Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:59:56 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến (линкор - tàu chủ lực, tàu bọc thép) và tàu sân bay  (Đọc 270770 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2010, 07:04:25 pm »

LỜI MỞ ĐẦU

Tàu chiến (линкор – tàu chủ lực, tàu thiết giáp) và tàu sân bay – không chỉ là những tàu lớn và mạnh nhất trong bất kỳ hạm đội nào. Chúng tượng trưng cho sức mạnh về Hải quân của Quốc gia, như biểu tượng của danh dự và sự giàu có. Trong quyển sách này, tác giả sẽ tìm tập hợp của nhiều tàu khác nhau, có những sự khác biệt nhất về kích thước và tính năng tác chiến, - từ tàu bọc thép phòng thủ bờ biển của Đông Phổ giữa thế kỷ XIX cho đến tàu sân bay nguyên tử “Enterprise” của Mỹ.

Nhưng tất cả những con tàu được giới thiệu trong cuốn sách đều có một đặc điểm chung: chúng đều là tàu chiến. Sự hoàn thiện về kỹ thuật đảm bảo sự vượt trội của một tàu chiến so với những tàu khác trong trận đánh, trở thành động lực cơ bản trong việc phát triển thiết kế tàu. Sự phát triển, được bắt đầu trong những năm 50 của thế kỷ trước bởi thiết bị máy hơi nước trong những thân bằng gỗ có ba boong của tàu chiến, như tàu “Bretagne” của Pháp, sau 40 năm đã thiết kế được tàu chủ lực (kỳ hạm). Tàu chủ lực mạnh nhất trong Chiến tranh Thế giới thứ hai là tàu bọc thép “Yamato”, chỉ một trong ba tháp pháo chính của tàu cũng đã nặng hơn toàn bộ tàu “Bretagne.

Các tàu tương tự như “Yamato” được thiết kế nhằm thống trị đại dương. Tuy nhiên, cũng có thể nói rằng, các kỳ hạm trước kia cũng không quá thua kém so với các tàu trên về kích thước. Sau đó, thuật ngữ “tàu bọc thép” (“tàu chủ lực”, “kỳ hạm”) có nghĩa là lớn nhất, được trang bị toàn bị những loại vũ khí và thiết bị bảo vệ tàu tốt nhất trong thời gian đó – hoặc là về buồm của “Arch Royal” (thế kỷ XVII) hoặc tàu bọc thép  “Stonewall” của Liên minh miền Nam.

Tính kế thừa logic của sự phát triển về thiết kế có thể nghiên cứu trong lịch sử của các con tàu được viết trong quyển sách này. Ví dụ như tàu bọc thép “Agincourt” được đóng năm 1862, toàn bộ thành tàu được trang bị pháo, - như là “Arch Royal” được đóng sau đó 300 năm. Trên “Agincourt” có máy hơi nước, nhưng nó chỉ được sử dụng khi ở bến cảng, còn trên biển, cũng như các tàu thế hệ trước, hoạt động bằng buồm. Sự bọc thép của tàu được biết đến là những tấm sắt, được lắp trên những tấm gỗ lót dày trên thành tàu, trở thành “tàu chiến bọc thép” theo đúng nghĩa đen của từ này. Tuy nhiên, cũng như hàng loạt tàu chiến khác trong thời gian này, “Agincourt” cũng được trang bị pháo rãnh xoắn, nạp đạn từ phía sau. Loại pháo này có độ chính xác và tầm bắn lớn hơn rất nhiều so với loại pháo nòng trơn nạp đạn từ miệng súng (súng thần công). Được phát minh tại Pháp năm 1840, loại đạn này đã thể hiện sức công phá của nó lần đầu tiên vào năm 1853, trong trận Sinop.


Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #1 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2010, 12:37:32 am »

Tóm lại, pháo đại bác đã trở nên hiệu quả hơn, còn các loại đạn của chúng cũng có sức công phá lớn hơn. Bước tiếp theo sẽ phải là tăng khả năng phòng thủ cho tàu. Năm 1859, trên tàu chiến “Gluar” của Pháp đã xuất hiện vành đai bằng sắt, được bắt đầu từ dưới rãnh mớn nước, kéo dài đến boong trên và bố trí một cách trực tiếp trên 650mm (25,6 inch) trên thân tàu bằng gỗ. Nhưng gỗ vẫn là vật liệu chính của tàu như trước đó. Đúng một năm sau đó, Anh đã hạ thủy “Warrior” – tàu chiến đầu tiên trên thế giới với thân tàu bằng sắt. Tàu được trang bị 4 pháo rãnh xoắn 110 funt và pháo 68 funt nòng trơn; những khẩu pháo này đã giúp cho “Warrior” trở thành tàu chiến mạnh nhất trong thời kỳ đó nhưng không duy trì được lâu.

Sỹ quan Hải quân Hoàng gia Cooper Cloes vào năm 1861 đã báo cáo cho Bộ Tư lệnh Hải quân, rằng tàu được thiết kế cho họ rẻ hơn “Warrior” hai lần và với số lượng thủy thủ đoàn ít gấp đôi, trong khoảng thời gia một giờ có thể đè bẹp được sự đề kháng của “Warrior” và bắt nó phải đầu hàng. Sự bí mật của con tàu này là việc bố trí vũ khí trên tháp pháo. Những người đứng đầu Bộ Tư lệnh Hải quân đã quyết định tiếp nhận đề nghị này của Cloes. Năm 1864 tàu bọc thép “Hoàng tử Albert” đã được hạ thủy, đã chứng minh một cách rõ ràng hiệu quả của tháp pháo – chúng cho phép nã đạn vào mục tiêu một cách nhanh chóng hơn so với các tàu trang bị pháo hai bên thành.

Tuy nhiên tàu bọc thép mới không thể so sánh được với “Warrior” về khả năng di trên biển, bởi vì nó chỉ được trang bị buồm nhẹ hơn, còn bộ máy hơi nước là không đủ mạnh cho còn tàu rất lớn được bọc thép. Mỗi tháp pháo bọc thép của con tàu có khối lượng 112 tấn và được quay bằng tay.

Từ chối thừa nhận sự thất bại của mình (không công nhận), Cooper Cloes một lần nữa thí nghiệm chứng minh sức sống và khả năng di chuyển trên biển của các tàu trang bị tháp pháo. Năm 1869, thiết kế mang tên “Captain” của ông được đóng. Tàu được trang bị hoàn toàn bằng buồm; để cột buồm không cản trở sự tác xạ, tháp pháo được bố trí gần như trên sát mặt nước. Thiết kế này đã không đem lại thành công. “Captain” đã lật nhào ngay trong cơn bão khi đang trong quá trình thử nghiệm, mang theo một bộ phận lớn thủy thủ và ngay chính đại úy Cooper Cloes.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #2 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2010, 08:08:04 pm »

SỰ THẮNG LỢI CỦA DÒNG TÀU TRANG BỊ THÁP PHÁO

Đến gần những năm 1870, các tàu bọc thép có tháp pháo đã thể hiện được sức mạnh của chúng. Năm 1862, trong thời gian nội chiến ở Mỹ, tàu bọc thép của quân miền Bắc “Monitor”đã dành chiến thắng trước tàu bọc thép của liên minh miền Nam “Marrymark”. Đây là trận đánh đầu tiên giữa các tàu chạy buồm được bọc thép hoàn toàn. Trận đánh diễn ra ở khu vực nước nông, còn tàu “Monitor” về sau này khi ra biển khơi, số phận của nó cũng như “Captain”, nó bị đắm gần vùng đất mũi Hatteras. Có vẻ như là số phận của các tàu tương tự vĩnh viễn chỉ dừng lại ở chức năng phòng thủ bờ biển và hoạt động trên các khu vực nước nông.

Tuy nhiên, tất cả những điều không thành công này không làm nản lòng các nhà đóng tàu, bởi vì sự ưu việt của máy hơi nước, những tấm thép và vũ khí lớn; việc lắp ghép chính xác các mối tương quan giữa những nguyên tố này chỉ là câu hỏi của thời gian. Các tàu chiến phải được bọc thép tốt để chống lại hỏa lực của đối phương, thân tàu đủ lớn, đển lắp máy, có khả năng tăng cường cho khối hình thù to lớn di chuyển với tốc độ cần thiết, và hỏa lực mạnh, vượt trội sơ với sức mạnh của các tàu tương tự trong tay kẻ thù – hoặc là trong giới hạn nào đó, nó không thua kém. Đây là vấn đề hóc búa lôi cuốn những khối óc kỹ thuật lớn nhất của thế giới và xuất hiện trong những năm 70 – 80 của thế kỷ XIX, 100 năm với con số khổng lồ những thiết kế khác nhau.

Vấn đề riêng biệt là phân bố pháo – đặc biệt đến giữa những năm 1870, khi đó, phần lớn tàu chiến còn trang bị buồm, còn pháo và tháp pháo được xếp vào giữa cột trụ và dây buộc một cách đúng nghĩa. Pháo cần được bảo vệ tốt, nhưng đồng thời phải bố trí vừa đủ cao trên mặt nước để tránh bị rơi hoặc bị chìm khi tàu nghiêng. Trên một vài tàu (ví dụ “Lutfi Djelil” của Thổ Nhĩ Kỳ) trở thành tường. Trên các tàu khác -  cụ thể là trên tàu “Caiman” của Pháp – pháo được bố trí trong các khu vực hình cái động nhỏ bọc thép được nâng cao, gọi là bệ súng. Thêm một phương án bố trí pháo nữa được thực hiện trên tàu “Devastation” của Pháp: trang bị cơ bản không bố trí trên tháp pháo mà ơ trên các lò hơi nằm ở trung tâm của tàu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #3 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2010, 11:45:06 pm »

TARAN

Phần lớn các tàu bọc thép hoạt động trên biển khơi của thời kỳ này đều thống nhất ở điểm mũi tàu có taran (búa, lao đâm). Sự kiện gây ấn tượng với các nhà đóng tàu khi đó là trong trận đánh gần quần đảo Less năm 1866, tàu bọc thép “Re’d Italia” đã bị đâm thủng và đánh đắm bởi tàu “Ferdinand Macs” của Áo. Tuy nhiên, các loại hải pháo lớn nhất vào thời điểm đó đã có tầm bắn đến 3000 yard, số phận của “Re’d Italia” đã chứng minh rằng, các búa (lao) bằng bỗ có thể tìm thấy chỗ đứng trong thế kỷ của tàu bằng sắt. Vì thế, 30 năm sau đó, gần như tất cả các tàu chiến lớn đều trang bị “taran”. Một vài tàu trong số đó, như tàu “Stonewall” của Liên minh miền Nam được đóng nói chung được đóng một cách đặc biệt như một tàu “taran” bọc thép.

Tuy nhiên thời kỳ tím kiếm những quyết định thiết kế tàu chiến tốt hơn không thể tiếp diễn mà không có kết thúc. Hạm đội, bao gồm những lớp loại tàu chiến, với sự khác nhau một cách tuyệt đối về chất lượng động cơ, độ dày giáp và các cỡ pháo không đem lại hiệu quả cao trong trận đánh. Vào năm 1889, Bộ Tư lệnh Hải quân Anh đã đặt làm một hạm đội hoàn toàn mới gồm 70 tàu, gồm có 8 tàu khu trục bọc thép lớp đầu tiên. Tàu đầu tiên là “Royal Sovereign” (năm 1892). Thân tàu và pháo được làm từ thép, thành tàu được lắp giáp phòng ngự dày 450mm, còn pháo với đường kính đạn 343mm. Tuy nhiên, trên lượng choán nước hoàn toàn 16 000 tấn, con tàu này có thể đạt tốc độ 16 hải lý.

Kỷ nguyên của tàu bọc thép đã bắt đầu với những pháo có đường kính đạn lớn. Nhưng giá thành của những con tàu này là quá lớn. Chi phí cho hoạt động của Hải quân Anh chỉ trong những năm 1890 đã vượt lên đến 290 phần trăm (290%); trong 10 năm cuối giá thành của tàu bọc thép mới đã gần tới nửa triệu bảng. Thế giới đã bị kéo vào cuộc chạy đua vũ trang đầu tiên. Mỗi quốc gia phát triển công nghiệp (và thậm chí nhiều nước trong số đó, như là Brazil còn không có sự phát triển công nghiệp) cũng nhận thấy việc đóng tàu bọc thép có khả năng biểu dương cho sức mạnh của mình. Không khí chạy đua càng trở nên rõ ràng khi xuất hiện những cường quốc mới (trẻ), như là Đế chế Đức mà Hoa Kỳ, những nước tăng cường cho Hải quân của họ với tốc độ, thậm chí còn mau lẹ hơn cả Anh.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #4 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2010, 12:47:16 am »

Anh là nước bắt đầu cuộc chạy đua đầu tiên, mặc dù để lại hậu quả nặng nề cho nền công nghiệp Anh vẫn không tỏ ra thua kém bất kỳ đối thủ nào về sự ưu việt của Hải quân. Trong bất kỳ trường hợp nào, Hải quân Hoàng gia phải duy trì được hạm đội mạnh nhất thế giới. Anh đá đưa ra tuyên bố về “tiêu chuẩn hai quốc gia”, có nghĩa là để duy trì quyền lực trên biểnc ần phải có hạm đội mà số lượng tàu chiến gộp lại sẽ cao gấp hai lần những cường quốc về đại dương khác. Năm 1906, tàu “Drenout” được hạ thủy – đã đưa đến một tên gọi của lớp tàu chiến mới và sử dụng toàn bộ kỹ thuật hiện đại nhất ở thời điểm đó, từ tuabin hơi nước mới nhất cho đến bộ truyền động điện của tháp pháo. Với sự xuất hiện của “Drenuot”, tất cả các tàu khu trục bọc thép trên thế giới (kể cả Anh) đã trở nên lỗi thời hoàn toàn.

Cũng như nhiều kỷ lục gia khác, “Drenuot” nắm giữ chức vị danh dự của một tàu chiến mạnh nhất thế giới không lâu. Năm 1908, Hải quân Hoàng gia đã tiến hành đóng tàu thiết giáp “siêu chủ lực hạm” mẫu “Iron Duke” nặng 8 000 tấn. Có vẻ như các nhà đóng tàu sau đó sẽ tăng cường khối lượng của các tàu chủ lực và cỡ nòng pháo trang bị trên tàu. Nhưng đến trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất, những mối hoài nghi liên quan đến tàu chủ lực đã xuất hiện. Số nhiều – trong số đó có cả những sĩ quan lâu năm của Hải quân Anh đã đặt ra câu hỏi rằng những đại đội pháo biết bơi này sẽ đem lại hiệu quả trong các trận hải chiến là bao nhiêu.

Theo sau Anh trong “cuộc đua tàu chủ lực”, các nước khác – trước hết là Đức – đã bắt đầu đóng các mẫu tàu khác; ví dụ như tàu tuần dương hạng nặng dành cho các cuộc tập kích (hạm tập kích – tập kích hạm mà những tàu nổi tiếng nhất là “Sharbborst” và “Bismark”). Nhưng những điềm xấu với chúng trở nên rõ ràng hơn với sự phát triển nhanh chóng về số lượng tàu ngầm.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #5 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2010, 02:40:16 pm »

NHỮNG TÀU SÂN BAY ĐẦU TIÊN

Tuy vậy, tàu sân bay có thể đặt dấu chấm hết cho sự thống trị của các loại tàu bọc thép. Các thủy thủ đã tỏ ra thích thú bởi những thiết bị bay từ những năm 1894, còn vào tháng 1 năm 1911, trung sỹ Hải quân Mỹ Theodor Ellison trên chiếc máy bay cánh kép của mình đã hoàn thành việc hạ cánh trên boong tàu tuần dương “Pensilvania”.

Trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ nhất, các máy bay được sử dụng trong mục đích cơ bản là trinh sát và hiệu chỉnh hỏa lực. Khả năng tấn công của các máy bay chỉ được mở ra vào những năm 1920 – những người đi tiên phong như chuẩn tướng Hải quân U. Michel đã chứng minh rằng tàu có thể bị hủy diệt bởi máy bay ném bom từ trên không. Trong các cuộc thí nghiệm vào năm 1921, máy bay của Michel thậm chí có thể đánh chìm tàu bọc thép “Ostforisland” được trưng dụng của Đức – trong vòng 2 ngày và 19 quả bom. Kết quả thí nghiệm đã làm giới chỉ huy Hải quân Mỹ hoàn toàn hài lòng, và vào năm 1922, trong biên chế đã xuất hiện tàu sân bay đầu tiên “Langley”. Còn bốn năm sau đó, trên các bản vẽ đã xuất hiện những đồ án tàu sân bay được thiết kế đặc biệt

Tuy nhiên, những người úng hộ quan điểm truyền thống còn bảo vệ quan niệm của họ trong thời gian dài  trong niềm tin rằng chiến tranh trên biển sẽ được quyết định bởi các tàu bọc thép. Họ không bị dao động bởi yếu tố rằng việc đóng các con tàu chủ lực đã bị hạn chế bởi Hiệp ước Quốc tế về giải trừ quân bị trong những năm 1922 và 1930, đã là đình trện 10 năm việc đóng các tàu bọc thép mới và đặt ra sự hạn chế trên lượng choán nước tối đa của các tàu lớp này…
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #6 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2010, 03:16:14 pm »

Vào thời điểm bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai, các tàu bọc thép chủ lực như của “Haruna” của Nhật Bản hoặc “Nelson” của Mỹ, tất cả là những bộ máy chiến đấu mạnh nhất do con người chế tạo được giữ lại. Nhưng đến năm 1942, niềm tin về sự vô địch của tàu bọc thép chủ lực đã bị đánh tan. Những cuộc tập kích của các máy bay phóng ngư lôi tại Taranto và Chân Châu Cảng, đánh đắm “Repulse” và “Prince of  Wales”, những cuộc tấn công vào các tàu chủ lực của Anh “Bahram”, “Warsprite”, “Queen Elizabeth” và “Valiant” trên biển Địa Trung Hải – tất cả đã chỉ ra rằng, sự bảo vệ và hỗ trợ cho các tàu chủ lực trên không là cần thiết một cách thiết thực. Mặc dù trong quá trình chiến tranh, vẫn diễn ra một vài trận hải chiến “cổ điển” – ví dụ như vụ đánh chìm “Haruna” do tàu chủ lực bọc thép “Washington” của Mỹ thực hiện gần Guadancanal – những có một vấn đề đã trở nên rõ ràng rằng thời đại của tàu chủ lực bọc thép đã lùi vào quá khứ. Hạt nhân tác chiến cơ bản của một Hạm đội là tàu sân bay.

Hoa Kỳ trở thành nước đi đầu thế giới trong việc đóng các tàu sân bay. Đúng là, cụm tấn công đường không, bao gồm từ một hoặc hai tàu sân bay, mỗi tàu trong số đó có khả năng tiếp nhận một nhóm máy bay (trung bình bao gồm 10 phi đội thiết bị bay khác nhau: từ máy bay tiêm kích F/A-18 và F-14 đến trực thăng SH-60). Nhưng thậm chí các tàu sân bay còn được bảo vệ trước các cuộc tấn công từ trên biển và trên không: nó hoạt động phối – kết hợp với các tàu tuần dương tên lửa và tàu khu trục, tàu khu trục chống ngầm và các tàu chiến, còn nhiều khi – một hoặc hai tàu ngầm nguyên tử. Nói cách khác, một vài tàu chiến bất kể dù mạnh hay không, nếu hoạt động một mình nó rất dễ bị tổn thương.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #7 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2010, 03:54:30 pm »

1. “Admiral Graf Spee”

Hiệp ước Véc-xai năm 1919 đã hạn chế lượng choán nước tối đa cho các tàu nổi của Đức đến 10 000 tấn. Vì thế, Đức bắt đầu đóng các tàu bọc thép chủ lực loại nhỏ mà trong kết cấu, những khối lượng kỹ thuật mới đã được sử dụng. Sự tiết kiệm rất nhiều về khối lượng đã dẫn đến việc tiếp nhận sự hàn điện và hợp kim nhẹ. “Admiral Graff Spee” và những tàu tương tự với nó “Deutschland” và “Admiral Sheer” được sử dụng nhằm tập kích trên các tuyến giao thông liên lạc của đối phương. “Graf Spee” đã bị đánh chìm bởi thủy thủ đoàn gần Montevideo (Uruguay) sau trận chiến tại La-Plat với các tàu tuần dương của Anh “Ecseter”, “Alyacs” và “Achilles” vào tháng 11 năm 1939. Theo phân loại của Đức, “Admiral Graf Spee” được xếp vào lớp tàu bọc thép chủ lực, tuy nhiên, tên gọi khác trở nên phổ biến hơn là “tàu chiến cỡ nhỏ”. Nói nghiêm túc, hai thuật ngữ này đều sai: trên thực tế, những tàu chiến lớp này là những tàu tuần dương hạng nặng được trang bị rất mạnh.

Các thông số chính:

Quốc gia sản xuất: Đức

Thủy thủ đoàn: 1150 người

Lượng choán nước: 12 100 tấn

Kích thước: 188x21,7x7,3

Tầm hoạt động: 35 190km (19 000 dặm) với tốc độ 19 hải lý

Bọc thép: thân tàu: 100mm; tháp pháo: 140mm; boong tàu: 40+17mm

Trang bị: 6 pháo 280mm; 8 pháo 150mm; 6 pháo phòng không 105mm; 2x4 thiết bị ngư lôi 533mm

Thiết bị động lực: 8 động cơ diezen MAN, 56 800 sức ngựa, 2 trục

Tốc độ: tốc độ tối đa 28,5 hải lý; tốc độ trên biển: 26 hải lý.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #8 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2010, 03:55:23 pm »

"Admiral Graf Spee":



Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #9 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2010, 03:56:15 pm »




Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM