Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:02:44 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giáp ranh  (Đọc 92548 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #90 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:13:35 am »

*

   Từ đầu tháng tám, trung đoàn có chủ trương năm nay cho bộ đội ăn tết mừng ngày Quốc khánh 2-9 “tươi” hơn mọi năm. Kho binh trạm cung cấp quân lương nhu yếu phẩm cho bộ đội chốt giữ vùng bắc Huế đã chuyển về đóng hậu cứ tại Khe Làng Thai, một nhánh của Rào Trăng đổ ra sông Bồ. Bộ đội K10 đi lấy gạo, đạn, thực phẩm chỉ đi bộ hết hai ngày đường. Sau nhiều năm thiếu thốn, đói khát, những anh lính chuyên bám trụ giáp ranh được ăn theo đúng tiêu chuẩn, định lượng gạo, thịt hộp, bột trứng, mì chính, muối... Trong ba lô, gùi của mỗi anh bộ đội có hẳn 1 kilôgam lương khô dự phòng. Ngày Tết độc lập, quản lý tiểu đoàn là anh Thai công bố rõ ràng: thịt lợn tươi 5 lạng, gạo nếp nửa kilôgam, đậu xanh 2 lạng, bột trứng Trung Quốc mỗi trung đội 2 thùng.

   Ban chỉ huy đại đội 1 có cả một chương trình dành cho cái tết Quốc khánh đầu tiên sau ngày Hiệp định Ba Lê được ký kết. Chính trị viên Nhân, trong cuộc họp giao ban đại đội, tuyên bố rành mạch:

   - Một là: Tuy là ngày Tết độc lập, mừng Quốc khánh, các tổ chốt vẫn phải đảm bảo trực chiến, sẵn sàng chiến đấu một tràm phần trăm.

   Hai là: Bữa cơm liên hoan trong ngày 2-9, sẽ do các tay nấu bếp tài ba nhất của đại đội nấu và cung cấp cho tới từng điểm chốt.

   Ba là: Đại đội cử hai đồng chí: Quang và Huy tăng cường cho đội đánh bóng chuyền của tiểu đoàn để giao đấu trong trung đoàn. Chiều 2-9 sẽ có một trận đấu bóng chuyền lịch sử giữa bộ đội ta và đội bóng của tiểu đoàn lính dù ngụy tại sân bóng Thanh Tân.

   Bốn là: Ban chỉ huy tiểu đoàn đồng ý với đề nghị của đại đội 1 sẽ mời một số anh em binh lính thuộc đại đội thủy quân lục chiến chốt giữ tại cồn Nổi sang ăn bữa cơm “đoàn kết” với bộ đội. Việc này, Ban chỉ huy thống nhất cử đồng chí Cường, đại đội trưởng cùng đồng chí Sùng, chính trị viên phó và B2 lo liệu.

   Có một ý kiến cắt ngang: “Nhỡ tụi ngụy không chịu sang thì sao?”.

   Một anh tiếp lời: “Không sang thì thôi. Ta chén”.

   Hân, tiểu đội trưởng tiểu đội cối còn nêu ra xin ý kiến: “Ban chỉ huy đại đội cho phép buổi tối ngày mồng một tháng chín cho sinh hoạt văn nghệ tại chốt B2, với một tiết mục độc đáo do anh em tổ cối đảm nhiệm: Múa rối”.

   Cường về đến đại đội vào lúc 9 giờ sáng ngày 2 tháng 9. Hơn mười ngày qua, quân khu triệu tập một số cán bộ chỉ huy từ cấp đại đội đến tiểu đoàn về hậu cứ tập huấn quân sự và phổ biến cách sử dụng một số loại vũ khí mới. Lúc anh ra tới chốt B2, nhìn vào căn nhà “hòa hợp” thấy đồ đạc vẫn còn ngổn ngang. Tấm vải căng ngang được dùng làm tấm phông cho sân khấu múa rối cao quá đầu người trong căn nhà vẫn chưa kịp gỡ. Nhưng con rối được đẽo gọt công phu từ những gốc tre, gốc cây khô vẫn còn khoác trên mình những manh áo quần của Thạch Sanh, Lý Thông, công chúa nằm lăn lóc trên mặt bàn lồ ô. Con rối được đẽo gọt công phu nhất phải kể đến con đại bàng, con trăn tinh. Trung sĩ Hân, tiểu đội trưởng tiểu đội cối quê ở làng Nguyễn, một trong những quê ở xứ Bắc có nghề múa rối nước. Chỉ từ những gốc cây nhãn, cây mít chết khô bị bom pháo đánh bật gốc từ dạo Mậu Thân, nhưng với những bàn tay thợ lành nghề, khéo léo chỉ mất vài buổi, Hân và mấy anh lính ở tiểu đội cối đã tạo ra những nhân vật trong câu chuyện cổ tích “Thạch Sanh”. Con đại bàng được các nghệ nhân không chuyên sáng tạo ra từ một đoạn rễ cây nhãn. Con trăn tinh được làm bằng gốc tre...

Nhung khoe: “Anh Cường ạ, đêm qua liên hoan văn nghệ vui phải biết. Đâu chỉ có anh em bộ đội mình. Quân ngụy ở chốt bên kia ngồi nghe một lát rồi sang xin với bộ đội cho coi, góp vui. Cả một trung đội chốt ở cồn Nổi sang xem, ngồi rất trật tự, vỗ tay rào rào khi nghe cậu Bảo ca cải lương đoạn công chúa chia tay Thạch Sanh lúc được cứu thoát ra khỏi hang... Đến cuối buổi phía bên lính ngụy một anh lên xin góp vui với bộ đội bằng sáu câu vọng cổ”. Không một sự cố căng thẳng nào xảy ra giữa những người lính thủy quân lục chiến với các anh bộ đội. Vừa xem múa rối, vừa chuyền tay nhau gói thuốc. Cũng vỗ tay rào rào khi tiết mục kết thúc. Có một anh lính ngụy còn lên tận sân khấu ngó thử vào trong xem những anh bộ đội điều khiển những con rối. Mười một giờ khuya, cuộc vui văn nghệ trên chốt Cồn Nổi mới tan.

   Bữa cơm trưa kỷ niệm Quốc khánh 2-9-1973, phía chốt ngụy sang dự mười hai người, do thượng sĩ Thực cầm đầu. Viên trung úy tâm lý chiến thường ngày ra tranh luận, đấu khẩu, bữa nay mất mặt. Những người lính ngụy sang “ăn cỗ” bộ đội ăn mặc gọn gàng, không ai đeo súng. Phía trung đội 2 cũng cử mười hai người. Bốn mâm cỗ xếp gọn gàng trên chiếc bàn dài. Những món ăn đặc sản của người dân xứ Bắc được chuẩn bị chu đáo để đãi khách: giò lụa, chả bánh đa, thịt lợn ninh với măng khô, nộm hoa chuối bóp với muối mè, thịt heo luộc, lòng lợn chấm mắm tôm. Đại đội 1 còn bẫy được một chú chồn để nấu giả cầy. Gạo nếp nấu xôi. Rượu gạo tự nấu chứa đầy trong các bi đông. Một bữa ăn thịnh soạn, ngon lành tất cả những anh lính trận đều mơ ước. Khi bữa cỗ gần kết thúc, Cường và Sùng mới tới. Hai người không ăn mà chỉ uống với những người có mặt một ly rượu. Thay mặt cho những người bộ đội, Cường tặng cho đơn vị lính ngụy chốt ở cồn Nổi một cây thuốc lá Tam Thanh và mười gói trà Hồng Đào. Thượng sĩ Thực tỏ ra cảm động khi cầm túi quà của bộ đội. Cường ân cần hỏi: “Anh quê ở mô?”. “Dạ, thưa chỉ huy em ở Ghềnh Đỏ, Phú Yên. Ngày trước em đã từng đi dạy học. Vợ em cũng đi dạy...”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #91 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:15:18 am »

   Cường họp giao ban ở tiểu đoàn bộ xong, anh và mấy người lính trinh sát và cậu Công liên lạc ra tới bãi đất Thanh Tân đã hơn 3 giờ. Trời mát mẻ. Nắng hanh vàng. Trận đấu bóng chuyền của bộ đội giải phóng và của đơn vị lính dù ngụy đã bước sang séc thứ ba. Bên áo đỏ (bộ đội), bên áo xanh (lính dù) đang có tỉ số 1 -1. Séc thứ ba đang có tỉ số giằng co 11-9. Bên đỏ, bên xanh liên tục đổi giao bóng.

Cường ra sân bóng để động viên Quang và Huy, cầu thủ bóng chuyền của đại đội 1, tăng cường cho đội bóng của tiểu đoàn. Quang cao 1 mét 75, quê ở Vĩnh Phúc. Huy là thanh niên Hà Nội. Quang biết đánh bóng chuyền là nhờ sáu năm đi học đại học ở Liên Xô, trường Đại học Lômônôxốp ngành điện. Quang về nước năm 1971, tính theo tuổi đời Quang còn nhiều hơn Cường ba tuổi. Gia đình Quang có hai con trai, người anh đang dạy ở Đại học Bách Khoa Hà Nội. Quang về nước đã được người anh rấm sẵn cho một chỗ ở trường Đại học Bách Khoa. Chẳng ngờ mùa tuyển quân năm ấy, Quang trúng tuyển nghĩa vụ quân sự. Người anh vốn già dặn, lắm mưu nhiều mẹo cứ nghĩ sớm muộn gì Quang sẽ được trả lại về trường. Sáu năm nhà nước nuôi cho ăn học tạo thành tài một kỹ sư điện ở quê hương của Chủ nghĩa xã hội, ai lại hoang phí tài năng cho vào lính. Hoặc chí ít, Quang cũng sẽ được phiên chuyển về Học viện Kỹ thuật quân sự. Nhưng chẳng hiểu vì lẽ gì, hay anh quân lực quên khóa huấn luyện tân binh năm ấy kết thúc chưa đầy ba tháng, cả tiểu đoàn đã lên xe vào chiến trường. Quảng Trị đã giải phóng một phần, Đông Hà đã thành thủ phủ vùng giải phóng. Vào giữa vùng giải phóng cũng tốt chớ sao. Kỹ sư Quang cuốn theo bạn bè, đồng đội...

Khi được bổ sung, phiên chế vào K10, Quang được đưa vào trung đội thông tin của tiểu đoàn, giữ máy 2 oát, đi với đại đội 1. Chưa phải tham chiến trận nào. Chưa về đồng bằng. Việc quan trọng đầu tiên của một anh lính thông tin mới vào chiến trường là đi theo đại đội bộ binh giữ chốt. Quang được bố trí ở sát hầm ban chỉ huy đại đội. Cơm ăn no ngày ba bữa và coi sóc cái máy. Công việc của kỹ sư Quang nhàn và đỡ vất vả, nguy hiểm hơn anh lính bộ binh ngoài chốt. Té ra Quang đánh bóng chuyền giỏi. Anh là một trong hai tay đập chủ lực của đội bóng. Quang đập và đỡ bóng khéo đến nỗi, anh trợ lý cán bộ phụ trách văn thư của trung đoàn xuống theo dõi và chỉ đạo vỗ vai Cường: “Tay Quang khá. Sau đợt này, tôi phải xin với ông và K10 cho cậu ta về trung đoàn bộ làm cán bộ văn thể”. Cường cười: “Tốt thôi. Tôi ủng hộ. Cậu ta có bằng kỹ sư điện đấy nghe!”. “Thế tốt quá còn gì!”.

   Phía bên quân xanh, cũng có mấy anh lính dù chơi bóng chuyền rất tốt. Khi tỉ số đang là 12-12 đều, trong một lần nhảy lên đập Quang đã vụt mạnh trái bóng chuyền về phía góc trái. Trái bóng trúng tay một cầu thủ bên xanh văng ra xa phía sau một bụi cỏ lau. Một người lính ngụy nhanh chân chạy ra lượm trái bóng. Anh ta vừa khuất sau bụi lau, cũng là lúc phát ra một tiếng nổ lớn. Bụi lau biến mất, đất đá quăng lên trời. Kèm theo một cột khói đen đặc, kéo theo cát bụi bốc cao hàng chục mét. Với phản xạ của người lính, tất cả đều nằm rạp xuống đất. Ít giây sau, sự yên tĩnh trở lại, trong khói bụi mù mịt, đã thấy bốn năm người đang lăn lộn trên mặt đất. Ba người nằm im bất động trên sân. Quang quằn quại ôm ngực, máu ra thấm đỏ vạt đất. Lúc Cường và Công chạy đến đỡ Quang dậy, cậu ta đã tắt thở. Đôi mắt vẫn mở to, nhìn lên vòm trời xanh, vàng nắng.

   Hai mươi phút sau, một chiếc trực thăng từ Huế bay ra đổ ngay xuống sân bóng. Từ lúc xảy ra sự cố những người lính của cả hai phía đều cử người ra sân bóng cấp cứu người bị thương và xử lý những người lính bị thiệt mạng. Lúc máy bay mở cửa, những người lính ngụy đưa băng cáng xuống chở xác hai người lính dù và ba người khác bị thương lên máy bay. Họ cũng tận mắt chứng kiến xác bốn anh bộ đội còn đang nằm sắp hàng, phủ tấm bạt lên trên cùng với những gương mặt đượm buồn. Biết trách ai đây? Khi tất cả đều bị đe dọa bởi những trái mìn, trái pháo lép chưa kịp nổ còn ẩn khuất trong đám cỏ tranh, lau lác. Đêm đêm lũ cáo cày chạy qua cũng có khi phát nổ phá tan không khí yên tĩnh.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #92 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:16:40 am »

10

   Cả tuần liền, trời đổ mưa.

   Đài lại đưa tin bão xa đang hướng vào biển Đông. Chiếc đài bán dẫn hiệu Ôriôngtông chạy bằng pin của Nhân âm thanh phát rất tậm tịt. Công tắc mở hết cỡ, giọng cô phát thanh viên lúc thì nói lí nhí, phải ghé sát tai vào mới nghe tiếng được, tiếng mất. Lúc lại rồ lên như con lợn bị chọc tiết. Rồi câm bặt. Lấy tay đập đập vỗ về chiếc đài một lúc, tưởng là đi đứt, bỗng âm thanh phát ra ồn ào như vỡ chợ, rồi lại tắt lịm, chìm trong tiếng mưa rơi xối xả trút nước xuống mái nhà lợp bằng ni lông. Mưa đến trưa ngày thứ hai thì trời vụt nắng. Nắng chói chang, oi nồng. Hơi nước bốc ngùn ngụt từ đống áo quần, tăng võng, mái nhà bạt, nhà tranh. Mấy anh lính tranh thủ nắng đem ra ngoài bãi trảng hong hơ những liều thuốc phóng đạn B40, B41 để trong nhà bị ẩm mốc. Tiếng chặt cây chí chát vang lên ở khu nhà trung đội 1 và tiểu đội cối. Đang hí hửng vì có chút nắng, bỗng dưng bầu trời âm u trở lại, mây đen kín trời. Nước lại trút xuống như từ một cái bọc khổng lồ, không đáy. Áo quần phơi ngoài bãi chạy không kịp. Mưa không có sấm chớp nhì nhằng, nhưng liên miên hết cơn này tiếp đến cơn khác. Nồi cơm đang sôi tắt lửa ướt bếp. Hạt gạo trương phềnh không đủ sức chín.

   Từ mười ngày trước, trong một buổi giao ban đại đội, Cường đã lệnh cho các trung đội: “Mỗi tiểu đội phải chặt đủ 50 cây lồ ô, để sẵn đó!”. Môn B trưởng B1 hỏi: “Chặt cây làm gì, thủ trưởng?”. “Có lồ ô thì thiếu gì việc để ỉàm. Mai mốt hầm hào sụt lở, các anh có sẵn tre làm lại hầm hào công sự”. Cồn Nổi có cả một rừng tre. Chỉ trong vòng vài ngày, các tiểu đội đã chặt xong cơ số tre, mây song chất thành từng đống xếp ngoài bãi.

   Mưa một ngày, rồi hai ngày. Chiều nay vẫn mưa xối xả. Mưa suốt đêm, kéo sang cả ngày hôm sau. Nước sông Bồ từng lúc dâng cao. Hầm hào, công sự ngập sũng nước. Từ chiều tối, Ban chỉ huy đại đội đã phân tán xuống nắm các trung đội. Nhân đi ra ngoài chốt trung đội 2, Sùng vào với chốt dưới chân điểm cao 165. Mã đại đội phó bám trung đội 3 chốt Khủy Đường Xe. Cường ở lại giữ hậu cứ và chỉ huy trung đội 1 và tiểu đội cối... Chín chiếc bè tre lồ ô đã được những người lính lắp ghép ngay trong buổi chiều ngày thứ hai. Những chiếc bè tre được cột chặt vào các gốc cây quanh điểm chốt. Bằng mẫn cảm của một người đã từng quen sống ở giáp ranh, nhìn kiến lũ lượt nối đuôi nhau leo lên cây, Cường nghĩ năm nay chưa chừng có lụt to.

   Cây muỗm ở đài chỉ huy, trở thành điểm cao nhất của Cồn Nổi. Cách gốc cây muỗm chừng ba mét, có nhiều cành đâm ngang. Chỉ một giờ sau mấy anh bộ đội đã dựng ở lưng cây muỗm một căn nhà bạt đủ để trú mưa cho cả một trung đội và chứa lương thực, vũ khí đạn dược.

   Quãng nửa đêm Cường huơ cây đèn pin đã thấy nước loang loáng tràn trên mặt đất. Tiếng ếch nhái, chão chuộc đuổi nhau bơi trong dòng nước cố ngoi tới chỗ chiếc bè tre đang cột chặt bằng những sợi dây song vào thân cây muỗm. Một chú chuột đồng đã bơi vào được leo lên bè. Bị rọi đèn, mắt con chuột đỏ như một chấm than đầu tàn thuốc. Cường còn đang quan sát con chuột, từ trong đám bè tre lồ ô trườn nhanh ra một con rắn to như bắp tay, dài hàng thước. Thân con rắn độc có những khúc đen, khúc vàng. Thấy động con chuột đồng quay đầu lại. Bộ lông của con chuột bị ngâm nước dính bết vào lóp da. Đôi mắt con chuột như bị thôi miên bởi con rắn hổ mang to quá cỡ đang đưa cái đầu bạnh ra hướng thẳng tới nó. Chỉ trong tích tắc, con chuột xấu số đã bị con rắn ngoạm ngang lưng. Con rắn hổ mang vươn cao cái cổ nuốt gọn con chuột. Trong quầng ánh sáng trắng của ngọn đèn pin, Cường nhìn rõ hình thù con chuột đang trôi từng khúc chậm chạp trong cổ họng của con rắn.

   Ở căn nhà chòi trên thân cây muỗm, những anh lính trẻ đang mê mệt trong giấc ngủ sau một ngày vật lộn dựng nhà, chống trả với mưa bão. Bữa chiều, không nấu được cơm Cường đã cho khui thùng lương khô. Mỗi người được phát một bánh lương khô, uống nước mưa. “Chưa biết chừng lụt to thế này, lũ trăn rắn kéo nhau lên cả sàn nhà trên lưng cây!”. Cường nghĩ vậy và anh lặng lẽ lia cây đèn tìm con dao Mỹ. Con dao dài, rộng bản. Lưỡi dao sắc như nước. Anh cầm con dao lăm lăm trong tay phải, tay trái cầm chiếc đèn pin đứng ở đầu sàn chăm chú quan sát động tĩnh.

   - Có chuyện chi hả anh Cường? - Bình “ba toác” lồm cồm bò dậy - Địch hả?

   - Địch đạc chi lúc này. Lụt to rồi! Coi chừng rắn, chuột bò vô sạp...

   Bình “ba toác” khoác mảnh chăn qua người, rón rén tới bên Cường. Phía dưới cái bè có tiếng động mạnh. Cường lia cây đèn pin vào cái bè. Hỡi ôi! Cả Cường và Bình “ba toác” đều giật mình kinh hãi khi nhìn thấy phần đầu con kỳ đà, to bằng gốc chuối đang nhe răng há mồm đớp ngang đầu con rắn hổ mang. Con rắn độc đang ra sức dùng phần thân và đuôi chống trả quyết liệt để mong thoát ra khỏi cái miệng đầy răng của con kỳ đà. Đuôi và thân con rắn lúc vung lên cao, lúc dằn xuống quấn thân con kỳ đà. Nhưng sự chống trả của một con rắn sao địch lại được sức mạnh của loài dã thú quen ăn xác người, động vật chết, đến heo rừng còn phải sợ.

   - Anh Cường... con kỳ đà này bữa trước đã móc mộ anh Khang.

   Nghe tiếng động, mọi người lục đục trở dậy, ra phía đầu sàn nhìn xuống dưới.    Cường bảo:

   - Tụi bay kiếm cây, đánh kỳ đà!

   Bốn năm đoạn tre dài trong tay mấy anh lính thi nhau phóng thẳng vào lưng, vào đầu con kỳ đà đang say mồi chiến thắng. Con rắn hổ mang dường như đã kiệt sức, lưng duỗi thẳng. Bây giờ là lúc con kỳ đà giật mình hoảng sợ khi bị những đầu ngọn tre tấn công vào bộ da dày như tấm áo giáp trên lưng. Nó ngơ ngác vẫn chưa nhận ra sự nguy hiểm đang rình rập, ngóc đầu nhìn thẳng vào quầng sáng ánh đèn pin. Miệng vẫn ngậm chặt con rắn. Những đầu ngọn cây tre trên tay mấy anh bộ đội lại phóng xuống đầu, xuống lưng con kỳ đà. Cảm thấy sự nguy hiểm đã cận kề, con kỳ đà bò chậm chạp lần từng bước ra mép chiếc bè, lao đầu xuống dòng nước lũ đang cuộn chảy, hướng ra ngoài sông.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #93 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:18:07 am »

   Không một anh bộ đội nào còn tâm trí để ngủ yên trên nhà sàn và cả những chiếc võng treo đu đưa giữa các cành cây. Gió thổi ào ạt trên sông, vặn những ngọn tre răng rắc. Cái lạnh do ngâm nước, không khí ẩm ướt ngấm vào da thịt. Bảy tám anh em ngồi tụm lại quanh chiếc mũ sắt ngụy han gỉ được Thản “cối” biến thành cái lò, cố gắng nhen nhóm ngọn lửa để sưởi ấm. Những khẩu súng AK, B40, B41, cối 60, trung liên ghếch nòng vào một thân cây tre làm giá súng. Bốn bao tải gạo 50 kilôgam được bọc kín trong bao ni lông dày, loại bao của Trung Quốc. Bao ni lông bọc hai, ba lớp đã được những người lính vận tải của binh trạm chuyển về, thả trôi theo đường sông Bồ. Thủy thần có muốn cướp miếng ăn của bộ đội cũng đành chào thua. Mưa có to mấy, gạo vẫn khô ráo chả bõ bèn gì. Trên bốn bao tải gạo còn có thêm cả chục thùng lương khô 701. Từ khi nước dâng, lệnh của đại đội đã cho phép các tổ chốt tiền tiêu di chuyển tới các vị trí đã cắm sẵn những bè tre được neo chặt vào thân các cây mít, sát mép sông.

Trong đêm tối, mưa rơi xối xả, cách một rặng tre ngoài kia là dòng sông réo gào, lâu lâu tụi lính ngụy ở bờ nam sông Bồ bắn ba phát đạn lửa vạch lên trời. Các chốt của địch ở trên điểm cao 165 lại bắn lên những quả pháo sáng như đáp trả. Những quả pháo sáng chỉ lóe lên một lát rồi lại bị mưa dập tắt ngấm. Từ 8 giờ tối, Cường còn nghe thấy tiếng súng báo động cấp cứu của những người lính ngụy chốt ở nam cồn Nổi, nhưng từ quãng nửa đêm tiếng súng im bặt, cũng chẳng ai còn nghe thấy tiếng lính ngụy la hét nữa. Không gian im ắng. Chỉ có tiếng mưa rơi đều đều, đổ nước xuống các tấm tăng căng lên che chắn căn nhà sàn trên thân cây muỗm già. Gió giật mạnh có lúc hất tung cả góc mái tăng. Nước mưa dóc xuống chảy theo thân cây, nên mọi người phải chen chúc tìm chỗ ngồi vây quanh ngọn lửa cháy bập bùng trong chiếc mũ sắt. Khói bếp cay chảy nước mắt, nhưng còn có chút lửa ấm áp để ai cũng tin rằng mình đang tồn tại trong đêm tối mịt mùng như đang sống trong đêm tiền sử.

   Bình “ba toác” bật nói:

   - Tụi ngụy ở chốt bên kia ra sao nhỉ? Chả thấy họ la hét gì nữa.

   Không ai trả lời Bình. Cường trùm vào người chiếc áo mưa, đeo khẩu AK và bám vào chiếc thang dọc theo thân cây muỗm leo lên đài quan sát. Căn chòi nhỏ nhoi, tối tăm treo lúc lỉu trên ngọn cây khẽ đu đưa như lắc võng. Chòi nhỏ lại được cột chắc vào chạc cây, giấu kín trong vòm cây rậm lá, nên khô ráo, hoang lạnh. Cường lấy tấm ni lông che kín các bức vách. Anh ngồi chìm trong bóng tối, nghe mưa rơi. Ánh dạ quang của cây kim chiếc đồng hồ Ôrien chậm chạp nhích từng phút. Còn hai tiếng nữa trời mới sáng. Ở trên cao, nhìn xuống mặt sông đen thẳm như đáy địa ngục. Căng mắt ra Cường không thấy gì ngoài thứ âm thanh quái dị của dòng nước cuộn chảy như muốn cuốn phăng đi tất cả. Dòng sông Bồ từ thượng nguồn đổ về đến đây bị kẹp lại giữa hai dãy núi. Một bên là dãy 165, động Ông Tre; một bên là dãy đồi Dài. Con rồng nước bị bóp nghẹt lại rồi phá tung ra hai bờ tả hữu. Ngồi trên cao Cường nghe rõ tiếng đất lở đổ ầm ầm xuống bên sông phía bờ nam đang bị sóng đánh. Tiếng núi lở ở dưới chân đỉnh 165. Các chốt của đại đội 1 từ chiều qua đã đứt liên lạc. Chiếc máy 2 oát được tiểu đoàn rút đi sau ngày Quang hy sinh, để thay thế bằng đường dây hữu tuyến. Đường dây bị đứt. Đành chịu. Chỉ còn cách đợi trời sáng, coi thử tình hình ra sao, rồi mới tìm cách bắt liên lạc với các điểm chốt và tiểu đoàn bộ. Tự nhiên Cường nghĩ tới Hạnh. Phong Quảng đã mưa lụt như thế này. Hương Trà thoát sao nổi. Hẳn Hạnh đã lên xanh. Giờ này chắc cô đang ở đâu đó trong những hậu cứ của huyện đưới chân Hòn Ngang, Hòn Vượn. Thấm thoát đã gần hai năm Cường xa giáp ranh Hương Trà. Người cũ của tiểu đoàn 10 cũng thưa vắng dần.

   Có lần Hai Ngạn bảo:

   - Nếu sau này, em còn sống ráng mà viết một cuốn sử biên niên cho tiểu đoàn ta. Anh dũng lắm mà hy sinh cũng nhiều. Hết lớp này, đến lớp khác...

   Cường chỉ cười nhẹ. “Biết bao giờ? Sự sống và cái chết của người lính bộ binh vùng ranh mỏng như lá lúa...”. Anh nghĩ vậy thôi. Nói sợ Hai Ngạn buồn và trách anh là người bi quan, nản chí. Nhưng đấy là sự thật không thể chối bỏ. Chẳng ai tin những người giỏi giang như anh Nhàn lại chết. Chị Tâm, chị Nguyệt ở huyện chết... Vậy mà họ phải ra đi... Cường thấy lo cho Hạnh. Một nỗi lo mơ hồ thảng thốt.

   Trời rạng sáng. Mặt sông từ màu tối đen ngả dần sang màu nâu chì. Cường nhận ra các anh đang chơi vơi giữa một biển nước mênh mông. Dấu hiệu đôi bờ của dòng sông còn lại bây giờ chỉ là hai rặng xanh, nước ngập ngang thân cây để lộ ra chỏm lá tre phơ phất, trôi dạt vật vờ theo từng cơn gió thổi. Nước sông từ thượng lưu đổ về gầm gào, cuộn chảy, đục ngầu một màu phù sa đỏ ối. Bập bềnh trên mặt nước ngoài xa những thân cây khô, cành củi mục, rác rều kéo bè kéo mảng trôi trên sông. Một cây khô cổ thụ bị đánh bật gốc nổi bập bềnh trên mặt sông. Bầy quạ đậu trên các cành cây trông như những vệt mực đen rớt trên nên trời xám bạc. “Quạ... Quạ..!” - Một con cât tiếng kêu thảng thốt. Ba bốn con cất cánh lên cao rồi bay nhao xuống sông, đậu trên xác một con nai đã chết bị lũ cuốn trôi, bụng trương phềnh nổi lập lờ trên mặt nước. Bầy quạ thi nhau rỉa xác chêt. Con bay xuống con bay lên đuổi nhau tranh mồi làm náo loạn một vùng sông nước.

   Cường lia ống nhòm nhận ra trung đội B2 của Nhung bây giờ cũng đang túm tụm quanh mấy gổc mít đại thụ, trên ba chiếc bè. Ở một cụm cây to đầu phía bắc cồn Nổi, cách đài quan sát hơn trăm mét, bộ đội trung đội 1 cũng đang trú trong căn nhà sàn giữa ba thân cây. Có một người lính Cường không nhận rõ mặt đang cầm tấm áo huơ huơ trên cao, hướng về phía đài quan sát. Nhìn về phía nam Cồn Nổi, rẻo đất chạy dài hơn ba trăm mét, nơi đơn vị lính thủy quân lục chiến trấn giữ. Nước lụt nhấn chìm bãi cỏ tranh, cỏ lau. Không để lại một dấu tích nào của các chốt ngụy ngoài một manh áo mắc vào ngang thân cây xoan. Căn nhà “hòa hợp” cũng bị nước dâng lên ngập tới sát mái tranh. Trung đội 2 có một tổ trú mưa trong đó. Họ đã khoét mái nhà ra một mảng để chui ra ngoài. Cường nhận ra cậu Lư, tiểu đội trưởng đang cột chiếc mảng tre vào nóc nhà.

Mưa có lúc ngừng rơi, trời hửng lên một chút nhưng vẫn bị bao phủ bởi những đám mây đen ùn lên từ phía biển. Gió vần vũ trên mặt sông bây giờ biến thành một biển nước mênh mông. Cả một vùng chiến địa vốn luôn sôi động, giờ im ắng hẳn nhường chỗ cho nước. Tụi ngụy ở bên bờ nam sông Bồ cũng không thấy bắn súng báo hiệu nữa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #94 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:18:56 am »

*

   Bốn ngày sau, nước mới rút, để lại cho cồn Nổi một cảnh tượng hoang tàn, xơ xác chẳng khác nào sau một trận bị bom pháo phá nát. Hàng trăm mét hào đã bị bùn đất san lấp bằng địa. Những căn hầm kèo chữ A chắc chắn là vậy đã bị đất bùn vùi phủ, chỉ còn trơ lại những đầu cọc tre nổi lên trên lớp phù sa nhão nhoẹt. Rặng tre sát mép bờ sông bị sóng đánh cho tơi tả. Bãi đất bao quanh cồn bị sạt lở, trơ bật gốc tre ngả rạp xuống dòng sông, cồn Nổi không còn một chốt ngụy nào trụ vững sau con lụt. Làng Cổ Bi kế bên, làng Thanh Tân, Sơn Quả các chốt của quân dù cũng phải bỏ chạy, không chịu nổi với sức tấn công của nước. Trong đêm nước dâng ở các điểm chốt của quân dù dọc theo Cống Vàng, không một phát súng nổ cũng buộc địch phải hò nhau rút chạy về dãy đồi thuộc bình độ 28. Tiểu đoàn dù chiếm giữ làng Cổ Bi bỏ chạy về làng Hiền Sĩ. Ở đây địa thế đất cao hơn, nước không lên tới được.

   Cường và những người lính của trung đội 2 tiến về phía đuôi Cồn Nổi bước từng bước chậm chạp, sợ đạp phải mìn, chân sục xuống lớp bùn tươi non dày hàng tấc. Mấy hôm trước đây là chốt của thủy quân lục chiến, san sát các dãy nhà bạt, hầm hào. Bây giờ bị cuốn trôi sạch, không để lại dấu tích. Nước dâng cao, phù sa còn bám vào ngang thân những cây bưởi, cây xoan. Các bụi tre gai ở phía cuối cồn không có nhiều, chủ yếu là vườn cây trái cũ của dân. Chuối mọc từng bụi lớn. Vài cây ổi... Ở một đụn đất cao, tụi ngụy đào hầm, đắp bằng bao cát. Mưa lụt kéo sập hầm còn để lòi ra một cẳng chân của người lính thủy quân xấu số đã không kịp chạy ra khỏi hầm khi cơn lũ đến.

   Cường bảo Nhung:

   - Cậu cho thêm người ra đây, moi căn hầm kia lên để đưa xác người lính ngụy ra, khâm liệm cho người ta. Ta sẽ liên hệ với tụi ngụy ở bên kia sông sang nhận xác về...

   Lúc người lính thủy quân lục chiến được lôi ra từ đống bùn đất, bao cát đè sập, khuôn mặt đã không còn nguyên lành, bị bầm giập, tụ máu tím đen như miếng thịt trâu. Trong các đoạn hào, hầm của phía chốt ngụy, bộ đội còn nhặt được cả những khẩu súng AR15, M72, lựu đạn, bao đạn, bi đông nước. Cường lượm được một đôi giày Mỹ, da còn tốt. Trong một bụi tre gai cuối bãi khuất lấp trong bãi cỏ tranh, bùn đất, Cường lôi lên được một chiếc ba lô ngụy. Trong chiếc ba lô còn một bộ quần áo thủy quân lục chiến, vài ba bao gạo sấy đã ngấm nước chua loét. Trong một cái túi ni lông có một cuốn sách, cũng đã ngấm nước. Cuốn sách có tựa đề “Rừng dậy men mùa” của tác giả Đông Trình và hai ba cuốn tạp chí Văn. Trên trang giấy đầu tiên của tập thơ, nét chữ ghi bằng bút bi còn đọc được. “Thân yêu tặng Hiền và các con của ba. Hẹn ngày về Ghềnh Đỏ... Trần Văn Thực”. Thượng sĩ Thực... Người lính thủy quân lục chiến đã ăn cỗ với bộ đội ngày Quốc khánh... Cường nhớ ra rồi. Hẳn Hiền là vợ anh ta. Còn Ghềnh Đỏ là đâu, anh không biết.

   Trong đêm mưa lụt ấy, thượng sĩ Thực và những người lính ngụy đã chạy đi đâu? Họ có được những người lính ngụy ở bên kia sông đưa thuyền sang cứu? Hay họ đã bị dòng nước lũ cuốn trôi về cửa biển Thuận An?

   Cường phơi tập sách của thượng sĩ Thực trên một tảng đá. Không biết để làm gì. Nhưng nhìn thấy cuốn sách, anh quý. Và anh muốn thế. Nắng đã hửng lên, hanh vàng, nhưng ngoài bờ đất, nước vẫn còn dâng cao, đục ngầu phù sa. Những cây gỗ mục, củi khô trên rừng vẫn lặng lờ trôi về dạt vào bãi, xuôi theo dòng nước. Ngồi lặng lẽ trong buổi chiều tàn, tâm trạng anh bỗng buồn vơ vẩn. Nhìn hút sang phía làng Lai Bằng, không thấy bóng người. Dấu hiệu của chiến tranh lúc này có chăng là chiếc máy bay OV10 bay vè vè dọc theo sông Bồ, phía hạ lưu. Không súng nổ. Không bắn giết nhau, nhưng đã có bao mạng người bị cuốn trôi trong dòng nước này. Phải chăng, sự bạo liệt của chiến tranh nhiều khi đã biến con người thành kẻ tàn bạo, dã man trước kẻ thù nhưng sự hủy diệt thảm khốc vẫn còn thua trời đất một khi đấng tối cao nổi cơn thịnh nộ.

   Buổi chiều, từ phía bờ nam sông Bồ, một chiếc thuyền máy nhằm thẳng hướng cồn Nổi lao sang. Trên thuyền có cả thảy bốn người. Lúc con thuyên đang bập bềnh giữa dòng sông, một người lính ngụy huơ tay lên trời, vẫy chiếc khăn ra dấu “hòa bình”. Nhung và mấy người lính của trung đội 2 đã chờ sẵn ở bến sông. Không bên nào chào hỏi nhau. Thuyền cập bờ, hai người lính ngụy nhảy xuống bãi cát để chuyển người lính ngụy xấu số được lôi ra khỏi căn hầm ngập nước đặt xác anh ta lên thuyền. Những người lính ngụy gật đầu chào, tỏ ý cảm ơn những anh bộ đội, hướng mũi thuyền sang sông.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #95 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:22:36 am »

11

   Đầu tháng 12, đại đội 1 nhận được lệnh thay quân, rút khỏi Cồn Nổi. Cả tiểu đoàn 10 không còn phải làm nhiệm vụ giữ chốt mà rút về khu hậu cử dưới chân dốc Ông Già để củng cố, dưỡng quân sau mùa mưa và trải qua một trận lụt lịch sử. Nước rút đi, địch bỏ chạy khỏi nhiều điểm chốt. Khí hậu ẩm thấp, bộ đội bị sốt rất nhiều. Đại đội 1 trú chân ở khe lạnh trong khu hậu cứ cũ của bộ đội trung đoàn 2. Quân số đại đội hao hụt mất một phần tư, một số đi viện, đi gùi hàng ngoài Quảng Trị, một số được về phép... Gạo, thực phẩm - chủ yếu là thịt hộp, bột trứng, mỡ lợn, muối, mì chính được cung cấp đủ khẩu phần nhưng cũng không chống lại nổi với cơn sốt rừng hành hạ đã trở thành căn bệnh kinh niên của những người lính bám chốt ở giáp ranh.

   Tiểu đoàn 10 tổ chức Hội nghị chỉnh huấn, chỉnh quân và đại hội đảng bộ. Hai Ngạn chính thức giã từ K10 sau gần mười năm gắn bó. Anh được quân khu điều về làm nhiệm vụ mới. Tư Nhất cũng được chuyển đi. Nghe nói Ban quân lực quân khu V xin cho Tư Nhất về lại chiến trường Quảng Đà. Anh Thủy, chính trị viên phó tiểu đoàn, lên thay Hai Ngạn được bầu làm bí thư đảng ủy, kiêm chính trị viên tiểu đoàn. Tiểu đoàn trưởng mới của K10 là Ba Thi, một cán bộ từ quân khu chuyển về. Ba Thi đã gần bốn mươi tuổi, người Bến Tre. Anh là bộ đội tập kết ra Bắc, chuyển qua nhiều đơn vị rồi về Trị Thiên.

   Cường gặp Hai Ngạn ở ngay trước cửa nhà hầm của anh. Hai Ngạn kéo tay anh vào hầm và chìa ra trước mặt tờ quyết định của Ban cán bộ điều động anh về Ban tác chiến trung đoàn. Tờ giấy quyết định còn ghi rõ: Bàn giao đơn vị, nhận nhiệm vụ gấp.    Hai Ngạn rót trà từ chiếc bi đông Trung Quốc ra hai chiếc bát B52.

   - Uống nước đi! Anh em ta ngồi hàn huyên với nhau một lát. Chỉ còn lại một mình mi là hết lứa lính 1968 của K ta.

   - Anh không nhớ câu lính ta hay nói ư? “Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây...”. Còn anh em lính Hà Tĩnh, lính Hà Nội, Phú Thọ, Nam Hà...

   - Biết răng chừ mới gặp lại mi? - Hai Ngạn vỗ nhẹ vào vai Cường. Giọng trầm trầm. Vệt máu đọng trong mắt anh vằn đỏ.

   - Trái đất tròn mà anh...

   Trái đất tròn, nhưng những con đường cũng thật là dài. Từ buổi chia tay chiều hôm ấy, mấy mươi năm sau đã nhiều lần tìm kiếm, lần tra danh sách cựu chiến binh của xứ Nghệ, gọi điện thoại hỏi người quen biết ở Vinh, ở Thanh Chương... Cường chưa có dịp nào gặp lại Hai Ngạn. Đơn giản đối với Cường, ông không chỉ là thủ trưởng, là vị chỉ huy dũng cảm, chân tình. Giữa Hai Ngạn và Cường còn có sự gắn bó “anh em, bằng hữu”, từ lúc anh mới chỉ là một anh binh bét vào chiến trường, làm liên lạc viên cho Ban chỉ huy đại đội. Chính những người lính xứ Thanh - Nghệ như Hai Ngạn, Mai Văn Để, Lê Mạnh Hồng, Phong, Minh (Quảng Xương)... đã dạy cho Cường từng ly, từng tí cách sống của một người lính giáp ranh, luôn phải đối phó với sự sống và cái chết trong từng giờ; rèn giũa anh ý chí và nghị lực của người lính trận. Chính họ, chứ không phải là một mớ lý thuyết huyễn hoặc nào giúp anh khỏi ngã lòng trước thử thách ác liệt của cuộc chiến tranh, tạo nên nhân cách sống của một người lính biết phân biệt phải trái...

Lúc còn là một anh lính trẻ, ngồi thu lu ở trên hầm, Cường nhiều lần đã từng nghe những người chỉ huy ấy đấu nhau ra trò. Cũng có người tỏ ra bi quan, chán nản, tuyệt vọng. Tuyệt vọng đến mức tiểu đoàn phó Lê Văn Duyệt đã rút súng tự tử trong căn hầm kèo chữ A chỉ vì nhìn thấy lính đói, đi đồng bằng không lấy được gạo vì địch chặn mọi ngả đường. Đạp lên rừng bị vấp phục kích. Không chịu đựng nổi cái nhục khi địch gọi loa chiêu hồi, phao tin tiểu đoàn phó Lê Văn Duyệt chiêu hồi. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Đổng tự bắn vào tay để tìm đường ra Bắc... Đại đội phó Tam chấp nhận kỷ luật để đi coi rẫy sắn chứ không chịu về địa phương...

Hai Ngạn lạ người chứng kiến và chỉ huy K10 trở về đồng bằng Huế đợt hai sau Mậu Thân. Những trận đánh cực kỳ khốc liệt diễn ra ở Phong Quảng, Phú Vang... Cả tiểu đoàn phá vây, bơi vượt phá Tam Giang. Ngày ngày bộ đội căng sức ra giữ các làng, đánh chống càn. Các đơn vị bộ binh ngụy có tăng pháo yểm trợ tấn công quyết liệt, tìm mọi cách đẩy bộ đội lên rừng. Cả tiểu đoàn hơn bốn trăm quân xuống đồng bằng đợt hai, khi lên được tới rừng quân số còn lại chưa được hai trăm người. Nhưng dường như trong nguy biến, tuyệt vọng, những người chỉ huy như Hai Ngạn đã biết động viên bộ đội siết chặt tay nhau để dìu từng người lính đứng dậy, không nản lòng...

   Hai Ngạn đi rồi, Cường thấy trống vắng. Buồn se sắt.

   Đi ngang Sở chỉ huy tiểu đoàn, anh thấy một nhóm bốn năm anh bộ đội đang châu đầu quanh một chiếc sạp nứa, người viết, người vẽ. Trong nhóm ấy có Vượng, lính C1.

   Vượng nhìn thấy Cường chạy ra mời anh vào uống nước.

   - Tụi em làm báo tường dự thi trên trung đoàn.

   - C ta có mấy bài? - Cường hỏi và vào chơi một lát với anh em.

   - C1 được hai bài, một bài của cậu Lưu bị loại, còn được mỗi bài thơ của em... Anh nghe có được không! - Thằng Vượng cất cao giọng đọc:

      Nhớ hận năm xưa có phải
      Thủy Tinh dâng nước lên cao phá tràn chiến lũy
      Nhưng cao hơn là những người chiến sĩ
      Đạp lên nước nguồn chặn đánh thù sang.


   - Anh nghe có được không? - Vượng hỏi Cường, thích thú nhìn anh chờ đợi.

   Rít một hơi thuốc dài Cường thủng thẳng:

   - Cậu biết làm thơ à, khá lắm! Ba câu đầu tạm được. Câu thứ tư là bịa. Lũ lên cao địch bỏ chốt chạy. Chứ anh em ta có bắn phát mô? Ngày trước tớ đi học, cô giáo dạy văn bảo: văn hay phải chân thực - Nhìn thấy một đống giấy vụn bỏ ở sạp giường. Đấy là những bài báo không được đưa vào tờ báo của tiểu đoàn, tờ nào cũng có dấu bút mục đỏ gạch chéo. Cường lượm một bài báo vất đi. Ở một góc tờ giấy, ai đó đã phê: “Loại bỏ bài này. Thơ viết tự nhiên chủ nghĩa. Chuyện máu me sao có thể thành thơ được!”. Anh lướt qua bài thơ có tựa đề “Sông quê”:

      Sông tiễn ta đi như ngàn vạn trai làng
      Tuổi mười bảy lá còn xanh non quá!
      Chỉ có những khoảng trời bom vỡ
      Những con đường nhòe máu người
      Mẹ tiễn ta không nói một lời
      Và em nữa chỉ có bàn tay vẫy
      Ta đã sống trong hình hài ấy
      Giữa những chiến hào ngập máu chiều mưa.


   Cường lặng im không nói gì. Anh tiếp tục lượm lên một tờ giấy khác, cũng là một bài thơ bị gạch chéo bàng bút mực đỏ. Bài thơ có tựa đề “Ngày xuân nhớ chuyện Tịch điền”:

      Đồng làng xưa vua mở hội cày
      Nay ruộng cháy, đồng khô, nhà hoang lạnh
      Đêm đêm mẹ thắp ngọn đèn hy vọng
      Chờ tiếng chân con như lá rụng bên thềm.


   Chẳng biết ai đã phê vào một góc tờ giấy: “Cách mạng đã đánh đổ phong kiến thực dân, giờ còn mơ tưởng đên vua quan. “Tịch” là chết, “điền” là ruộng. “Tịch điền” là cánh đồng chết. Cách mạng đang ở thể đứng trên đầu thù mà làm thơ ủy mị vậy sao? Láo! cần kiểm tra cậu nào viết bài thơ này, ở đơn vị mô? Tư tưởng có vấn đề!”.

   Cường phì cười, vo tròn tờ giấy vứt xuống vũng nước. Anh lẳng lặng đi ra khỏi căn nhà hầm xanh um khói thuốc bỏ lại phía sau lưng tiếng mấy anh lính trẻ đang cãi nhau về chuyện nên đặt bài nào trước, bài nào sau cho tờ báo tường...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #96 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:23:59 am »

   Cường có được một ngày để bàn giao đơn vị và chia tay những người lính đại đội 1. Bữa cơm có nhiều món ăn lạ, sáng kiến chế biến của nhà bếp. Nhưng không vui. Cường quyến luyến với những người lính đã gắn bó với anh nhiều năm. Một vài người bạn đến chia vui, như thể mừng anh được cấp trên tín nhiệm, được thăng chức. Lòng anh dửng dưng. Anh biết sẽ phải vất bỏ đi nhiều thói quen khi là anh lính bộ binh, sống chung với những anh lính bình dị. Biết làm sao được?

   Về Ban tác chiến trung đoàn mới được nửa tháng trời, Cường đã có một chuyến công tác thú vị, chính anh không ngờ tới. Nhiều năm sau, nhớ lại, anh xem nó như một định mệnh. Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho Cường dẫn một tổ trinh sát đi cùng với tham mưu phó trung đoàn về điều nghiên căn cứ địch tại Hương Trà.

   Chỉ nghe đến cái tên địa danh ấy thôi, đêm ấy Cường mất ngủ. Bực mình, anh pha cả gói trà Hồng Đào vào bi đông ngồi uống một mình. Trà đậm chát, bao thuốc Tam Đảo hết veo. Quân lính trung đoàn có khác. Đêm ngủ không phải lo thức gác bốn tiếng một ca, ba ca là hết đêm. Không lo pháo dập... Lần đầu tiên sống ở chiến trường, Cường có cái cảm giác khoái cảm là không phải lo nghĩ gì. Không phải lo tổ chức giao ban, phân công nhiệm vụ cho các trung đội, ngồi tính toán với anh quản lý từng cân gạo, từng loong muối... Anh được phát một chiếc cặp da đen, có quai đeo dùng để cất sổ sách, giấy tờ. Nhưng anh chẳng có giấy tờ gì để cất, ngoài vài ba bao thuốc lá và một cuốn sổ nhỏ bằng bàn tay. Mọi số liệu thông tin, Cường đều ghi bằng ký hiệu, chỉ mình anh biết. Giá có rơi vào tay người khác, đọc cũng chịu chả hiểu trong ấy viết cái gì.

   Tham mưu phó trung đoàn tên Bạ, nguyên là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn pháo K35, rút lên. Nguyễn Bạ, quê ở Thanh Hóa, là lính nghĩa vụ cùng với Hai Ngạn. Khi biết Cường từng ở với Hai Ngạn, Bạ rất mừng. Anh ta tỏ ra rất vui khi biết Cường đã có một thời gian dài sống ở Hương Trà và hiểu địa hình ở đấy.

   “Hóa ra ông trời cho tớ một cục vàng. Tớ chỉ hiểu miền tây Quảng Trị, Phong Quảng. Do vậy, chuyến sang sông lần này cậu là chỉ huy chính, tớ 'là phụ”. “Anh cứ đùa! - Cường bảo vậy - Tôi quen Hương Trà, giúp được gì cho anh, tôi sẽ cố”.

   Thấy cấp trên của mình xưng hô “cậu cậu”, “tớ tớ”, Cường hơi ngại. Anh chẳng biết gì về anh tham mưu phó này cả. Bỗ bã, thân tình, đấy là cảm nhận đầu tiên về người chỉ huy cho một chuyến đi công tác về lại một vùng đất yêu dấu. Chỉ nghĩ tới vùng giáp ranh bên kia sông Bồ, Cường đã run lên. Hy vọng sang đây anh có cơ hội được gặp lại Hạnh. Dù cô đối xử với anh ra sao, mặc lòng. Ít nhất anh sẽ được nhìn lại gương mặt Hạnh sau bao ngày xa cách.

   Đoàn công tác gọn nhẹ chỉ có sáu người. Bạ, Cường, cậu công vụ của Bạ và ba người trinh sát. Ban đầu tổ trinh sát định đi ngược ra ngoài đường xe, vượt qua Khe Thai, sang bến vượt sông Bồ để vào địa đạo 310 rồi bám xuống giáp ranh. Đi theo tuyến đường ấy, về tới giáp ranh Hương Trà phải mất ba ngày. Đường xa, hiểm trở, dễ gặp địch phục kích. Cường trao đổi với Bạ, để đi cho gần, vượt sông Bồ ngay dưới chân điểm chốt cồn Tre. Vượt sông đi theo tuyến đường này gần, nhưng phải bám chắc địch đang chốt ở dãy Hòn Dài và làng Lai Bằng. Những ngày đứng trên đài quan sát ở cồn Nổi, Cường đã nhìn thấy con đường mòn chạy dọc theo triền sông lên núi. Đám lính ngụy ở Lai Bằng vẫn tiếp tế gạo, nước cho đơn vị lính dù chốt trên đỉnh Hòn Dài. Bí mật vượt được qua sông Bồ, bờ đất bên kia đã là xã Hương Vân. Trong một lần về tiểu đoàn bộ họp ở dưới chân Hòn Tre, tình cờ Cường gặp được mấy người cán bộ, du kích xã Hương Vân chuyển thương qua ngả Phong Điền. Tuyến đường qua sông Bồ mới mở, phải vượt qua nhiều điểm chốt của địch nên được giữ bí mật. Bộ đội không thể đi đông, đi giữa ban ngày. Cường báo cáo phương án vượt sông cho Bạ, anh ta đồng ý ngay và giao trách nhiệm cho Cường trực tiếp chỉ huy tổ trinh sát bám địch ở chốt Hòn Tre. Một mỏm của Hòn Tre thuộc đại đội 3 đang giữ. Đại đội lính dù chốt ở phía trên cao. Con đường ra bến vượt băng qua yên ngựa nằm lọt giữa vạt cỏ tranh cao lút đầu người. Để vượt qua chốt ngụy giữa ban ngày đối với Cường và những anh lính trinh sát chỉ là chuyện vặt.

   Ăn cơm trưa ở chốt đại đội 3 xong, mất hơn một giờ đồng hồ Cường và ba anh trinh sát trung đoàn đã nằm ém quân ở bãi đá ven sông Bồ. Bến vượt sông nằm sau một rặng lồ ô, bên dưới một cây đa lớn.

   Mới hơn 4 giờ chiều, mây mù bao phủ. Bầu trời ảm đạm. Sương mù từ các dãy núi cao loang tỏa xuống dòng sông. Hơn hai tháng trước, nước sông đục ngầu đỏ như máu, giờ đây đã trong xanh trở lại. Dấu tích của trận lụt vẫn còn để lại ngấn phù sa trắng bạc trên các vách đá, thân cây. Dòng sông lặng lờ trôi êm ả. Trên đỉnh 165 và dãy đồi Dài án ngữ cửa sông, bằng mắt thường những người trinh sát của trung đoàn nhìn thấy san sát mái nhà bạt của tụi lính ngụy chốt trên điểm cao. Hai đầu mỏm núi đều có chốt của quân ngụy như hai vọng gác án ngữ cửa sông. Trên đỉnh đồi, ngọn cờ vàng ba sọc phất phới bay.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #97 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:26:29 am »

   Cường, Bạ và cậu công vụ ngồi sau một bụi tre lồ ô sát bên sông. Ở cách đấy một đoạn, ttên sườn đồi tổ trinh sát nằm ém mình sau những bụi cây thay nhau dùng ống nhòm quan sát kỹ lưỡng dải đất bên kia sông. Phía ngoài bờ sông có một doi cát cao, phủ xanh lau sậy. Con đường vượt sông sẽ phải băng qua bãi lau sậy ấy để thoát nhanh vào dãy đồi trọc bên trong. Những người trinh sát không bỏ sót một gốc cây, bụi cỏ, một tiếng động nhỏ phía bên kia sông. Bạ tỏ ra bồn chồn lo lắng. Anh tham mưu phó loay hoay mở túi xắc cốt lấy ra tấm bản đồ quân sự vùng bắc Huế và rải ra ngay trên mặt tấm ni lông. Anh ta giơ cây đèn pin đã được bọc kín bằng vải đen chỉ chừa ra một lỗ nhỏ to bằng đầu đũa, lia ánh sáng đèn trên tấm bản đồ.

   - Cậu chỉ cho tôi đường đi đêm nay coi thử ra răng?

   Cường bẻ một ngọn tre, vặt sạch lá. Nhìn qua một lát để xác định tọa độ bến vượt. Anh dí đầu que tre vào một điểm trên bản đồ.

   - Anh Bạ coi này...! Ta đang đứng chỗ ni. Vượt qua sông, ta bám theo con đường mòn từ đầu làng Lai Bằng để về Khe Đá Liếp.

   - Khe Đá Liếp chỗ mô? - Bạ hỏi cắt ngang, rọi ánh đèn pin theo đầu que tre.

   - Đây nó nằm dưới chân đồi Dài. Băng qua dốc Đất Đỏ, đồi Tranh - Cường chỉ cho Bạ một điểm trên bản đồ -Anh đi thêm hai tiếng nữa mới tới được hậu cứ của huyện dưới chân Động Ngang.

   - Vậy địa điểm giao liên của huyện hẹn bắt liên lạc vói ta là ở đâu?

   - Ở Trường Bia. Anh yên tâm tôi biết chỗ ấy rồi.

   Bạ im lặng hút thuốc, vẻ mặt trầm ngâm. Lát sau, anh ta gập lại tấm bản đồ cho vào xắc cốt. Cường phải trấn an:

   - Anh khỏi lo. Tôi thuộc đất Hương Trà như lòng bàn tay.

   - Lát nữa vượt sông, sao chẳng thấy cái thuyền nào nhỉ?

   Cường suýt phì cười, nhưng sợ Bạ phật ý. Thật tội nghiệp cho anh cán bộ pháo binh mới được thăng cấp lên chỉ huy trung đoàn.

   - Lát nữa ta bơi qua sông. Thuyền bè mô ở đây... Anh Bạ biết bơi chứ?

   Đến lúc này, Bạ thú thật:

   - Tớ bơi kém lắm. Dân miền núi mà.

   - Chả sao! Anh cứ bám sát theo tôi. Chúng tôi sẽ đưa anh sang sông an toàn!

   Trời chập choạng tối, Cường gọi cả tổ lại quanh gốc cây đa và cho chuẩn bị phao vượt sông. Tất cả sáu cái gùi, ba lô, bao đạn, bi đông nước đều được gói kín trong những tấm ni lông rộng. Ba anh lính trinh sát tỏ ra thành thạo, tự làm. Cường lo đóng gói ba lô cho Bạ và cho anh. Áo dài, quần dài cũng cho cả vào trong bọc ni lông. Cường là người sang sông đầu tiên. Anh phân công hai anh lính trinh sát bơi giỏi áp tải Bạ. Nếu địch phát hiện, họ có nhiệm vụ đưa Bạ quay trở lại chốt của bộ đội ở cồn Tre. Đã có kinh nghiệm vượt sông, anh dặn Bạ chờ anh bơi sang sông dò đường trước. Cùng bơi theo Cường có một cậu trinh sát tên là Ngoãn. Để khỏi lạc trong đêm tối, Cường dùng một đoạn dây võng dài 10 mét, móc vào chiếc phao của Ngoãn. Quân trang, ba lô bọc kín ni lông bây giờ trở thành một cái phao vững chắc. Súng ghếch nòng lên cao.

Cường chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi, anh lặng lẽ đẩy cái phao xuống nước. Cách anh một đoạn, Ngoãn bám đuôi. Dòng nước chảy nhẹ nhưng cũng đủ lực để đẩy cái phao ra xa. Cường một tay ôm phao, một tay ghếch nòng AK lên khỏi mặt nước. Cái phao bây giờ giống như bệ tì của khẩu súng. Với cách vượt sông bí mật kiểu này, Cường và Ngoãn chỉ có thể bơi đứng, bơi chó, không được đập chân, đập tay. Phải lựa theo dòng nước chảy để đẩy cái phao ghếch chéo sang bờ phía nam. Cường bơi chậm, thỉnh thoảng còn phải giật mạnh đầu dây thúc giục Ngoãn bám theo. Một thằng lính gác trên mỏm đồi Dài trong phiên gác lia đèn pin ra ngoài hướng sông. Quầng ánh sáng không đủ vươn ra tới mặt sông đen thẫm. Nhưng nó lại giúp cho Cường định được hướng bơi đúng vào cái dải cát có bãi cỏ lau nơi các anh đổ bộ. Bơi vừa đúng mười lăm phút, anh đã chạm vào được bờ cát. Cường để Ngoãn lại bãi sông, một mình anh băng qua vạt cỏ lau, tiếp cận lới con đường chạy dọc bờ sông lên đỉnh đồi Dài. Tất cả im ắng. Hoang lạnh. Tối tăm. Không có địch. Anh quay trở lại bãi lau cho Ngoãn sang sông đón Bạ và những người còn lại.

   Thêm bốn mươi lăm phút nữa tổ công tác mới vượt sang hết bên này sông. Họ nhanh chóng mặc áo quần, đeo gùi, ôm súng băng vào vạt đồi sim mua mọc cao ngang thắt lưng người, biến đi trong đêm tối.

   Len lỏi trên con đường mới đạp giữa những ngọn đồi dưới chân dãy Hòn Dài, tổ trinh sát không dám đi nhanh. Vừa đi, vừa bám địch. Nhiều đoạn đường khó đi, phải lội dọc theo khe đá, đồi cỏ, lá tranh sắc cứa nát tay chân, Cường phải vượt lên trước bám đường. Theo sau anh là Ngoãn và Tống - hai trinh sát. Bạ và hai người nữa bám sát theo sau, sợ lạc. Đối với họ Hương Trà là đất mới. Ở đây không có các điểm chốt cài răng lược xen kẽ giữa ta và địch giống như bên Phong Điền. Không có chốt “hòa hợp” và cũng chẳng có “nhà hòa hợp”. Địch đổ quân chiếm trọn các điểm cao từ giáp ranh lên tới Khe Trái, Dốc Đoác, đỉnh 360 và đường 12. Sau mùa xuân 1973 vành đai nam sông Bồ và các dãy núi miền tây Hương Trà, Hương Thủy mới thật sự là yết hầu trọng yếu của các sư đoàn dù, thủy quân lục chiến, sư đoàn 1 bộ binh và hàng chục trung đoàn pháo binh, xe tăng, bảo an canh giữ Huế. Vành đai này bị phá vỡ là mất Huế.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #98 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:29:10 am »

   Cường và tổ trinh sát cứ nhằm hướng ngọn đèn trên đỉnh căn cứ Hòn Vượn để đạp đường. Càng đi, đường càng dễ đi. Bầu trời không trăng sao nhưng không gian thoáng đãng dưới đồng bằng đủ sáng để Cường và tổ công tác nhận ra con đường chiến lược quen thuộc. Đến cách Trường Bia vài trăm mét, Cường cho cả nhóm dừng lại. Anh dặn Bạ, cậu công vụ và hai người trinh sát ngồi dừng lại chờ ở một khe nước. Còn anh và Ngoãn tiếp tục bám đường, hướng thẳng tới Trường Bia. Anh đã nhìn thấy cái bờ đất cao nổi lên phía xa nhờ ánh sáng phát ra của một trái pháo sáng từ căn cứ Hòn Vượn bắn lên trời. Khu vực Trường Bia im lặng. Cường dặn Ngoãn bò phía sau sẵn sàng yểm trợ cho anh. Anh cầm khẩu AK báng gấp bò lên nấp sau một tảng đá lớn. Cường tróc lưỡi ba tiếng: “Tróc! Tróc! Tróc!”. Từ phía Trường Bia bất ngờ cũng có tiếng tróc lại. “Tróc! Tróc! Tróc! Tróc! Tróc!”. Tiếng tróc lưỡi đáp trả đúng năm tiếng. Hôm nay là ngày mồng tám âm lịch.

   Cường bước ra khỏi tảng đá tiến lên phía Trường Bia. Phía sau bờ đất cũng lập tức xuất hiện bốn bóng người. Chợt có tiếng nói:

   - Anh Cường phải không?

   Cường còn ngỡ ngàng chưa kịp trả lời, thì người lính đã ào tới:

   - Em là thằng So đây eng Cường ơi! Chị Hạnh biểu bữa nay anh đưa bộ đội về. Chị cho em đi đón anh.

   Cường chưa kịp nhận ra cậu So, du kích xã Y, ba người khác đã tiến lại.

   - Cường à! Tao Ngọc Anh đây! Chú Sáu biểu tao đi đón mi và bộ đội trung đoàn Z.

   Hai người còn lại là Chu và Lực, bộ đội của huyện Hương Trà nhưng đều là người của đại đội 2, K10 bàn giao lại cho huyện sau những ngày đánh “giành đất, cắm cờ”.

   Bạ và những người lính trinh sát trung đoàn Z thật sự ngạc nhiên khi Cường hầu như quen biết hết những người của huyện được chú Sáu Thọ cử đi đón đoàn công tác. Sáu người của trung đoàn và bốn người của huyện nhanh chóng nhập làm một đoàn, vượt qua Đồi Tranh vào rừng. Đến Khe Đá Liếp, mọi người dừng lại ngồi nghỉ và ăn cơm vắt. Bạ hào phóng mở ba lô lấy ra mấy phong bánh lương khô 702 chia cho tổ dẫn đường người của huyện.

   Ngọc Anh bảo Cường:

   - Ăn cho lẹ còn đi, phải mất ba giờ nữa mới tới hậu cứ Khe Điên. Mi có nhớ Khe Điên không Cường? Chỗ năm 1969, tụi ngụy tập kích vào hậu cứ đại đội 3, bữa đó có anh Để, anh Hồng và mi chạy chí chết đó.

   Cường khẽ gật đầu. Bạ rất ngạc nhiên khi thấy Ngọc Anh tỏ ra thân thiết với Cường. Ngọc Anh giải thích:

   - Anh Bạ đừng ngại. Tui với thằng ni ăn hầm ở lỗ với nhau lâu hung rồi. Nhân đây tôi xin giới thiệu với thủ trưởng. Tôi Ngọc Anh ở đội công tác an ninh thành phố. Anh Chu đây là B trưởng bộ đội của huyện. Cậu So đây là lính cũ của anh Cường từ ngày ở xã Y, thằng Bân lính của huyện. Nghe tin các anh về, chú Sáu cử tui ra đón các anh đưa về cứ.

   Thấy Cường cởi quần dài, ba người lính trinh sát trung đoàn làm theo. Bạ loay hoay cởi quần dài, Ngọc Anh can:

   - Thôi khỏi, thủ trưởng đi sau khỏi cởi quần dài.

   Đoàn người lục tục khoác súng, đeo gùi lên đường. Càng đi sâu vào rừng, trời càng tối. Những người đã sống quen ở đây như Ngọc Anh, họ thuộc từng thác đá, lạch nước. Chỉ khổ những người như Bạ và mấy anh lính trinh sát. Bạ cầm cây đèn pin soi thẳng xuống đất, đi dò dẫm từng bước một nhung lâu lâu vẫn té ngã vì vấp phải tảng đá trơn rêu và những cây giang đổ ngang đường.

   Khe Điên! Cường quên sao được cái khe mọc đầy dứa dại ở hai bên bờ suối. Giữa lòng khe lổn nhổn đá, rêu trơn. Những đoạn nước sâu, rong chó mọc cao hàng thước. Khe Điên chảy ra sông Hương qua ngả đường 12, nổi tiếng nhiều cá. Có những đêm bộ đội treo lưỡi câu móc mồi giun, buổi sáng đi kiểm tra nhấc cần bắt được hàng chục con cá trầu to cỡ bắp tay. Có lần cá chình còn dính câu. Những con cá chình ở Khe Điên, Khe Trái dài hàng thước, đầu đen trũi, to bằng chiếc chày giã cua, béo ngậy. Nhưng cũng ở Khe Điên đại đội 3 của Cường có phen hút chết vì bị địch tập kích. Ngày ấy, Cường mới chỉ là anh liên lạc viên của đại đội 3, bám ở giáp ranh Hương Trà. Lần đầu tiên làm lính chiến trường, hàng ngày vác súng đi tuần tra, đi chốt gác bám địch, đêm đi đồng bằng mua gạo, đậu phộng, muối mắm. Những đêm bộ đội, du kích lọt được về đồng bằng vào được dân mua được gạo, muối... bộ đội được ăn no. Nhưng có khi đi cả tuần, mười ngày đều về tay không vì địch chốt chặt cửa rừng. Bộ đội đói vàng mắt. Dạo ấy, mùa mưa. Nước lụt đồng bằng. Đại đội 3 đi về đồng bằng vào được thôn Bồn Trì mua gạo. 5 giờ sáng, cha con còn mắt nhắm mắt mở, mệt mỏi sau một đêm về làng lội nước, chưa kịp trút gùi, bỏ súng đã nghe súng nổ đinh tại nhức óc. Hàng chục trái đạn cối 61 ly, tiếng trung liên, đại liên, AR15, súng chống tăng M72 nổ như sét đánh vào khu hậu cứ của đại đội 3 và của các xã Hương Thái, Hương Thạnh.

   Không ai ngờ, từ chiều tối qua, lúc bộ đội, du kích đi xuống đồng bằng, hai đại đội địch từ trên Chóp Nón đã bí mật đạp rừng xuống, tạo thành hai gọng kìm nằm phục kích chờ trời sáng tập kích vào hậu cứ. Hai tháng trước, một cậu thanh niên của xã M, trong lúc đi đồng bằng đã về chiêu hồi và báo cho địch nơi bộ đội, cán bộ huyện xã đóng quân. Thời gian quá lâu, không thấy địch bắn pháo, không có động tĩnh gì, mọi người tưởng đã yên. Nào ngờ, địch đã bí mật tấn công vào hậu cứ giữa lúc mọi người mệt mỏi, chủ quan nhất. Bốn anh lính của trung đội 1 còn ngủ trong hầm, hy sinh vì lựu đạn nổ sập hầm. Bên xã Hương Thái mất một người. Bộ đội, du kích các cơ quan huyện ủy, huyện đội, biệt động đường dây bị tấn công bất ngờ hoảng loạn, chỉ kịp đeo gùi, vác súng chạy dạt lên đồi. Đại đội trưởng C3, Mai Văn Để lồng lộn tức giận, vì bị tụi ngụy đánh tập kích. Mất súng, mất gạo, các căn hầm bị địch đặt mìn giật sập. Sau khi xốc lại lực lượng, đại đội 3 chọn ra năm tổ, bí mật bám địch và tập kích lại quân ngụy ở khu Nhà Cháy. Vào lúc 4 giờ chiều, đại đội lính ngụy đang căng tăng, cắm trại cũng là lúc các tay súng đại đội 3 phát hỏa. Bốn trái B40 nổ vào giữa đội hình quân ngụy. Đại đội thám báo ngụy hoảng loạn tháo chạy. Bộ đội tiêu diệt gọn cả một trung đội lính ngụy, thu súng, bắt tù binh. Chưa hả giận, đêm ấy đại đội 3 còn tổ chức về làng, phối hợp với du kích Hương Thái đánh vào đại đội bảo an số 25 đang đóng quân ở đình Phú Ổ. Trận đánh ấy, Cường bị thương nhẹ vào tay... nhưng anh cũng kịp bắn một trái B40 vào ổ đại liên của địch ở gốc đa ngoài cửa đình. Chính Ngọc Anh là người băng bó cho Cường. Nó vừa xé cuộn băng, vừa chửi: “Đụ mạ! Tụi nó bắn dữ. Tao lia xả láng cả băng đạn mà không đã bay ơi! Tay mi bị thương như đồ ỉa... Mai tao xin o Lành tí nước... cho mi bôi vô là khỏi liền à!”. Ngọc Anh phá ra cười, trong lúc Cường vừa đau, vừa tức nhưng cũng phải phì cười vì cái thứ thuốc kỳ lạ.

   Với Ngọc Anh, Cường luôn coi là một thằng bạn tốt. Sẽ không có một kỷ niệm nào đẹp hơn và đầy hiểm nguy trong cái đêm hai thằng bị vấp phục kích ở dốc Đu. Tụi ngụy vừa bắn vừa hô bắt sống Việt cộng! Hai thằng chỉ kịp xả một loạt đạn bắn lấy đường tháo lui. Hơn một ngàỵ trời lần mò, ẩn nấp trong đám cỏ tranh, đạp đường tìm về hậu cứ, trong lúc đơn vị đinh ninh cả Cuờng và Ngọc Anh đã chết. Lúc tổ trinh sát của Huy Ngọc bám đường đi đồng bằng, bất ngờ nhìn thấy Cường và Ngọc Anh đi giữa ban ngày dưới chân Dốc Cát, tưởng là lính ngụy đã chực bắn. May mà nhìn thấy đầu khẩu AK của Cường hết đạn chĩa lên trời mới phát hiện ra “những hồn ma” trở về. Ở hậu cứ, người ta đã định làm lễ truy điệu cho cả Cường và Ngọc Anh.

   Đi thêm được chừng một giờ. Trời đổ mưa. Không gian tối đen như mực. Không thể đi tiếp được đành đợi trời sáng. Loay hoay mất một lúc Ngọc Anh và Cường mới tìm ra khu hậu cứ cũ ở chân đồi Chổi, đưa Bạ và những người bộ đội vào trú tạm qua đêm.

   Cường còn đang ngủ vùi trong chiếc võng ở khu căn cứ huyện đội, hình như có ai tới bên chiếc võng của anh và đặt vào tay anh một mảnh giấy.

   Đôi mắt anh cứ díp lại, lúc sau mới mở được mắt, định thần nhìn quanh quất. Không có ai cả. Quanh mấy gốc cây những người lính trinh sát vẫn đang say ngủ. Về đến nơi mệt quá, Bạ nằm ngay trên chiếc sạp đùng đình, cuộn tròn trong tấm dù hoa, ngáy như kéo gỗ.

   Mảnh giấy vẫn còn trong tay Cường, vẻn vẹn chỉ có mấy chữ: “Anh được nghỉ đến 3 giờ chiều mới họp. Trưa nay, anh ra vạt Nhà Cháy ở Khe Dứa gặp em. Nhớ đi theo đường mòn men bờ suối. Hạnh!”.

   Cường ngơ ngác. Không biết thực hay mơ.

   Phảng phất mùi xà bông thơm vẫn còn vương trên tờ giấy được xé ra từ cuốn vở côdiđô.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #99 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:32:35 am »

12

   Ăn cơm trưa xong lúc 10 giờ, Bạ và những người lính lại lăn ra ngủ. Cường được thông báo anh và Bạ có cuộc họp với huyện ủy vào lúc 3 giờ chiều. Đúng như Hạnh đã nói với anh trong tờ giấy.

   Chờ mọi người vào hầm, Cường lặng lẽ đeo xanh-tuya-rông, cầm súng đi vào rừng. Vùng rừng dưới chân đèo Ngang yên tĩnh. Sau tán lá xanh, trên vòm trời cao vẫn vè vè tiếng máy bay OV10. Tiếng cánh quạt đập phành phạch của chiếc H34 đang tiếp vận xuống cho căn cứ Hòn Vượn. Thậm chí, lắng tai còn nghe thấy tiếng xe tăng rồ máy... Nhưng trong cánh rừng này thật lặng lẽ. Nước róc rách chảy băng qua các lèn đá dọc Khe Dứa. “Khe Điên là mẹ, Khe Dứa là con”. Nước Khe Điên tiếp sức cho Khe Dứa, dòng suối nhỏ rộng vài chục mét chạy vòng vèo qua các dãy đồi núi rồi lại đổ vào Khe Điên, đoạn đường 12 gần Động Tranh, Bình Điền. Những năm đói khổ nhất ở chiến trường, sau Mậu Thân 1968, Cường và những người lính ở đại đội 3 đã từng đạp nát vùng này bám Mỹ, bám ngụy, suốt ngày lần tìm những bãi đóng quân cúa chúng để lên lượm từng bao gạo sấy, từng hộp thịt, bao thuốc lá lính Mỹ vất lại sau mỗi cuộc hành quân.

Có những lần bộ đội bám lên bãi ngụy, địch đi nhưng còn gài lại một vài tổ phục kích. Địch biết bộ đội đang đói. Hai bên bắn nhau chí tử. Tổ bám địch vẫn kiên nhẫn chờ, chúng đi khỏi lại lên bãi gỡ mìn lượm đồ hộp. Mỹ đổ sư đoàn 1 kỵ binh càn miền Tây. Sông Bồ bị chặn lại, bộ đội K10 không có đường lên Hang Đá, ra đường tuyến nhận gạo. Mà gạo đâu có nữa để mà tiếp tế cho bộ đội ở giáp ranh. Mỹ đổ quân ra cả đường tuyến A So, A Lưới. Các kho gạo ở binh trạm 48, Rừng Thông, Dốc Mèo, A Vao suốt ngày bị máy bay lên ném bom triệt phá. Các đoàn xe vận tải chở gạo đạn trên đường tuyến cũng bị máy bay Mỹ chặn đánh tơi bời. Ngày xa lắc, xa lơ ấy, Lê Văn Duy, chính trị viên tiểu đoàn 10 đã có một câu nói nổi tiếng: “Dù có phải thành vượn, thành duộc, những người lính K10 cũng phải trụ bám để giữ vững giáp ranh”. Không một người lính nào của đại đội 3 bỏ chạy, cũng chẳng có ai biến thành duộc, thành vượn. Chỉ có người chết đói, chết vì sốt rét, vì bị địch phục kích. Cả đại đội sống lay lắt qua từng ngày, lụi dần đi vì đói. Ban ngày vẫn phải đi bám địch, đi hái măng giăng, đọt mây, dong chó, cọng môn ngứa nấu cháo... Căn cứ Động Tranh, Mỹ rút. Đồ hộp vất lại đã nuôi sống đại đội 3, đại đội 1 suốt ba tháng trời.

   Đã nhiều lần đi dọc Khe Dứa, Khe Môn kiếm rau, kiếm cá, Cường tự hỏi: Thắng đã nằm lại ở đâu ừong cánh rừng đầy mây giang này. Thắng chết đói, chết rét? Hay chểt trong lúc cơn sốt rét ác tính tới gần. Trên những con đường ven suối, ở những bãi cát, dấu chân hổ còn in hằn dấu móng vuốt. Dấu vết của đàn voi rừng đi qua, đạp cây ngã rạp làm thành một con đường mới băng qua sườn dốc, trảng cây... Gương mặt trung đội trưởng Toan méo mó, xô lệch báo cáo với đại đội trưởng Để về trường hợp mất tích của Thắng. Lúc ấy, Cường đã không ngần ngại giáng thẳng vào mặt Toan một quả đấm. Anh Để vật Cường xuống giường. Cường khóc nức nở vì mất bạn! Nếu Thắng còn, hẳn nó sẽ trở thành một nhà văn viết về chiến tranh.

Trong căn hầm chữ A chật hẹp ở ngã ba Hương Trà, Cường đã gặp lại Thắng, sau những ngày đi viện trở về. Hai thằng ngủ với nhau một đêm, Thắng đã đãi anh miếng kẹo mè xửng, say sưa kể cho anh nghe chuyến đi về đồng bằng Hương Mai, đến ấp Long Hồ, Ngọc Hồ được gặp dân mua gạo. Trong cuốn số ghi chép của Thắng, Cường đã được đọc những trang viết của bạn anh sau cái đêm đi đồng bằng ấy. Nào những mái nhà tôn sáng lóa trong đêm. Hương hoa huệ thơm lừng trong các vườn nhà dân. Bến nước đổ xuống sông Hương. Các cô gái Huế mặc bộ đồ hoa đi lại trong nhà. Đàn lợn Mỹ trắng phóc nằm sắp hàng trên chuồng láng xi măng, ăn cháo... Các đoạn văn rời rạc như một nét chấm phá về mảnh đất và con người xứ Huế xa lạ và bí hiểm. Những hình ảnh ấy, Thắng (và cả Cường nữa!) lần đầu tiên được nhìn tận mắt về cuộc sống của người dân trong vòng kiềm tỏa của Mỹ ngụy, được thấy người dân nói năng, đi đứng... Tất cả đều lạ lẫm. Những câu chuyện các anh được nghe kể về miền Nam, người ta nói không phải thế! Mà cũng có thể chính các anh đã bị mê mụ bởi những trang sách, những bài học thuộc lòng và cả những điều giáo huấn của anh chính trị viên đại đội huấn luyện chưa một lần vượt qua vĩ tuyến 17, nhưng lại thuyết giảng thao thao bất tận về chuyện “ta thắng địch thua”, kể về những tấm gương nghĩa liệt anh hùng, những trận đánh “tóe lửa” nhưng chưa một lần nhìn thấy bộ quần áo rằn ri và cái mũ sắt của lính dù Mỹ, thám báo ngụy. Cường, Thắng và đám bạn ngồi nghe say sưa tin “sái cổ”.

Chao ôi! Tuổi mười bảy mộng mơ, huyễn hoặc, đầy khát vọng lý tưởng. Thản nhiên dùng dao lam rạch đầu ngón tay lấy máu viết đơn tình nguyện đi bộ đội vào Nam đánh Mỹ. Bao thế hệ đã sống như thế. Cả dân tộc đã sống như thế. Không so đo, không tính toán, không kèn cựa hơn kém nhau. Bởi tất cả đều căm thù quân cướp nước. Bởi tất cả chỉ có một nồi cơm chung chia đều cho các miệng chén. Những con mắt đều vàng vọt vì đói. Ngồi cùng ăn cơm, đùa cợt trêu chọc với nhau đấy trong buổi trưa. Buổi chiều đi bám địch ra ngoài dốc Đu, dốc Cát, leo lên đỉnh Chóp Nón, Đồi Chổi; đêm về đồng bằng đánh địch, lấy gạo, chưa biết chừng ngày mai quanh cái rá cơm khô cứng ăn với nước ruốc đã dư thừa ra vài cái bát B52. Tăng võng của bạn treo đấy nhưng đã lạnh, ám mùi tử khí. Không phải trong đơn vị đã hết những kẻ xấu, hèn hạ, sợ chết. Nhưng con người với con người đã từng sống chung trong một căn hầm kèo chữ A, chui lủi trong những con hào máu loang thấm đỏ bùn đất chưa đến mức đối xử với nhau tàn ác, đê tiện, hại nhau tranh giành nhau về quyền lợi...

Năm ngoái về phép Cường có ghé thăm anh Chúng già. Một tiểu đội phó đảng viên, trong suốt chặng đường vào Nam, vượt sông Bến Hải luôn soi mói đám lính trẻ học trò như Cường, Thắng, Sơn, Tùng, Thịnh... Bởi trong đầu anh ta hay nảy sinh ra ý nghĩ: Dứt khoát mấy cậu “học trò tiểu tư sản này” sớm muộn gì cũng rủ nhau đảo ngũ. Nhưng rốt cục, chẳng đứa nào đảo ngũ. Một lần về phép đến thăm anh ở quê, ngồi uống nước, nhắc chuyện cũ, anh Chúng nhe răng đã móm mém ra khoe với Cường: “Sau cái đận tớ với cậu chết hụt lúc bám địch ở ngã ba Hương Trà, mấy thằng ngụy bắn trượt, chạy đến tóe máu chân, ngã gãy đến sáu cái răng. Tớ đi viện. Cậu có biết không, mình phải nói mãi với mấy tay bác sĩ ở viện 94 họ khám lên, khám xuống mấy đợt rồi mới cho đi Bắc. Nói cậu thông cảm, cũng vì vợ con cả. Con tớ ba đứa các cháu còn nhỏ... Mình mới vô Nam được hai năm, vợ ở nhà theo trai”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM