Những câu chuyện về Hà Nội 60 ngày đêm

<< < (3/17) > >>

Gondorian:
Để Tổ quốc quyết sinh: Cuộc địch vận bất ngờ
Tôi gặp lại cô nữ sinh Lê Thị Thoa trong dịp Trung đoàn Thủ Đô tổ chức buổi gặp mặt nữ chiến sĩ Quyết tử Liên khu 1 anh hùng tại dốc Hàng Than. Năm nay, bác đã sang tuổi 78 nhưng trông còn rất nhanh nhẹn. Nhớ lại những ngày chiến đấu trong nội thành, bác bồi hồi kể: “Những ngày Toàn quốc kháng chiến bùng nổ thì tôi vừa vào Đảng được hơn 3 tháng và được giao nhiệm vụ là đội trưởng đội tuyên truyền của Liên khu I. Cấp trên chỉ thị cho chúng tôi mỗi ngày phải ra một tờ tin để phục vụ cho các tổ, đội chiến đấu trong nội thành, vì thế hằng ngày chúng tôi phân công nhau xuống các tổ chiến đấu lấy tin tức và các hoạt động chiến đấu của anh em, sau đó về viết bài rồi tổ chức in ấn và phát xuống các đơn vị chiến đấu. Nơi làm việc được đặt ngay tại 78 phố Hàng Bạc. Vào một đêm trăng tròn của tháng Giêng năm 1947, tôi cùng mấy chị em trong tổ xuống ụ chiến đấu tại số nhà 53 và 55 phố Hàng Than. Ngôi nhà đối diện, địch có một tốp đang chiếm giữ và chúng sẵn sàng nhả đạn vào ta bất kỳ lúc nào. Đến nơi thấy anh em đang trực chiến, chúng tôi liền hỏi thăm xem tình hình chiến sự đêm qua thế nào, có ai bị thương không? Biết chúng tôi ở ban tuyên truyền, các anh Vệ quốc đoàn liền bảo: “Tụi địch ở bên kia nhốn nháo lắm các cô ạ, không hiểu sao chúng nó cứ hát hò suốt cả ngày đêm”.

Nghe các anh nói vậy nên mấy chị em chúng tôi leo lên gác ba, nấp sau ụ chiến đấu nhìn sang. Nhờ ánh trăng sáng, nên tôi thấy rõ một nhóm khoảng 5 đến 6 tên đang hát, cười nói khá rôm rả. Lúc đó tôi chợt nảy ra ý nghĩ: Mình thử nói chuyện với mấy tên lính kia xem thế nào, biết đâu lại dụ được chúng không nổ súng, hoặc ít ra cũng có thể làm lung lay tinh thần chiến đấu của chúng? Nghĩ vậy tôi liền chạy ngay về hỏi đồng chí chỉ huy đơn vị. Được anh đồng ý tôi mới quay trở lại ụ chiến đấu thực hiện ý định của mình.

Các anh Vệ quốc đoàn sợ nguy hiểm nên đã ngăn tôi, nhưng lúc đó tôi không sợ mà chỉ nghĩ. Nếu tôi nói chuyện được với chúng để chúng hiểu thì anh em có thể sẽ đỡ thương vong. Ngay lập tức, tôi cầm khẩu súng nhỏ cho 2 tay vào túi và bình tĩnh bước ra rồi cất tiếng:

- Bonjour messieurs! (Chào các ông)

Tôi vừa dứt lời thì ở phía bên kia cũng im bặt tiếng hát hò. Dường như nghe tiếng con gái chào từ phía đối diện, nên chúng hơi ngạc nhiên. Khi chúng nhìn sang chỉ thấy mỗi mình tôi đứng đó, lại là con gái, nên chúng không cảnh giác, một tên hô lớn:

- A! Con gái, ra đây mà nói chuyện bọn mày ơi!

Tất cả những tên đang núp sau ụ chiến đấu đều ùa ra, nhìn sang tôi, thấy chúng không mang theo súng nên tôi ra hiệu cho 3 chị Xuyến, chị Quý và chị Oanh cùng ra với tôi. Thấy chúng tôi, chúng lại ồ lên:

- A, xin chào các cô. Thế các cô là tự vệ chiến đấu hả?

Tôi mạnh dạn trả lời: “Không, chúng tôi là nữ sinh đang học ở trường Trưng Vương. Các ông đánh nhiều quá làm chúng tôi không học được, vì vậy chúng tôi đang bị mắc kẹt ở đây đấy”.

Nghe thấy thế mấy tên liền nhao nhao đổ cho ta nổ súng trước, nhưng tôi nói ngay:

- Vì các ông đã sang xâm lược nước chúng tôi, chiếm đất đai, nhà cửa làm gia đình chúng tôi phải li tán, không được học hành, nhân dân thì đói khổ, nên chúng tôi đành phải đánh lại để bảo vệ đất nước và nhân dân.

Lúc đó địch đã chiếm khu vực cầu Long Biên và khu Hàng Buồm rồi. Nghe tôi nói vậy, chúng im lặng. Thấy chúng im lặng nên mấy chị em tôi bảo nhau hát bài “Khi nào anh trở về” bằng tiếng Pháp để gợi cho chúng nhớ quê hương, nhớ gia đình, từ đó đánh vào tâm lý của chúng, làm nhụt ý chí chiến đấu của quân địch… Mấy hôm sau trở lại vị trí này chúng tôi được biết, bọn địch đã bỏ bốt rút cả vào trong thành…

VŨ THÚY NGÂN 

Nguồn: qdnd.vn

dongadoan:
Copy từ trang web khác, bạn phải ghi rõ nguồn. Nếu bài viết có ảnh thì nên copy cả ảnh, trong trường hợp không copy được ảnh thì đơn giản là xóa cái ghi chú đi. Trình bày như bạn hiện nay, bài viết xấu đi nhiều!

Gondorian:
Để Tổ quốc quyết sinh: Giữ vững bờ bắc Hồ Gươm


Hồ Gươm, nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm” giữa Thăng Long-Hà Nội, vào mùa Đông 1946 lịch sử, lại nổi sóng cùng trận chiến ác liệt bảo vệ Bắc Bộ Phủ và những trận tiếp theo. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ thời kỳ đầu, bộ đội ta ở tuyến phía đông Hồ Gươm lui về giữ khu phố cổ. Từ đó, đoạn phố hơn 100 mét ở bờ bắc Hồ Gươm của phố Đinh Tiên Hoàng (tạm gọi là phố Bắc Hồ Gươm) trở thành một trong những tuyến ngoài của Liên khu I, Hà Nội, nhất là khi địch đã chiếm khu đền Bà Kiệu, đền Ngọc Sơn.

Đội tự vệ phố gồm 15 người phần lớn là công nhân của các cửa hiệu, chốt ở 3 nhà tương đối kiên cố (là hiệu Kem Zê Fia, nhà thuốc Vũ Đỗ Thìn và khách sạn Cai Kinh của Hoa kiều ở đầu phố Hàng Đào, sau này là nhà Bách hóa Bờ Hồ số 12). Vũ khí chỉ có mã tấu, lựu đạn và chai xăng Crếp. Sau đó, trên điều thêm một tổ Vệ quốc quân vừa từ Bắc Bộ phủ về, chốt ở Quán Tân nghệ sĩ (nay là hiệu sách Nhân Dân, Bờ Hồ), nhờ đó phố có thêm mấy súng trường.  
Hồ Gươm, thắng cảnh nổi tiếng của thủ đô Hà Nội (ảnh: Internet).
Đội có 3 thiếu nữ rất nhiệt tình chăm lo việc nấu nướng, nên các bữa ăn dù chỉ có cá mắm và củ đậu, nhưng vẫn thấy ngon. Mọi người trong đội đều đã biết sự khổ nhục của thời kỳ mất nước, nên một lòng quyết chiến, “nhất định không chịu làm nô lệ”.

Sáng 28-12, trời còn tối đã thấy 4 xe hép-trắc (kiểu xe thiết giáp thời đó) của địch và 2 khẩu đại bác 75mm từ phía tượng Vua Lê, theo phố Lê Thái Tổ tiến vào. Đến nhà Thủy Tạ thì bộ binh xuống xe, nhưng lại theo phố Lương Văn Can tiến về phía Hàng Gai. Súng nổ dữ dội khá lâu rồi khói lửa ngày càng lớn ở sau phố.

Khoảng hơn 8 giờ, thấy địch quay trở lại rồi bỗng một tiếng nổ long trời ở buồng cạnh chúng tôi, cùng tầng 2 nhà Cai Kinh. Pháo địch bắn dồn dập phá hủy cả 2 tầng, nhưng anh em khéo nấp, nên chỉ bị thương nhẹ 2 người. Lúc pháo ngừng, xe thiết giáp tiến vào gần thì trung đội trưởng Nguyễn Đức Thiệp cũng dẫn mấy tự vệ tới tăng viện. Anh bố trí 2 người lên gác còn 4 người ở tầng một, nấp sau các lỗ đục thông nhà, đợi giặc vào thì dùng lựu đạn diệt. Anh em rất dũng cảm và mưu trí, nên địch tấn công mấy lần đều bị đánh lui.

Tổ ở nhà cuối phố cũng tìm cách bắn chéo sang bọn địch đi sau xe làm hỏa lực địch phải san bớt sang đó. Một tốp địch bất ngờ xông vào gần nhà Zê Fia bị anh Nguyễn Bá Tạo, dẫn mấy tự vệ đến dùng lựu đạn tiêu diệt. Một tổ viên nảy sáng kiến, lao nhanh lên gác thượng để tìm ra cách đánh tốt hơn. Đúng thế thật, lên tới nơi thấy rõ, có thể ném chai xăng Crếp tới xe địch. Cánh tay võ sĩ của anh Thiệp tung ngay một chai, nhưng còn cách một quãng. Địch phát hiện ra chúng tôi bèn tập trung bắn lên gác thượng, không sao ném tiếp được. Sau đó chúng tôi tìm ra cách nghi binh thu hút hỏa lực địch về một phía để 2 người khỏe nhất có thể nhổm lên ném tiếp. Hai chai xăng Crếp rơi sát một xe thiết giáp và bốc cháy. Chiếc xe vội lui và điều bất ngờ lớn là sau đó các xe khác cùng bộ binh cũng lui dần.

Chiều hôm đó, đại đội trưởng Tấn Công, sau là tiểu đoàn trưởng chỉ huy quân sự của khu Đông Kinh Nghĩa Thục, đến thăm tổ chúng tôi, xem xét các nơi rồi khen ngợi và dặn thêm cách chống trả nếu địch lại tấn công. Với chúng tôi, việc giữ vững được tuyến phố và lời khen ngợi của chỉ huy là sự động viên rất lớn để tiếp tục cùng nhau vượt qua nhiều thử thách.

NGUYỄN HẢI TRỪNG-(Nguyên chiến sĩ Vệ quốc quân Hà Nội)
 
Nguồn: qdnd.vn

Gondorian:
Trích dẫn từ: dongadoan trong 02 Tháng Tư, 2008, 09:06:39 pm

Copy từ trang web khác, bạn phải ghi rõ nguồn. Nếu bài viết có ảnh thì nên copy cả ảnh, trong trường hợp không copy được ảnh thì đơn giản là xóa cái ghi chú đi. Trình bày như bạn hiện nay, bài viết xấu đi nhiều!


Xin lỗi các bác, em sẽ sửa ngay ạ! :)

Gondorian:
Kỷ niệm 60 năm ngày toàn quốc kháng chiến: Chuyện em liên lạc dũng cảm

Câu chuyện về Trần Kim Luyện, một thiếu niên kiên cường đã tham gia chiến đấu bảo vệ Hà Nội năm 1946 và sau này hy sinh tại chiến trường Điện Biên Phủ.

Ngày 16/12/1946, tôi đang huấn luyện ở Nhà máy Rượu về lúc 5 giờ chiều thì thấy anh Trần Kim Xuyến ngồi đợi tôi ở nhà. Thời gian đó anh Xuyến là Tổng Giám đốc Nha Thông tin (sau này là Thông tấn xã Việt Nam).

Gặp tôi anh nắm tay nói:

- Mình bận quá mà phải đến Giáp vì có việc nhờ Giáp giúp mình. Tình hình khẩn trương lắm, không thể tránh được cuộc chiến tranh với Pháp đâu. Chính phủ đã có lệnh cho đồng bào Thủ đô tản cư. Nhưng thằng Luyện em mình nó dứt khoát không chịu đi. Cả lớp nó viết quyết tâm thư xin ở lại Hà Nội phục vụ chiến đấu. Mới học đệ nhị ban Thành Chung 14, 15 tuổi thì không biết nó làm gì. Bảo thế nào cũng không được. Mình muốn nhờ Giáp cho nó vào tự vệ chiến đấu và trông nom giúp. Cơ quan mình không được cho gia đình đi theo. Mong Giáp giúp cho mình.

Với tôi, anh Xuyến không những là người bạn rất thân mà còn là huynh trưởng của tôi trong đoàn Hướng đạo nên tôi vui vẻ nhận lời.

Tối hôm đó khoảng gần 8 giờ. Em Trần Kim Luyện cầm thư của anh Xuyến đến gặp tôi. Đó là một em thiếu niên khoảng 14, 15 tuổi. Da ngăm ngăm đen nhưng có đôi mắt rất sáng. Tôi giới thiệu em vào tiểu đội Phạm Đường Bệ của tiểu khu 6, khu chợ Hôm. Anh Bệ phát cho em một ngôi sao trên nền vuông bằng vải. Em rất thích và lấy ngay chiếc mũ trong ba lô ra gắn vào đội lên đầu cười to:

- A ha! Mình cũng trở thành Việt minh ca-rê rồi.

Bắt đầu từ ngày hôm đó em Trần Kim Luyện trở thành tự vệ tiểu khu 6 khu Chợ Hôm. Ban ngày em tham gia đục tường làm chướng ngại vật. Buổi tối em được các anh lớn hướng dẫn cách sử dụng lựu đạn, tháo lắp súng…

Những ngày 17, 18 tình hình Hà Nội sôi sục, địch càn quét khu Yên Ninh, Hàng Bún, bắn giết đồng bào ta. Chúng phóng xe như điên trên đường phố, xả súng vào chợ Đồng Xuân và các anh em đang đắp chiến luỹ trên các đường.

Đêm 19/12, cuộc kháng chiến nổ súng lúc 20 giờ 3 phút. Hai tiểu đội của tiểu khu 6 được phân công vào kiểm tra các hầm mộ tại nghĩa địa Tây (nay là khu vực tập thể Nguyễn Công Trứ).

Đêm 19/12 trung đội tự vệ của tiểu khu 1 được lệnh tấn công ổ tác chiến của địch ở phố Ngô Thì Nhậm. Sáng 20 thì vào được trong nhà, ở tầng một, nhưng trung đội trưởng Lê Quang Tôn hy sinh. Đội tự vệ tiểu khu 6 được lệnh lên phối hợp với bộ đội đánh tiếp.

Vào trong tầng một, các chiến sĩ định đánh lên tầng hai nhưng bị bọn địch ở trên bắn khống chế rất dữ nên không lên được, có một vài đồng chí đã bị thương, Luyện phải gọi cứu thương đến khiêng các đồng chí đi.

Mỗi lần đi về em gặp tôi và nói:

- Anh Giáp ạ, đánh thế này không được, em thấy ở chỗ Ban chỉ huy các anh ấy nói: Bên khu Bảy Mẫu và khu Lò Đúc các anh ấy cho phóng hoả đốt là bọn chúng phải ra đầu hàng, nhưng ở đây ta đốt sẽ bị cháy lan sang bên thì làm gì còn chỗ mà bố trí đánh. Em đi bên ngoài thấy nhà này có một tầng mái bằng nối tiếp lên mái ngói mà ống máng lại bằng xi măng, có thể lên được anh ạ.

Tôi và anh Việt Tử - trung đội trưởng của tiểu đoàn 212 - nghe em nói thế liền sang nhà bên quan sát thì quả đúng như vậy. Đêm hôm đó đơn vị cho Phạm Quốc Bảo và một chiến sĩ bộ đội theo ống máng lên tầng thượng dỡ mái xuống trần và dùng lựu đạn đánh vào bọn đang cố thủ đồng thời tổ chức cho anh em lên cầu thang.

Bọn địch buông súng đầu hàng.

Ta bắt được sáu tên trong đó có hai tên bị thương và thu một số vũ khí. Tự vệ được chia khẩu Sten, 1 khẩu súng trường và 40 quả lựu đạn.

Em Luyện xí ngay phần khẩu Sten và nói:

- Khẩu này nhẹ, các anh để cho em.

Mọi người đều cười. Đội trưởng Việt Tử bảo: “Đúng, phải thưởng cho chú Luyện vì chính chú ấy nghĩ ra cách đánh hiệu quả này”.


Ngày 21/12, địch tấn công Nhà máy Rượu. Thời gian đó khu vực Nhà máy Rượu rất rộng bao gồm một khu vực hình chữ nhật giới hạn bởi đường Lò Đúc, Hoà Mã, Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Công Trứ, có tường cao 4 m và nhiều lỗ đục thông ra các phố. Trong Nhà máy Rượu khi đó có hai trung đội của tiểu đoàn 212 mà hơn một nửa là những người trước đây đã từng là lính của quân đội Pháp tham chiến tại chiến trường Pháp - Đức - Bỉ và sau ngày Việt Nam độc lập đã được trở về nước rồi gia nhập Vệ quốc đoàn, nên các anh thường được gọi với tên trìu mến là hải ngoại quân.

Cuộc chiến đấu diễn ra suốt cả ngày. Với bản lĩnh thiện xạ của các cựu binh, các chiến sĩ hải ngoại quân đã gây cho Pháp rất nhiều thương vong. Đến 14 giờ chiều, chúng cho ném bom vào nhà máy và cho xe tăng húc đổ tường xông vào. Các chiến sĩ ta phải rút về Chùa Vua. Đến 15 giờ 30 một tên lê dương mũ đỏ ló ra khỏi lỗ thông của Nhà máy Rượu sang phố Ngô Thì Nhậm. Hai phát đạn của tiểu đội Bệ và Đặng quật nó ngã sấp, chân vẫn ở trong nhà máy nhưng người thì nằm bên hè đường Ngô Thì Nhậm, khẩu carbin văng ra cách 1m.

Chưa ai kịp nói gì thì thấy Luyện đặt khẩu Sten xuống lao ra đường chạy như bay sang chỗ thằng Tây mũ đỏ.

Một tràng đạn liên thanh từ đầu phố Ngô Thì Nhậm phía Hàm Long quét xuống, mọi người thấy Luyện chạy thêm ba bước và ngã xuống cạnh xác thằng Tây. Anh Chi kêu lên: “Luyện bị rồi!". Trong lỗ thông đầu tây mũ đỏ ló ra, một loạt đạn bắn sang chúng thụt đầu vào, thằng nấp hai bên nắm chân thằng bị nạn lôi vào trong nhà máy. Mọi người chợt thấy Luyện vùng dậy một tay cầm khẩu carbin một tay kéo lê chiếc thắt lưng da trên có tám túi đựng băng đạn chạy như bay về. Thì ra em ngã không phải vì trúng đạn mà nằm xuống cạnh xác thằng Tây để cởi thắt lưng đạn của nó.

Chiều hôm ấy em mang súng, đạn về báo cáo Ban chỉ huy mặt trận. Khi về em cười hóm hỉnh: “Anh Quang Tuần khen anh em mình ghê lắm. Khẩu carbin anh ấy giữ cho đội cảnh vệ và đổi lại cho đơn vị mình hai khẩu mút-cơ-tông với 100 viên đạn. Em vẫn giữ khẩu Sten đấy nhé…”.

Ngày 23/12 địch phá ụ ngã năm Lò Đúc, tiến đánh trụ sở 18 Nguyễn Du (trụ sở Bộ tổng tham mưu) đồng thời mở cuộc càn lớn vào khu Chợ Hôm, Lê Văn Hưu, Nguyễn Công Trứ.

Chúng bố trí xe tăng và xe bọc thép đứng ở các ngã tu quét dọc các phố, cho bộ binh phá cửa xông vào các nhà tiêu diệt quân ta.

Trong khu vực này về phía ta có hai trung đội của đại đội Bảo Cường tiểu đoàn 77 và hai trung đội của tiểu đoàn Lê Tỵ, tiểu đoàn 212 cùng năm đội tự vệ của khu Chợ Hôm.

Tiểu đội Phạm Văn Đăng được cử đến góc phố Hoà Mã - Phố Huế, tiểu đội Phạm Đường Bệ được bố trí chặn ở góc Phố Huế - Trần Xuân Soạn.

Em Luyện đi theo tiểu đội trưởng Phạm Đường Bệ đến nhà góc phố số 77 chặn địch cả hai mặt phố Huế và Trần Xuân Soạn. Em Luyện phát hiện thấy nơi bố trí này không an toàn nên đã nói với tiểu đội trưởng Bệ:

- Anh Bệ ạ, em thấy ở đây không an toàn, địch có thể đánh sau lưng mình và đánh thông sang chỗ Ban chỉ huy.

Anh Bệ hỏi:

- Sao em lại nói thế?

Luyện đáp: “Anh có thấy không, lúc nãy khi qua nhà 81 em thấy ngoài lỗ thông qua nhà 79 ra còn một lỗ thông nữa trông sang phía Trần Xuân Soạn. Nếu bọn Tây nó vào được Trần Xuân Soạn thì coi như ta bị bao vây và chúng có thể đánh suốt dọc phố Huế.

Tiểu đội trưởng Bệ và tiểu đội trưởng Tâm vệ quốc đoàn quay lại nhà 81 xem thì thấy đúng như lời Luyện nói: Ngoài lỗ thông sang nhà 79, ở sân giữa còn một lỗ thông nữa qua lối đi nhà vệ sinh thông sang Trần Xuân Soạn. Hai tiểu đội trưởng tự vệ và vệ quốc đoàn liền rút quân về nhà 81 bố trí trên gác, cử hai tổ ba người cảnh giới hai lỗ thông, chiều hôm đó lúc 3 giờ địch phá được một nhà ở phố Phùng Khắc Khoan đánh thông suốt dọc phố Trần Xuân Soạn; tiểu đội Vũ Đình Tuân (con cụ Vũ Đình Tụng) của tiểu khu 3 bị hy sinh bốn người, số còn lại rút được về số nhà 81 và bố trí chiến đấu cùng với Tâm và Bệ. Địch lần đuổi theo nhưng bị quân ta bắn chặn lại, chúng ném lựu đạn, đưa súng phóng hoả bắn nhưng bị quân ta đánh trả lại quyết liệt. Trong những tiếng nổ phát một của súng trường, thỉnh thoảng lại rộ lên tiếng nổ của khẩu tiểu liên của Luyện.

Cho đến 16 giờ chiều bọn địch không làm sao vào được nhà 81, xe cơ giới của chúng cũng không húc được cửa mà còn bị lựu đạn và chai xăng của ta ném cháy ba chiếc trên đường Phố Huế.

Những ngày sau đó các đội tự vệ khu Chợ Hôm được rút về dưới phố Bạch Mai và Việt Nam học xá tập hợp lại thành đội tự vệ Duy Tân, Luyện trở thành liên lạc viên của Ban chỉ huy trung đội. Những ngày này, khi thì em đi cùng anh Phạm Quốc Bảo lùng bắt bọn thám báo, khi thì đi cùng với Hoàng Thị Dung, Lưu Thị Hạnh mang cơm tiếp tế cho đơn vị, khi thì chốt trên đình Tô Hoàng tham gia giữ trận địa Ô Cầu Dền.

Sau ngày 19/01/1947, đội tự vệ Duy Tân sát nhập vào tiểu đoàn 64 trở thành trung đội 2 thuộc đại đội 4. Trong trận đánh lớn ngày 15/01/1974, trong thế bị bao vây ba mặt, Ban chỉ huy tiểu đoàn đã ra lệnh cho bộ phận y tế cấp dưỡng rút khỏi trận địa từ 12 giờ trưa. Tôi cùng cho mấy em liên lạc 14, 15 tuổi trong đó có Luyện rút theo bộ phận này. Nhưng không ngờ đến 15 giờ, tôi đến hầm chiến đấu của tiểu đội Bệ vẫn thấy Luyện và các chiến sĩ khác đang nhằm bắn bọn tây nhấp nhô trên đường số 1.

Đến 5 giờ chiều khi đơn vị rút thì Luyện cũng là những người rút sau cùng. Chỉ huy trung đội lúc đó chỉ còn tôi với Phạm Đăng Trung, đội phó (tất cả đều bị thương).

Về đến Huỳnh Cung nơi đóng quân của tiểu đoàn lúc 11 giờ đêm, Luyện chạy ra đón tôi và nói:

- Lúc anh Tri và anh Lục mất ở Lò Gạch, sau em có đến và tìm được trong túi các anh những di vật này, em trao lại cho anh. Và em đưa cho tôi hai cái ví.

… Ngày 20/3/1947, tiểu đoàn 64 tiến đánh Hà Đông theo dọc sông Nhuệ, trung đội tôi được bố trí thành một tuyến dài gần 700 m. Từ đầu cầu xuống Mỗ Lao, các tiểu đội cách nhau 200 m. Trong ngày hôm đó em Luyện và Lê là hai liên lạc viên phải chạy hàng chục lần từ tiểu đội này sang tiểu đội kia dưới làn đạn của địch. Đến 6 giờ chiều đơn vị được lệnh rút và hành quân hơn 30 km về làng Hữu Bằng ở Thạch Thất, Sơn Tây. Bố trí chỗ ăn nghỉ cho các đơn vị xong đã gần 8 giờ sáng. Chúng tôi vừa trở về nhà đóng quân của Ban chỉ huy trung đội thì liên lạc viên từ trung đoàn xuống đưa cho tôi một công văn.

Mở công văn ra xem tôi bàng hoàng cả người: Đây là công văn của Văn phòng Chính phủ gửi trung đoàn 37 đề nghị báo tin cho Trần Kim Luyện, chiến sĩ của tiểu đoàn 64 biết đồng chí Trần Kim Xuyến, Giám đốc Nha Thông tin đã bị dịch sát hại trong khi đi công tác ngày 2/3/1947. Chúng tôi nhìn nhau lòng nghẹn ngào vì mặc dầu đã chứng kiến sự hy sinh của nhiều đồng đội nhưng không biết em Luyện có thể chịu đựng nổi nỗi đau đớn, mất mát này không. Tôi và Đặng Thái - chính trị viên trung đội (thay anh Hoàng Tường Tri đã hy sinh) xuống nơi tiểu đội của Luyện đóng quân thấy em nằm ngủ rất ngon, miệng hơi hé cười. Chúng tôi bùi ngùi không muốn đánh thức em dậy vì biết rằng sau một ngày chiến đấu gian khổ và sau một cuộc hành trình dài vất vả hãy để cho em ngủ một giấc thoải mái phục hồi sức khỏe trước khi phải đón nhận nỗi đau đớn không thể cứu vớt này. Tối hôm đó, lúc 8 giờ Luyện chạy vào chỗ chúng tôi hớt hải nói:

- Các anh ơi, có phải anh Xuyến em mất rồi không?

Tôi và Thái nhìn nhau, Thái lặng lẽ đưa tờ công văn cho Luyện. Luyện cầm đọc nét mặt ngây đi. Hai dòng nước mắt từ từ lăn trên gò má sạm nâu, em đứng lặng chân. Tôi và Thái định lên tiếng thì Luyện nói:

Anh Xuyến hy sinh rồi, không biết mẹ em có chịu nổi mất mát này không. Em xin thề sẽ trả thù cho anh. Anh Giáp, anh Thái đừng lo, em không sao đâu. Mất mát này em chịu được. Em sẽ quyết tâm rèn luyện để trả thù cho anh Xuyến.

Nói xong em từ từ quay đi bước ra khỏi văn phòng trung đội.

Trong năm 1947, 1948 theo điều động của trung đoàn, Trần Kim Luyện được cử đi học lớp mật mã và trở thành điện đài viên của Trung đoàn bộ. Những năm ấy tôi và Đặng Thái được điều động đi mỗi người một công tác khác nhau, không ở gần Luyện nữa.

Cuối năm 1950 tôi được tin Luyện được cử đi học trường Lục quân khoá 6. Đến năm 1954 sau hoà bình lập lại tôi mới được biết sau khi học ở Lục quân, Luyện được điều về đại đoàn 312 và tham gia nhiều chiến dịch như Tây Bắc năm 1952, Thượng Lào 1953, Điện Biên Phủ 1954. Em đã hy sinh tại mặt trận Điện Biên trong trận chiến đấu ở đồi E1 với cương vị đại đội trưởng./.

Hoàng Giáp (Nguyên đội trưởng đội tự vệ khu Chợ Hôm, Liên khu II)

Nguồn: qdnd.vn

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page