Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:22:36 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884157 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #200 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2009, 01:28:22 am »


Trung tướng Nguyễn Huy Chương (bí danh : Kim Anh, 10.10.1926-2004) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu 5, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Kỉ niệm chương Chiến sĩ Cách mạng bị bắt và tù đày.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1986).


Trung tướng Nguyễn Huy Chương quê tại làng Hương Quế, xã Quế Phù, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Ông tham gia Cách mạng từ tháng 1 năm 1941 trong phong trào thanh niên dân chủ tại quê nhà. Ngày 1 tháng 5 năm 1941, ông được kết nạp vào Đoàn thanh niên phản đế. Tháng 3 năm 1942, bị Pháp bắt và giam tại nhà lao Hội An. Tháng 12 năm 1942, ra tù ông bắt liên lạc với ông Võ Chí Công (Bí thư), ông Nguyễn Sắc Kim (Phó bí thư) tiếp tục hoạt động. Sau đó, địch khủng bố, phong trào bị vỡ. Tháng 3 năm 1945, ông liên lạc với các ông ở tù ra, hoạt động trở lại. Tháng 7 năm 1945, ông được cử vào Ban vận động của chính quyền làng Hương Quế, huyện Quế Sơn. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở huyện Quế Sơn và được nhân dân cử làm Chủ tịch làng Hương Quế.
          
Tháng 10 năm 1945, ông cùng ông Nguyễn Quế, Nguyễn Cường tổ chức thành lập chi bộ Đảng làng Hương Quế. Tháng 3 năm 1946, hợp nhất xã Quế Phú với xã Liên Hoan, ông là Phó bí thư chi bộ, uỷ viên uỷ ban, kiêm Trưởng ban tự vệ xã.

Tháng 3 năm 1947, ông được điều về huyện Quế Sơn, là Chính trị viên Đại đội biệt động huyện Quế Sơn, Bí thư chi bộ ; Năm 1948, được cử đi học lớp võ trang tuyên truyền sau đó về xây dựng cơ sở ở Tây Nguyên ; 3.1949, được điều về Trung đoàn 120 Bắc Tây Nguyên; 1.1954, Trưởng tiểu ban Địch vận của Trung đoàn 120 ; 7.1954, Phó chính trị viên Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 120.

Tháng 1 năm 1954, ông tập kết ra Bắc là Phó chính trị viên Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 120 ; 1.1958, học lớp trung cao cấp ở Học viện Chính trị của Tổng cục Chính trị ; 2.1959, tốt nghiệp Học viện Chính trị được điều về trường Đặc công Quân khu 4, huấn luyện học viên chuẩn bị đưa về miền Nam ; 10.1961, Phó chính uỷ kiêm Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 1 Lữ đoàn 338.

Tháng 12 năm 1962, ông được điều vào miền Nam chiến đâu là Phó chính uỷ Trung đoàn 2 Quân khu 5 ; 1.1964, Chính trị viên Tiểu đoàn Đặc công ; 8.1965, Chính trị viên tỉnh đội Quảng Ngãi, Thường vụ tỉnh uỷ Quảng Ngãi, Bí thư ban cán sự tỉnh đội ; 2.1968, Phó chính uỷ Sư đoàn 2 ; 7.1968, Bí thư Đảng uỷ Sư đoàn 2 ; 5.1972, Chính uỷ Sư đoàn 711 kiêm Bí thư Đảng uỷ Sư đoàn ; 6.1973, Chính uỷ Sư đoàn 2 kiêm Bí thư Đảng uỷ Sư đoàn.

Tháng 11  năm 1975, ông được cử giữ chức vụ Chính uỷ Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng, Bí thư Đảng ủy ; 1.1978, học tại  Học viện Quân sự cấp cao ; 2.1979, Phó chính uỷ Quân khu 5, Phó bí thư Quân khu uỷ. Năm 1984, ông là Phó tư lệnh chính trị Quân khu 5. Năm 1986, ông là Bí thư Quân khu uỷ Quân khu 5, Uỷ viên Trung ương Đảng khoá VI. Trung tướng Nguyễn Huy Chương nghỉ hưu năm 1995 và mất tại thành phố Đà Nẵng.  

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2011, 02:51:40 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #201 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2009, 09:42:20 pm »


Thiếu tướng Đinh Đình Sành (18.03.1926-26.12.1998) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không kiêm Cục trưởng Cục Phòng không dã chiến.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1984).


Thiếu tướng Đinh Đình Sành quê tại xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền tại địa phương là thanh niên cứu quốc rồi vào tự vệ xã, là xã đội trưởng du kích xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Tháng 10 năm 1948, ông nhập ngũ trưởng thành từ chiến sĩ, tiểu đội phó rồi tiểu đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 450 của Liên khu 5. Sau đó, ông chuyển sang làm Tiểu đội trưởng rồi Trung đội phó Tiểu đoàn 166 Trung đoàn 219 ; 4.1950, Trung đội phó Đại đội 290 Tiểu đoàn 166 Trung đoàn 209 Sông Lô Anh hùng, Chi ủy viên Đại đội ; 10.1952, Trung đội trưởng Đại đội 606 Trung đoàn 259 Sư đoàn 312 ; 4.1953, Đại đội phó Đại đội trưởng Tiểu đoàn 166 Trung đoàn 219 ; 5.1954, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 54 ; 6.1954, được cử đi học lớp bổ túc Quân sự Trung cao cấp Bắc Sơn do Bộ Quốc phòng tổ chức.

Tháng 11 năm 1956, ông được bổ nhiệm là Trung đoàn phó Trung đoàn 209 ; 7.1957, sang làm Tham mưu trưởng Trung đoàn pháo cao xạ 224 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 9.1958, theo học Trường sĩ quan Pháo binh ; 10.1959, Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo cao xạ 218 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 12.1961, được cử đi học tại Học viện Pháo binh Trung Quốc.

Sau khi về nước, tháng 12 năm 1963 ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo cao xạ 224 Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1965, phụ trách cụm tiền phương Phòng không cơ động 1, 2, 3 ; 1.1966, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 236 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1966, Phó Tư lệnh, Đảng ủy viên Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1967, Phó Tư lệnh, Đảng ủy viên Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1968, Phó Tư lệnh, Đảng ủy viên Sư đoàn Phòng không 377 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Phó Tư lệnh, Đảng ủy viên Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1971, Tư lệnh, Đảng ủy viên Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1973, Tư lệnh, Đảng ủy viên Sư đoàn Phòng không 367, Quân đoàn 1 ; 4.1974, được cử đi học tại Học viện Quân sự Bộ Tổng tham mưu Liên Xô Vô-rô-si-lốp ; sau khi về nước tháng 4 năm 1975 ông là Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên.

Tháng 9 năm 1977, ông được cử giữ chức vụ Phó Ban thanh tra Quân chủng Phòng không ; 8.1979, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không kiêm Cục trưởng Cục Phòng không dã chiến cho đến khi về hưu tháng 11 năm 1987. Thiếu tướng Đinh Đình Sành mất ngày 26 tháng 12 năm 1998 tại Hà Nội.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #202 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2009, 10:05:26 pm »


Thiếu tướng Đinh Phúc Hải (tên thật : Đinh Duy Viên, 09.1925-26.10.1997) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh về Chính trị phụ trách công tác cán bộ Quân chủng Phòng không.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.


Thiếu tướng Đinh Phúc Hải quê tại xã Vạn Kim (Bắc Sơn cũ), huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Ông tham gia Cách mạng tháng 8 năm 1945, là cán bộ Việt Minh phụ trách thiếu nhi xã Vạn Kim, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây (cũ).

Tháng 8 năm 1946, ông nhập ngũ được cử đi học Trường Quân chính Lê Lợi, sau đó là cán bộ dân quân huyện Mỹ Đức ; 3.1947, chuyển sang bộ đội chủ lực là chiến sĩ rồi Tiểu đội phó quản trị Đại đội 10 Tiểu đoàn 103 Trung đoàn Thủ đô (E102) ; 7.1949, tiểu đội trưởng, trung đội phó rồi trung đội trưởng thông tin Đại đội 10 Tiểu đoàn 54 Trunng đoàn 102 Sư đoàn 308 ; 9.1950, cán sự chính trị, chính trị viên phó Đại đội 273 Tiểu đoàn 54 Trung đoàn 102 Đại đoàn Quân tiên phong (F308) ; 9.1951, được cử đi học Trường Lục quân Khóa 7 ; 1.1953, tiếp tục được cử đi học Pháo cao xạ 37 mm tại Trung Quốc ; 7.1953, Chính trị viên phó Đại đội 381 Tiểu đoàn 396 Trung đoàn Pháo phòng không 367 Đại đoàn Pháo binh 351 tham gia Chiến dịch Đông Xuân, Điện Biên Phủ (1953-1954) ; 9.1954, phái viên Ban chính trị Đại đoàn Pháo phòng không 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 2 năm 1955, ông được cử giữ chức vụ Chính trị viện Tiểu đoàn Pháo cao xạ 381 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 7.1957, Chính trị viên phó Tiểu đoàn cao xạ 14 Sư đoàn 305 ; 9.1959, được cử đi học tại Trường trung cao Quân sự ; 10.1960, Chính ủy Ban Hậu cần Sư đoàn 305.

Tháng 5 năm 1967, Chính ủy Trung đoàn pháo Phòng không 213 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1968, Chính ủy Trung đoàn Têl lửa Phòng không 236 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Phó Chủ nhiệm Chính trị rồi Chủ nhiệm Chính trị (12.1970) Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân, tham gia Chiến dịch Trị Thiên 1972 ; 6.1972, Phó Chính ủy Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 12.1973, Chính ủy Sư đoàn Phòng không 363, Đảng ủy viên Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 3 năm 1978, ông được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao ; 4.1979, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Quân chủng ; 8.1980, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 12.1983, Phó Tư lệnh về Chính trị phụ trách công tác cán bộ Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng cho đến khi về hưu tháng 7 năm 1989.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #203 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2009, 11:08:23 pm »


Thiếu tướng Dương Hán (tên thật : Nguyễn Dương Hán, 21.07.1924) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục nhà trường Bộ Tổng tham mưu, Hiệu trưởng Trường sĩ quan Phòng không, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân, quyền Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không.

Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy chương Vì sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo.


Thiếu tướng Dương Hán quê tại thôn Dương Húc, xã Đại Đồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông tham gia cuộc bãi khóa trường EPSI tại thị xã Hưng Yên rồi tham gia vào Đội xung phong tuyên truyền Việt Minh thị xã Hưng Yên. Trở về quê, tháng 6 năm 1945 ông tham gia vào Ủy ban Việt Minh xã Đại Đồng (tổng Thượng Vũ), huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh rồi được cử làm xã đội trưởng phụ trách thanh niên và dân quân tự vệ chiến đấu chuẩn bị tổng khởi nghĩa ở tỉnh Bắc Ninh tham gia thành lập và huấn luyện trung đội dân quân xã. Ngày 20 tháng 8 năm 1945, tham gia giành chính quyền ở tỉnh Bắc Ninh rồi nhập ngũ làm Đại đội phó Vệ quốc đoàn (Chi đội Bắc Giang) ở Chũ, Lục Nam cho đến tháng 12 năm 1945 là Phó Ban chỉ huy chi đội Bắc Giang, phụ trách công tác hậu cần làm quản lý Chi đội.

Tháng 9 năm 1946, trước yêu cầu mới của Cách mạng, ông được cử đi học Trường Quân chính Bắc Sơn ; 12.1946, Đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Vệ binh Bộ Tổng tham mưu, Chính trị viên Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 147 Vệ binh Bộ Quốc phòng, bảo vệ Bộ Tổng tham mưu và các cơ quan Trung ương Đảng và Bác Hồ rút khỏi Hà Nội ; 8.1947, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 147 Vệ binh Bộ Quốc phòng ; 4.1949, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 (Tiểu đoàn 42 Bình Ca) Trung đoàn 17 (Trung đoàn 147) ; 7.1949, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 18 (Tiểu đoàn 42 Bình Ca) Trung đoàn 102 (Thủ đô) Đại đoàn Quân tiên phong (F308) ; 3.1951, được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Trường Quân chính Đại đoàn 308 ; 6.1952, Trưởng Ban Tác chiến Đại đoàn Quân tiên phong ; 9.1954, được cử đi học tại Trường Cao xạ Thẩm Dương, Đông Bắc, Trung Quốc.

Sau khi về nước, tháng 3 năm 1955 ông phụ trách khối giáo viên cao xạ 88 mm, tham gia chuyển binh chủng Đại đoàn pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh pháo binh ở Vai Cầy, Thái Nguyên ; 12.1955, Trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo cao xạ 685 Đại đoàn pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 1.1957, Tham mưu phó Đại đoàn pháo cao xạ 367 ; 3.1958, Tham mưu phó quyền Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không ; 6.1961, được cử đi học tại Trường Văn hóa Quân đội ở Lạng Sơn, học bổ túc trung học phổ thông và học tiếng Nga ; 8.1963, sang học tại Học viện Phòng không Ka-li-nin của Liên Xô/

Sau khi về nước, tháng 10 năm 1964 ông là Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1965, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 11.1966, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 7.1967, Phụ trách Tư lệnh rồi Tư lệnh (12.1967) Bộ Tư lệnh Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1970, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1974, Hiệu trưởng Trường sĩ quan Phòng không, Quân chủng Phòng không Không quân rồi Quân chủng Phòng không (5.1977) ; 12.1979, Cục trưởng Cục nhà trường Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu tháng 11 năm 1989.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #204 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 12:18:03 am »


Thiếu tướng Lê Đình Số (bí danh : Hùng Thao, 05.1926-) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục cán bộ Bộ Quốc phòng, Phó Chính ủy Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1984).


Thiếu tướng Lê Đình Số quê tại xã Thái Tân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia tự vệ địa phương (khu Đ huyện Thái Ninh cũ). Tháng 1 năm 1946, ông nhập ngũ là chiến sĩ, tiểu đội trưởng rồi trung đội trưởng cảnh vệ Thái Bình ; 12.1948, cán sự đặc phái viên tỉnh ủy Thái Bình, hoạt động vũ trang cơ sở đảo Cái Bàn (Vân Hải) vùng địch kiểm soát nay là huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh ; 9.1949, huyện ủy viên huyện Thụy Anh, cán bộ thi đua tỉnh Thái Bình ; 1.1950, chính trị viên Đại đội 4 địa phương tỉnh Thái Bình ; 6.1951, chính trị viên phó Tiểu đoàn địa phương tỉnh Thái Bình sau phụ trách chính trị viên Tiểu đoàn 670 Trung đoàn 50 Khu Tả Ngạn ; 9.1952, Phó Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 50, Trung đoàn 49 ; 7.1954, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 45 Đại đoàn Pháo binh 351.

Tháng 1 năm 1955, ông được cử giữ chức vụ Trưởng ban Tổ chức và Cán bộ Sư đòan 45 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 8.1956, công tác quân sự tại Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc ; 10.1960, Phó Phòng Cán bộ Chính trị Cục cán bộ ; 1962, được cử đi học Chính trị trung cao ; 1963, phó Phòng Cán bộ Chính trị Cục Cán bộ.

Tháng 8 năm 1965, ông được cử giữ chức vụ Phó phòng Điều động – Đề bạt Cục Cán bộ ; 7.1966, chuyển sang làm Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính ủy (2.1968) Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn ; 5.1969, tiếp tục giữ chức vụ Cục phó Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng.

Năm 1979, ông được cử đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 4.1980, Cục trưởng Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng ; 12.1983, Cục trưởng Cục Cán bộ Chính trị Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng ; 1986, sau khi hợp nhất hai Cục, ông giữ chức vụ Cục phó Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu tháng 9 năm 1991. Thiếu tướng Lê Đình Số hiện sống tại Hà Nội.




« Sửa lần cuối: 23 Tháng Sáu, 2009, 09:44:13 am gửi bởi DepTraiDeu » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #205 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 12:46:07 am »


Thiếu tướng Phó Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Kỹ thuật Hồ Thanh Minh (bí danh: Thanh, 15.05.1933) từng giữ các chức vụ: Cục phó Cục Quản lý Khoa học Công nghệ và Môi trường, Cục trưởng Cục quản lý Khoa học Kỹ thuật Quân sự Tổng cục Kỹ thuật, Phó Tư lệnh-Chủ nhiệm Hậu cần Quân chủng Không quân, Cục phó Cục Kỹ thuật  Quân chủng Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học Công nghệ  và Môi trường, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1992).


Thiếu tướng Hồ Thanh Minh quê tại xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông nhập ngũ ngày 30 tháng 4 năm 1948 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 1 tháng 1 năm 1955 (chính thức ngày 2 tháng 9 năm 1955).

Tháng 8 năm 1947, ông làm lien lạc cho Huyện ủy, huyện đội Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; 4.1948, nhập ngũ là chiến sĩ liên lạc huyện đội Bố Trạch; 3.1951, được cử đi học Quân chính Liên khu 4; 9.1952, trưởng thành từ tiểu đội phó đến trung đội trưởng thuộc Đại đội 57 Tiểu đoàn 326 Trung đoàn 18.

Tháng 6 năm 1955, ông theo học tại Trường Văn hóa Kiến An; 9.1956, học đào tạo kỹ sư Không quân tại Học viện Kỹ thuật Không quân Giu-cốp-xki của Liên Xô; 10.1963, đại đội trưởng sau đó là tiểu đoàn phó kỹ thuật Trung đoàn Không quân 921.

Tháng 10 năm 1967, ông đi làm nghiên cứu sinh về động cơ máy bay tại Học viện Kỹ thuật Không quân Giu-cốp-xki; 3.1971, Trợ lý kỹ thuật, Phó phòng Máy bay, Phó phòng Nghiên cứu Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân; 6.1977, Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Không quân.

Tháng 11 năm 1983, ông là Phó Tư lệnh kiêm Chủ nhiệm Hậu cần (cho đến 10.1988 thì thôi kiêm Chủ nhiệm) Quân chủng Không quân; 5.1989, Cục trưởng Cục Quản lý Khoa học Kỹ thuật Quân sự Tổng cục Kỹ thuật; 1.1993, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khoa học Côgn nghệ và Môi trường cho đến khi nghỉ hưu (7.1999).




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #206 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 01:07:46 am »


Thiếu tướng Anh hung Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Hồng Nhị (bí danh: Hồng Việt, Trường Sơn; 22.12.1936) từng giữ các chức vụ: Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, 8 Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Phi công trực tiếp chiến đấu, bắn rơi 8 máy bay Mỹ. Khi tuyên dương Anh hung ông là Đại úy, Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921 Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân.

Thiếu tướng (12.1985).


Thiếu tướng Nguyễn Hồng Nhị quê tại xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Tháng 5 năm 1952, ông là chiến sĩ Đại đội 104 Phòng Tham mưu Liên khu 5; 7.1953, chiến sĩ Đại đội 2 Tiểu đoàn 365 Trung đoàn 803 Liên khu 5; 1.1954, chiến sĩ, tiểu đội phó rồi tiểu đội trưởng thuộc Đại đoàn 324.

Tháng 3 năm 1960, ông được cử đi học tại Trường sĩ quan Lục quân; 3.1961, tiểu đội trưởng Đại đội 2 Tiểu đoàn 95 Trung đoàn Không quân 910; 10.1961, được cử đi học lái máy bay Mig 21 tại Trường Không quân Liên Xô.

Sau khi về nước tháng 11 năm 1964, ông là sĩ quan lái máy bay, Trung đội trưởng lái máy bay Trung đoàn Không quân 921 Quân chủng Phòng không Không quân; 8.1965; đại đội phó, đại đội trưởng Trung đoàn Không quân 921; 10.1968, Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921; 1.1972, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 927 Bộ Tư lệnh Không quân Quân chủng Phòng không Không quân; 1973, đi học bổ túc tham mưu chỉ huy tại Học viện Không quân Liên Xô; 3.1975, được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tư lệnh Sư đoàn Không quân 371 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1976, ông là Tư lệnh Sư đoàn Không quân 372 Quân chủng Phòng không Không quân cho đến tháng 8 năm 1978 được cử đi học tại Học viện Chính trị cấp cao; 3.1979, Tư lệnh Sư đoàn Không quân 372 Quân chủng Không quân; 7.1980, đi học bay chuyển loại Su 22 tại Liên Xô đến hết tháng 11 năm 1980; 8.1982, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370 Quân chủng Không quân; 2.1987, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân; 4.1988, Tổng cục phó Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam cho đến tháng 10 năm 1990 là Tổng Cục trưởng kiêm Tổng Giám đốc Tổng công ty Hàng không Việt Nam; 1993, Tổng Giám đốc, Củ tịch Hội đồng quản trị, Cục trưởng Cục Hàng không dân dụng Việt Nam. Thiếu tướng Nguyễn Hồng Nhị nghỉ hưu tháng 5 năm 1998 tại thành phố Hồ Chí Minh.





Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #207 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 01:29:04 am »


Thiếu tướng Ngô Huynh (bí danh: Kim Anh, 06.12.1934 – 10.02.1999) từng giữ các chức vụ: Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Hiệu trưởng Trường sĩ quan Phòng không kiêm Phó Bí thư Đảng ủy nhà trường.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (8.1990).


Thiếu tướng Ngô Huynh quê tại xã Hưng Phú, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Tháng 3 năm 1949, ông làm liên lạc cho thôn đội, xã đội Hưng Phú, tham gia dạy bình dân học vụ; 12.1953, nhập ngũ là chiến sĩ đoàn 44 Đại đội 71 Tiểu đoàn 417 Trung đoàn 154 Công binh; 7.1954, chiến sĩ vần vụ liên lạc Trung đoàn 154.

Tháng 12 năm 1955, ông là chiến sĩ thông tin thu phát Trung đoàn 151 Cục Công binh; 12.1957, văn thư kiêm Quân kí viên Đại đội 1 Trung đoàn 151 Cục Công binh; 6.1958, được cử đi học Trường Văn hóa Cục Công binh; 1.1959, theo học Trường sĩ quan Công binh; 10.1959, tiếp tục học tại Trường Văn hóa Công Nông Trung ương; 10.1960, theo học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội chuyên ngành Vô tuyến điện; 6.1964, học tiếng Nga tại Trường Văn hóa Lạng Sơn; 10.1964, đi thực tập tại xưởng Thông tin Bộ Tổng Tham mưu.

Tháng 5 năm 1965, ông là Đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 81 Trung đoàn tên lửa 238 Quân chủng Phòng không Không quân, cơ động chiến đấu vào chiến trường Quân khu 4, tham gia phục kích đánh máy bay B52 thuộc Mặt trận B5; 3.1968, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 81 Trung đoàn Tên lửa 238 Sư đoàn Phòng không 375 Quân chủng Phòng không Không quân; 10.1968, quyền Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 83 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 238, Trung đoàn Tên lửa Phòng không 237 (12.1970), Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân; 8.1971, Trợ lý tác chiến Phòng Tham mưu Sư đoàn Phòng không 363; 10.1971, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không 238 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 9 năm 1975, ông đi học bổ tục chỉ huy Phòng không ở Học viện Phòng không quốc gia Liên Xô; 3.1976, phụ trách Tham mưu phó, Tham mưu phó Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân; 6.1977, Tham mưu phó Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không; 5.1978, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không; 9.1980, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao; 9.1981, quyền Sư đoàn trưởng, Sư đoàn phó, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 363, Phó bí thư Đảng ủy Sư đoàn (12.1983); 8.1986, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không, phó Bí thư Đảng ủy Sư đoàn; 1.1988, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Bộ Tham mưu; 5.1989, được cử giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường sĩ quan Phòng không, Phó Bí thư Đảng ủy nhà trường; 5.1991, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân chủng; 2.1992, học bổ túc chương trình A Học viện Chính trị Quân sự; 12.1993, Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Ủy viên thường vụ Đảng ủy, phó Bí thư Đảng ủy Quân chủng cho đến khi mất ngày 10 tháng 2 năm 1999.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2011, 02:53:45 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #208 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 01:48:23 am »


Thiếu tướng Vũ Ngọc Diệp (05.09.1938) từng giữ các chức vụ: phó Chánh thanh tra Bộ Quốc phòng, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không.

Huân chương Quân công hạng Ba, Huy chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp xây dựng tổ chức Công đoàn, Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng Phụ nữ, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (10.1994).


Thiếu tướng Vũ Ngọc Diệp quê tại thôn Bái Dương, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Tháng 12 năm 1953, ông tham gia thanh niên xung phong thuộc Đội 38 Đại đội 279; 2.1954, nhập ngũ là chiến sĩ Trung đoàn 77 rồi Đại đội 223 Tiểu đoàn 29 Trung đoàn 88 Đại đoàn Quân tiên phong  tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Tháng 4 năm 1955, ông được cử đi học trắc thủ Ra-đa RZ-II Đại đoàn Phòng không 367; 10.1958, kỹ thuật viên Ra-đa Trung đoàn pháo cao xạ 230 Bộ Tư lệnh Phòng không; 3.1960, giáo viên Ra-đa Trường tập huấn Bộ Tư lệnh Phòng không; 7.1963, trợ lý Trung đoàn 228B Bộ Tư lệnh Phòng không (từ 22 tháng 10 năm 1963 là Quân chủng Phòng không Không quân).

Tháng 5 năm 1965, ông là Đại đội phó, Đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 61 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 Quân chủng Phòng không Không quân; 7.1967, giáo viên Kỹ thuật Tên lửa Tiểu đoàn 5, Phó ban rồi Trưởng ban binh khí Tên lửa Khoa Tên lửa Trường sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không Không quân; 6.1972, quyền Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 168 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 276 Quân chủng Phòng không Không quân; được cử đi học chuyển loại tên lửa ở Liên Xô; 4.1973, Tham mưu phó Trung đoàn Tên lửa Phòng không 276 Sư đoàn 361 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1977, ông là Trợ lý Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không; 8.1977, Trưởng Ban Kế hoạch Phòng Tham mưu Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không; 3.1978, Trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa Phòng không 276 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không; 8.1978, theo học tiếng Nga tại Trường Văn hóa Quân đội; 8.1979, Trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 276 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không; 8.1980, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không; 10.1982, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Tên lửa Phòng không 236 Sư đoàn Phòng không 361, Quân chủng Phòng không; 9.1983, đi học bổ túc lớp Trung đoàn Tên lửa Phòng không Trường Sĩ quan Tên lửa Ra-đa Quân chủng Phòng không; 11.1984, Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không; 12.1987, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không; 3.1989, đi học bổ túc tại Liên Xô; 4.1989, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không cho đến 9.1993 thôi kiêm Tham mưu trưởng; 2.1996, ông chuyển sang làm Phó Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng cho đến khi về hưu ngày 1 tháng 5 năm 2002.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
pallmall
Thành viên
*
Bài viết: 19


« Trả lời #209 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 02:31:27 am »

Bác panphilov có tài liệu về tiểu sử của Thiếu tướng Đặng Quang Long ở quân khu 7 kô  ah? nếu có bác pót cho e đọc với nhé .
Cám ơn bác trước !
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM