Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:05:00 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884082 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #140 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2008, 06:30:23 pm »

Cám ơn các bác đã tiếp sức hộ em  Grin

Em xin đính chính một chi tiết nhỏ trong bài viết của bác UyenNhi05 đó là: Chiến khu Đ là thuộc tỉnh Đồng Nai chứ không phải ở tỉnh Tây Ninh. Chiến khu của tỉnh Tây Ninh có tên là Chiến khu Dương Minh Châu, thời 9 năm nó là nơi đứng chân của Xứ ủy Nam kỳ còn thời chống Mỹ nó là nơi đặt đại bản doanh của Trung ương cục miền Nam hay còn gọi là Chiến khu R ngắn hơn nữa chỉ gọi mỗi là ''R''.
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Mười, 2008, 06:36:05 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #141 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2008, 06:41:28 pm »

Có bản ghi là "tiễn bạn" viết tại ga Sài Gòn 1940?

Đúng là theo nhiều tài liệu thì bài thờ ''Nhớ Bắc'' ông sáng tác tại Chiến khu Đ vào năm 1946. Còn thông tin thêm về khổ thơ cuối cũng như thời điểm sáng tác năm 1940 tại ga Sài Gòn với nhan đề ''Tiễn bạn về Bắc'' do nhóm Biên soạn cuốn ''Thơ Văn Huỳnh Văn Nghệ'' dẫn ra vì theo họ trong một cuốn sổ tay khác chính ông ghi lại như vậy. Cho nên, cũng có thể hiểu là tại thời điểm 1940 ông chỉ là "viết nháp'' cho đến năm 1946 mới ''công bố''.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #142 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2008, 01:28:09 pm »

He he,khoe sách tí!  Grin
Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #143 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2008, 02:35:23 pm »

Đại tá Đinh Thị Vân (tên thật : Đinh Thị Mậu ; 1916-11.12.1995), Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân (25.8.1970), nguyên cán bộ Cục nghiên cứu Tổng tham mưu trực thuộc Bộ Quốc phòng (nay là Tổng cục II), Trung tá (1977), Đại tá (1990, vượt cấp).

Bà từng giữ các chức vụ : Huyện ủy viên Huyện ủy Xuân Trường (Nam Định), Ủy viên Ban thường vụ Phụ nữ cứu quốc tỉnh Nam Định, Hội trưởng Hội phụ nữ tỉnh Nam Định.


Đại tá Đinh Thị Vân tên thật là Đinh Thị Mậu, sở dĩ bà lấy tên là Vân vì đấy là tên chồng của bà. Bà sinh năm 1916 tại làn Đông An, xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong một gia đình nhà nho ở nông thôn, giàu lòng yêu nước và có truyền thống cách mạng.

Hai anh trai bà là các ông Đinh Lai Hạp, Đinh Thúc Dự đều là những Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) tham gia cách mạng từ rất sớm. Chính hai ông đã giác ngộ, hướng dẫn em gái mình đến với con đường cách mạng như làm giao thông liên lạc, cất giữ tài liệu bí mật của Đảng và tham gia vào nhóm ‘’ái hữu tương tế’’ nuôi dưỡng và bảo vệ cán bộ cách mạng.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 nổ ra, trên cương vị là cán bộ Việt Minh huyện Xuân Trường, bà hăng hái vận động quần chúng tham gia tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy. Khi cách mạng thành công, bà tích cực tham gia phong trào đấu tranh quần chúng và xây dựng chính quyền mới tại huyện Xuân Trường.

Ngày 30.6.1946, bà được vinh dự kết nạp vào Đảng Cộng sản và liên tục giữ các chức vụ : Huyện ủy viên huyện Xuân Trường, Ủy viên Ban thường vụ Phụ nữ cứu quốc tỉnh Nam Định. Từ năm 1951 đến 1953, bà được bầu giữ chức vụ Hội trưởng Hội phụ nữ tỉnh Nam Định.

Tháng 6.1954, trước nhiệm vụ mới của cách mạng, bà được điều động sang Quân đội và về công tác tại Cục nghiên cứu Tổng Tham mưu trực thuộc Bộ Quốc phòng (tiền thân của Tổng cục II) với nhiệm vụ về Hà Nội hoạt động trong lòng địch nhằm điều tra ý đồ chiến lược của thực dân Pháp.

Về Hà Nội tạm đóng với thẻ căn cước Trần Thị Mỹ, chỉ trong vòng một thời gian rất ngắn bà đã xây dựng được một số cơ sở tin cậy để thu thập tin tức và gây cơ sở trong nội bộ thực dân Pháp. Để chuẩn bị cho nhiệm vụ mới, cấp trên chỉ thị cho bà mở rộng phạm vi hoạt động xuống thành phố cảng Hải Phòng. Vượt qua được mạng lưới kiểm sóat dày đặc của Pháp trên trục đường 5 từ Hà Nội xuống Hải Phòng, nhờ vào các mối quan hệ và công tác vận động và giác ngộ quần chúng bà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cung cấp nhiều tin tức để cấp trên chỉ đạo thắng lợi và giành thế chủ động trong thời gian ‘’300 ngày đêm tập kết’’.

Tháng 7.1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đất nước bị chia cắt tại vĩ tuyển 17. Tháng 10.1954, trước ngày quân ta về tiếp quản Thủ đô, bà được cấp trên giao nhiệm vụ từ Hải Phòng bí mật vào Nam hoạt động với vỏ bọc ‘’người đi buôn vào Nam kiếm sống’’.

Trong những ngày đầu tiên tại Sài Gòn, để kiếm sống và che mắt địch bà ở trọ trong một xóm lao động nghèo hàng ngày gánh guốc đi bán khắp nơi, từ chợ Bàn Cờ, chợ An Đông, đến chợ ông Tạ, chợ Cầu Bông, từ ngã tư Hàng Xanh, vòng lên chợ Cầu Muối…Cũng tại thời điểm này, để hộ trợ cho hoạng động của bà che mắt địch, cấp trên quyết định thông báo tuyên án tử hình vắng mặt bà vì lí do phản Đảng, bỏ nhiệm vụ vào Nam theo giặc. Khiến cho nhiều bà con, họ hàng của bà gặp rất nhiều khó khăn trong nhiều năm liền.

Sau khi xây dựng cơ sở tình báo ở Sài Gòn ổn định và đi vào hoạt động, bà nhận lệnh hỏa tốc ra Hà Nội trực tiếp báo cáo tình hình và nhận chỉ thị từ cấp trên theo con đường bí mật. Những hoạt động bước đầu của bà tại Sài Gòn trên cương vị tổ trưởng điệp báo đã được cấp trên đánh giá rất cao, nhiều người trong mạng lưới của bà từ Hà Nội theo con đường di cư vào Nam trong thời gian ngắn đã chui sâu vào hàng ngũ của ngụy quyền như các ông Đoan (Không quân), Phúc (Tiếp vận), Quyền (võ bị Thủ Đức)…Sau bẩy ngày vừa học tập, làm việc, nghiên cứu tình hình và nhiệm vụ mới bà lại quay trở lại Sài Gòn.

Tình hình Sài Gòn trở lên rối ren, bà thôi không làm nghề bán guốc mà theo mọi người tản cư về xóm Mồ Côi, Tân Sơn Nhì tiếp tục tìm cách hoạt động. Tại đây, bà lại bị biệt động của đặc khu Sài Gòn Chợ Lớn nghi ngờ là tay sai chỉ điểm và tìm cách trừ khử. Vì vậy bà vừa phải ngụy trang để che mách mật vụ ngụy vừa phải khéo léo tránh kế hoạch thủ tiêu từ phía biệt động của đặc khu Sài Gòn Chợ Lớn.

Do có kẻ phản bội chỉ điểm, hầu hết các cơ sở của đặc khu bị đàn áp khủng bố dã man. Trưởng ban tuyên huấn đặc khu (ông Ba) và nhiều lãnh đạo khác bị theo dõi và truy lùng gắt gao. Trong một lần cơ sở bị lộ, bị truy đuổi và bị thương, ông Ba với sự nhạy cảm của riêng mình cho rằng bà là người yêu nước nên đã chủ động chạy vào nhà bà để ẩn nấp và giấu tài liệu. Chiều hôm đó khi trở về nhà, thấy ông Ba ốm yếu hấp hối nằm trên sàn nhà bà nhận định ngay là cán bộ của ta bị địch truy đuổi phải trốn vào đây. Biết mình không qua khỏi, trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông Ba trao tài liệu cho bà và nói: “Sau này sẽ có người trả ơn bà”. Bà ân cần trả lời: “Ông cứ yên tâm, đây là Đảng nuôi ông”. Bà đã quyết định nhận ông Ba ốm là chồng để lo tang lễ công khai cho ông và che mắt địch rồi tìm cách báo cáo cấp trên, bắt liên lạc để trao trả cho Đặc khu uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn toàn bộ tài liệu quan trọng mà ông Ba gửi lại. Đây là một đóng góp rất quan trọng của bà trong việc bảo vệ cơ sở Đảng của Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

Giữa tháng 3-1956 hoạt động của lưới tình báo do bà chỉ huy gặp khó khăn nghiêm trọng; đường dây liên lạc với Trung ương đột nhiên bị đứt. Không thể chậm trễ, bà quyết định lên đường ra Huế và Quảng Trị tìm hiểu tình hình và tổ chức đường dây liên lạc ra Bắc, nếu không được sẽ chuyển phương án lên miền Tây Vĩnh Linh. Nhưng mọi cố gắng của bà đều vô vọng. Hoàn toàn mất liên lạc bằng đường nội địa, bà nghiên cứu và quyết định tìm hướng liên lạc ra Bắc qua đường Campuchia, đây là đường dây phức tạp, việc hoạt động ở nước ngoài lưới tình báo của bà chưa kịp chuẩn bị. Mặc dù vậy, ngày 15-7-1956 Đinh Thị Vân quyết định lên đường đi Phnôm Pênh. Vẫn bản căn cước là “người đi buôn”, ở đây, bà có thể liên lạc với Hà Nội bằng trao đổi thư từ, bưu thiếp. Nhưng đường dây này không an toàn. Do đó đến giữa năm 1957, cấp trên yêu cầu bà cắt đường liên lạc qua Phnôm Pênh và tổ chức đường dây Tây Nguyên qua Pleiku - Kontum. Để lập đường dây mới, việc quan trọng trước tiên là phải có cơ sở. Bà tìm đến ông Khôi, một gia đình quen biết từ Hà Nội di cư cùng chuyến tàu với chị, ông Khôi làm việc và ở ngay trong cơ quan quân vụ. Do đó việc liên lạc với cấp trên theo đường số 14 được thiết lập và đi vào hoạt động được ngay, những tin tức quan trọng lại được báo cáo đều đặn ra Trung tâm.

Từ cuối năm 1958, tình hình toàn miền trở nên vô cùng căng thẳng. Chính sách chống cộng, tố cộng của ngụy quyền Ngô Đình Diệm càng điên cuồng và dã man hơn bao giờ hết. Bà phải xoay ra làm nghề thợ may và bỏ mối thêu ở ngã ba Vườn Lài. Công việc vừa mới tiến triển thì nhận được lệnh: “Phải nghiên cứu gấp tình hình phía Nam nhất là vĩ tuyến 17, sự bố phòng của sư đoàn 1 ngụy, đồng thời tìm hiểu xem địch biết về lực lượng ta ở Hạ Lào như thế nào?”. Đinh Thị Vân vội vã lên đường đi Huế, để rồi tuỳ cơ hội tìm cách ra giới tuyến nghiên cứu tình hình bố phòng của địch. Bằng một trí nhớ tuyệt vời, sự quan sát chính xác và chiếc máy ảnh Betri nhà nghề, toàn bộ tuyến phòng thủ của địch từ Huế đến Gio Linh, vị trí các trung đoàn, hệ thông công sự, các bãi mìn, một số phương án tác chiến, hướng triển khai của các trung đoàn bộ binh nguỵ… đã được lưới của bà thu thập, phân tích báo cáo chi tiết ra Hà Nội, góp phần quan trọng cho chiến thắng của quân và dân ta trong giai đoạn lịch sử quyết định này.

Nhiệm vụ hoàn thành, trở về Sài Gòn chưa kịp nghỉ chị lại nhận được lệnh mới: “Tổ chức đường dây từ Sài Gòn qua Nha Trang – Đà Nẵng và Huế, bắt liên lạc với giao thông Trung ương thay cho đường dây quốc lộ 14 lên Pleiku”. Đinh Thị Vân lại lên đường đi Đà Nẵng, Huế với vỏ bọc là “người đi buôn vải và các mặt hàng thêu”.

Vừa mới hoàn thành nhiệm vụ, trên đường trở về Sài Gòn, do sơ suất của một cơ sở trong lưới, Đinh Thị Vân bị địch nghi ngờ và bắt giam. Tại cơ quan an ninh quân đội, chúng dùng mọi thủ đoạn tra tấn rất dã man, nhưng không moi được bất cứ tin tức gì ở bà, chúng đưa bà đi biệt giam ở Vân Đồn, trại Lê Văn Duyệt, Sở Thú. Sau năm năm tù đày qua các nhà lao, nếm đủ mọi cực hình tra tấn dã man về thể xác, uy hiếp khủng bố về tinh thần nhưng với dũng khí phi thường của người Cộng sản, Đinh Thị Vân đã vượt qua tất cả, tuyệt đối trung thành với Đảng, với cách mạng bảo vệ trọn vẹn mạng lưới tình báo do bà phụ trách. Bất lực trước ý trí gang thép của bà, địch quay sang dùng “chính sách dụ dỗ” hòng lay chuyển tinh thần của chị nhưng vẫn không có kết quả. Bà thường nói với anh em bạn tù: “Chúng ta là dân một nước, chỉ thờ một chủ”.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #144 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2008, 02:36:09 pm »

Cuối năm 1963 đầu năm 1964, Dương Văn Minh lật đổ Ngô Đình Diệm, rồi Nguyễn Khánh lật đổ Dương Văn Minh. Những người bị giam ở trại Lê Văn Duyệt và Sở Thú đều bị xét hỏi lại. Nhờ lúc chính quyền của địch vừa thay đổi còn nhiều sơ hở, với bản hồ sơ “người đi buôn bị bắt oan” ta bố trí và vận động bằng nhiều cách nên đến ngày 18-5-1964 Đinh Thị Vân được trả tự do.

Ra tù bà lập tức kiểm tra lại an toàn của lưới, rồi tìm cách chắp nối liên lạc với đồng chí và cấp trên để nhận nhiệm vụ tiếp tục hoạt động. Trong thời gian bà bị tù, nhiều điệp viên do bà gây dựng đã dần dần luồn sâu, leo cao vào những vị trí trọng yếu trong các cơ quan quân sự của địch hoặc có mối quan hệ đặc biệt thân thiết với những nhân vật nắm giữ chức vụ quan trọng của nguỵ quyền Sài Gòn. Đinh Thị Vân được giao nhiệm vụ tìm hiểu ý đồ chiến lược của Mỹ - nguỵ: Nếu địch thất bại trong “chiến tranh đặc biệt” thì tình hình sẽ diễn ra theo hướng nào? Có thể hiệp thương và thành lập chính phủ như kiểu ba phái ở Lào, hay sẽ chuyển thành “chiến tranh cục bộ”? Nếu quân Mỹ trực tiếp nhảy vào miền Nam thì quy mô, số lượng ra sao? Bà suy tính, lên kế hoạch, rồi giao nhiệm vụ cụ thể cho từng anh em trong lưới. Về phần mình, bà lại tiếp tục lo buôn bán làm ăn hợp pháp để che mắt địch, đồng thời có kinh phí phục vụ cho hoạt động. Những chủ trương, kế hoạch của đich đã bị lưới của bà nhanh chóng phát hiện và kịp thời báo cáo về Trung tâm.

Phát huy đà thắng lợi của hai mùa khô, cục diện trên toàn Miền Nam thay đổi có lợi cho ta. Trung ương quyết định:" Chuyên cuộc đấu tranh cách mạng Miền Nam sang một thời kỳ mới - Thời kỳ giành thắng lợi quyết định". Chủ trương của ta được thực hiện bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mà tình báo gọi là kế hoạch "Vụ Mùa". Đinh Thị Vân lại bận rộn với bao công việc quan trọng: Trực tiếp hướng dẫn việc chuẩn bị "Vụ mùa", chuẩn bị giao liên dẫn đường cho lực lượng ở bên ngoài vào. Thăm do khả năng hiểu biết của địch về kế hoạch chuẩn bị của ta, sơ đồ phòng thủ của quân khu Đô thành Sài Gòn... Tất cả tin tức đều đã được lưới của bà kịp thời báo cáo ra Bộ chỉ huy chiến dịch kèm theo những ý kiến phân tích xác đáng.

Khi cuộc tổng tiến công nổ ra trên khắp các đô thành miền Nam, Đinh Thị Vân vẫn bình tĩnh chỉ huy các chiến sỹ trong lưới của mình, âm thầm làm nhiệm vụ. Vì vậy, sau cuộc tổng tiến công mặc dù Mỹ ngụy lùng xục bắt bớ và thẳng tay đàn áp dã man, nhưng lưới tình báo do bà phụ trách hóa tràng giấu kín mình trong từng vỏ bọc khác nhau và hàng ngày vẫn công khai hoạt động dũng cảm, lặng lẽ hoạt động, nắm tình hình, nhận định và tổng hợp báo cáo về Trung tâm.

Tháng 3-1969, do yêu cầu công tác và tình hình sức khoẻ bị giảm sút sau những năm tháng tù đày bị đich tra tấn dã man và hoạt động vất vả, căng thẳng trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, nên cấp trên đã quyết định điều bà ra Hà Nội để điều trị và phân công chị làm công tác huấn luyện. Trong cương vị công tác mới, người nữ sĩ quan tình báo dầy dặn kinh nghiệm Đinh Thị Vân đã đem hết tinh thần, năng lực để truyền đạt kinh nghiệm cho đội ngũ những chiến sĩ sẽ kế tiếp mình lên đường làm nhiệm vụ đặc biệt.

Với công lao cống hiến cho Đảng và nhà nước cũng như quân đội: ngày 25-8-1970, Đinh Thị Vân được nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày 30-4-1975 Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Nhiệm vụ đặc biệt của bà lúc này là vào Sài Gòn giúp các cơ quan bảo vệ xác minh để trả lại sinh mạng chính trị cho những người hoạt động trong lực lượng địch. Giao nhiệm vụ mới để các họ tiếp tục tham gia công tác giải quyết các vấn đề hậu chiến, chống gián điệp lọt lưới cài lại chống phá cách mạng...Bà dành thời gian đến thăm các cơ sở cũ ở Sài Gòn, xác nhận thành tích để lập hồ sơ khen thưởng và giải quyết chính sách đối với những người có công với cách mạng. Trở về Hà Nội, bà báo cáo với trên xác minh một số cơ sở tình báo ở Hà Nội thời kỳ 1954 mà đã hơn 20 năm nằm trong bí mật nay mới đủ điều kiện ra công khai.

Sau gần trọn một đời cống hiến cho cách mạng, bà về nghỉ hưu ở căn gác nhỏ trong ngôi nhà số 8 Phố Cửa Đông, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Sống thanh bạch, giản dị, khiêm tốn và thật sự trong sạch trong sự yêu mến và ngưỡng mộ của bạn bè, bà con nhân dân địa phương nơi bà cư trú. Đại tá Đinh Thị Vân mất tại Hà Nội ngày 11-12-1995, thọ 79 tuổi.

Đại tá Đinh Thị Vân là một người phụ nữ kiên cường, người dành trọn cuộc đời của mình cống hiến cho cách mạng, cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và thống nhất Tổ quốc. Để hoàn thành nhiệm vụ với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng bà đã phải hy sinh ngay cả những hạnh phúc cá nhân của một người phụ nữ : lấy vợ cho chồng để yên tâm lên đường làm nhiệm vụ. Để hoàn thành nhiệm vụ, bà cũng phải chịu những nỗi đau riêng như gia đình, họ hàng bà nhiều năm trời bị hàm oan, bị ảnh hưởng đến ngay cả mẹ bà một bà mẹ Việt Nam yêu nước, người được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng đồng tiền vàng, khi mất vẫn bị mang tiếng là có con vào Nam theo địch.

Chí tình với đồng đội, với bà con họ hàng. Trong di chúc trước khi mất bà viết : "...Tôi chẳng có tài sản riêng, nay được Dân, được Đảng và Quân đội cấp cho căn phòng, tôi nghĩ đó là Lộc Nước tôi có ý nguyện được chia sẻ một phần lộc nước bằng một nửa căn phòng này cho: Người thứ nhất là Bà Đào Thị Lộc 80 tuổi. Bà Lộc là vợ ông Đinh Thúc Dự, ông Dự là anh ruột tôi, ông đã hoạt động cách mạng, là Đảng viên Đảng Cộng Sản từ năm 1930 - ông đã quá cố. Ông Dự lại là người giác ngộ, dìu dắt và tạo điều kiện giúp tôi hoạt động cách mạng từ trước ngày tổng khởi nghĩa 1945...". "...Người thứ hai là cháu Đinh Quang Huy 37 tuổi. Cháu Huy là con trai duy nhất của liệt sỹ Đinh Xuân Mẫn và là cháu ruột liệt sỹ Đinh Văn Năng. Hai anh Mẫn và Năng đều là cháu gọi tôi bằng cô, năm 1940 mẹ của hai anh mất, tôi đã nuôi dưỡng hai anh ăn học. Về sau hai anh đều hoạt động cách mạng, tham gia quân đội đi chiến đấu và đều đã hy sinh. Tôi nghĩ rằng tôi cho cháu Đinh Quang Huy  thừa kế di sản của tôi, dù chỉ là một nửa căn phòng cũng để giúp cháu một chút đỉnh giảm bớt khó khăn vất vả, tạo lập được cuộc sống ổn định, hạnh phúc..."

Trong lời tuyên dương khi bà được nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Đảng, Nhà nước, Quân đội ghi rõ : “Đồng chí thiếu tá Đinh Thị Vân là một cán bộ mẫu mực trung thành tận tuỵ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan trọng trong những hoàn cảnh rất khó khăn”.

Trong lời điếu văn đọc trong lễ tang bà, thủ trưởng Tổng cục II Bộ Quốc phòng (tướng Vũ Chính) viết : " Ôi! Lời điếu trong giờ vĩnh biệt hôm nay chưa thể nói hết được những gì cần nói về cuộc đời của một người phụ nữ suốt đời hy sinh. Phẩm chất cao đẹp của nữ đồng chí Đinh Thị Vân, cán bộ tình báo anh hùng mà chúng ta đều trăn trở nghĩ suy...". "...Tất cả những gì mà chị để lại cho những người còn sống là niềm tự hào kính phục. Chị là một tấm gương sáng cho mọi người tiếp bước noi theo...

Bài viết : lược trích theo bút ký nhân vật của nhà văn Đinh Quang Tỉnh. Bút ký này đã được đăng báo và đặc biệt được đọc trên Đài tiếng nói Việt Nam.

Nguồn ảnh : nhà văn Đinh Quang Tỉnh.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #145 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2008, 05:03:30 am »

Trung tướng Lư Giang (tên thật Lê Bá Ước, 14/12/1920-16/01/1994), nguyên Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Thủ đô, Phó Tư lệnh Quân khu 5 kiêm Tư lệnh Phân khu Nam Quân khu 5.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984).


Ông quê ở xã Vô Tranh, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, là con một gia đình địa chủ yêu nước ở địa phương có ông nội và bác ruột đều tham gia chống Pháp. Ông cùng quê với Đô đốc Giáp Văn Cương-nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam. Và một điều đặc biệt nữa là hai ông sát cách với nhau trong kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ tại chiến trường Trung Trung Bộ, là một trong những tướng lĩnh trưởng thành từ Sư đoàn 3.

Cuối năm 1940, sau khi tốt nghiệp tiểu học ông không học lên nữa vì cho rằng học lên nữa cũng chẳng làm được gì lên trở về quê làm thư kí cho bố ông, chờ vận hội mới. Trong thời gian này, ông thường đi giao dịch với khách hàng, khi Hà Nội-Bắc Giang, lúc Lạng Sơn-Đình Lập…Vốn là người có lòng yêu nước, ông ngày đêm trăn trở vì sao dân mày nghèo quá, lại phải làm thuê trong các đồn điền hàng vạn héc to ngay trên quê hương đất nước mình thật vô lý bất công mà không biết làm sao. Ông cùng với người bạn thân Hải Bằng đã nhiều lần bàn luận nhưng vẫn thấy bế tắc.

Sẵn có lòng yêu văn học, ông say sưa tập viết truyện và làm thơ. Âm thầm cố gắng, tập viết đêm đêm rồi cũng hoàn thành một tập tiểu thuyết đặt tên là ‘’Đứa con hoang’’ và một tập thơ ‘’Tiếng tơ lòng’’ mạnh dạn gửi đăng báo Tri Tân ở Hà Nội nhưng không được đăng. Ông Nguyễn Văn Tố, chủ bút, viết thư góp ý với ông khá chân thành. Ông lên Hà Nội tìm ông Nguyễn Văn Tố. Qua trao đổi, biết ông còn là Hội trưởng Hội truyền bá Quốc ngữ, ông xin làm chi nhánh truyền bá Quốc ngữ tại địa phương. Tự nhủ, trước mắt chưa biết làm gì có ích hơn cho đất nước mà hiện 90% dân số mù chữ thì làm sao nâng cao được dân trí, mà dân trí thấp thì nước đâu có mạnh.

Ông về bàn với ông Hải Bằng. Hai ông cùng nhau tổ chức và trực tiếp dạy chữ Quốc ngữ cho dân làng. Bên cạnh đó còn lập những tổ “Gia đình giáo dục” cho trẻ em. Qua quá trình giảng dạy, ông được tiếp xúc tìm hiểu thêm tầng lớp dân nghèo, cảm thông nỗi khốn khó của dân làng và nhất là có thêm nhiều bạn bè cùng chí hướng: “Xóa nạn mù chữ” làm cầu nối cho sau này tiến lên những chí hướng khác nữa.
Cuối năm 1942, ông được ông Hải Bằng đưa cho xem một tập tài liệu mật bảo đọc. Đó là vài tờ báo Cứu quốc và chương trình điều lệ Việt Minh. Lúc này, Nhật - Tây - tay sai rất tàn bạo, giết người cướp của, bắt người nông dân nhổ lúa trồng đay, mùa màng thất bát. Đã nghèo đói lại càng nghèo đói, và lác đác có nơi đã có người chết đói. Từ câu chữ của chương trình Việt Minh cứu nước giành độc lập Tổ quốc từ tay Pháp-Nhật thấm vào máu thịt ông. Việt Minh chủ trương đoàn kết toàn dân, miễn có lòng yêu nước thương nòi. Một chương trình đúng đắn, thực sự đi vào lòng người. Đối với riêng ông, vô cùng hấp dẫn, đáp ứng đúng tâm tư nguyện vọng mà bấy lâu nay mò mẫm, tìm kiếm mờ mịt bến bờ... Trong gia đình, ông thường được nghe bố ông nói chuyện về ông nội, bác ruột chống Pháp đến cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học đều một lòng yêu nước nhưng đều thất bại. Một đôi lần bố ông có nhắc đến ông Nguyễn Ái Quốc và đặt hy vọng nhiều hơn, tuy cũng chưa biết cụ thể ra sao. Từ một thanh niên yêu nước ông giác ngộ cách mạng và lao vào con đường hoạt động Việt Minh từ cuối năm này (tháng 10 năm 1942), làm nhiệm vụ tuyên truyền và xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng ở thôn Giàng.

Cuối năm 1943, ông tham gia thành lập đội Hoa Việt du kích kháng Nhật. Tháng 2 năm 1945, ông nhập ngũ là Chính trị viên Đội võ trang tuyên truyền giải phóng quân thuộc Chín khu Hoàng Hoa Thám và Đông Triều (Đệ tứ chiến khu). 

Từ sau Tết Ất Dậu 1945, nạn đói bắt đầu hoành hành dữ dội, người chết đói khá nhiều ở phố Phủ, phố Gàng, Mai Sưu sang đến Mỵ Nương, Chũ. Nhiều người phải bỏ làng lên rừng đào kiếm củ mài, củ sắn, đói rách, bệnh tật bỏ xác bên bìa rừng, đầu suối. Ở Gàng có gia đình chết cả nhà. Để chống đói, phải nhanh chóng phá kho thóc Bến Bò, ước lượng hơn 400 tấn. Hôm đó là phiên chợ Gàng. Ông cùng đồng đội trong đội vũ trang tuyên truyền ở chiến khu về tổ chức mít tinh kêu gọi đồng bào đi theo giải phóng quân phá kho thóc cứu dân đang đói. Cả chợ hưởng ứng ngay, bỏ mua bán, kéo đi Bến Bò. Đi đầu là đội tự vệ do các ông Lương, Đoan chỉ huy. Các ông Vệ Lễ, Chính vác búa tạ đi đập phá cửa kho. Khoảng 9 giờ sáng, đoàn người đến nơi, có độ chục người bảo vệ kho. Các ông bắt giữ một số, thu 4 súng, kêu gọi số còn lại cùng tham gia lấy thóc. Nhân dân đi chợ, dân vùng Gàng, Nam Diện, Trại Còng kéo đến ngày càng đông, thi nhau lấy cả ngày không hết thóc. Sang ngày thứ 2, thứ 3, dân quanh vùng nghe tin đồn ùn ùn kéo đến, đủ cả dân làng, xã Dùng, Quỷnh, Tòng Lệnh, San, Sú, Trề...

Sau đó ông chỉ huy đội trở về thị trấn Chũ ngày 19 -8-1945, nhanh chóng cùng các đồng chí của mình tổ chức lực lượng đi Bắc Giang. Đoàn quân độ 800 người qua phà phố Phủ, sang Thanh Giã, lên Vôi theo đường quốc lộ về thị xã. Thành phần gồm các lực lượng: Đội vũ trang tuyên truyền; Đội vũ trang tuyên truyền Hoa Vận, lực lượng tự vệ, nhân dân các làng, xã lân cận từ Cường Sơn thị trấn đến Sàn Cọc, Bắc Lũng, Tam Dị… Càng đi đoàn người càng đông, càng dài vì dân các xã dọc đường hưởng ứng tham gia. Tối 20-8-1945, đến thị xã Bắc Giang. Sáng 21-8-1945, cuộc mít tinh tại bãi Stat có hàng chục vạn người, chính quyền thị xã Bắc Giang về tay nhân dân.
Tháng 10 năm 1945, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ tháng 12 năm 1945 đến năm 1946, ông là chỉ huy giải phóng quân Bắc Giang. Sau cách mạng tháng 8.1945, sau sự kiện ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, núp bóng quân Anh và đồng minh, thực dân Pháp quay trở lại xâm chiếm nước ta. Và ngày 23.9.1945, được đánh dấu là ngày Nam bộ kháng chiến, tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Ngày 10 tháng 1 năm 1946 (4 ngày sau bầu cử Quốc hội khóa 1), đoàn quân Nam tiến Bắc Giang do ông làm chỉ huy nhập với đoàn quân Nam tiến của Bắc Ninh tại thị trấn Phả Lại thành lập lên Chi đội Nam tiến Bắc Bắc (Bắc Giang, Bắc Ninh) do ông làm Chi đội trưởng và ông Ngô Từ Vân làm Chi đội phó.

Sau hơn nửa tháng hành quân, chi đội Bắc Bắc vào đến Quảng Ngãi, thì nghe tin Pháp đã chiếm thị xã Phan Thiết, chuẩn bị đánh ra Nha Trang, nên chi đội không vào Nam như dự định mà dừng lại chiến đấu ở mặt trận Nha Trang. Tại đây ông đã tham gia chỉ huy một số trận đánh đầu tiên với quân Pháp:

Trận sông Cái: 9 giờ sáng ngày 27-1, với sự yểm trợ của máy bay, xe tăng, đại bác, súng cối, hai cánh quân Pháp từ Suối Dầu ra, từ Nha Trang đến tìm cách vượt sông Cái, đánh sang khu vực trận địa của ta. Mấy lần Pháp liều chết nhảy xuống thuyền bơi qua, nhưng đều bị hoả lực của bộ đội bắn thiệt hại, phải rút lui. Suốt một ngày chiến đấu giằng co, ta diệt được gần 50 lính Pháp. Thắng lợi đầu tiên bên bờ sông Cái làm nức lòng bộ đội và nhân dân địa phương.

Trận cầu Đôi: 30 Tết, một cuộc chiến đấu quyết liệt giữa ta và quân Pháp đã diễn ra ở khu vực Cầu Đôi. Do bị bộ đội chặn đánh, quân Pháp bị thương vong nhiều, không dám tiến lên.

Mồng một Tết, Pháp mở cuộc tiến công lần thứ hai và tập trung đông gấp 5-6 lần, lực lượng ta quá mỏng, nên Pháp thọc được vào hữu ngạn sông Cái, cắt đôi trận địa của ta. Quân ta phần bị thương vong, phần thất lạc. Kể từ trận này, bộ đội Bắc Bắc hầu như độc lập tác chiến. Một bộ phận do ông phụ trách, chạy lên núi, đi suốt một ngày, đêm đến ngủ lại trong một khu rừng rậm, cuối cùng cũng tìm về đến Phú Cốc. Tại đây, bộ đội ta phân tán thành từng tổ từ hai đến ba người, sống trong dân, dựa vào dân. Ban ngày áo bà ba, đội nón lá đi làm ruộng, làm vườn. Tối đến củng cố các tổ chức quần chúng, huấn luyện các đội du kích tự vệ chiến đấu, bắt đầu từ hình thức thấp đến cao: trừ gian, diệt tề, bắn tỉa giặc đi càn, phá hoại đường xe lửa, đánh sập cầu...

Ông lần lượt giữ các chức vụ Tiểu đoàn trưởng thuộc Chi đội 3 Nha Trang, sau đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 80, 83, Tỉnh uỷ viên tỉnh uỷ Phú Yên. Từ năm 1947 đến năm 1952, ông là Liên Trung đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Trung đoàn 80, 83 sau đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 803, 84, Uỷ viên Ban Cán sự tỉnh Đắc Lắc, Trung đoàn trưởng, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn 105. Tháng 12 năm 1953, ông là Phái viên của Bộ Tổng tham mưu công tác ở Liên khu 5. Tháng 7 năm 1954 ông chỉ huy lực lượng tiếp quản khu vực Quy Nhơn, sau đó là Chỉ huy trưởng Quân cảng Quy Nhơn.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc từ 12.1954 đến 1964 ông lần lượt giữ các chức vụ: Tham mưu phó và Tham mưu trưởng Sư đoàn pháo binh 349, 375. Từ năm 1958, ông là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 368, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Năm 1964, ông được lệnh vào Nam chiến đấu tại chiến trưởng khu 5, nơi ông đã gắn bó suốt 9 năm Kháng chiến chống Pháp. Đầu tháng 7 năm 1964, Bộ Tư lệnh Phân khu Nam thành lập, tháng 12 năm này ông được cử làm Tư lệnh trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy, ông Năm Phổ (Nguyễn Hồng Châu) là Bí thư Liên tỉnh ủy kiêm Chính ủy phân khu; trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang 3 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa và Đắc Lắc.

Năm 1964, để giải quyết vấn đề trang bị vũ khí, nhất là vũ khí đảm bảo cho tác chiến tập trung ở Khu 5 đang gặp nhiều khó khăn, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Bộ Tổng tham mưu (bộ phận B) kết hợp với Bộ tư lệnh Hải quân nghiên cứu nhiệm vụ mở bến, chi viện vũ khí cho vùng ven biển Khu 5. Vận chuyển vũ khí vào Khu 5 là công việc phức tạp và vô cùng khó khăn. Nhận được chỉ thị của Trung ương và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Tư lệnh Phân khu Nam do ông làm Tư lệnh và ông Năm Phổ làm Bí thư phối hợp với Tỉnh ủy Phú Yên chọn xây dựng bến bãi để nhận vũ khí chi viện cho 3 tỉnh bằng đường biển.

Tháng 9 năm 1968, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3. Từ năm 1970 đến năm 1971, ông là Phó tư lệnh rồi Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, Quân khu 5. Tháng 2 năm 1973, ông là Trưởng đoàn đại biểu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong Ban liên hợp Quân sự bốn bên khu vực Đà Nẵng.

Tháng 5 năm 1973, ông là Trưởng đoàn Quân sự của Chính phủ Cách mạng Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp Quân sự hai bên ở khu vực Pleicu. Tháng 12 năm 1973, ông là cán bộ tổng kết Quân khu 5. Tháng 3.1975, ông là Phó Tư lệnh Quân khu 5, Tư lệnh Phân khu Nam Quân khu, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu 5 (tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương), trực tiếp chi viện cho các cánh quân tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, ông được điều ra Bắc giữ chức vụ Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô, Phó Tư lệnh Quân khu Thủ đô (tướng Đồng Sĩ Nguyên là Tư lệnh) (11.1977-1979). Từ năm 1980 đến 1989, ông là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Thủ đô, Ủy viên thành ủy Hà Nội.

Ông  là đại biểu Quốc hội khoá VII, VIII, Uỷ viên Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội khoá VIII. Năm 1989 ông được Nhà nước cho nghỉ hưu. Ông là Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội.

Là một thanh niên sinh trưởng trong một gia đình địa chủ yêu nước, với tấm lòng thương yêu sâu sắc với những người dân nghèo phải chịu nhiều tròng áp bức bóc lột của phong kiến, thực dân và phát xít, tướng Lư Giang sớm tham gia vào những hoạt động yêu nước ở địa phương. Cách mạng và phong trào Việt Minh như ngọn đuốc sáng dẫn đường đưa ông đến với cách mạng đánh đuổi thực dân, phát xít giành độc lập cho dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân.

Sinh ra và trưởng thành ở vùng quê Bắc Giang, nhưng ông lại gắn bó với chiến trường khu 5. Ông đã chiến đấu và trưởng thành tại đây trọn vẹn hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Đây cũng là nơi ông gặp người vợ yêu quý của mình, một người con gái xứ nhãn lồng Hưng Yên, Đại tá Hàn Thị Trang. Cả cuộc đời của ông đúng như những gì ông tự bạch :

Một tấc giang sơn
Một dòng máu đỏ...
…Anh mang trái tim đi suốt đời chiến trận
Thanh bình rồi anh dành tặng quê hương!

Nếu đến viếng nghĩa trang Mai Dịch vào những ngày giáp Tết, bạn sẽ có cơ may gặp bà Hàn Thị Trang và nghe kể về chuyện tình của ông bà thuở nào. Tuy đã ngoài 80 tuổi nhưng cụ vẫn rất còn minh mẫn, khỏe mạnh. Hiếm có một cụ bà cao tuổi nào lại có thể bàn luận chuyện chính trị đầy nhiệt huyết, sắc sảo đến như vậy.





Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #146 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2008, 10:27:32 pm »


Thiếu tướng Hoàng Đan (1928-2003), nguyên : Cục trưởng Cục Khoa học Quân sự Bộ Tổng tham mưu (nay là Cục Khoa học và Công nghệ Bộ Quốc phòng), Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1, Tư lệnh Quân đoàn 5 (Quân đoàn 14) kiêm Phó Tư lệnh Quân khu 1, Phó Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng), Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 (Quân đoàn Trị Thiên hay Binh đoàn Hương Giang), Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 1.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1977.

Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 1 hạng Nhì), 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (1 hạng Nhất, 1 hạng Nhì, 1 hạng Ba), Huân chương Hữu nghị Việt Xô, Huy chương Quân kỳ quyết thắng…


Tuổi thơ và gia đình

Thiếu tướng Hoàng Đan sinh năm 1928 tại xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Theo gia phả dòng họ Hoàng ở Nghệ An, thì ông là hậu duệ đời thứ 21 của cụ Hoàng Tá Thốn, người được mệnh danh là Sát Hải Đại Vương, tục truyền là một tướng thời Trần, một chuyên gia về bơi lặn đã làm chìm nhiều chiến thuyền của giặc Nguyên Mông…Hiện vẫn còn đền thờ cụ tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Dòng họ ông con cháu phần đông học hành nhiều, nhiều người thành đạt và ra làm quan. Ông tổ 6 đời trên ông dời Quỳnh Lưu vào định cư tại Ngư Lộc làm thầy thuốc đến ngự y. Đến đời ông nội ông vẫn tiếp tục theo nghề này. Bác ông thi vào được tam trường nhưng đến kỳ phúc hạch thì bị hỏng, trở về nối nghiệp ông nội ông làm nghề thầy thuốc.

Bố ông là cụ Hoàng Văn Hệ từng theo học nho học, nhưng sau khi chính quyền thực dân phong kiến bỏ Hán văn cụ quay sang học quốc ngữ và cũng đã đậu hai bằng thi sinh (tương đương sơ học yếu lược) và khóa sinh (tương đương tiểu học). Mặc dù thừa kế của gia đình ruộng đất nhưng cụ không theo nghề nông mà đi kinh doanh đủ nghề : mở cửa hàng ăn ở Vinh, đi làm thầu khóan, mở trang trại…Tuy nhiên công việc làm ăn của cụ không thành công, cách mạng tháng 8 nổ ra cụ trở về quê.

Mẹ ông là cụ Đặng Thị Ngung cũng là con nhà nông dân giàu có. Trái với chồng, bà chăm lo công việc đồng áng nuôi các con và chồng (khi công việc kinh doanh không suôn sẻ). Cụ là một người phụ nữ rộng rãi trong đối xử với họ hàng, bà con hàng xóm và những người làm công. Nạn đói năm 1945 mặc dù làng ông người chết đói đến 200 người, nhưng những người làm thuê cho gia đình ông vẫn qua được.

Gia đình ông sinh được 7 người con, 2 trai và 5 gái. Anh ông học Hán ngữ định sau này kế nghiệp bác ông làm nghề thày thuốc. Nhưng từ năm 1941, anh ông bị đi tù rồi sau làm cán bộ địa phương rồi vào bộ đội nên bỏ nghề thuốc. Hai chị gái ông không được học hành ở nhà làm ruộng rồi đi lấy chồng. Chỉ có 2 em gái ông nhờ cách mạng mà được đi học.

Ông là người con duy nhất trong nhà được cho ăn học đến cấp tỉnh. Sau ba năm trường xã, ba năm trường huyện ông lên thành phố theo học cao đẳng tiểu học (tương đương cấp trung học cơ sở bây giờ). Ông học hành chăm chỉ và thuộc nhóm học sinh giỏi của lớp. Do công việc học tập trên thành phố rất tốn kém, cho nên phần đông các bạn của ông bỏ học về quê. Do có người bác làm nghề thầy thuốc quen biết nhiều giới thiệu, ông đến làm gia sư cho con một nhà giàu để có tiền ăn học. Tại thành phố, ông học trường tư Lễ Văn của ông Nguyễn Đức Bình (vì chậm mất kì thi vào trường công). Tuy nhiên, đến tháng 11 năm 1943, do Mỹ ném bom phá hủy hoàn toàn nhà máy xe lửa Trường Thi cùng nhiều nơi trong thành phố, nhà trường phải di chuyển ra khỏi thành phố nên ông phải thôi học ở năm thứ 3.

Gia đình bên ông và bên bà ông có truyền thống cách mạng từ rất sớm (từ năm 1930) và đây chính là nguyên nhân chủ yếu khiến ông tham gia cách mạng. Chú họ ông là ông Hoàng Văn Tâm, bí thư đầu tiên của huyện ủy Nghi Lộc, bị Pháp bắn chết năm 1931. Chú ruột ông là Hoàng Văn Mỹ bị bắt năm 1930 đày đi Kon Tum đến khi phong trào bình dân lên cầm quyền ở Pháp mới được tha về. Bản thân người anh ruột của ông cũng bị cầm tù năm 1941, sau khi ra tù là cán bộ địa phương rồi vào bộ đội. Bên họ Trần của bà ông cũng có 3 người tham gia Xô Viết Nghệ Tĩnh, một người bị bắn ở quê, hai người bị đày đi Kon Tum và hy sinh tại đó. Anh rể của ông là ông Nguyễn Đình Phương là một trí thức nhưng giác ngộ và tham gia cách mạng từ trước tháng 8 năm 1945 sau này là Phó giám đốc công an tỉnh Nghệ An.

Mùa Thu tháng 8

Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, một số tù chính trị được thả ra trở về hoạt động và gây dựng lại cơ sở ở quê ông. Cuối tháng 3, qua lời giới thiệu của chú và anh trai, ông tham gia Mặt trận Việt Minh. Trong cuộc họp của các cán bộ Việt Minh huyện Nghi Lộc nhằm bầu gia ban chấp hành lâm thời Mặt trận Việt Minh huyện, ông và ông Hoàng Niệm (sau này là Thiếu tướng, Tư lệnh Bộ đội thông tin) được bầu làm ủy viên ban chấp hành, phụ trách vận động thanh niên, học sinh để tổ chức Đoàn thanh niên cứu quốc. Còn ông Hoàng Niệm hoạt động trong phong trào công nhân về tổ chức Hội công nhân cứu quốc.

Tháng 6 năm 1945, nhiều cán bộ hoạt động cách mạng bị cầm tù trở về địa phương hoạt động, bạn chấp hành Việt Minh được bầu lại. Ông được cử về tổng Vân Trình phụ trách tổ Việt Minh của tống và lo tổ chức các tổ Việt Minh xã. Để tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền, tháng 7 năm 1945, ông tham gia tuyên truyền về chính sách của Mặt trận Việt Minh. Ngày 21 tháng 8 năm 1945, ông dẫn đầu đoàn thể quần chúng ở tổng Vân Trình dự mít tinh ra mặt chính quyền nhân dân huyện Nghi Lộc, rồi sau đó tham gia tổ chức chính quyền ở các xã trong huyện.

Tháng 11 năm 1945, ông được triệu tập về ban tuyên truyền Tỉnh bộ Việt Minh bổ sung vào đoàn tuyên truyền lưu động. Sau một tuần học tập chủ trương đường lối của Việt Minh, tổ ba người của ông về huyện Thanh Chương làm công tác tuyên truyền, vận động cho việc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 6 tháng 1 năm 1946.

Công việc tuyên truyền diễn ra suốt tháng 12. Đầu năm 1946, ông được cơ quan quân sự tỉnh Nghệ An cử đi học quân sự tại trường quân sự quân khu mới mở tại Nhượng Bạn, Hà Tĩnh. Sau khóa học, ông được phân công về làm trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn tiếp phòng quân đóng tại Đông Hà (Quảng Trị). Tiểu đoàn trong biên chế của Trung đoàn tiếp phòng quân Bình Trị Thiên do ông Quốc Chủng làm Trung đoàn trưởng và trực thuộc Đại đoàn 2 Quân tiếp phòng do ông Hoàng Điền làm Đại đoàn trưởng.

Do sự giới thiệu của ông Trần Văn Quang (sau này là Thượng tướng), và ông Đoàn La, Tỉnh ủy Quảng Trị đồng ý kết nạp ông vào Đảng . Đến tháng 10 năm 1946, ông chính thức trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và trở thành liên chi ủy viên tiểu đoàn, trực tiếp làm bí thư chi bộ và được chỉ định làm chính trị viên đại đội 2.

Bình Trị Thiên khói lửa

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tuy nhiên thông tin đến với chiến trường Trị Thiên rất chậm. Tháng 12 năm 1946, ông vẫn cùng đơn vị tiếp tục tham gia huấn luyện quân sự, huấn luyện kỹ thuật và cá nhân chiến đấu.

Giữa tháng 1 năm 1947, quân Pháp bắt đầu từ Lào đánh theo đường số 9 tiến về chiếm Đông Hà và một cánh quân nữa theo đường số 1 tiến ra chiếm thị xã Quảng Trị. Tiểu đoàn của ông được phân công phụ trách phòng thủ Đông Hà và đánh địch từ Đông Hà đến Vĩnh Linh và chuyển từ đội hình Trung đoàn quân tiếp phòng Trị Thiên sang Trung đoàn 95 với tên mới là Tiểu đoàn 15. Ông thôi giữ chức chính trị viên đại đội và trở về làm Trung đội trưởng trực tiếp chỉ huy chiến đấu. 

Khi quân Pháp tiến từ Cam Lộ về Đông Hà, đại đội ông có nhiệm vụ tiến đánh cánh quân này. Tuy nhiên do địch được trang bị hỏa lực mạnh lại có xe bọc thép phối hợp lên cuộc tiến công bất thành, cho nên đại đội rút về tập trung ở thị xã Đông Hà.

Tiếp theo đó, đại đội của ông tiếp tục nhận nhiệm vụ chặn đánh địch ở 2 phòng tuyến : dựa vào điểm cao phía nam huyện lỵ Gio Linh và dựa vào sông Bến Hải. Trong thời gian chờ địch ở phòng tuyến Gio Linh, trung đội do ông chỉ huy được lệnh của Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 Hùng Việt lên phục kích quân Pháp di chuyển bằng tàu từ Cam Lộ về Đông Hà. Vũ khí chủ yếu sử dụng trong trận đánh là khẩu thận công sản xuất đầu thời Nguyễn cho nên trận phục kích không thành công đơn vị lại rút về phòng tuyến Gio Linh.

Khi quân Pháp tiến tới phòng tuyến Gio Linh, Đại đội ông đã hai lần đẩy lui các đợt tiến quân của quân Pháp nhưng do địch có bọc thép đi kèm lại có súng cối và đại bác nên đại đội phải rút khỏi phòng tuyến thứ nhất, rồi thứ hai trước khi được chỉ thị rút lên chiến khu Thủy Ba ở bìa rừng chiến đấu sau lưng địch suốt năm 1947 : đánh du kích, bắn tỉa, đặt bom mìn trên quốc lộ, quấy rối các căn cứ đóng quân của Pháp và diệt tề trừ gian…

Quân Pháp ở Cấm Phố (tiếp giáp giữa Vĩnh Linh và Gio Linh) hàng tuần phái một trung đội đi từ phía Nam sông Bến Hải lên căn cứ ở Hiền Lương nhận tiếp tế. Đại đội của ông được lệnh phục kích địch tại thôn Hùng Ban. Trận phục kích giành thắng lợi, toàn trung đội địch bị diệt gần gọn : hơn 10 tên chết trận, 6 tù binh và thu được hơn 10 khẩu sung. Tuy nhiên sau đó do đánh giá không đúng tương quan lực lượng và tình hình ban chỉ huy đại đội tiếp tục cho đơn vị bám trụ đánh quân Pháp đi càn. Trận chống càn thất bại, đơn vị hy sinh nhiều trong đó có cả đại đội trưởng và chính trị viên. Ông được chỉ định làm đại đội trưởng Đại đội 2 chỉ huy đại đội tiến công quận lỵ Gio Linh.

Theo kế hoạch đại đội do ông chỉ huy cùng đại đội 1 hiệp đồng tấn công quận lỵ với sự phối hợp của một tiểu đội ngụy được giác ngộ theo kháng chiến. Tuy nhiên ngay khi nổ súng bên doanh trại quân ngụy, quân Pháp nhanh chóng phán đóan có binh biến lên dùng hỏa lực mạnh áp chế các mũi tấn công. Trận đánh không thành công do yếu tố bất ngờ bị mất, chỉ diệt được một số địch, không thu được súng nào ngoài tiểu đội ngụy đi theo kháng chiến mang vũ khí về, hy sinh bốn người, bị thương hơn chục người.

Đầu năm 1948, thực hiện chủ trương đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, đại đội do ông chỉ huy được điều vào Chiến khu Hòa Linh để xuống đồng bằng Triệu Phong làm nhiệm vụ đại đội độc lập thay tiểu đoàn 14 rút về làm tiểu đoàn tập trung. Trong lúc chuẩn bị xuống đồng bằng, đại đội theo lệnh của Phân khu Bình Trị Thiên ra tham gia tiến công thị xã Đông Hà, trậnh đánh do Phó tư lệnh phân khu Hà Văn Lâu chỉ huy. Tuy nhiên kết quả của trận đánh hết sức hạn chế, bản thân đại đội do ông chỉ huy không nhận được lệnh gì của cấp trên, chỉ nắm được diễn biến của trận đánh sau khi nó kết thúc. Sau trận đánh này, đại đội lại rút trở lại Triệu Phong.

Bước vào thực hiện chủ trương đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, đại đội phân tán thành các tiểu đội hoạt động ở mỗi xã hỗ trợ, phát triển và cùng dân quân đánh theo kiểu du kích, khi có điều kiện tập trung tổ chức đánh một trận sau đó lại phân tán ngay. Đại đội đã tổ chức 2 trận phục kích diệt trung đội địch, một trận diệt đồn tiêu diệt sinh lực địch và thu vũ khí.

Giữa năm 1949, đại đội thôi làm nhiệm vụ độc lập trở về đội hình của tiểu đoàn 310, ông được chỉ định quyền tiểu đoàn trưởng thay tiểu đoàn trưởng phải đi chữa bệnh dài hạn. Sau một thời gian củng cố, tiểu đoàn ông được tham gia một trận đánh vào loại lớn không chỉ ở Trị Thiên mà toàn quốc thời đó đó là đánh điểm (căn cứ Lưu Diễm) diệt viện (từ căn cứ lớn Mỹ Chánh). Kết quá : thiếu tá Đờ Poanh-tê bị bắt sống cùng một số sĩ quan và binh lính, ta bắt và diệt hơn 200 tên, diệt 2 xe bọc thép và một số ôtô, thu nhiều súng đạn. Trận đánh do đích thân Trung đoàn phó Trung đoàn 95 Lê Bá Vận chỉ huy (vốn là hạ sĩ quan Pháp theo cách mạng, sau này ông hy sinh khi đi nghiên cứu tình hình địch).


« Sửa lần cuối: 11 Tháng Mười Một, 2008, 10:33:15 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #147 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2008, 10:35:15 pm »

Đường đến Điện Biên Phủ

Cuối năm 1949, ông được lệnh về quân khu công tác tại Trung đoàn 57 trong đoàn cán bộ của chiến trường Trị Thiên bổ sung cho các đơn vị Thanh Nghệ Tĩnh. Khi Đại đoàn 304 thành lập, Trung đoàn của ông thuộc biên chế đại đoàn và ông được chỉ định làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 418 chủ công của trung đoàn.

Sau chiến dịch Biên Giới 1950, đại đoàn hành quân lên biên giới trang bị lại vũ khí do Trung Quốc viện trợ rồi hành quân về lại Vĩnh Linh phối hợp với chiến dịch đường 18, tuy nhiên đợt hoạt động không có kết quả, toàn đại đoàn lại trở về Thanh Hóa tham gia huấn luyện về chiến thuật và phương pháp đánh công kiên trước khi tham gia chiến dịch Hà Nam Ninh cùng các đại đoàn 308 và 320 (đại đoàn tác chiến tại khu vực huyện Yên Mô và nam thị xã) do Bộ tổ chức.

Đại đoàn rút về hậu phương huấn luyện thì quân  Pháp đánh ra định chiếm thị xã Hòa Bình. Đại đoàn của ông lại được điều ra tham gia chiến dịch Hòa Bình do Bộ tổ chức cùng Đại đoàn 308, 312, 320. Đại đoàn phụ trách phía đông đường số 6 và dọc đường 21. Riêng tiểu đoàn của ông được đại đoàn giao nhiệm vụ đánh cứ điểm Đồi Mồi. Sau khi đi trinh sát ông kết luận là không có khả năng đánh cứ điểm này nếu không có pháo phối thuộc và nếu trung đoàn và đại đoàn nhất quyết đánh thì ông xin không chỉ huy trận đánh vì chắc chắn là nó sẽ thất bại. Tuy nhiên, do yêu cầu và thuyết phục của trên trận đánh vẫn diễn ra với thương vong lớn, cán bộ hy sinh nhiều, không tiêu diệt được cứ điểm. Ngay sau đó, tiểu đoàn ngay lập tức đánh một trận phục kích thắng lợi trên đường số 6, trong vòng 20 phút diệt gọn 2 đại đội bắt hơn 20 tù bình trong đó có viên quan 2 đại đội trưởng, phá nhiều ôtô và một xe AM. Chiến dịch Hòa Bình kết thúc, Đờ Lát buộc phải rút quân khỏi Hòa Bình.

Sau chiến dịch Hòa Bình, tiểu đoàn của ông được lệnh về đồng bằng Nam Định, vừa được giải phóng bởi đại đoàn 320 trong quá trình diễn ra chiến dịch Hòa Bình, ở các huyện Nghĩa Hưng, Nam Trực, Hải Hậu. Ở đây, tiểu đoàn được bổ sung quân số, cán bộ chỉ huy. Tiểu đoàn đã tổ chức nhiều trận đánh có kết quả như : trận diệt đồn Lạc Quần chỉ trong vòng một giờ không để cho một tên địch nào chạy thoát, đây là trận công kiên đầu tiên thắng lợi của tiều đoàn ; trận hạ đồn Vọc ; chống càn của Binh đoàn cơ động số 19 vào làng Ngọc Giã và rút lui an toàn.

Sau thời dan liên tục họat động trong vùng địch hậu, trung đoàn cho tiểu đoàn ông về Nho Quan củng cố về mọi mặt và đưa tiểu đoàn 346 vào thay. Thu đông năm 1952, Bộ mở chiến dịch lớn ở Tây Bắc. Đại đoàn 304 ở lại Ninh Bình đánh địch ở vòng ngoài phối hợp với Đại đoàn 320 đánh địch ở vòng trong. Trung đoàn 57 được phân công đánh địch ở Yên Mô đến Phát Diệm. Mở đầu chiến dịch, Đại đoàn và Trung đoàn phân công cho tiểu đoàn của ông đánh đồn Tuy Lộc nhằm thu hút viện binh của địch. Trận đánh thành công vượt mức, diệt gọn ví trí, bắt toàn bộ tù binh và chiến lợi phẩm đồng thời đơn vị chỉ có ba người thương nhẹ không phải đi bệnh viện. Vì viện binh của địch không lên giải tỏa, tiểu đoàn tiếp tục được giao nhiệm vụ đánh đồn Bến Xanh do một đại đội Âu Phi đóng giữ cách Phát Diệm 4-5km. Trận đánh đồn tiếp tục giành thắng lợi sau gần 2 giờ chiến đấu.

Sau trận Bến Xanh, ông được cử đi học chính trị khóa 7 ở Việt Bắc. Ông ra Việt Bắc chưa bước vào học thì có lệnh quay về ngay đại đoàn đang đóng quân tại Thanh Hóa giữ cương vị tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Lê Lợi thay ông Minh Vân vừa được bổ nhiệm chức vụ Trung đoàn phó tham gia chiến dịch Thượng Lào.

Sau chiến dịch, ông lại được lệnh lên Việt Bắc để kịp học khóa học chính trị khóa 8 kéo dài 3 tháng. Khóa học nằm trong đợt chỉnh quân chính trị, chuẩn bị cho cách mạng ruộng đất.

Sau đợt chỉnh quân, ông về sư đoàn và được bổ nhiệm trung đoàn phó Trung đoàn 57. Trước khi bước vào Đông Xuân 1953-1954, ông tham dự lớp tập huấn chiến thuật. Tham gia chiến dịch, Đại đoàn 304 hành quân theo đường số 6 ngược lên Mộc Châu rồi vòng về Phú Thọ. Sau khi Pháp đổ quân đánh Lai Châu, chiếm Điện Biên Phủ, Bộ quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn cùng các đại đoàn khác tiến lên Điện Biên Phủ.

Trung đoàn 57 của ông được giao nhiệm vụ chiến đấu ở Phân khu Nam tức Hồng Cúm. Quân Pháp ở đây có một trung đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, một đại đội xe tăng và một sân bay. Nhiệm vụ của trung đoàn thời kỳ đầu là ngăn chặn không cho bộ binh và xe tăng địch cơ động lên chi viện cho khu Trung tâm, đồng thời chế áp pháo binh địch, hạn chế hỏa lực địch đánh vào đội hình các đại đoàn tiến công, đặc biệt là đánh vào Đại đòan 316 là đại đoàn tiến công A1, tươn đối gần Hồng Cúm. Trung đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kiềm chế pháo binh địch, giữ vững trận địa không cho bộ binh địch có xe tăng yểm trợ vượt qua.

Trưa ngày 7 tháng 5, tại thời điểm quân Pháp ở khu Trung tâm ra hàng, cũng là lúc địch thọc ra mấy mũi chạy về phía Lào. Trung đoàn được một tiểu đoàn của Trung đoàn 9 phối hợp đã đẩy lùi hết địch quay lại căn cứ đồng thời cử đại đọi 265 vận động truy kích theo đường sang Lào.

Miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, trở về đơn vị ông được chỉ định làm trưởng ban tác chiến sư đoàn phụ trách kế hoạc cho Trung đoàn 57 vào Hà Nội, Trung đoàn 9 vào Hà Đông đồng thời tìm địa điểm ổn định cho Sư đoàn.

Năm 1955, ông được điều về Trường trung cao quân sự (sau là Học viện quân sự) là giao viên. Ông cùng tập thể của trường tham gia dịch tài liệu giảng dạy. Cuối năm 1959, Bộ chủ trương biên soạn tài liệu giảng dạy học tập Việt Nam dựa trên kinh nghiệm và thực tiễn chiến đấu trong 9 năm chống Pháp. Ông được cử làm quyền trưởng phòng khoa học quân sự.

Tháng 3 năm 1960, Bộ quyết định cử ông sang học khóa đào tạo quân sự trung cấp tại Học viện quân sự Frunze của Liên Xô cùng 11 người khác. Tháng 5 năm 1960, ông lên trường văn hóa quân đội ở Lạng Sơn để học tiếng Nga trong vòng 3 tháng để kịp sang Liên Xô đúng dịp khai giảng vào tháng 9. Sau khi về nước, ông làm Chủ nghiệm khoa Bộ binh Hệ giáo dục Quân sự Học viện Quân chính.

Trở lại Trị Thiên Huế

Năm 1965, Sư đoàn 304 lấy tên 304A lên đường vào Nam chiến đấu, Bộ quyết định thành lập Sư đoàn 304B do ông Thái Dũng (sau này là trung tướng) làm Sư đoàn trưởng, ông là Sư đoàn phó.

Đầu tháng 11 năm 1967, sư đoàn được lệnh hành quân vào chiến trường Trị Thiên Huế. Sư đoàn được giao nhiệm vụ cùng sư đoàn 325 tác chiến tại khu vực Khe Sanh, khu vực do sư đoàn đảm nhận là dọc đường 9 và khu vực phía nam. Trong dịp Tết Mậu Thân, sư đoàn có nhiệm vụ tiêu diệt chi khu Hướng Hóa, 2 tiểu đoàn quân ngụy Lào ở khu vực Tà Mây (trên đất Lào), bao vây cụm cứ điểm Làng Vân, kéo viện binh của địch ra để diệt.

Rạng sáng ngày 22 tháng 1 năm 1968, trung đoàn đã 66 của sư đoàn đã làm chủ chi khu Hướng Hóa mặc dù trước đó bị B52 đánh trúng vào đội hình hành quân. Ngày 23 và 24 tháng 1, Trung đoàn 24 được một đại đội xe tăng chi viện đã diệt xong cụm quân địch ở khu vực Tà Mây. Tiếp đó, được sự tăng cường của một tiểu đoàn bộ binh của sư 325, 2 đại đội đặc công của B5, 2 đại đội xe tăng, được cụm pháo binh của chiến dịch trực tiếp chi viện, trong đêm 7 và rạng sáng 8 tháng 2 năm 1968, sư đoàn đã tiến công và tiêu diệt gọn cụm cứ điểm Làng Vây bắt sống 400 tù binh. Nhằm kéo địch lên giải tỏa để tiêu diệt và hỗ trợ cho các cuộc tiến công trong các đô thị, sư đoàn và sư đoàn 325 được lệnh vân lấn Tà Cơn. Nhiệm vụ của sư đoàn là vây lấn từ phía Nam đồng thời để lại một lực lượng sẵn sàng đánh địch ở Khe Sanh. Cuộc vây lấn kéo dài 50 ngày đêm từ 10 tháng 2 đến 31 tháng 3 năm 1968, khiến cho Mỹ ngụy, ngày 1 tháng 4, phải đưa toàn bộ sư đoàn kỵ binh bay, một lữ đoàn quân dù ngụy lên giải tỏa cho lực lượng lính thủy đánh bộ ở Tà Cơn có nguy cơ bị tiêu diệt. Tuy nhiên, từ ngày 1 đến 25 tháng 4, lực lượng kỵ binh bay bị đánh bại phải rút chạy. Tiếp đó, bộ chỉ huy lính thủy đánh bộ địch ở quân khu 1 buộc phải vét hết lực lượng dự bị mở tiếp cuộc hành quân giải tỏa nhưng bị sư đoàn 308 đánh cho nặng nề. Từ ngày 26 tháng 6 đến 15 tháng 7, Mỹ phải lần lượt rút hết các lực lượng ở khu vực này.

Năm 1969, sư đoàn của ông phụ trách khu vực nam Khe Sanh-Đắc Nông rồi giữ vững hoạt động phía tây Trị Thiên. Năm 1970, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304B.

Giữa năm 1970, Bộ dự kiến trong mùa khô 1970-1971, với sự yểm trợ của quân Mỹ, ngụy sẽ tiến công vào vùng tự do của ta : tiên công sang Cam-pu-chia, ra biên giới 3 nước Đông Dương (thuộc Tây Nguyên), ra đường 9 Nam Lào và cũng có thể đánh ra địa bàn Khu 4. Các lực lượng của Bộ chủ yếu là binh đoàn B70 (gồm sư đoàn 304, 308, 320 và một số binh chủng kỹ thuật) có nhiệm vụ sẵn sàng đánh địch nống ra đường 9 Nam Lào hoặc nam Khu 4. Trong chiến dịch này, sư đoàn 304B (trừ Trung đoàn 24 đi xây dựng chốt chiến dịch ở khu vực cầu Cha Ki giữa Lao Bảo và Bản Đông) là lực lượng dự bị chiến dịch, cho nên ông trực tiếp tại cơ quan chỉ huy dưới quyền Tư lệnh Lê Trọng Tấn cả giai đoạn chuẩn bị và thực hành tác chiến. Ngày 23 tháng 3, đội hình địch rút hết về phía sau sau khi bị đánh thiệt hại nặng nề. Sư đoàn 304B để lại một trung đoàn phối hợp với lực lượng địa phương uy hiếp buộc quân địch phải lui hoàn toàn về vị trí xuất phát ban đầu.

Đầu năm 1972, Bộ quyết định mở chiến dịch Trị Thiên do ông Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, ông Cao Văn Khánh làm Phó Tư lệnh. Sư đoàn 304B được phân công tiến công trên hướng chủ yếu ở phía Tây. Sư đoàn đang từ nam Quảng Bình bí mật hành quân ra bắc Quảng Bình rồi từ đây hành quân thẳng vào chiến trường. Trong chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị, đợ một Sư đoàn tiêu diệt và bắt hàng trung đoàn 56 của sư đoàn 3 ngụy, diệt một tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng cơ quan chỉ huy và một tiểu đoàn khác của lữ đoàn thủy đánh bộ 147.

Năm 1973, Quân đoàn 1 được thành lập gồm các sư đoàn 308, 312, 320, Sư đoàn phòng không 367 và nhiều trung đoàn binh chủng chiến đấu, bảo đảm, ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng quân đoàn.

Chưa đầy một năm sau, khi Quân đoàn 2 được thành lập tại chiến trường Trị Thiên, ông được điều vào làm Phó Tư lệnh. Ông được Tư lệnh Quân đoàn tin tưởng và ủy thác công việc phụ trách huấn luyện quân sự.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #148 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2008, 10:37:42 pm »

Từ sông Bến Hải đến Dinh Độc Lập

Theo quyết định của Bộ, giữa năm 1974, Quân đoàn phái Sư đoàn 304 vào phối thuộc cho Khu 5 trong chiến dịch Hè Thu ở Nông Sơn-Thượng Đức. Đây là trận đầu ra quân của Quân đoàn, có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì vậy ông được cử vào tăng cường chỉ huy cho Sư đoàn không suốt thời gian chiến dịch mà từng đợt theo yêu cầu.

Trong lần tiến công Thượng Đức lần thứ 1, ông được cử vào cùng ban chỉ huy sư đoàn xây dựng kế hoạch tấn công rồi lại trở ra Quân đoàn. Tuy nhiên, đợt tất công đầu tiên này thất bại, ông lại được Quân đoàn điểu ngay vào Thượng Đức lần thứ 2 để cùng ban chỉ huy Sư đoàn tìm ra nguyên nhân, khắc phục hạn chế xây dựng kế hoạch tấn công lần 2 và lần này Trung đoàn 66 đã diệt gọn cứ điểm Thượng Đức. Sau khi đánh Thượng Đức lần 2, ông lại ra gấp Quân đoàn tiếp tục công việc xây dựng quân đoàn và làm nhiệm vụ tăng cường chỉ huy cho sư đoàn 324 tiến công địch trên hướng tây nam Thừa Thiên.

Suốt Xuân Hè bị thất bại liên tiếp, để lấy lại niềm tin cho các lực lượng chính trị, quân sự, Thiệu quyết tâm mở một cuộc phản kích lớn, giành lại một số vùng trọng điểm bị mất trong thời gian này và chọn hướng Thượng Đức. Thiệu tập trung ở đây 2 sư đoàn. Sư đoàn 304B chủ trương phòng ngự, tuy nhiên địch tiến công tiến công bài bản dưới sự chi viện tối đa của không quân và pháo binh khiến cho trận địa bị mất dần. Ông lại được Quân đoàn cấp tốc cử vào tăng cường chỉ huy. Trước khi vào, ông đề nghị Quân đoàn kịp thời tăng thêm lực lượng để bộ đội vừa đánh vừa nghỉ ngơi và có thể bám trụ chốt lâu dài, tăng cường công binh củng cố công sự và pháo cối. Sau khi vào tận nơi nắm tình hình, ông đề xuất ngay với ban chỉ huy sư đoàn phải tập huấn về phòng ngự cho các cán bộ từ tiểu đội đến tiểu đoàn. Kết quả là, địch tuy cố gắng cũng không chiếm thêm được điểm tựa nào, lại bị thương vong nhiều nên sư đoàn dù buộc phải rút về phía sau và bị sư đoàn bám gót truy kích giải phóng luôn vùng B Đại Lộc.

Cuối tháng 1 năm 1975, Bộ lệnh cho Quân đoàn cùng với quân dân Trị Thiên mở chiến dịch tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực đinh, giam chân các lực lượng quan trọng nhất là sư đoàn dù và sư đoàn lính thủy đánh bộ tại bắc quân khu 1 ngụy, đồng thời phối hợp với chiến trường chính chiếm một số địa bàn quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho bước tiếp theo của chiến dịch. Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định chọn hướng tiến công chủ yếu là hướng tây nam Huế (khu vực đường 14), tiên công dọc tả hữu sông Truồi ra đường số 1.

Đầu tháng 2 năm 1975, ông đại diện cho Quân đoàn cùng Đại tá Thanh Quảng (Phó Chính ủy Quân khu Trị Thiên) ra Bộ báo cáo kế hoạch tác chiến, đồng thời nhận nhiệm vụ trực tiếp từ Bộ. Sau đó, ông có nhiệm vụ báo cáo với Thường trực Bộ Chính trị mà cụ thể là với ông Lê Đức Thọ.

Sáng ngày 5 tháng 3 năm 1975, theo kế hoạch, Quân đoàn cùng các lực lượng vũ trang Trị Thiên đồng loạt nổ súng tiến công với chiến trường chính. Ngày 21 tháng 3, sư đoàn 324 của quân đoàn đã chiếm được đoạn đường số 1 dài hơn 20km, cắt đứt hẳn đường ôtô duy nhất giữa Huế và Đà Nẵng, uy hiếp sân bay Phú Bài. Nắm trước kế hoạch bỏ Huế vào Đà Nẵng của địch, quân đoàn cho các đơn vị pháo của mình phối hợp với pháo binh của khu Trị Thiên bắn phá cửa Thuận An, cửa Tư Hiền và các mục tiêu ven biển lân cận, tổ chức đơn vị phối hợp tiến ra phía Nam, vòng lên phía Bắc bịt chặt của Thuận An. Để chặn quân địch có thể hành quân từ Đà Nẵng ra giải tỏa, Quân đoàn 2 cho sư đoàn 325 tiếp tục tiến công giải phóng đường 1 từ chân đèo Hải Vân. Phát huy thắng lợi, đêm ngày 24 tháng 3 năm 1975, quân đoàn sử dụng trung đoàn 101 nhanh chóng chiếm Phú Bài rồi dùng một tiểu đoàn vu hồi đánh chiếm Hương Thủy. 16h chiều ngày 25 tháng 3, cờ giải phóng đã tung bay khắp thành phố Huế.

Ngày 27 tháng 3 năm 1975, ta chủ trương mở chiến dịch giải phóng Đà Nẵng. Quân đoàn 2 tổ chức cho sư đoàn 324 và phần lớn lữ đoàn xe tăng 203 tiến theo đường 14B vào Tây Bắc Đà Nẵng. Sư đoàn 304, tiến vào tây Đà Nẵng qua ngả Đại Lộc. Sư đoàn 325 tiến theo đường 1 qua đèo Hải Vân vào trung tâm thành phố. Ông được quân đoàn phân cung đi cùng và trực tiếp chỉ đạo sư đoàn 325 tiến theo đường 1, luôn trong bộ phận đi đầu trực tiếp giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình tiến quân. Sáng này 29 tháng 3, ông có mặt trong bộ phận đi đầu của sư 325, trung đoàn 18, đập tan lữ đoàn lính thủy đánh bộ địch chốt trên đèo Hải Vân. Trưa bộ phận do ông chỉ huy vượt qua cầu Nam Ô. 13h 30’, cánh quân này đã vào đén căn cứ lính thủy đánh bộ, kịp thời ngăn cản không cho tàu địch chở quân thoát ra biển, đồng thời ông kịp thời chỉ huy sư đoàn 304 đánh chiếm dọc bờ sông bên chân núi Sơn Trà.

Thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã chín muồi, ta quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh. Quân đoàn 2 được lệnh tham gia chiến dịch, tiến quân theo đường số 1 trong đội hình cánh quân Duyên hải (trước khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu đổi thành cánh quân Đông). Sáng ngày 7 tháng 4, đơn vị đi đầu của quân đoàn xuất phát. Ông cùng với ông Nguyễn Công Trang, phó Chính ủy, phụ trách lực lượng đi đầu với nhiệm vụ : trong vùng giải phóng liên hệ với các địa phương và các đơn vị bạn, bổ sung lương thực, đạn dược, xăng dầu, trên khu vực có địch thì đánh địch mở đường cho đoàn quân. Ngày 16 tháng 4, ông phụ trách bộ tự lệnh tiền phương quân đoàn chỉ huy sư đoàn 325 phối hợp với sư đoàn 3 quân khu 5 giải phóng hoàn toàn Phan Rang, bắt sống tư lệnh tiền phương quân đoàn 3 trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và tư lệnh sư đoàn 6 không quân chuẩn tưởng Nguyễn Ngọc Sang, tiếp đó đêm 20 rạng ngày 21 tháng 4, giải phóng Phan Thiết. Sau khi giải phóng Phan Thiết, theo lệnh của tướng Lê Trọng Tấn, bộ phận do ông chỉ huy cho một lực lượng đánh Hàm Tân hoàn thành việc giải phóng toàn bộ Quân khu 6.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, huớng tiến công chủ yếu của quân đoàn là hướng Nước Trong, Long Bình, sau đó theo xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn vào thẳng Quận 1. Hướng thứ yếu là hướng Long Thành, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ và vượt sông sang quận 9. Riêng sư đoàn 3 đảm nhiệm giải phóng Bà Rịa Vũng Tàu. Nhiệm vụ đầu tiên là đánh chiếm toàn bộ căn cứ địch ở tả ngạn sông Đồng Nai, nhiệm vụ tiếp theo là thọc nhanh vào Sài Gòn đánh chiếm một phần quận 1, quận 9 và quận 4. Trong quá trình chiến đấu triển khai pháo ở Nhơn Trạch để bắn sân bay Tân Sơn Nhất vào sáng ngày 29 tháng 4 và chiếm được các cầu xa lộ đảm bảo không bị địch phá trong đêm 28. Trưa ngày 30 tháng 4 lịch sử, bộ phận thọc sâu của quân đoàn là trung đoàn 66 cùng với một đơn vị của lữ đoàn 203 đã đánh chiếm được dinh Độc Lập buộc chế độ cũ ở Sài Gòn phải đầu hàng vô điều kiện.

Hòa bình và bảo vệ Tổ quốc

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước. Ông được Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm làm Phó giám đốc Học viện Quân sự cấp cao sau là Học viện Quốc phòng (tháng 4 năm 1976).

Năm 1978, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông được tướng Lê Trọng Tấn khi đó là Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy cuộc chiến gọi vào chiến trường Tây Nam để giúp ông nghiên cứu chiến thuật, mà trước mắt là ngăn chặn không cho địch dùng hỏa lực hoặc cho quân đánh phá biên giới. Cuối năm này, ông lại quay về Học viện tiếp tục công tác.

Ngày 21 tháng 2 năm 1979, sau khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra được 4 ngày, ông đang ở Học viện thì được gọi lên Bộ và đích thân Đại tướng Văn Tiến Dũng Bộ trưởng và tướng Lê Trọng Tấn Tổng tham mưu trưởng giao nhiệm vụ lên ngay mặt trận Lạng Sơn trong ngày 22 để giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn 5 kiêm Tư lệnh Mặt trận Lạng Sơn.

Tháng 2 năm 1981, ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1. Tháng 7 năm 1983, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Cục phó rồi sau đó là Cục trưởng Cục khoa học quân sự trực thuộc Bộ tổng tham mưu (6.1990). Tháng 6 năm 1995, ông về nghỉ hưu.

‘’Tướng Hoàng Đan là một tướng chiến trận. Nơi nào có cuộc chiến ác liệt nhất là có mặt tướng Hoàng Đan. Ông chiến đấu dũng cảm và chỉ huy có mưu trí. Ông đã tham gia chỉ các trận đánh nổi tiếng’’

‘’Không những là một tướng chiến trận, chỉ huy những trận đánh lớn nổi tiếng, ông còn là người chỉ huy biết nắm chắc tình hình địch ta, rất mưu trí, dũng cảm, rất nhạy bén, biết xử trí các tình huống chiến đấu, biết nắm chắc thời cơ để đánh những đòn then chốt quyết định trong các trận đánh lớn có nhiều khó khăn và giành thắng lợi lớn.

Về tính cách, ông là một người giản dị, có tác phong quần chúng, cởi mở, ai cũng quý mến, gần gũi . Ông có tinh thần đấu tranh bảo vệ chân lý. Ông không chỉ là một nhà chỉ huy tài giỏi, mà còn là một nhà lý luận quân sự xuất sắc. Ông kết hợp thực tiễn với lí luận, do đó mà có tính học thuật cao. Các cuộc tổng kết về nghệ thuật chiến dịch và chiến lược quân sự, ông thường phụ trách các phần chủ chốt của công trình’’ (Thượng tướng Giáo sư Hoàng Minh Thảo).

‘’Anh Hoàng Đan có mấy né nổi bật. Anh là một người chỉ huy có trình độ lý luận và thực tiễn, con người mưu trí và năng động, không chịu bó tay trước khó khăn, dám nghĩ, dám nói, dàm đề đạt hẳn ý kiến của mình với cấp trên và có trách nhiệm với việc làm của mình. Anh là người luôn coi trọng kết hợp giữa huấn luyện và chiến đấu, giữa xây dựng chính trị tư tưởng và tác chiến’’ (Trung tướng Nguyễn Ân).

‘’Anh cũng là một tướng tài. Anh mất hơi sớm, bỏ lại ngổn ngang công việc các tướng trước giao cho : tổng kết chiến dịch, tổng kết chiến lược giúp cho anh Quang (Thượng tướng Trần Văn Quang), anh Thảo (Thượng tướng Giáo sư Hoàng Minh Thảo) (Thiếu tướng Nguyễn Dũng Chi).


Theo Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến trang của Thiếu tướng Hoàng Đan.


Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #149 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2009, 05:00:19 pm »


Trung tướng Nguyễn Xuân Hoàng (tên thật Nguyễn Văn Bàn, 1918-1987), nguyên : Viện trưởng Viện quân sự Bộ quốc phòng, Trưởng ban B68 (đầu tiên), Phó Chính ủy Quân khu 4, Chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh, Chính ủy Học viện Quân chính, Cục trưởng Cục xuất bản Tổng cục Chính trị, Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm pu chia, Chỉ huy phó Khu Tây Bắc, Trưởng phòng Chính trị khu 9.

Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng), Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng 1974, Trung tướng 1986.


Ông quê tại xã Minh Tân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Năm 1937, ông tham gia cách mạng hoạt động ở địa phương. Năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, là Biên tập viên Báo Đảng của tỉnh Thái Bình. Từ năm 1942 đến năm 1945, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở Hoả Lò và đầy đi Côn Đảo.

Tháng 9 năm 1945, ông ra tù, tiếp tục công tác, làm nhiệm vụ đào tạo cán bộ chính trị cho Khu 9. Tháng 3 năm 1946, ông tham gia xây dựng khu căn cứ An Liêm-Minh-Lương. Từ năm 1946 đến năm 1947, ông phụ trách tờ báo của Khu 9. Tháng 9 năm 1948, ông là Trưởng phòng Chính trị Khu 9. Từ tháng 6 năm 1950 đến tháng 7 năm 1954, ông là Trưởng phòng Chính trị, Chỉ huy phó Khu Tây Bắc, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm-pu-Chia.

Tháng 7 năm 1955, ông là Phó cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Tháng 7 năm 1956, ông là Phó giám đốc Trường Chính trị Trung cao Quân đội. Tháng 6 năm 1959, ông là Chính uỷ Binh chủng Pháo binh.

Từ tháng 4 năm 1961 đến tháng 4 năm 1966, ông là Tổng biên tập Tạp chí “Quân đội nhân dân”. Cục trưởng Cục Xuất bản Tổng cục Chính trị, Chính uỷ Học viện Quân chính, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Pháo binh. Từ tháng 5 năm 1966 đến tháng 6 năm 1969, ông là Phó chính uỷ Quân khu 4, kiêm Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Mặt trận B5 Bắc Quảng Trị. Tháng 7 năm 1969, ông là Phó viện trưởng Viện Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng. Năm 1970, ông kiêm Phó trưởng ban Công tác miền Tây (CP-38).

Năm 1978, ông là Trưởng ban B68, giúp cách mạng Căm-Pu-Chia. Tháng 3 năm 1979, ông là Phó viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao. Từ tháng 8 năm 1981 đến năm 1983, ông là Viện trưởng Viện Lịch sử Bộ Quốc phòng.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2011, 02:16:17 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM