề án 1135 trong thời gian sửa chữa ở xưởng, trên nóc buộc tời của đài thủy âm lai đã xây bãi đáp để tiếp nhận hàng hóa từ trực thăng hoặc cho nó hạ cánh trong các trường hợp khẩn cấp. Như đã nhấn mạnh trước đó, tàu rõ ràng không đủ vũ khí cho trực thăng.

Các chất lượng cơ động trên biển tốt của các tàu này đã thu hút sự quan tâm của lực lượng biên phòng khi lựa chọn tàu biên phòng để kiểm tra khu vực kinh tế trên Thái Bình Dương vào đầu những năm 1970. Theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, từ Ủy ban An ninh quốc gia (KGB) tới Phòng thiết kế Phương Bắc, đã thực hiện đề án tàu tuần tra 11351. Trên tàu, thay cho tổ hợp tên lửa chống ngầm bị tháo đã bố trí 1 thiết bị pháo 100mm AK-100, thay cho toàn bộ tổ hợp vũ khí ở mạn tàu, đã bố trí bãi đáp cất hạ cánh với hang ga cho trực thăng và các pháo tự động 30mm AK-630 với đài ra đa định vị điều khiển “Vưmpel”. Đồng thời cũng bố trí đài thủy âm dưới sống mới “Platina-S” và đì thủy âm lai “Bronza”. Theo đề án này đã đóng 8 tàu (lớp Krivak-III).

Những năm 1983-1984, tàu tuần tra “Zharki” được nâng cấp theo đề án 11353 trên xưởng mang tên A.A.Zhdanov với sự bố trí tổ hợp thủy âm mới “Zvezad-MG” bù. Khi đó, lượng choán nước tiêu chuẩn của tàu tăng hơn 350 tấn.

Năm 1983 đã thiết kế đề án 11352 với sự bố trí trên tàu tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Uran”. Tuy nhiên việc thực hiện nó do đổ vỡ thời gian hình thành chiến thuật cho tên lửa chống tàu thế hệ mới đã kéo dài đến đầu những năm 1990. Tới khi Liên Xô tan rã, Hải quân chỉ thực hiện nâng cấp thành công 2 tàu: “Đoàn viên thanh niên cộng sản Leningrad” và “Pưlki”. Trên các vị trí tháo RBU-6000 đã lắp 2 thiết bị 4 ống phóng tên lửa chống tàu “Uran”, thay cho đài ra đa định vị “Angara” đã lắp “Fregat-MA”, thay cho đài thủy âm “Titan-2” – “Titan-2T”. Sự thật là các tàu đã qua nâng cấp đã bơi mà không có tên lửa chống tàu do chúng chưa sẵn sàng (ở phương Tây, chúng được gọi là “biến thể lớp Krivak-I”).

Giữa những năm 1980, trên cơ sở đề án 11351 ở Phòng thiết kế Phương Bắc đã nghiên cứu đề án xuất khẩu – đề án 11356. Trên tàu dự kiến bố trí thiết bị phóng tên lửa chống tàu “Uran”, tổ hợp tên lửa phòng không mới… Do đó, khi phát triển đề án 11351 có thể chế tạo tàu đa năng, nhưng lãnh đạo Hải quân không chú ý đến hướng phát triển này. Lịch sử được lặp lại với đề án 61-ME, khi phiên bản xuất khẩu tốt hơn phiên bản cơ sở và đã chỉ ra cách khả năng chế tạo như trông đợi là các tàu đã năng trong lượng choán nước giới hạn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #146 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2012, 12:03:00 am »

Chương trình đóng tàu

Tàu đầu tiên đề án 1135 nhận tên gọi “Bditelnưi” được đóng năm 1970 ở xưởng “Yantar” (số 820) tại Kaliningrad. Việc đóng các tàu này còn được triển khai trên 2 xưởng khác: mang tên A.A.Zhdanov (số 190) ở Leningrad và “Zaliv” (số 532) ở Kerch. Tổng cộng theo đề án này đến năm 1981 đã đóng 21 tàu và thêm một tàu đã được lên kế hoạch nhưng không khởi công. Từ năm 1975, song song với đề án cơ sở đã đóng các tàu theo đề án nâng cấp 1135-M (đã đóng 11 tàu).


Tình hình đến năm 2007

Các tàu đề án 1135 được sử dụng rộng rãi trên toàn bộ các hạm đội trong vai trò tàu chiến chủ lực khu vực biển. Chúng được phân chia theo các hạm đội như sau: 7 – Baltic; 5 – Phương Bắc; 4 – Thái Bình Dương; 5 – Biển Đen (1 tàu sau đó chuyển sang Hạm đội Baltic). 28 tháng 6 năm 1977, các tàu này được phân loại từ tàu chống ngầm lớn loại II thành các tàu tuần tra.

8 tháng 11 năm 1975 đã xảy ra sự kiện khác thường (chưa từng thấy) trong Hải quân Liên Xô – trên tàu tuần tra “Storozhevoi” đã xảy ra binh biến, được tổ chức bởi chỉ huy phó chính trị của tàu – Sablin nhằm gây sự chú ý đối với các đoàn thể về nguy cơ chính trị của đất nước được lãnh đạo Liên Xô thực hiện. Để chiếm lại tàu binh biến, máy bay ném bom tiền duyên Su-24 được đưa đến đã bắn loạt pháo cảnh cáo. Sau đó, đội (các) thủy thủ đã đầu hàng chính quyền, còn Sablin sau đó đã bị xử bắn như kẻ phản bội Tổ quốc.

Tàu chống ngầm lớn “Bditelnưi” mùa hè năm 1972 ở khu vực chiến sự đã hoạt động trên Địa Trung Hải, thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập và Siry.

Sau khi tách Hạm đội Biển Đen, 2 tàu tuần tra – “Bezukorizennưi” và “Bezzavetnưi” năm 1997 đã gia nhập biên chế Hải quân Ucraina (đổi tên tương ứng thành U133 “Mikolaiv” và U134 “Dnipropetrovsk”). Tàu cuối cùng bị loại khỏi biên chế Hải quân là tàu tuần tra “Zadornưi” thuộc Hạm đội Phương Bắc.

Tới thời điểm này, trong biên chế Hải quân Nga chỉ còn lại 2 tàu đề án 1135: “Pưlki” (Baltic) và “Ladnưi” (Biển Đen).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #147 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2012, 12:04:03 am »

Các hình vẽ và bản vẽ tàu tuần tra đề án 1135










Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #148 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2012, 12:09:31 am »


Buồng điều khiển (kiểm soát) chiến đấu cho tổ hợp tên lửa phòng không trên tàu tuần tra "Druzhnưi" đề án 1135



Thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không "Osa-M" ở mũi tàu trên tàu tuần tra "Druzhnưi" trong tư thế chiến đấu



Thiết bị ngư lôi 4 ống phóng 533mm trên tàu tuần tra đề án 1135



Thượng tầng tàu tuần tra "Ladnưi" đề án 1135 trong Hạm đội Biển Đen năm 1995
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #149 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2012, 12:13:04 am »




Bộ phận mũi tàu tuần tra đề án 1135 trong Hạm đội Biển Đen



Tàu tuần tra đề án 1135 thực hiện phóng tên lửa chống ngầm điều khiển "Metel"



Tàu tuần tra "Zadornưi" đề án 1135 Hạm đội Phương Bắc thực hiện bắn từ thiết bị RBU-6000. Biển Bắc, 25 tháng 7 năm 1999
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM