Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:13:01 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nội chiến Hoa Kỳ  (Đọc 75529 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #100 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 12:11:42 pm »


Tướng Sherman giờ đây đổi chiều cuộc tấn công bằng cách cử quân đoàn Tennessee dưới quyền chỉ huy của tướng Howard (thay thế cho tướng McPherson) triển khai thành 3/4 vòng tròn rộng lớn chiếm cứ phía bắc, tây và nam, hoàn toàn bao vây thành phố Atlanta. Hành động này đe dọa một trong những con đường huyết mạch quan trọng của quân tướng Hood, đó là đường sắt giao giữa Macon và Western. Tuyến đường sắt này từ Atlanta chạy về phía Nam và chia hai nhánh. Một nhánh chạy về phía Tây tới Montgomery, nhánh phía Đông tới Savannah. Trong nỗ lực chặn đứng động thái này, ngày 28 tháng 7, tướng Hood tấn công một vị trí của lực lượng triển khai của tướng Howard trong trận chiến nhà thờ Ezra Bắc Atlanta, nhưng một lần nữa lại bị đánh bại với số thương vong nặng nề.

Vẫn còn muốn chiếm tuyến đường sắt lúc này còn trong tay quân Liên minh, tướng Sherman liên tục nỗ lực chia nhỏ tuyến đường sắt này với quân kỵ binh của mình, nhưng chỉ để đánh bại bởi một hành động thông minh của đội quân kỵ binh dưới quyền tướng Joseph Wheeler. Cuối cùng sau một tháng tấn công và bao vây, quân bộ binh của tướng Howard di chuyển nhằm bao vây tuyến đường sắt này ở Jonesboro cách Atlanta hai mươi dặm về phía nam. Vào ngày cuối cùng của tháng, một nỗ lực để bảo vệ đường sắt này, tướng Hardee cùng với nửa số quân còn lại của quân đoàn dưới quyền chỉ huy của tướng Hood tấn công sư đoàn bên cánh phải của tướng Howard trong trận chiến Jonesboro nhưng bị đánh bại và đẩy lùi. Trong lúc đó tướng Thomas và tướng Schofield bao vây tuyến đường sắt nằm giữa Jonesboro và Atlanta.

Tướng Hood, với đội quân đã bị suy yếu nghiêm trọng bởi thương vong và con đường tiếp viện bị cắt đứt. Hành quân đêm hôm đó dọc theo đại lộ Macon. Đông Nam Atlanta. Đội quân này hành quân dưới ánh sáng của những nhà kho bị đốt cháy. Mặt đất rung chuyển bởi những tiếng nổ từ con tàu chở đạn dược. Ngày hôm sau, những đơn vị của tướng Sherman dẫn đầu đã di chuyển về phía thành phố. Ngày 02 tháng 09 ông đánh điện về cho tướng Halleck: “Atlanta nằm trong tay ta, ta đã chiến thắng vẻ vang trận này”.

Việc chiếm Atlanta là một chiến thắng vĩ đại của Liên bang với đúng nghĩa của từ này. Nó đại diện cho một chiến thắng rõ ràng về mặt chiến lược khiến quân Liên bang có thể đánh bại hai đội quân lớn của Liên minh. Nó là chiến thắng chiến thuật và là một phần thắng lợi của kế hoạch khôn ngoan của tướng Grant giành cho một cuộc phản công phối hợp đồng thời chống lại miền Nam. Nó đặt vào tay Liên bang và lấy đi từ tay Liên minh một trong những trung tâm liên lạc chủ chốt và một trung tâm sản xuất hàng hóa quân trang quân dụng quan trọng nhất tại khu vực phía dưới của miền Nam. Việc chiếm thành phố này cũng làm tăng thêm nhuệ khí chiến đấu của quân Liên bang đúng lúc cuộc tấn công với số thương vong quá lớn của tướng Grant tại Virginia. Ngược lại, Atlanta thất thủ là một đòn mạnh mẽ giáng vào chính quyền Liên minh khiến họ bàng hoàng. Tinh thần chiến đấu của miền Nam dường như tê liệt. Cuối cùng, việc chiếm Atlanta giúp đảm bảo nếu như không nói là quyết định, việc tái đắc cử của Tổng thống Lincoln trong cuộc chạy đua tranh ghế Tổng thống tại miền Bắc vào năm 1864.

May thay cho sự nghiệp của Liên bang, Tổng thống Lincoln chứng tỏ là người đứng mũi chịu sào xuất sắc. Luôn kiên định với mục tiêu chính của mình: bảo toàn Liên bang, trong lúc phải viện tới mọi kế sách như trì hoãn, nước đôi, lẩn tránh, và thỏa hiệp với nhiều mục tiêu khác, ông đã có thể cản trở (nếu không nói là kiểm soát) nhiều lực lượng đối nghịch đến từ đảng Dân chủ và từ những quan chức cấp cao trong chính đảng của ông.

Phần đông người theo đảng Dân chủ của miền Bắc, những người ủng hộ chiến tranh hỗ trợ cho chính quyền Lincoln và họ đã sát vai với những thành viên đảng Cộng hòa dưới cái tên đảng ủng hộ Liên bang đầu cuộc chiến, sự kết hợp giữa những cuộc rút lui trên chiến trường và với những biện pháp không được lòng dân chúng như bắt giữ quân nhân và giải phóng nô lệ đã gây nguy hiểm không ít cho vị trí kiểm soát cửa đảng Cộng hòa tại Hạ viện. Trong các kỳ bầu cử Hạ viện của năm 1862, đảng viên đảng Cộng hòa có thể giữ được số phiếu đa phần với chút chênh lệch, nhờ những chiến thắng tại các miền biên giới giữa các bang có chính phủ ưu tiên cho sở hữu nô lệ. Nơi đây cử tri lo sợ bởi bị đe dọa và phải chịu quyền kiểm soát những cuộc trưng cầu dân ý do lực lượng quân Liên bang tổ chức. Chiến sự ngày càng phát triển theo chiều hướng có lợi: thái độ của dân chúng thay đổi về vấn đề giải phóng nô lệ và việc người da đen tham gia quân đội như một quân nhân giúp đảm bảo cho thành công của đảng Cộng hòa vào thời điểm cuối cuộc chiến.

Nhưng rất nhiều người thuộc đảng Cộng hòa bực mình bởi họ cho là Tổng thống Lincoln không thích hợp vị trí của mình. Thậm chí những người ủng hộ ông cũng mang quan điểm này dù ít dù nhiều. Tháng 11 năm 1862, tờ Times của New York, một tờ báo nói chung thân thiện với chính quyền Lincoln, đã đăng nhiều bài xã luận nhắc tới sức ì và thiếu năng lực cộng với sự không dứt khoát của Tổng thống Lincoln và việc sẵn lòng chấp nhận những cái cớ cho thất bại. Được dẫn đầu bởi những kẻ cực đoan trong Hạ viện thông đồng với Bộ trưởng Bộ tài chính Chase, thành viên đảng Cộng hòa sau thảm họa Fredericksburg, bắt đầu thúc giục Tổng thống Lincoln phải cách chức Seward, người bạn tâm giao của ông, người đã ngưỡng mộ Tổng thống Lincoln và coi ông như một nhân vật mạnh mẽ nhất của chính phủ, người luôn bị những kẻ cực đoan nghi ngờ kể từ sau những thỏa hiệp trong trận pháo đài Sumter. Mục tiêu của họ là tổ chức lại nội các để ông Chase lên nắm quyền. Tổng thống Lincoln nhận ra toàn bộ trò đùa đó. Ông coi đó là cuộc công kích nhắm vào tài lãnh đạo của chính ông. Ông nói “họ mong sao hất được tôi ra ngoài. Và có đôi khi tôi cũng ngần ngừ muốn làm hài lòng họ”.

Tuy nhiên ông đã không làm cho họ hài lòng. Thay vào đó, ngày 20 tháng 12 ông tự mình đối mặt với một trò chơi. Ông tổ chức một cuộc họp nội các với một ủy ban gồm toàn những nghị sĩ bất mãn, nhưng ông Seward (người đã từng đệ đơn từ chức) vắng mặt. Lincoln đảm bảo sự hòa hợp của nhóm này với nội các. Và rằng ông Seward là nhân vật chủ chốt của nhóm. Sau đó Tổng thống Lincoln triệu tập nội các để xác định lại lời nhận xét này, ông Chase tuy tỏ ra khôn ngoan hơn, đã mắc bẫy khi làm theo đúng ý của Tổng thống Lincoln. Ngày kế tiếp ông ta đã phạm một sai lầm khi đệ trình lên Tổng thống Lincoln lá thư xin từ chức của chính ông ta. Tổng thống Lincoln bác bỏ việc từ chức này nhưng giữ lại lá thư kia. Ông hoan hỉ với kết quả của lần đối mặt ấy. Bất cứ nỗ lực gây căng thẳng nào nhằm hất cẳng Seward cũng bị hiểu với nỗi sợ hãi rằng ông Chase cũng sẽ bị hất cẳng theo. Tổng thống Lincoln cất cả hai bức thư kia và vẫn giữ hai ông này trong nội các. Ông giải thích lợi thế của mình với những lời lẽ chất phác: “Giờ tôi đã có thể cưỡi ngựa được rồi. Tôi có mỗi bên một trái bí đỏ nên rất thăng bằng”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #101 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 12:12:54 pm »


Một sự hòa hợp không mấy dễ dàng xuất hiện trong nhiều tháng giữa Tổng thống Lincoln và bè cánh cực đoan của ông Chase. Cuối cùng sự hòa hợp kia cũng không thể tồn tại. Rất nhiều biện pháp hành chính trong năm 1863 hứng chịu những lời chỉ trích và nghi ngờ có liên quan tới khả năng lãnh đạo của Tổng thống Lincoln. Trong số những lời chỉ trích này có sự can thiệp ngày càng nhiều và những công việc của bang, tăng thuế và nợ quốc gia ngày càng lớn, việc tiếp tục bắt lính và việc thông qua lệnh cưỡng bức tòng quân. Mặc dù những thất bại gây bàng hoàng tại Liên bang tại Chancellorsville vào tháng 05, Chickamauga vào tháng 09 được đền bù bằng những chiến thắng liên tiếp tại Gettysburg và Vicksburg vào tháng 07 và cuối cùng là trận Chattanooga vào tháng 11, người ta vẫn chưa thể thấy điểm kết thúc của chiến tranh cũng như hậu quả của nó vẫn là chưa rõ ràng.

Mối bất hòa sâu sắc nhất giữa Tổng thống Lincoln và những nhân vật cực đoan xuất hiện khi bàn tới vấn đề tái thiết: làm thế nào và dưới những điều kiện nào một bang li khai lại được tái gia nhập Liên bang? Tổng thống Lincoln một lần nữa lại hành động dựa vào cách dẫn giải của ông về quyền lực to lớn của một Tổng thống và về lý lẽ sau: Những bang li khai chưa thực sự tách khỏi Liên bang. Những bang này chỉ tạm thời không còn có mối liên hệ thích hợp với Liên bang mà thôi.

Tháng 12 năm 1863, ông tuyên bố kế hoạch tái thiết của mình. Đó là một chương trình rất khoan dung bởi vì ông vẫn còn coi việc bảo toàn Liên bang là mục tiêu chính của cuộc chiến, ông hy vọng sẽ làm yếu đi ý chí của miền Nam trong việc kháng cự lại Liên bang bằng cách đề nghị với những người miền Nam một đường lối không nhằm trừng phạt, một đường lối khá dễ dàng để họ có thể có được vị thế trước đây trong quốc gia Hoa Kỳ. Những đặc điểm trung tâm của kế hoạch này chính là điều khoản được áp dụng trong từng bang với một lời thề đơn giản về bổn phận thi hành hiến pháp của Hoa Kỳ và của Liên bang. Lời hứa là khi 1/10 cử tri của một bang chịu thề trung thành với Liên bang trong kỳ tranh cử Tổng thống 1860, Liên bang sẽ cho phép thành lập chính phủ bang không có chế độ sở hữu nô lệ và Tổng thống sẽ nhìn nhận chính quyền ấy là hợp pháp.

Những kẻ cực đoan bất đồng sâu sắc với Tổng thống Lincoln về mọi khía cạnh của kế hoạch tái thiết. Họ coi những bang li khai đã khai tử cho chính bang của mình và trở thành những quận huyện bị chinh phục. Họ đòi hỏi tiếng nói mạnh mẽ từ Hạ viện trong tiến trình đưa những bang này trở về với Liên bang. Lời tuyên bố về kế hoạch của Tổng thống Lincoln đã khơi lên một phong trào trong đảng Cộng hòa nhằm hạ gục ông và nghiêng về phía ông Chase. Ông này đã là ứng cử viên ghế Tổng thống của cuộc tranh cử năm 1864. Với sự khuyến khích (nếu không ra mặt sẽ là khuyến khích ngầm) của ông Chase, thượng nghị sĩ S. C. Pomeroy của bang Kansas đã phát đi một thông tư tuyên bố rằng Tổng thống Lincoln không thể tái đắc cử và rằng chính ông Chase mới là người thích hợp cho chiếc ghế Tổng thống Hoa Kỳ.

Những người ủng hộ Tổng thống Lincoln phản ứng bằng cách chỉ trích kịch liệt ông Chase. Ngày 27 tháng 02 năm 1864, tại hạ viện, tướng chỉ huy lữ đoàn Francis P. Blair, Jr. (cháu của bộ trưởng bộ bưu chính) người nhờ tài khéo léo của Tổng thống Lincoln đã bỏ vị trí chỉ huy tại quân đội của tướng Sherman quay về tạm thời nhận một ghế trong Hạ viện. Ông này chỉ trích kịch liệt Bộ trưởng Bộ tài chính Chase. Một lần nữa ông Chase lại đệ trình đơn từ chức khỏi nội các. Một lần nữa Tổng thống Lincoln lại cố thuyết phục ông hãy ở lại. Chẳng bao lâu sau, phong trào “Chase tranh cử Tổng thống” cũng dịu xuống nhưng cảm giác của ông Chase đối với chính quyền Lincoln vẫn còn quá bức xúc đến độ không thể kiềm chế. Cuối tháng 06, một lần nữa viên bộ trưởng này đệ trình đơn từ chức. Lần này, trước sự thất bại của ông ta, Tổng thống Lincoln đã giúp ông toại nguyện.

Không phải thế mà những bất mãn đối với tài lãnh đạo của Tổng thống Lincoln giảm bớt. Cái giá phải trả của chiến tranh càng lên cao trong mùa xuân 1864 làm cho dân chúng thêm bất mãn. Cuối tháng 05, một nhóm đảng viên đảng Cộng hòa cực đoan và vài đảng viên đảng Dân chủ đã nhóm họp lại Cleveland. Họ tự gọi mình là đảng Dân chủ cực đoan. Họ đề nghị tướng Fremont ra cương lĩnh kêu gọi sự công bằng tuyệt đối trong tất cả mọi người trước khi có luật về của cải của những kẻ nổi loạn, luật sung công và luật phân phối lại ra đời. Như một thương lượng đối với đảng viên đảng Dân chủ, cương lĩnh này cũng chỉ trích việc bắt lính và nghi ngờ lệnh đình quyền giam giữ. Tuy nhiên ông Fremont (được nhìn nhận là người có thế lực) lại không vững vàng, những phần cực đoan của cương lĩnh này có phần khiêu khích đối với nhiều cử tri miền Bắc. Không một thành viên đảng Cộng hòa nổi trội nào tham gia vào phong trào này. Cuối cùng, sức mạnh của nó không có là bao.

Được hỗ trợ bởi việc sử dụng quyền bảo trợ đối với các mệnh lệnh quân đội và với các nghề nghiệp dân sự phục vụ Liên bang, Lincoln và những người hỗ trợ ông có thể vững tay kiểm soát đảng này. Ông Henry J. Raymond của tờ Times của New.York, chủ tịch ủy ban lãnh đạo quốc gia của đảng Cộng hòa, viên tướng trong làng chính trị của Tổng thống Lincoln, đã khéo léo chèo lái khi cuộc họp của đảng ủng hộ Liên bang với các thành viên đảng Cộng hòa nhóm họp tại Baltimore vào tháng 06. Tổng thống Lincoln được tái đề cử vào chức Tổng thống theo sự lựa chọn của ông đảng viên đảng Dân chủ Andrew Johnson đại diện cho bang Tennessee là ứng cử viên cho ghế Phó tổng thống. Cương lĩnh của đảng này cho thấy rõ niềm tin và những biện pháp thời chiến của chính quyền Lincoln, kêu gọi Liên minh đầu hàng vô điều kiện, tán thành điều khoản bổ sung hiến pháp với nội dung xóa bỏ chế độ sở hữu nô lệ. Nhưng nó không nhắc tới sự công bằng cực đoan và lờ đi vấn đề tái thiết đang gây tranh cãi lớn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #102 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 12:13:52 pm »


Những kẻ cực đoan Hạ viện không thể lờ đi vấn đề tái thiết. Tổng thống Lincoln đã thi hành 10% kế hoạch của mình. Ba bang (Louisiana, Arkansas và Tennessee) đang trong tiến trình hoàn tất kế hoạch của ông. Cùng với bang Virginia có chính quyền bang trung thành vẫn tồn tại trong phạm vi Liên bang kể từ đầu cuộc chiến. Mùa xuân năm trước, cả bang Louisiana và Arkansas đều chấp thuận những bản hiến pháp đáp ứng những đòi hỏi của Tổng thống Lincoln. Đối với sự bất mãn cực độ của nhóm cực đoan, những bang này đã ban bố quyền bỏ phiếu cho những cựu nô lệ, mặc dù Tổng thống Lincoln có viết thư cho viên thống đốc mới nhận chức của bang Louisiana: “Tôi chỉ gợi ý để ông cân nhắc xem, liệu người da màu có nên không được xem là người thông minh, đặc biệt những người đã từng chiến đấu rất gan dạ trong quân đội của chúng ta”.

Đầu tháng 07, những kẻ cực đoan phản công bằng cách thông qua điều luật Wade-Davis (được đặt tên bởi Thượng nghị sĩ Benjamin Wade và Hạ nghị sĩ Henry Winter). Đây chính là kế hoạch tái thiết của họ. Nó kêu gọi đa số cử tri của bang thề trung thành với Liên bang, đừng bỏ phiếu cho những người tình nguyện cầm súng vì chính quyền Liên minh và cấm chế độ chiếm hữu nô lệ trong bất cứ bang nào được hoàn trả. Mặc dù quyền bầu cử của người da đen có trong chương trình nghị sự của những người cực đoan, cũng bị bác bỏ bởi nó sẽ không hợp lòng dân với rất nhiều sự đồng tình của các cử tri đặc biệt là trong những bang không đồng tình với việc người da đen được quyền đi bầu cử.

Với chiến tranh vẫn ác liệt và xảy ra ở những vùng rộng lớn ở miền Nam dưới quyền kiểm soát của quân Liên minh, những đòi hỏi trong cương lĩnh Wade-Davis chưa thể đạt được ngay. Yêu cầu hoãn việc tái thiết cho tới chiến tranh kết thúc chính là điều những người cực đoan mong muốn. Tổng thống Lincoln bác bỏ và không chịu ký tên vào điều luật Wade-Davis. Ông khai tử nó bằng quyền phủ quyết ngầm. Ông giải thích trong một lời tuyên bố rằng những nội đung trong điều luật này là thích hợp cho bất cứ bang nào chọn cách chấp thuận nó. Nhưng ông nhất định không chịu bác bỏ việc tái thiết đã được các chính phủ các bang cho là chính đáng trong kế hoạch của ông, và ông từ chối quyền của hạ viện trong việc cấm chế độ chiếm hữu nô lệ trong một bang bất kỳ.

Tức giận, những người cực đoan phản ứng bằng cách đưa ra một lời tuyên bố được coi là bản tuyên ngôn Wade-Davis. Bản tuyên ngôn này buộc tội Tổng thống Lincoln đã tiếm quyền, chỉ trích lời tuyên bố của ông như là một sự sỉ nhục có toan tính lên quyền lực hợp pháp của người dân, một chuyện chưa từng có trước đây. Nhất định không chịu đọc bản tuyên ngôn trên. Tổng thống Lincoln nói: “Bị trọng thương trong nhà của những người bạn có lẽ là một nỗi đau đớn nhất mà một người từng phải chịu đựng”.

Mối bất hòa giữa đảng Cộng hòa kết hợp với những con số thương vong khủng khiếp của mùa hè năm ấy, thế bí rõ ràng của Liên bang trong cuộc chiến và việc dân chúng miền Bắc ngày càng mệt mỏi về cuộc chiến tranh đã như đổ thêm dầu vào lửa của những cuộc tranh cãi về biện pháp nhằm kết thúc cuộc chiến. Những người ủng hộ hòa bình, trong đó có những nhân vật nổi bật như ông Horace Greeley và Charles Francis Adams giờ đây kêu gọi những nỗ lực mới để đạt tới hòa bình. Tổng thống Lincoln ủng hộ những động thái này, thậm chí có lúc đã chấp thuận cho những cuộc họp mặt với những đại diện của Liên minh và chấp thuận để công sứ Liên bang gặp Tống thống Jefferson Davis mặc dù ông không tin những cuộc gặp gỡ ấy có thể mang lại bất cứ kết quả gì. Đúng là chúng không có kết quả gì thật. Nhưng những cuộc gặp gỡ ấy đã để lại những hậu quả nghiêm trọng cho Tổng thống Lincoln trên chính trường chính trị.

Tổng thống Lincoln phản ứng với những sự thúc bách của ông Greeley bằng cách ủy quyền cho ông này tới Niagara Falls, Canada gặp đại diện của Liên minh để bàn về các điều khoản chấm dứt chiến tranh. Cuộc họp này chẳng mang lại kết quả gì. Các đại diện của Liên minh không có chút quyền lực. Các điều khoản của Tổng thống Lincoln cũng không được Liên minh chấp nhận dù bất cứ dưới hình thức nào. Khi tin tức của cuộc họp này bị rò rỉ. Tổng thống Lincoln cảm giác buộc phải tiết lộ những lời huấn thị của ông cho ông Greeley. Những lời huấn thị ấy đòi hỏi “tính toàn vẹn của toàn Liên bang và việc xóa bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ”. Những từ này không có gì mới nhưng sự rõ ràng trong cách trình bày lúc này, sự ác liệt và kéo dài của cuộc chiến, tính tạm thời của tình thế chính trị kết hợp lại với nhau, khiến chúng bị cho rằng đã không được quyết định đúng lúc và lỗi thuộc về Tổng thống Lincoln. Theo ông V. Jacque Voegeli, “vào những thời điểm thích hợp, việc giải phóng nô lệ sẽ khiến cuộc chiến rút ngắn và giúp khôi phục lại Liên bang, nhưng trong một giai đoạn ảm đạm, nó sẽ là một lời tuyên bố hoàn toàn khác: “cuộc chiến sẽ không. ngưng nghỉ trong bất cứ hoàn cảnh nào nếu như chế độ chiếm hữu nô lệ chưa được bãi bỏ””.

Phong trào cuối cùng đã lại dấy lên trong đảng Cộng hòa: họ đòi gạt Tổng thống Lincoln ra khỏi vị trí ứng viên tranh chức Tổng thống. Nhất thời đại diện cho cả những đảng viên đảng Cộng hòa chủ trương hòa bình và những kẻ cực đoan, phong trào này phát triển rộng với lý lẽ rằng: Tổng thống Lincoln không thể tái đắc cử. Ông Thurlow Weed, một chính trị gia và là một chủ bút khôn khéo người đảng Cộng hòa tại New York viết: “Việc Tổng thống Lincoln tái đắc cử là việc không thể xảy ra”. Ông Henry J. Raymond viết cho Tổng thống Lincoln, trong thư có đoạn: “dòng thủy triều chống đối chúng ta đang dâng lên mạnh mẽ”. Ông Raymond phân tích một cách sâu sắc các nguyên nhân khiến dân chúng bất mãn: đó là tình trạng bế tắc quá rõ ràng của quân đội và lập trường của chính quyền trong vấn đề giải phóng nô lệ. Một số thành viên đảng Cộng hòa, trong đó có cả ông Greeley, cùng nỗ lực tổ chức một hội nghị tại Cincinati nhằm đề cử một người khác, có thể là ông Grant, Sherman, thậm chí là tướng Benjamin F. Butler vào vị trí ứng cử viên Tổng thống lần này. Nhưng hội nghị đó không bao giờ xảy ra. Các đảng viên đảng Cộng hòa tiến gần đến cuộc bầu cử với nỗi lo sợ dâng lên từng ngày.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #103 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 12:18:14 pm »


Các thành viên đảng Dân chủ hy vọng sẽ đoạt được quyền lực hành chính bằng cách bám riết vào những vấn đề liên quan tới sự mệt mỏi của nhân dân khi tham chiến, vấn đề giải phóng nô lệ, và mối bất hòa trong đảng Cộng hòa cả những vấn đề được coi là tính độc đoán, bất tài và không khoan nhượng của Tổng thống Lincoln. Để thành công, các thành viên đảng Dân chủ nhất định phải dành lại những người thuộc đảng mình đang ủng hộ tiếp tục cuộc chiến (những người thuộc đảng Dân chủ ủng hộ chiến tranh) mà không xa lánh nhóm người chủ hòa. Họ nỗ lực làm như vậy trong một cuộc họp được tổ chức từ ngày 29 đến 30 tháng 08 tại Chicago. Họ bổ nhiệm tướng McClellan đại diện cho đảng viên đảng Dân chủ ủng hộ chiến tranh. Cuộc họp đã thảo ra một cương lĩnh đối với những người thuộc đảng Dân chủ chủ trương hòa bình dẫn đầu bởi ông Clement L. Valladigham bị trục xuất trở về. Chính sách chủ hòa là một lời nước đôi láu cá kêu gọi đình chiến: “Kết thúc cuộc chiến ở một thời điểm sớm nhất có thể hòa bình sẽ được phục hồi trên nền tảng Liên bang”. Họ cố tình không hề nhắc tới việc giải phóng nô lệ.

Lúc đầu, các thành viên đảng Dân chủ đã lôi kéo được sự chú ý của công chúng. Ông Greeley và những nhà báo tài năng khác tiếp tục thúc giục những lãnh đạo chính trị của miền Bắc thay thế Tổng thống Lincoln bằng một ứng cử viên hứa hẹn một tương lai tốt đẹp hơn. Chính Tổng thống Lincoln cũng thất vọng, không tin mình được tái đắc cử. Trước khi hội nghị của đảng Dân chủ diễn ra ít lâu, ông viết một bức thư dự định sẽ dùng đến sau này. Ông thuyết phục nội các của mình ký vào phía sau bức thư đó mà không đọc. Thư có đoạn: “Sáng nay vì những sự việc xẩy ra trong những ngày gần đây, có lẽ chính quyền này sẽ không được tái đắc cử. Nghĩa vụ của tôi phải hợp tác với Tổng thống mới đắc cử, cũng như bảo toàn Liên bang đang giữa lúc bầu cử và ngày Tổng thống mới lên nhậm chức, nếu ông ta bảo đảm cho lần bầu cử của mình với một nền tảng rằng: ông ta có thể không bảo toàn được Liên bang sau này”.

Tổng thống Lincoln đau lòng muốn rút khỏi vấn đề giải phóng nô lệ. Ngày 17 tháng 08, ông soạn một bức thư trong đó ông dịch nghĩa lại lời tuyên bố của mình tại hội nghị Niagara và nói rõ rằng ông sẵn sàng thương lượng với nhà chức trách Liên minh mong muốn hòa bình, muốn tái thống nhất và không hề nói gì tới việc chiếm hữu nô lệ. Tất nhiên, ông không bao giờ gửi bức thư này đi cả. Một tuần lễ sau, theo lời gợi ý của ông Raymond, Tổng thống Lincoln viết thư ủy nhiệm cho một viên công sứ tới Richmond và đề nghị hòa bình với miền Nam, dựa trên điều kiện duy nhất là miền Nam phải uy phục Liên bang. Mọi vấn đề khác (nói cách khác là vấn đề chiếm hữu nô lệ) sẽ bỏ ngỏ và được quyết định bằng những “biện phập hòa bình”.

Tin rằng Tổng thống Davis sẽ chối từ lời đề nghị này, ông Raymond hy vọng sẽ làm tiêu tan những lời chỉ trích trong làng chính trị, rằng chiến tranh sẽ vẫn tiếp tục, không phải chủ yếu để bảo toàn Liên bang, mà bởi một mục đích rất thực tế: đảm bảo cho việc giải phóng nô lệ. Một lần nữa Tổng thống Lincoln không bao giờ gửi bức thư này đi. Sau khi suy nghĩ rất cẩn thận, ông quyết định sẽ không làm thế và giải thích cho ông Raymond rằng: miền Bắc sẽ hiểu cuộc thương lượng này là việc từ bỏ tiêu chí giải phóng nô lệ. Ông nói điều này còn tồi tệ hơn là không thể thắng cử: “nó gần như đầu hàng cuộc bầu cử lần này trong ô nhục”.

Những lo lắng về việc Tổng thống Lincoln có được tái đắc cử hay không hóa ra chỉ nên vô ích. Ông giành được số phiếu bầu cử ở tất cả các bang, ngoại trừ New Jersey, Delaware và Kentucky. Tỷ lệ đa số dân chúng bầu cho ông là 55%. Đồng thời đảng viên đảng Cộng hòa cũng giành chiến thắng sâu rộng trong các cuộc tranh tài giành các ghế lập pháp tại các bang và tại Hạ viện. Có lẽ Tổng thống Lincoln và các thành viên đảng Cộng hòa cũng có thể tái đắc cử dưới những hoàn cảnh bất lợi hơn thế này. Những sự kiện xảy ra vào những tuần cuối cùng của chiến dịch vận động tranh cử đảm bảo chiến thắng cuối cùng này. Mặc dù ông McClellan giảm thiểu nguyên tắc hòa bình của đảng Dân chủ và nhấn mạnh việc bảo toàn Liên bang, thành viên đảng Cộng hòa đã khiến thủ đô của chính trị hiểu về cương lĩnh “rắn hổ mang” của đối thủ mình. Số phiếu của quân nhân, dù là có được nơi chiến trường hoặc từ những người lính đang nghỉ phép tại quê nhà (quyền được nghỉ phép được dễ dàng tạo điều kiện), đều ủng hộ chủ yếu cho đảng Cộng hòa. Phiếu của những nhân viên chính phủ cũng vậy. Họ không thể bầu cho những người có thể quyết định lấy đi việc làm của họ.

Có lẽ lý do lớn nhất cho chiến thắng của đảng Cộng hòa chính là quyết định của đa phần cử tri miền Bắc, đặc biệt là của những quân nhân chiến đấu để giành chiến thắng hoàn toàn, và của niềm tin ngày càng tăng rằng chính quyền Tổng thống Lincoln sẽ có hướng đi đúng đắn để kết thúc cuộc chiến. Diễn ra đồng thời với những thành công về mặt quân sự của Liên bang, chiến thắng tại vịnh Mobile và tại thung lũng Shenandoah, đặc biệt là việc đoạt được Atlanta từ tay quân Liên minh, đã giúp tạo ra làn sóng tin tưởng này. Ông George Templeton Strong tin rằng việc chiếm được Atlanta là một sự kiện vĩ đại nhất của cuộc chiến. Tổng thống Lincoln nói các chiến thắng vịnh Mobile và Atlanta đã giành được niềm ưu ái của bề trên và ông đã quyết định chọn một ngày trong năm là ngày tạ ơn các thánh, ngày này được ăn mừng trên toàn quốc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #104 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 12:20:13 pm »


XI
Miền Bắc hồi sinh
---------X---------


Rất hiếm dịp và thật ngoại lệ, người dân miền Bắc thực sự chứng kiến cuộc chiến xảy ra như thế nào và cảm giác được sự ác liệt ra sao. Với các phương tiện vận chuyển và phương tiện truyền thông của những năm 1860, các cuộc chiến tại miền Nam đối với người New England cũng xa xôi tựa như những cuộc chiến ở châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ II với người Mỹ. Trong giờ nghe tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng, các trận đánh trong nội chiến Hoa Kỳ rõ ràng xa xôi và cách biệt đối với người miền Bắc hơn cả những cuộc chiến tại Việt Nam đối với người Mỹ sau đó một thế kỷ.

Mặc cho sự xa xôi của các chiến dịch quân sự, người miền Bắc vẫn cảm giác được cuộc chiến theo rất nhiều cách. Cách thấm thía nhất đến từ những con số thương vong, đặc biệt là những sự mất mát nặng nề và chết chóc từ bệnh tật và những vết thương nơi chiến trường. Những con số thương vong này mang lại nỗi đớn đau và thương tiếc cho hàng ngàn gia đình người Mỹ. Sự vắng mặt của hàng trăm ngàn người con, người chồng đang chiến đấu xa nhà, xông pha trong đạn lửa tạo ra nỗi cô đơn và lo lắng tại hậu phương và gây ra không biết bao nhiêu rắc rối trầm trọng cho lực lượng lao động tại các nhà máy và nông trại.

Cộng thêm những nỗi kinh hoàng là gánh nặng về các loại thuế ngày một tăng, sự lên xuống thất thường của giá cả, tiều tệ lạm phát, sức mua giảm trong giới lao động và những thăng trầm trong đời sống dân sự và kinh doanh. Các tác nhân ấy kết hợp với sự bất đồng về mục tiêu chiến tranh, không đồng tình với rất nhiều biện pháp thời chiến của chính quyền, và rất nhiều nỗi mệt mỏi thời chiến khiến con người ta tê liệt. Dấu ấn của cuộc chiến hằn sâu và dằng xé tận sâu thẳm đáy lòng của người dân miền Bắc.

Cơn bộc phát của lòng thù hận, theo sau bởi lời tuyên bố của Tổng thống Lincoln và lời kêu gọi gia nhập quân ngũ đã làm khích động đa phần dân chúng miền Bắc, đẩy họ vào những hoạt động yêu nước xuất hiện ở khắp nơi. Những cuộc mít tinh với số đông quần chúng tham gia, dù được lên kế hoạch từ trước hay tổ chức ngẫu hứng, xuất hiện ở nhiều cộng đồng dân cư trên khắp miền Bắc. Một tờ báo tại Detroit đã ghi nhận được cảm xúc này: “Những quốc kỳ bay phần phật trong cơn giận dữ. Quốc thiều đầy nhiệt huyết vang lên từ những ban nhạc, được thiếu niên huýt gió, và được ca lên trong các khán phòng nghệ thuật... Nó được chơi bằng nhiệt huyết với những ngón đàn nghiệp dư của những cô gái yêu nước bên những chiếc đàn Piano cổ kính, được truyền thụ trong những tổ chức tôn giáo..., được các cậu bé con gõ nhịp trên vỏ đồ hộp và thậm chí tiếng chó sủa nghe cũng mang âm hưởng của bài quốc ca. Lá quốc kỳ... bay đầy kiêu hãnh và rực rỡ ở khắp mọi hướng..., trên khắp các mái nhà..., ở tất cả những nơi công cộng..., thậm chí được cả những người lái xe buýt trang hoàng cho xe của họ”.

Những người trước đây có tình cảm hoặc mang thái độ nước đôi với miền Nam, với vấn đề li khai, giờ đây cảm thấy bị số đông cô lập và đôi khi bị đẩy lên tàu, đuổi ra khỏi thị trấn, bị ném trứng thối hoặc bị đồng nghiệp tẩy chay. Đàn ông con trai biểu thị quá ít lòng yêu nước sẽ bị lảng tránh và bị đàn bà con gái chế giễu. Theo giáo sư Bell I. Wiley, phụ nữ là những nhà yêu nước nhiệt thành nhất. Những người biệt giáo sẽ bị gạt qua một bên hoặc sẽ buộc phải im lặng.

Những đối thủ đã phản đối ông Lincoln và chính sách của ông giờ đây thấy tốt hơn hết là nên chống lại miền Nam phiến loạn. Trong số những nhân vật nổi cộm là ông Thị trưởng, đảng viên đảng Dân chủ, ông Fernando Wood của thành phố New York. Trước đây, khi bàn về li khai, ông đã đi quá xa đến độ cho rằng New York nên lợi dụng tình thế này để trở thành một thành phố tự do. Giờ đây ông đề nghị ủy ban thành phố nên giành riêng một triệu đôla để trang bị cho các quân đoàn Liên bang. Những người ủng hộ miền Nam hoặc các tờ báo giao động, bao gồm cả tờ báo thuộc quyền sở hữu của người anh ruột ông Wood, cũng bị đám đông dân chúng yêu nước “viếng thăm” và buộc phải treo cờ sao và sọc.

Những cuộc tuần hành chứng tỏ lòng yêu nước, sôi động nhất là những cuộc tuần hành nhằm tăng quân số của các trung đoàn cho quân đội Liên bang. Về việc ghi tên của những người tình nguyện, việc hình thành những đơn vị quân tình nguyện, và việc lên đường tới những nơi tập trung quân. Việc tuyển quân thông thường xuất hiện tại những cuộc mít tinh lớn, những cuộc dã ngoại hoặc những cuộc hội họp đông đảo, với những ban nhạc kèn đồng chơi những khúc quân hành. Những bài hùng biện đầy xúc cảm và sự thúc giục của đám đông phụ nữ thuyết phục thanh niên trai tráng đăng lính. Việc các quân đoàn đủ quân số lên tàu chuẩn bị khởi hành tại các ga xe lửa hoặc các bến tàu luôn đi kèm những lễ hội tương tự, có thống đốc bang hoặc một nhân vật nổi bật của địa phương đến dự. Buổi lễ thường được trang hoàng bằng màu sắc của từng quân đoàn nhờ bàn tay khéo léo của phụ nữ và những người trong cộng đồng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #105 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 12:37:14 pm »


Đầu cuộc chiến, chiến sự hay thay đổi khiến tình trạng đình trệ trong kinh doanh lan rộng. Một cuộc khủng hoảng kinh tế chung diễn ra trên khắp miền Bắc. Nhưng trong vòng vài tháng, nền công nghiệp của vùng đã sống động trở lại bởi những cuộc buôn bán trao đổi phục vụ chiến tranh của chính phủ, kết hợp với tăng thuế chống lại sự cạnh tranh từ nước ngoài. Đồng thời, nông dân, người sản xuất, người chuyên xuất nhập khẩu. Ở miền Bắc nhận được những đơn đặt hàng lớn chưa từng thấy cho những sản phẩm phục vụ quân đội và cho cả châu Âu. Lúc này mùa màng thất bát tại nước Anh và việc thiếu thốn tại lục địa châu Âu đã tạo ra nhu cầu lớn khác thường. Năm 1862, thành phố Chicago vận chuyển ra nước ngoài gấp đôi lượng ngũ cốc và bột mì đã vận chuyển năm 1860. Số lượng thịt bò và thịt heo cũng nhiều tương tự. Các thành phố khác tại miền Tây Bắc cũng báo cáo lượng doanh thu bán hàng lớn không kém.

May thay cho Liên bang, các nông trại miền Bắc trong suốt cuộc chiến sản xuất lượng lương thực dồi dào đủ để đáp ứng nhu cầu của nước ngoài và trong nước. Hàng ngàn lao động nam giới vắng bóng trên các cánh đồng miền Bắc đã khiến ngành máy móc nông nghiệp Mỹ phát triển. Như máy gặt McCormick đã đóng góp đáng kể vào sản lượng nông nghiệp của vùng. Phụ nữ và trẻ em ở hậu phương cũng đóng góp rất nhiều trong việc đảm nhận những công việc trước đây do đàn ông đảm nhiệm như gặt hái, làm cỏ, cày cuốc. Theo tờ báo Detroit Free Press: “Năm 1864, một phần lớn lượng ngô thu được tại Michigan được chính các chị em phụ nữ gặt hái”. Mọi thành tố của nền nông nghiệp Mỹ sinh sôi nảy nở từ những hợp đồng mua bán súng đạn và phương tiện chiến tranh với quy mô lớn. Thật ra mọi sản phẩm công nghiệp đều rất cần thiết từ súng ống cho tới đạn dược, kiếm, lê, đầu máy xe lửa, đường sắt, giày dép, rau đóng hộp và sấy khô. Nền công nghiệp thép của Pennsylvania đã sản xuất gấp đôi sản lượng đường ray. Pittsburg đã thành mặt trận chính của bang này và là nơi sản xuất sắt thượng hạng của quốc gia. Nhiều tòa nhà dành cho thương mại làm nhà ở mọc lên liên tục tạo ra một lượng nhu cầu vô hạn gỗ xẻ và mọi chất liệu khác. Những gì tờ báo Chicago Tribune viết về khu vực của mình cũng có thể dùng để mô tả những thành phố miền Bắc khác. “Trên mọi đường phố và đại lộ, những tòa nhà mới mọc lên, những dãy nhà thương mại xây bằng gạch, sắt đá khổng lồ lừng lững, những tòa nhà lộng lẫy ốp đá hoa cương và những khu dân cư mới mọc ở khắp mọi nơi... Dấu hiệu của một nền thương mại phát triển cực thịnh và năng động diễn ra ở khắp chốn... Thành phố này là nơi người kinh doanh có được chỗ đứng chắc chắn”.

Những nhân vật tài giỏi và dũng cảm trong công việc kinh doanh được đề cao. Nhiều công ty khai trương, thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ. New York nổi lên như một thủ đô tài chính không gì cạnh tranh nổi của nước Mỹ. Tương lai người Mỹ và các công ty làm ăn Mỹ đã được dự báo trước ngay khi họ bắt đầu bán hàng cho quân đội vào thời điểm này. Ông Phillips D. Armour mới ngoài 30 tuổi đã thu về hai triệu đôla tiền lời bằng cách mua thịt lợn giá rẻ bán cho quân đội. Ông Clement Studebaker đóng và bán các toa xe hàng, bắt đầu tích lũy vốn để sau này sản xuất và đưa ra thị trường một trong những loại xe hơi nổi tiếng nhất trên thế giới. Ông Collis P. Hungton đàm phán được tiền trợ cấp của chính phủ dành cho việc phát triển tuyến đường sắt Central Pacific. Dù cho lúc đó John D. Rockefeller, Andrew Carnegie và J. P. Morgan còn quá trẻ chưa thể trở thành người khổng lồ về tài chính trong chiến tranh, nhưng họ cũng đã có rất nhiều kinh nghiệm và bài học đã dẫn đường chỉ lối cho họ đi theo hướng họ đã sớm chọn cho mình.

Những khoản lãi đáng kể rơi vào túi một số doanh nhân và doanh nghiệp phát triển cực thịnh. Những cổ tức có số vốn lớn và công ăn việc làm dồi dào làm cho sự thịnh vượng chưa từng thấy đến với hầu hết người dân miền Bắc. Năm 1864, tờ Times của New York nhận xét rằng ngay giữa cuộc chiến tranh ác liệt mà người dân miền Bắc chưa bao giờ được mặc đẹp như thế, ăn ngon như thế và có nhà cao cửa rộng đến thế.

Việc đầu cơ hàng hóa đã trở thành một ngành kinh doanh đồng thời cũng là trò tiêu khiển. Những người có tài xoay xở may mắn hoặc khôn ngoan giàu lên nhanh chóng. Sự giao động về giá trị của các trái phiếu chính phủ có thể đổi ra vàng mời mọc người ta chơi trò đỏ đen khiến cho biết bao người giàu lên hoặc trắng tay trong thị trường vàng. Việc tăng thuế không ngừng lên rượu Wishky mới được sản xuất nhưng lại không áp thuế đối với rượu tồn kho đã mang lại cho những tay đầu cơ rượu khoảng 100 triệu đôla.

Tổng thống Lincoln và các quan chức hàng đầu (cả quân sự lẫn dân sự), ngoại trừ Bộ trưởng Bộ chiến tranh Cameron đầu cuộc chiến, là những người trung thực thận trọng. Nhưng hiếm khi một nhân viên của chính phủ thoát khỏi tai tiếng tham nhũng. Rất nhiều các vụ tai tiếng nổi lên từ việc buôn bán bông cho những tay đầu cơ chứng khoán Liên minh. Đại tá Andrew Jackson Butler, em của tướng Benjamin F. Butler, trụ sở tại New Orleans bị cáo buộc là một trong những tội phạm trắng trợn nhất trong việc buôn lậu bông. Các nhân viên thuộc kho bạc của nhà nước từng toán kéo nhau tháp tùng cuộc viễn chinh của tướng Grant dọc sông Red vào mùa thu năm 1864 cũng bị buộc tội với hoạt động tương tự.

Tướng Grant có lần còn bị tai tiếng nặng nề hơn bởi đã chỉ đạo cho những thương nhân trong phòng ban của mình (rất nhiều người trong số họ là người Do Thái) rằng ông đã ra lệnh cấm mọi thương nhân Do Thái hoạt động kinh doanh. Tổng thống Lincoln buộc phải thu hồi lệnh này. Nhưng Tổng thống cũng nhận thức một cách đau buồn về mặt trái của nền dân chủ Mỹ thời chiến. Và có lần ông giải thích nó bằng lối nói ẩn dụ đáng nhớ về sự cần thiết của những biện pháp khác thường trong việc tìm cách và kiềm chế hoạt động buôn lậu với Liên minh. “Cứ mỗi con chim hôi thối đến từ nước ngoài lại làm nảy sinh một con bọ sát bẩn thỉu nổi lên trong nước”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #106 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 12:38:48 pm »


Trò giải trí và tiêu khiển rõ ràng làm mờ mắt một dân tộc đang có trong tay một lượng tiền lớn đang tìm cách tìm nguồn cảm hứng với mặt trái của thời chiến và tìm cách thoát khỏi những tin tức ghê gớm từ các chiến trường và danh sách số thương vong. Một nhà báo của tờ Times của Luân Đôn đã viết: “Cuộc chiến này đã khiến tính nhẹ dạ của người Mỹ thể hiện rõ những ô trọc. Có điều gì đó thật đáng buồn, thật đáng sợ, trong niềm hân hoan vui sướng là một thảm họa đau buồn của đất nước. Sự dung dưỡng cho việc ăn chơi thỏa sức, hoang tàng, ngông cuồng khiến người ta phải ngạc nhiên”. Cuối năm 1863, vào lúc quân đội Liên bang thắng.lợi, trợ lý Bộ nội vụ Frederick W. Seward viết: “Những cuộc liên hoan, đình đám đã trở thành cảnh diễn ra thường ngày tại Washington trong một mùa đông ảm đạm như thể mùa đông của ngày tận thế... Người ta dường như chỉ biết ăn nhậu và ngây ngất mê say”.

Mọi chốn giải trí đều nườm nượp khách ghé qua. Những nhà hát kịch đủ loại, những người hát rong da đen, những sàn khiêu vũ, những trường đua, viện bảo tàng P. T. Barnum, những vật kỳ lạ tại New York, những bãi tắm nổi tiếng như Saratoga và hồ George, New York... lúc nào cũng nườm nượp kẻ ra người vào. Nữ diễn viên nổi tiếng người Anh Laura Keene luôn biểu diễn trước những khán phòng chật cứng. Vé cho các buổi trình diễn của cô thường bán hết trước giờ biểu diễn từ lâu. Một vai được nhiều người ưa thích của cô là vai trong vở hài kịch “Người anh em Mỹ của chúng ta”. Những cuộc dã ngoại với những giỏ xách đầy ắp thức ăn theo tay từng đoàn người nườm nượp chật chỗ trong các công viên và các khu rừng nhỏ. Một trong những dịp hoạt động xã hội nổi bật nhất của thời chiến là đám cưới tại nhà thờ Grace New York của “tướng” Tom Thumb (Charles S. Stratton, một người lùn nổi tiếng tại bảo tàng Barnum) với cô dâu bé xíu, nàng Lavinia Warren. Nhiều nhân vật nổi tiếng, trong đó có cả tướng Burnside cũng đến dự. Một sự kiện nổi đình nổi đám khác là cuộc khiêu vũ lớn được tổ chức tại thành phố New York để tôn vinh các sĩ quan và binh lính tại hạm đội hải quân Nga thả neo ở đây trong những ngày cuối cuộc chiến: Đây là cuộc viếng thăm được coi như một cử chỉ thân thiện của chính phủ Nga Hoàng.

Quần áo như những sắc hoa rực rỡ đủ màu. Một nhà báo viết về Saratoga “thời gian ở đây dường như là một dòng suối không bao giờ cạn”. Ông nói về những bộ váy áo của phụ nữ mới tới từ châu Âu trị giá tới cả 4 ngàn đôla. Ông nhận xét chua cay “các bé gái, chỉ mới rời lớp mẫu giáo, mỗi ngày thay quần áo từ ba đến bốn lần, mỗi bộ váy áo cùng nón và bao tay đồng bộ khiến một diễn viên tại Bowery cũng phải lấy làm hổ thẹn”. Ông mô tả không có nơi nào có thể bì với Saratoga yề những bộ cánh và tính hay làm đỏm của dân chúng ở đây.

Cuộc nội chiến, không như mọi cuộc chiến khác, mang đến sự dễ dãi cho đạo lý cá nhân cũng như nơi công cộng, ít nhất là theo ý thức của những nhà phê bình xã hội. Cờ bạc, rượu chè, tán tỉnh là những mục tiêu ưa thích cho những lời chỉ trích. Một người quan sát Saratoga nói: “Tán tỉnh là những gì phụ nữ có chồng quen làm. Thực tế, với lối ăn chơi thời thượng ở New York, ai cũng cho rằng mình nên ghé qua một nơi gọi là Spas of Europe. Nơi đó phụ nữ chi xài thoải mái cho váy áo, đàn ông chi xài thoải mái cho rượu chè, cho đua ngựa và cờ bạc”...

Nạn mại dâm tràn lan khắp các thành phố, đặc biệt ở những nơi gần các căn cứ quân sự và trại lính. Giáo sư Wiley đã cho rằng động cơ để đàn ông phục vụ quân đội gắn liền một động cơ phụ nữ cố thỏa mãn dục vọng ngày càng lớn hơn trong họ. Mỗi thành phố đều có những khu vực giải trí và thông thường đám gái bán hoa tận dụng kỹ năng nghề nghiệp của mình được nhiều nhất. Tờ báo Cincinati phàn nàn về sự lan tràn trong thành phố này, thứ mà họ cho là “gái điếm sát cánh bên những phụ nữ đoan trang trong những buổi khiêu vũ tổ chức nơi công cộng. New York, Chicago và Boston được cho là đầy dẫy đám phụ nữ đức hạnh buông thả. Washington có lễ vượt quá mọi cộng đồng về tính phổ biến này”. “Toàn bộ dẫy nhà ở khu vực phía nam đại lộ Pennsylvania dành cả cho loại hình kinh doanh này (kinh doanh gái mại dâm)”. Nhà sử học Margaret Leech đã viết như vậy.

Nhiều quan sát viên và lãnh đạo miền Bắc đồng tình với lời chỉ trích của báo chí về việc này. Một nhà phê bình nhận xét “Nó khiến con người ta phải đau lòng khi thấy sự ngu dốt lên ngôi… Người ta khó có thể nghĩ rằng trung tâm của quốc gia lại bị xâu xé đến như vậy”. Nhà thơ và là nhà báo William Cullen Bryant đáng kính viết cho tờ Bưu phẩm buổi chiều New York đã nghiêm khắc chỉ trích sự cố tình dung dưỡng cho lối sống xa hoa của những người đồng bào miền Bắc: “Sao người Mỹ lúc nào cũng bận rộn với những màn diễn vô vọng như vậy và tự phô trương vô ích đến thế? Làm thế nào họ có thể biện hộ cách sống như vậy trong thời chiến là đúng đắn? Chẳng lẽ không còn gì đáng giá hơn là tô điểm cho bản thân và đầu tư cho một cuộc sống dung tục. Chẳng lẽ không có một công việc kinh doanh nào mang lại lợi ích cho cả quốc gia, đồng bào và cho cả bản thân?”

340 ngàn người da đen tự do tại Liên bang, đặc biệt là 222 ngàn người ở tại những bang không có chế độ chiếm hữu nô lệ được hưởng một ít trong sự thịnh vượng lồ lộ ấy. Rất nhiều cơ hội việc làm bình thường không dành cho họ nay đã dang tay chào đón họ bởi nhu cầu ngày càng tăng về sức lao động. Những người da đen quan tâm đến cuộc chiến của Liên bang coi đó là dịp kiếm lợi vật chất. Người đại diện hàng đầu cho họ, người hùng biện tài ba và là nhà báo Frederick Douglas, từng là nô lệ, đã thấy được từ lâu rằng sức mạnh của chính phủ Liên bang là một nguồn hy vọng cho việc loại bỏ chế độ nô lệ. Ngay từ đầu cuộc chiến, ông Douglas đã thúc giục rằng: giải phóng nô lệ phải là mục tiêu quan trọng nhất của cuộc chiến. Ông giải thích cho cộng đồng da đen để họ thông cảm với đồng bào mình còn đang chịu kiếp nô lệ và ông cũng tin rằng giải phóng nô lệ sẽ xóa bỏ vết nhơ của cảnh đời nô lệ mà hầu hết người Mỹ da trắng nghĩ rằng nó gắn liền với sắc tộc da đen.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #107 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 12:39:59 pm »


Đặc biệt ông Douglas tin rằng: việc gia nhập quân đội Liên bang sẽ mang lại sự tôn trọng cho những người da đen, dành cho họ quyền công dân đầy đủ. Ông cũng là một trong những người có tiếng nói mạnh mẽ, dai dẳng đòi Tổng thống Lincoln hãy cho phép người đa đen được khoác áo lính: Khi Tổng thống giúp ông toại nguyện, ông Douglas đóng vai trò hàng đầu trong việc khuyến khích thanh niên da đen đi lính. “Trong tay các bạn, súng hỏa mai là phương tiện của tự do”. Ông nói với họ như vậy. Ông tiếp tục ngụ ý rằng nếu quyền hợp pháp của họ bị từ chối sau khi chiến tranh kết thúc họ có thể sử dụng vũ khí của mình để đảm bảo quyền hợp pháp ấy. Hơn 34 ngàn người da đen tự do đã gia nhập các lực lượng quân sự của Liên bang. Ở đó họ được tôn trọng và có đôi khi được thán phục bởi những người lính đồng nghiệp da trắng.

Thế nhưng, như mọi người đều thấy, người da den trong các lực lượng quân sự phải chịu nhiều hành động kì thị trong suốt cuộc chiến. Cả người da đen ở miền Bắc còn ở lại hậu phương cũng thế. Mối ác cảm về màu da tạm thời bị gạt sang một bên trong một giai đoạn ngắn. Bị kích động bởi chiến tranh và bởi cuộc sống giữa người da trắng, bởi chính sách về nô lệ và việc tuyển mộ người da đen vào quân đội, giao cho họ vị thế của người lính và thủy thủ đã trào dâng thành sự thù hận công khai và bằng vũ lực ở rất nhiều thành phố. Nó đạt tới đỉnh cao là các cuộc nổi loạn ở thành phố New York vào năm 1863. Việc người ta đen được tuyển dụng thông thường là tạm thời, nhất là khi người da trắng giải ngũ trở về tiếp tục công việc trước kia.

Với việc giải phóng nô lệ và việc phục vụ trong quân đội, người da đen đã bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động của họ tại xã hội miền Bắc. Vào đầu cuộc chiến, chỉ có năm bang miền Bắc (tất cả đều ở miền New England) và chỉ 6% cư dân da đen tại các bang tự do được phép bầu cử. Họ cũng chịu nhiều tình trạng “không đủ tính cách pháp lý” khác. Trong cuộc chiến những người chủ trương bài nô bắt đầu thúc giục các bang miền Bắc hãy trao quyền công dân đầy đủ cho người da đen và chỉ ra sự mâu thuẫn trong những quyền cấp thiết cho họ tại miền Nam, trong lúc lại không cung cấp những quyền ấy cho họ tại miền Bắc, quê hương của phong trào bài nô. Rất nhiều bang dỡ bỏ nhiều rào cản pháp lý đối với người da đen. Từng bang đều có trưng cầu dân ý về vấn đề “có nên mở rộng quyền bầu cử cho người da đen”. Hai bang Iowa và Minnesota chứng minh quyền bầu cử của người da đen là chính đáng ngay sau khi chiến tranh kết thúc. Thế nhưng, đại đa số người da đen miền Bắc cũng không được luật pháp công nhận cho tới khi có sự chấp thuận điều khoản bổ sung hiến pháp số 15 vào nărn 1870.

Mặc dù có rất nhiều hạn chế, kinh nghiệm chiến tranh của người da đen miền Bắc cũng làm tăng thêm tinh thần cộng đồng thiểu số của họ và để cho họ có được niềm tự hào lâu dài về những đóng góp của họ trong việc hỗ trợ nỗ lực thời chiến và trong việc theo đuổi mục đích của chiến tranh. Cuối cùng niềm khát khao của họ được là một công dân theo đúng nghĩa và được luật pháp công nhận cũng đã được đền đáp, nhưng phải chờ đến một thời điểm khác và một loạt những hoàn cảnh khác.

Chiến tranh ảnh hưởng đến phụ nữ miền Bắc theo nhiều cách đặc biệt. Nó cho họ nhiều cơ hội có việc làm mới, bên cạnh những nhu cầu truyền thống là làm việc đồng áng. Những đơn đặt hàng lớn của chính phủ đòi hỏi nhiều trang thiết bị mở ra cho phụ nữ hơn 100 ngàn việc làm tại nhà máy, xưởng may và các xưởng đạn dược. Rất nhiều công việc này trước đây do đàn ông độc chiếm. Sự thiếu vắng nam giới giờ cho phép phụ nữ được tham gia vào nghề giáo với số lượng lớn hơn trước đây nhiều. Rải rác trên khắp nước Mỹ đây đó có những phụ nữ lái xe tải, vận hành tàu hơi nước, chủ hiệu cầm đồ, chủ ngân hàng, nhà buôn chứng khoán, dịch vụ tang lễ, trông coi cửa tiệm lớn và chủ các nhà trọ.

Chiến tranh cũng cho phép phụ nữ có được công ăn việc làm trong hệ thống bộ máy của chính phủ, đặc biệt là thông qua những chính sách của Bộ trưởng Bộ tài chính Hoa Kỳ, ông Francis Spinner. Cho tới trước năm 1865 ông này tuyển dụng 747 phụ nữ chỉ riêng tại Washington. Dần dần các phòng ban của chính phủ khác cũng nhận phụ nữ vào làm việc. Mặc dù các phụ nữ làm việc trong văn phòng của chính phủ tại Washington nhận được mức thù lao tương đương với đàn ông, hầu hết nữ giới tham gia những công việc của nam giới trong các ngành kinh doanh và ngành công nghiệp tư nhân đều phải đối mặt với sự kỳ thị về lương bổng và về điều kiện làm việc. Họ phải đối mặt với sự chế nhạo, những câu chọc ghẹo thô thiển và bị bắt nạt bởi những đồng nghiệp nam giới. Khi chiến tranh kết thúc, phụ nữ là người đầu tiên bị cho thôi việc, đặc biệt là khi các quân đoàn giải tán và cựu chiến binh trở lại với lực lượng lao động tại các thành thị và nông thôn.

Cũng dễ hiểu, nữ giới có công việc được nhiều người biết đến nhất trong chiến tranh là nghề y tá. Ngay khi bắt đầu cuộc chiến, mọi y tá trong quân đội đều là nam giới. Nhưng do nhu cầu cấp thiết của thời chiến, nhiều quân đoàn đã có nhu cầu lớn cùng với sự hăng hái của phụ nữ, đã xô đổ những rào cản ấy. Trong suốt cuộc chiến, bà Dorothea Dix, một người New England nổi tiếng là cấp tiến đã phục vụ quân đội Liên bang với vai trò người quản lý các cô y tá. Một công việc đòi hỏi trách nhiệm lớn lao đặc biệt là sau khi bác sĩ giải phẫu Wiliam A. Hammond ra lệnh rằng ít nhất 1/3 các vị trí trong nghề y tá và điều dưỡng phải dành cho phụ nữ.

Trong số những nữ y tá nổi tiếng của cuộc chiến có bà Clara Barton. Bà là nữ y tá trưởng của đội quân James. Nhiều năm sau chiến tranh dẫn tới việc hình thành Hội chữ thập đỏ Mỹ và bà là chủ tịch của tổ chức này trong suốt 25 năm. Một nữ y tá đáng được ca ngợi nữa, một người cùng với rất nhiều người y tá khác làm việc cho ủy ban vệ sinh Hoa Kỳ. Đó là bà Mari Ann Bickrdyke, một góa phụ trung niên người Ohio. Bà trở nên nổi tiếng bởi năng lực điều hành và cách làm việc hiệu quả. Có một lần, khi một bác sĩ quân y tỏ ra khó chịu với bà và kiến nghị lên tướng Grant, người ta kể rằng viên tướng này đã thốt lên: “Lạy Chúa! Này anh, Mẹ Bickerdyke còn cao cấp hơn bất cứ ai, thậm chí hơn cả Tổng thống Lincoln. Nếu anh tức tối với bà ta, tôi khuyên anh nên thôi ngay nếu không bà ta sẽ ra lệnh bắt giam anh ngay đấy”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #108 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 12:40:47 pm »


Dù đóng góp rất nhiều trong chiến tranh, nhưng phụ nữ hy vọng được người ta chính thức công nhận và mong chờ những địa vị chính trị đều phải thất vọng. Năm 1863, những nhà lãnh đạo phong trào quyền phụ nữ trước chiến tranh, trong đó có các bà Susan B. Anthony, Elizabeth Cady Stanton và Lucy Stone tổ chức ra Liên Hiệp Phụ Nữ Trung Thành Với Quốc Gia. Nghiệp đoàn này được thành lập nhằm thuyết phục Hạ viện ban hành điều luật bổ sung của Hiến pháp số 13, bãi bỏ chế độ nô lệ ở khắp nơi trên đất Mỹ. Họ hy vọng có thể kết hợp phong trào đòi bình quyền cho phụ nữ với phong trào giải phóng nô lệ và cuối cùng là đòi quyền bầu cử cho người da đen. Nhưng hy vọng của họ nhằm có được quyền bầu cử cho phụ nữ đã sớm tan vỡ. Phải 50 năm sau những khát khao này mới được thỏa mãn.

Dù có những lần phải thất bại như vậy, nhưng cuộc chiến đã vĩnh viễn giải phóng cho phụ nữ thoát khỏi những công việc mà trước đây truyền thống chỉ dành cho riêng họ. Sau cuộc chiến khá lâu, bà Julia Ward Howe tuyên bố rằng cuộc chiến đã đẩy tiến trình của sự nghiệp giải phóng phụ nữ phát triển nhanh hơn ít nhất là 50 năm. Bà Mary Elizabeth Massey nói rằng sau khi tham gia vào rất nhiều hoạt động của thời chiến, phụ nữ Mỹ đã không chịu quay trở lại “cuộc sống nơi xó bếp trước đây”. Bà cũng kết luận rằng cuộc chiến này chẳng khác nào một bàn đạp quan trọng cho sự tiến bộ của phụ nữ trong đời sống nhân dân Mỹ nói chung.

Một phần của xã hội miền Bắc là những công nhân làm công ăn lương cho các nhà máy, cửa tiệm và xưởng sản xuất vũ khí, nhà ga xe lửa, cầu tàu và các đơn vị tiện ích công cộng khác hoặc trong ngành xây dựng không có được sự no đủ như phần đông dân chúng ở giai đoạn này. Lương tăng chậm hơn, giá cả leo thang hàng ngày. Có những khi mức tăng lương chỉ bằng 30% so với mức tăng giá. Nhiều công nhân, đặc biệt là phụ nữ có chồng tham gia quân ngũ, và những người dân di cư châu Âu không nghề nghiệp, phải chịu đựng cảnh thiếu thốn cùng cực. Có nhiều cuộc bắt bớ người lao động, đặc biệt là những người di cư. Rất nhiều người trong số họ hoặc lãnh đạm, hoặc có thái độ thù nghịch đối với vấn đề giải phóng nô lệ và các chính sách thời chiến khác.

Tầng lớp lao động nỗ lực đối mặt với tình trạng khẩn trương của thời chiến bằng cách dấy lên những phong trào hành động tập thể, vốn đã suy tàn vào thời điểm trước khi xảy ra cuộc chiến. Những công nhân lành nghề như thợ lái đầu máy xe lửa, thợ may và thợ xây... (69 ngành nghề tất cả) tự hình thành những công đoàn. Khi chiến tranh kết thúc, người ta thống kê có khoảng 300 nhóm công đoàn địa phương hoạt động như vậy. Người ta đã nỗ lực đoàn kết và kết hợp những công đoàn này thành một tổ chức quốc gia có tên gọi Liên hiệp các ngành công nghiệp quốc tế ở miền Bắc Mỹ nhưng không thành công.

Những hoạt động này phải đối mặt với pháp chế chống bạo động được soạn thảo bởi chính quyền các bang. Họ đã bắt bớ rất nhiều người lãnh đạo các cuộc đình công. Khi đình công xuất hiện trong các ngành công nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến nỗ lực thời chiến, chính quyền Lincoln nhanh chóng dập tắt bằng những sự trừng phạt nghiêm khắc. Quân đội được phái tới đàn áp các cuộc đình công tại nhà máy sản xuất đại bác Parrott ở Cold Spring, New York. Lãnh đạo công nhân đã bị bắt và bị cầm tù trong các trại giam quân đội. Trong rất nhiều trường hợp, các vị tướng chỉ huy ngăn cấm đình công trong khi đang tham chiến và bắt buộc phải có lệnh bắt giữ của tòa án quân sự. Có lần, binh lính đàn áp một cuộc đình công của thợ mỏ Pennsylvania. Chính phủ bắt giam và giành quyền kiểm soát ga xe lửa Reading Rairoad tại bang này. Những lính đào ngũ bị bắt dưới tay quân cảnh sẽ bị đưa lên các phương tiện vận chuyển đến thành phố New York và làm phu khuân vác ven biển ở đây. Lính được cử tới từ Gettysburg để đàn áp một cuộc bạo động đã xảy ra ở New York. Cuộc bạo động này nhằm chống lại lệnh cưỡng bách tòng quân nhưng đồng thời cũng phản đối việc sử dụng người da đen như là những kẻ phá hoại đình công.

Những nhà lý luận cực đoan châu Âu coi nỗ lực chiến tranh của Liên bang như là cuộc thánh chiến ủng hộ giai cấp vô sản. Cuối cuộc chiến, một nhà lý luận nổi tiếng về chế độ cộng sản đã viết thư cho Tổng thống Lincoln, ca ngợi ông như người con của giai cấp lao động, người đã tham gia vào “một cuộc đấu tranh không cân sức nhằm cứu lấy một tầng lớp đang phải chịu cảnh xiềng xích và đấu tranh vì sự tái thiết của đời sống xã hội toàn thế giới”. Theo ông, người lao động tại châu Âu chắc chắn rằng “cũng như cuộc chiến giành độc lập tại Mỹ từng mở ra một kỷ nguyên mới cho uy thế của giới trung lưu, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa nô lệ ở châu Âu cũng sẽ làm như vậy đối với tầng lớp lao động”. Ông Emerson D. Fite kết luận sau khi nghiên cứu và phân tích các điều kiện kinh tế xã hội trong cuộc chiến: “Cuộc chiến này gần gũi với giai cấp lao động, nhưng vẫn coi giai cấp này có số phận đáng buồn và bị đàn áp. Nếu đứng trên quan điểm của riêng giai cấp lao động, còn tồi tệ hơn cả năm 1860”.

Ngoài thiểu số sống vô trách nhiệm và tham lam lợi dụng cuộc chiến để kiếm lời, sống phè phỡn với rượu, đàn bà, nhạc nhã, ăn diện... đại đa số dân chúng miền Bắc đều đóng góp nỗ lực của mình để hỗ trợ cho những người tham gia mặt trận. Nhiều nhóm tình nguyện thực thi đủ loại hoạt động khác nhau để quyên tiền cho sự nghiệp của liên bang. Phụ nữ hình thành tổ chức cứu trợ của phụ nữ. Họ bận rộn với việc sản xuất bông băng, áo sơ mi, đồ lót, tấm trải giường, khăn mặt và những vật dụng cần thiết khác cho binh lính. Các cơ sở từ thiện nhằm giúp đỡ cho quân nhân và gia đình họ mọc lên ở khắp nơi. Chính quyền địa phương và các bang xây nhà ở cho rất nhiều người lính bị tàn phế do bị thương nơi chiến trường, cho người bệnh tật và trẻ mồ côi, con của những người lính đã tử trận. Những khoản tiền khổng lồ và rất nhiều lương thực đã được quyên góp phân phát cho các gia đình đang bị cảnh cơ cực đe dọa do người nhà phải tòng quân hoặc bị bắt quân dịch.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #109 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 12:41:40 pm »


Một trong những tổ chức từ thiện nổi bật nhất là các tổ chức tư nhân hoặc tổ chức công chăm sóc cho chính các chiến binh. Ủy ban vệ sinh Hoa Kỳ, dưới sự chỉ đạo của một nhà thuyết giáo có ảnh hưởng lớn tại New York, tiến sĩ H. W. Bellows, đã quyên góp được những khoản tiền lớn từ những nhà hảo tâm và tổ chức những Hội chợ vệ sinh đồng thời phát hành cả xổ số. Với rất nhiều nhà kho và hệ thống nhân công đại lý làm việc trong một địa bàn rộng lớn. Ủy ban này đã cung cấp cho binh lính trái cây, rau tươi, thêm vào bữa ăn hàng ngày của họ. Đồng thời cung cấp cho họ nhiều vật dụng khác mà chính phủ chưa thể chăm sóc đầy đủ. Họ cử bác sĩ tới những bệnh viện quân đội để thanh tra và báo cáo về điều kiện vệ sinh ở những nơi này. Họ cung cấp cho bác sĩ và y tá thêm nhiều nguồn nhân lực phục vụ trong ngành quân y. Ủy ban này cũng là tiền thân của tổ chức Hồng thập tự sau này.

Ủy ban Cơ đốc giáo Hoa Kỳ cũng được các nhà hảo tâm ủng hộ, xây dựng và cung cấp nguồn nhân lực cho các nhà nguyện tại các doanh trại quân đội, phân phát Kinh thánh cùng các bài tiểu luận tôn giáo. Đội ngũ nhân lực của ủy ban hoạt động tích cực trong việc đi thăm, an ủi và chăm sóc cho những quân nhân đang bị thương, đau ốm và đang hấp hối tại các bệnh viện quân y. Nhiều nhóm khác, tham gia vào các hoạt động phục vụ tại những bệnh viện các hoạt động tương tự trong Chiến tranh thế giới thứ II, như các Tổ chức phục vụ thống nhất (United Service Organization - USO) đã cung cấp thức ăn, giúp đỡ và làm khuây khỏa hàng ngàn những quân nhân nghỉ phép, hoặc ốm đau, hoặc phải chuyển đơn vị. Phụ nữ đặc biệt hoạt động tích cực trong lãnh vực này. Một trong những trạm chuyển tiếp hoạt động tình nguyện nổi tiếng nhất là cửa tiệm của bà Cooper ở Philadelphia. Trạm chuyển tiếp này đã đón tiếp 87 ngàn quân nhân chỉ trong một năm.

Các trung tâm văn hóa chính của quốc gia đều ở miền Bắc. Và hầu hết các cá nhân nổi bật trong giới giáo dục và văn chương đều là người theo chủ nghĩa bài nô cũng như chủ nghĩa dân tộc, hỗ trợ rất nhiều cho nỗ lực thời chiến của Liên bang bằng tình cảm, ngòi bút và tiếng nói của chính mình. Nhà văn Ralph Waldo Emerson thay đổi nhanh chóng, từ một người tin vào sự tự do của địa phương cho tới một người ủng hộ “những quyền lực tuyệt đối của một nhà độc tài”. Ông nói toàn bộ cuộc chiến này nhằm chống lại những kẻ nổi loạn và tuyên bố rằng bất cứ cuộc điều đình thương lượng nào với chúng đều là bất hợp pháp, thậm chí những điều khoản thỏa hiệp về sự trao đổi tù nhân và quyền bảo vệ cho các bệnh viện, hoặc lệnh ngừng bắn để chôn tử sĩ trên chiến trường cũng bất hợp pháp luôn.

Nhà thơ Walt Whitman từng là y tá trong các bệnh viện quân y Liên bang, chứng kiến hậu quả của cuộc chiến đã thể hiện rõ trong nhiều tác phẩm ra đời sau chiến tranh của ông. Nhà sử học Francis Parkman đau buồn bởi ông không đủ sức khỏe để trở thành một quân nhân. Ông ủng hộ cuộc chiến mà theo ông là “như một luồng gió mới khuấy động bầu không khí vốn ngột ngạt đen nghẹt thở của chúng ta”.

Trong số những nhà văn lớn, chỉ Nathaniel Hawthorne và Herman Melville từ chối không tham gia cùng đồng nghiệp mình trong vô số các công việc ủng hộ sự nghiệp của Liên bang. Cả hai đều chống lại hoạt động ly khai và hy vọng Liên bang chiến thắng. Nhưng cả hai đều là những người theo chủ nghĩa bi quan. Quan điểm của họ tập trung vào mặt trái của bản chất con người dù đó là người miền Bắc hay miền Nam. Ông Hawthorne có đôi chút “nhu nhược”. Thật ra lúc trước ông đã viết tiểu sử với nhiều tình cảm yêu mến dành cho Tổng thống Franklin Pierce, người sau này trở thành vết nhơ trong cuộc đời cầm bút của nhà văn tên tuổi này.

Ông Hawthorne nghi ngờ rằng tự do sẽ làm tầm ảnh hưởng của người da đen thêm rộng lớn. Ông cho rằng thật vô nghĩa khi đẩy cuộc sống của người Mỹ vào rủi ro để giải phóng người da đen. Quan.điểm của ông về cuộc chiến khiến cho giáo sư Aaron gán cho ông cái tên “người biệt giáo cô độc”. Ông Melville đau đớn về biết bao mạng sống đã phải chôn vùi trong cuộc nội chiến khủng khiếp, ông thắc mắc: có cần thiết chăng những cảnh hoang tàn xảy ra khi cuộc chiến kết thúc. Ông băn khoăn về tác hại trở lại của một cơ chế xã hội chỉ biết dùng sức cho chiến thắng của mình. Theo lời giáo sư Aaron, ông Melville đã tận dụng cuộc chiến để viết một câu chuyện về “sự mù quáng của con người”.

Không có một tiểu thuyết hoặc tác phẩm thơ ca nào lưu danh muôn thuở được xuất bản trong thời kỳ chiến tranh. Mặc dù có rất nhiều vần thơ yêu nước nhiệt thành ra mắt công chúng trong thời kỳ này. Những bài thơ thời chiến được sáng tác sau này bởi những nhà văn lớn, ngoại trừ những tác phẩm của Whitman như “Drum-Taps” và một loạt những bài tán ca nổi tiếng nhất của ông đối với chế độ dân chủ trong tập Leaves of Grass (Lá của cỏ), đều được chấp nhận một cách hững hờ. Trong bài ca ngợi lễ kỷ niệm tại trường Harvard của James Russell Lowell, giáo sư Aaron nói: “Chiến tranh tỏa cái bóng lù lù của nó, tựa như một hình ảnh trừu tượng huy hoàng. Những người lính ngã xuống rõ ràng như mờ đi qua màn sương của cảm xúc. Nỗi đau đớn của nhà thơ phai nhạt trong những vần điệu hùng hồn”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM