Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:26:32 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cõi người  (Đọc 44923 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #20 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:13:17 pm »

SỔ LỒNG
Mười một năm nay trở lại nhà
Nhà thì đã cháy, vợ thì xa
Bà con thân thích nghèo xơ xác
Vườn cũ còn cây núc nắc già

Đó là tình cảnh Trần Huy Liệu khi trở lại cái ngôi làng Vân Cát ở tỉnh Nam Định. Lúc ra đi, anh là ông đồ non thất chí, trở về tiếng tăm đã lừng lẫy nhưng lại là phần tử nguy hiểm. Thực dân không muốn anh ở lại xứ thuộc địa Nam Kỳ với những quy chế quản lý phóng khoáng, tìm cách tống ra Bắc. Mà phải về làng, cái nơi tù hãm, dị đoan, quanh năm rã họng mà vẫn mỏi mồm xin lộc Bà Chúa Liễu.
Rời Côn Đảo cuối năm 1934, Liệu ở trong nhóm sáu người ly khai với chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn nhưng vẫn là đảng viên của Quốc dân đảng. Mỗi người sẽ có những số phận khác nhau. Nguyễn Văn Viền theo Nhật. Hoàng Thúc Dị, năm 1946 vẫn là Việt Quốc, sẽ đối đầu với Liệu. Lê Văn Phúc tham gia Mặt trận Bình dân. Còn Liệu, Tưởng Dân Bảo, Nguyễn Phương Thảo (Nguyễn Bình) sẽ nhập hẳn vào cộng sản.
Về Vân Cát tù túng. Những hàng xóm quanh năm nói mãi một chuyện. Những ông anh chưa ra khỏi tỉnh bao giờ, chỉ hơn mình dăm tuổi mà chuyện đời đã gói kín lại, y như cái nhà đóng cửa vứt chìa khóa đi để cho rêu phong. Những bà chị bạc đầu mỗi khi nhìn cây cột nhà dán giấy ghi ba chục cái giỗ trong năm. Người sang chơi đông, quanh quẩn hỏi từng nấy chuyện, báu lắm nhưng cứ thế mãi cũng chán. Và đói nữa. Liệu đâu còn lúc cầm cái cuốc ra đồng. Nói rằng lúc ở tù ngoài đảo ăn uống còn hơn về nhà thì không ai tin được.
Có người Hà Nội về tìm. Báo Đời mới vừa ra, đang rất cần một cây bút có danh. Liệu có tâm trạng như Khổng Minh được cầu hiền, chả phải vời đến lần thứ ba. Lên đương chức bẩm báo, thì tri huyện, lý trưởng ậm ừ, bảo đến chỗ mới thì nhớ trình diện. Nghĩa là chức dịch địa phương chả sướng gì phải quản anh.
- Thôi anh lại tìm vào cái ổ cộng sản rồi.
Fleutôt, cẩm mật thám Hà Nội nửa đùa nửa thật bảo thế khi Liệu đến trình diện. Anh đáp:
- Cộng sản hay không cộng sản thì cũng phải ăn cả. Tôi cần làm báo để sống, còn đề phòng cộng sản là việc của các ông.
Nhà chức trách dặn Liệu đi đâu, dời chỗ ở phải xin phép, nếu có chuyện lại phải về quê quản thúc. Thế thôi. Dù sao, sự quản lý của thực dân hồi ấy có những chỗ không chặt chẽ lắm.
Đời mới đóng trụ sở ở 17 Hàng Khoai, trên căn gác hẹp. Fleutôt đã quá cảnh giác khi gọi đây là “ổ cộng sản”. Người xin được phép ra báo là Lê Viết Hồ không biết viết báo, chính kiến cũng không. Các thành viên khác là Lê Văn Hòe, Thành Thế Vĩ, Nguyễn Đức Kính, Trần Huy Liệu, Nguyễn Mạnh Chất thì mỗi anh mỗi lập trường, “đỏ” “trắng” đủ cả. Mà chẳng ai duyệt bài ai, muốn viết gì thì phóng bút. Thế nên có chuyện bài này bênh, bài kia đập cùng một sự việc. Được cái ngần ấy con người đều nền tính, báu nhau, chung sống như một gia đình. “Nhóm” cộng sản đăng những bài về giai cấp công nhân, cắt nghĩa nguyên nhân khủng hoảng kinh tế, công kích văn chương Tự Lực Văn Đoàn… khá được chú ý.
“Côn Lôn ký sự” ra từ số 2 của Đời mới, rất được đón đọc. Liệu viết nó từ ngày nằm nhàn tản ở quê, cứ rút ruột những ký ức tù đày ra mà kể. Chuyện Côn Lôn không gay gắt lắm về những hà khắc, ác độc, mà trái lại, phần “văn nghệ” đậm đà, nào kịch cọt Molière, nào thơ phú tưởng đến bóng hồng. Không biết mà đọc có thể tưởng là ngoài ấy là một cõi mộng. Làm vậy vì Liệu mới tự do, còn ngại cành cây cong. Chứ ít lâu sau khi rời tỉnh lẻ Nam Định, anh nhận ra ngay mình đã trở lại được biển cả; cái “biển” Hà Nội những ngày Mặt trận Bình dân nắm quyền bên Pháp còn mênh mông tự do hơn Nam Kỳ thuộc địa mươi năm trước.
Đời mới rất lay lắt. Có giấy phép nhưng không ai bỏ tiền làm, cứ đi vay mượn, quyên góp. Trị sự, phát hành không người chuyên trách, nội dung thì khá nhưng tên tuổi chìm trong biển báo, bởi vậy chẳng bán được bao nhiêu. Nhà in Long Quang không nhận được tiền thì “giam” báo lại, vài hôm chạy đủ lại “thả” ra cho bán. Thế mà tinh thần “xả láng cuộc đời” rất hăng, rỗi rãi, có tí hào là đâm ngay xuống xóm hát Khâm Thiên hay nằm bẹp tai ở tiệm hút lão Vạn. Liệu quen với cách kham khổ và kỷ luật trong tù, rất kinh ngạc. Nhưng chẳng đấu tranh. Lại thế nào với “phong trào”? Thành thử chỉ còn lo giữ mình khỏi a dua.
Ra đến số 7 thì phải đình bản. Tòa soạn bị khám xét nhưng không thấy gì. Tuy chỉ sống có 7 tuần, Đời mới có công cho Liệu “tập bơi” thuần thục trong những ngày đầu trở lại “biển”. Và dù sao anh biết mình có thể kiếm sống bằng nghề báo. Quanh anh có biết bao bạn bè, cũ thì Tô Hiệu, Hải Triều, mới có Trần Đình Long… Niềm tin vào họ và vào bản thân thật vô cùng quan trọng. Liệu đã có hướng đi rõ ràng. Mặc dù chưa “đỏ” hẳn, năm 1935, anh vẫn được tổ chức Cộng sản, bấy giờ đang rục rịch dựng lại Xứ ủy lâm thời Bắc Kỳ, quyết định cho hoạt động công khai. Khả năng và xu hướng của ông tù mới ra này chỉ có thể làm báo là hợp nhất.
Làng báo Bắc Kỳ thời đó có những lề lối học theo nếp bên Pháp. Chẳng hạn tờ Lire (Đọc) bên kia chỉ đăng lại bài đáng chú ý của báo khác, được “rập” thành Tiếng vang làng báo và Kiên văn bên này, nhưng với một kiểu cách không hẳn như “tôn chỉ”.
Số phận của Tiếng vang (in rất to trên măng-sét) làng báo (in nhỏ) rất vắn. Số 1 chuẩn bị kỹ, “đinh” là việc đáp trả một bài của Nguyễn Văn Vĩnh trên Đông Dương tạp chí mạt sát các chí sĩ yêu nước là “đáng đem bỏ rọ trôi sông”. Đánh vào chủ trương trực trị gắn quyền lợi của tư sản Việt Nam với quyền lợi thực dân, báo bán đắt như tôm tươi. Dầu vậy mà tiền để ra số 2 không có. Đang lúng túng thì thống sứ Bắc Kỳ rút giấy phép. Chết yểu!
Kiên văn “thọ” được 12 số, coi như một ký lục của ông chủ bút “làm tờ nào giết tờ ấy”.
Túng đói, chả có báo để “làm và giết”, Liệu a vào làng sách ba xu, loại tiểu thuyết lịch sử kiểu Đề Thám, Vợ ba Cai Vàng… Hồi ở Côn Đảo, anh nghe chán chuyện những ông tham gia cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, bèn đem viết lại. Không dám ký tên, tất nhiên không thể đứng ra giao thiệp, Liệu nhờ người quen bán bản quyền cho Bảo Ngọc văn đoàn lấy 25 đồng. Sách ra dưới cái tên bắt mắt Loạn Thái Nguyên. Chả biết bán chạy tới đâu, tiếng vang thế nào, Liệu được nửa tiền bản quyền, nửa kia ông “lái” “thăn” mất. Dầu sao, anh có được tấm quần áo mới để khỏi bệ rạc quá giữa chốn nghìn năm văn vật.
Sang nửa cuối những năm ba mươi, tình hình thế giới căng thẳng hẳn. Trục phát xít Đức - Ý - Nhật thành lập đẩy các lực lượng, phe phái có xu hướng khác nhau bên châu Âu xích lại gần nhau. Mặt trận Bình dân lên cầm quyền ở Pháp gồm các chính đảng Cộng sản, Xã hội, Xã hội cấp tiến. Quyền tự do dân chủ ở thuộc địa được nới ra hơn. Nhóm Hồn trẻ tập hợp với Hải Triều, Hải Thanh, Lâm Mậu Quang, Hồ Xanh, Dương Lĩnh. Liệu viết dưới bút danh Hải Khách và Hải Thu (đều “dính” đến Thu Tâm), giới thiệu, cổ động Mặt trận Bình dân bên Pháp, đòi tự do dân chủ. Có những khẩu hiệu sau này anh mới thấy nó “quá cao”, không hợp thời như kỹ nghệ hóa nông nghiệp. Hồn trẻ đang có ảnh hưởng mạnh, có đội ngũ vững, xu hướng rõ, tạo được tiếng vang thì “thôi rồi” ở số 15.
Cuống cuồng đi tìm báo để ra, chí ít là cộng tác, “nhóm” bấu được vào một cơ quan thể dục đương chuẩn bị ra tờ Khỏe. Rải truyền đơn, đăng bố cáo um xùm về tôn chỉ mục đích “có lợi cho sức dân” của báo rồi, nhưng người xin được phép xuất bản lại là một nhân vật “xương xẩư” quá, rút cục nó bị nhà đương cục cắt ngay. Vừa buồn chán vừa buồn cười.
Tên Khỏe mà chết ngay trước khi chào đời. Và kể trong lịch sử báo chí, hẳn đây cũng là trường hợp duy nhất. Tuy thế những tờ truyền đơn về Khỏe khiến Liệu bắt quen được với Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai, hai giáo sư trường Thăng Long, vốn là dân Tân Việt. Xung quanh nhóm Thăng Long dần dần hình thành một tập họp những người yêu nước đấu tranh như Minh Thái, Đào Duy Kỳ, Trần Đình Tri, cùng các thầy giáo, học sinh tiến bộ.
Le Travail (Lao động) hẳn là tờ báo vào loại “thọ” và cũng đình đám nhất trong thời kỳ này. Được nhóm Thăng Long xướng lên giữa năm 1936, ấn bản tiếng Pháp này có màu sắc Bình dân. Những giáo sư Tân Việt, những ông học Liên Xô, từ Pháp. Những ông Tơ-rốt-kít… Thôi rồi các xu hướng xách động vào xã hội, nhất là trí thức. Nhưng báo ngày càng đỏ đậm khi những chính trị phạm hết hạn tù ào vào cộng tác, làm tòa soạn. Ấn phẩm vừa ra khỏi nhà in còn nóng đã có thanh niên, sinh viên ôm từng chồng đi bán, mật thám theo xem người mua, người phát hành không xuể. Rồi Le Travail hướng đến cả tầng lớp công nông, tiểu thương, trở thành diễn đàn tố cáo thực dân, quan lại địa phương áp bức. Trụ sở 24 Phạm Phú Thứ đông nghìn nghịt người đến tố cáo, tiếp rất mệt. Trong đám đứng ngồi la hệt từ nội ngoại tỉnh Hà Nội về quanh tòa soạn có không ít mật thám. Mệt nhất là dịp Justin Godart, được gọi là Lao công đại sứ, thay mặt Chính phủ Bình dân bên Pháp sang, thỉnh nguyện tới tấp đưa lên, Le Travail đòi gặp mặt, giải quyết. Nhân viên tòa soạn sắp đặt trật tự, ghi chép tướt người, còn ông nghị cộng sản Khuất Duy Tiến phiên dịch đến mất tiếng.
Liệu gặp người cũ, Arnoux, giờ là chánh mật thám Bắc Kỳ. Đang chạy đi chạy lại sắp xếp đám đông đón Godart ở đường Gambetta (Trần Hưng Đạo) anh bị lôi phắt lên ô tô về Sở Mật thám.
- Nếu xảy ra cái gì rối loạn cuộc trị an là anh phải chịu trách nhiệm. Tôi sẽ bắt? - Arnoux đe.
- Chúng tôi chỉ có việc cùng nhau đi đón người đại biểu của Chính phủ Bình dân Pháp. Còn giữ trật tự trị an là phần của các ông. - Liệu đáp, và thòng thêm - Nếu có kẻ nào khiêu khích sinh chuyện, chúng tôi không chịu trách nhiệm?
Le Travail ngày càng có ảnh hưởng. Người của bản báo đi khắp nơi thu thập dân nguyện. Phan Tử Nghĩa xuống Nam Định nghe thợ dệt, Nguyễn Mạnh Chất ra duyên hải gặp thợ mỏ, bị bọn chủ ngăn chặn, lại có bài chửi. Đêm ngủ ở báo quán Nhành lúa của Hải Triều ở Huế, nằm chung với một nông dân Truồi, Liệu chốc chốc lại giật mình vì anh này cứ hô khẩu hiệu “gửi” Godart bất thình lình. Le Travail mạnh đến nỗi đại biểu của nhóm thắng cả đại diện của tư sản Hà Nội trong cuộc tranh cử vào Viện Dân biểu Bắc Kỳ.
Dù sao, những kẻ tranh đấu chưa đến thời của mình. Xuân Thủy gửi đến cái tin tuần phủ Phúc Yên đập triện đồng vào tay một nông dân xuống Hà Nội đón Godart, tòa soạn phái Nguyễn Mạnh Chất đi viết bài “tô” cho to lên. Báo ra, tuần phủ Phúc Yên phát đơn kiện, tòa án muốn hãm Le Travail vào chỗ chết bèn tuyên phạt 6.000 quan tiền Tây, tức 600 đồng bạc Đông Dương. Giết ai ra ngần ấy tiền, nên Le Travail phải chết. Có điều, người chết” lại nẩy nòi ra hai “thằng em” cũng nói tiếng Pháp là Rassemblement (Tập hợp) và En avant (Tiền phong), tuy ảnh hưởng chẳng bằng trước.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #21 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:14:49 pm »

GRANDJEAN
Từ Sài Gòn, Tý đem hai con ra Bắc. Không thể ở quê, cũng chả tồn tại được ở Hà Nội, chị lên Đại Từ, Thái Nguyên bán nước mắm, bị đám cai trị trù dập đến khốn khổ. Con trai lớn là Diễm, Liệu gửi một cựu chính trị phạm về Phủ Lý học trường tư. Thì một hôm, tuần phủ Hà Nam đến khám nhà, vầy vò cái cặp chỉ có vài bộ quần áo và ít sách vở của Diễm, đe dọa chủ nhà tội chứa chấp con Trần Huy Liệu. Cậu bé 9 tuổi đâm ra thất học.
Phải làm ầm lên chứ! Vừa là việc của mình, lại là sự kiện để chửi chúng nó. Liệu đăng trên báo tiếng Pháp l’Avenir (Tương lai) thư ngỏ gửi thống sứ Bắc Kỳ, có đoạn: “Các ông coi tôi là kẻ thù của chế độ này mà cấm đoán tôi hoạt động thì đó là việc của các ông. Thế nhưng vợ con tôi thì có liên can gì mà cũng bị quấy nhiễu đến hết nghề làm ăn, đến bỏ học. Tôi không thể tưởng tượng được một chính phủ có thực lực, có uy quyền như chính phủ Pháp mà đến phải can thiệp vào sự học hành của một đứa bé lên 9 tuổi. Có lẽ vì sợ nó âm mưu đánh đổ chính phủ chăng…?”.
Báo ra, cẩm Lanèque gọi tác giả đến phân trần, nói sẽ cho Diễm đi học lại và đưa tiền. Thấy Liệu chỉ nhận phần học của con, Lanèque vừa cười vừa kháy:
- Đây là của tư bản bóc lột người ta, vạ gì mà không lấy.
- Ừ - Liệu cũng cười tươi, - của bóc lột, nhưng tôi không muốn lấy nó từ tay ông.
Tưởng thế là xong. Nhưng mấy hôm sau, Lanèque cho biết chánh mật thám Đông Dương Grandjean cũng quan tâm đến Liệu. Được thôi. Nhưng để tránh đòn phân hóa của tên cáo già nổi tiếng, Liệu đòi mang theo một người bạn.
Cảm giác mới đầu về Grandjean là một ông già hiền hậu, hơi giống Arnoux độ ở Sài Gòn. “Quái, sao nghề mật thám lắm người trông vẻ ngoài nhân từ thế không biết…”, Liệu nghĩ. Grandjean đã vào chuyện rất thân ái, hỏi thăm gia cảnh, thông cảm với vợ con anh đang túng thiếu, tỏ ý khâm phục công phu tự học của Liệu. Cái gì hắn cũng biết. Liệu hết sức ngạc nhiên thấy trên bàn có tập hồ sơ, bên trong là xấp thư từ Côn Đảo gửi về.
- Anh say mê lý tưởng cộng sản chủ nghĩa cũng phải. - Grandjean đi vào trọng tâm rất “ngọt”. - Cộng sản là một chủ nghĩa nhân đạo, muốn cho ai cũng sung sướng, không còn áp bức bóc lột. Nhưng loài người, cũng như vạn vật, phải ích kỷ, phải đấu tranh sinh tồn. Xã hội loài người phân giai cấp cũng bình thường, tự nhiên như vũ trụ vốn bất bình đẳng mà thôi. Anh xem Phật Thích Ca chẳng những thương người mà còn thương cả chúng sinh, không ăn thịt các loài vật. Nhưng khoa học ngày nay đã chứng minh rau đậu cũng là sinh vật. Nếu biết thế mà Thích Ca không dám ăn gì thì cũng phải chết đói thôi.
- Anh đọc André Gide rồi phải không? - Grandjean cởi mở hơn khi thấy Liệu ngồi im. - Gide là nhà văn thích chủ nghĩa cộng sản và rất nhân đạo thế mà ông ấy vẫn thất vọng về Liên Xô đấy thôi(1). Nếu anh không tin, tôi sẽ tạo điều kiện cho anh sang Liên Xô, thế nào anh cũng vỡ mộng cho mà xem.
- Xin lỗi, - Liệu chen vào - Có lẽ ông mời tôi đến chơi hôm nay không phải để tranh luận về các học thuyết. Tôi cũng chẳng ngây thơ gì lại có cái ảo vọng thuyết phục ông theo chủ nghĩa cộng sản. Nhưng tôi muốn biết ngay ông muốn gì ở tôi?
- Do lòng mến mộ anh, tôi muốn bàn với anh một việc.
- Ông muốn tôi làm mật thám cho ông phải không?
- “Người ba đấng, của ba loài”, - câu thành ngữ Việt ra khỏi mồm Grandjean rất thành thục, tôi đâu dám bảo anh làm việc ấy. Tôi chỉ muốn nói với anh là nếu cứ theo đuổi làm cách mạng mãi thì anh để khổ cho cả vợ con, những người chả có tội gì. Tôi muốn tiến cử anh vào làm ở trường Viễn Đông Bác Cổ tha hồ đọc, nghiên cứu đến hết đời. Còn chị ấy, tôi xin phép được biếu một món tiền đủ để mở cửa hiệu ngay Bờ Hồ. Rồi con anh đi học, ít nữa làm kỹ sư, bác sĩ. Anh cứ cân nhắc đi. Tôi đâu dám bảo anh làm việc cho tôi. Bàn vậy, thế nào tùy anh, miễn là từ nay đừng làm báo nữa.
- Thế là tôi biết mục đích cuộc gặp của ông rồi. - Liệu nói bằng giọng “kết luận”. - Trước đây ở Nam Kỳ đã có người Pháp trong chính quyền hứa cho tôi những bổng lộc như thế, và còn bốn trăm mẫu ruộng ở Cà Mau nữa kia. Nhưng thưa ông, đời tôi đã chọn việc làm rồi. Tôi làm báo cũng như ông làm mật thám. Còn chủ nghĩa cộng sản có thắng không thì đó là vấn đề của lịch sử. Tương lai sẽ trả lời.
Câu chuyện không thể kéo dài thêm nữa.
Grandjean tiễn khách thân mật, còn Liệu thở phào vì đã vượt qua một cạm bẫy không dễ vượt. Nhưng anh không thể không nghĩ: tại sao lão trùm lại nhắc đến Viễn Đông Bác Cổ, cái kho sách có lẽ là quý giá nhất xứ? Hay hắn đọc ra cái chí hướng của mình vươn về một cõi tĩnh tại, ở đó tha hồ được yên tâm đọc, viết những gì mình nghĩ…
______________________
Chú thích:
1. Ý nôi đến quyển “Trở về từ Liên Xô” của A. Gide
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #22 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:17:24 pm »

THƯ GIẢ TÌNH THẬT
Năm năm cấm cố ngoài đảo đem lại biết bao thay đổi. Về lập trường chính trị, Liệu đã cảm thấy sự bất lực của chủ nghĩa Tam Dân. Những mục tiêu dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc vẫn còn đấy, nhưng phương cách thực hiện thế nào, đi với ai để “nương nhờ” đã khác. Khối cộng sản quốc tế, với Liên Xô là một thực thể vật chất, hùng mạnh biết bao, đến những lãnh tụ dân tộc thuần chất như Phan Bội Châu cũng còn bị thuyết phục cơ mà. Lý tưởng cách mạng có vẻ đã tìm được chỗ “đỗ” ở một thể chế chính trị. Liệu có những người bạn mới là cộng sản, tuy chưa hẳn đã đồng chí. Và xa rời dần dần đồng đội Quốc dân đảng.
Về mặt tình cảm, người đàn ông ngoài ba mươi đã vợ cái con cột lại có sự đèo bòng khác. Mối tương giao đem lại sự hứng khởi cho anh ngoài đảo với người nữ hộ sinh được nhóm lại ngay tức khắc, bằng những cánh thư gửi về số 6 đường Mac Mahon, Sài Gòn. Đáp lại, là những lời lẽ nồng nàn biết bao. Sự trải lòng mà chưa giáp mặt tạo nên cảm giác bí ẩn đê mê. Những khám phá nồng thắm. Những phát hiện khiến cả hai thăng hoa.
Hẳn là nhiều đêm, trong niềm vui tự do, được gần gũi vợ cái con cột, Liệu phải thầm nhắc đến cái tên Phạm Thị Hồng với một sự sôi nổi kìm nén. Tý rất vất vả kiếm sống giữa Sài Gòn trong năm năm qua, để Diễm, giờ 8 tuổi, và Vân, 6 tuổi, chẳng phổng phao đủ đầy gì, nhưng được lớn lên, ít nhất là cũng không yểu mệnh sớm như những đứa con ra đời ở quê. Năm năm ngoài đảo đã lấy đi của anh quá nhiều: lý tưởng xã hội ngày nào, sự gần gũi vợ con, những hiểu biết, ứng xử về một cuộc sống bình thường, ồn ã, tự do. Nhưng những gì “đỗ” lại chả phải ít: nhận thức về một chân trời mới, những người bạn giàu ý chí. Và le lói nhưng khiến tê mê, những cánh thư với người con gái trẻ - chắc chắn rất nồng nàn.
Nhưng cuộc đời lại xếp đặt cho người đàn ông đào hoa một thú vị khác, không oái oăm, mà có lẽ còn rất trọn vẹn. Liệu không được về Sài Gòn, đến nhà số 6 Mac Mahon để gặp cô hộ sinh yêu dấu vì lệnh cấm cố không được héo lánh đến đất thuộc địa. Thực dân bắt anh chờ đợi, chỉ được đắm đuối trong những giấc mơ, để rồi hạnh phúc thực hiện ra trong một hình hài khác hẳn, chả ai có trí tưởng tượng giàu có nào “sáng tác” ra được.
Đó là một bức thư, gần sáu chục năm sau, được tác giả của nó chép lại theo trí nhớ, trong thiên hồi ký “Những ngày xa xưa ấy” ra ở Mỹ năm 1996. Sự chính xác về câu chữ đến đâu, chả ai bảo đảm được, nhưng sự thực thì hẳn là đáng tin cậy.
Sài Gòn ngày… tháng… năm…
Anh thân yêu.
Cho phép em được dùng hai chữ “thân yêu” vì đây là lần đầu tiên và cũng là lần chót. Chúng ta sẽ từ biệt nhau trên bức thư này luôn luôn và mãi mãi! Mai hay mốt đây anh sẽ nhận được thiệp cưới của Hồng với một người đàn ông xa lạ. Em biết chuyện này làm thương tổn lòng tự ái của anh không ít, nên em vội viết thư này để giải thích cho anh rõ mọi việc. Ngay từ bức thư đầu tiên anh viết cho Hồng cho đến bức thư ngày hôm qua mới nhận được, trong toàn bộ những bức thư ấy đã diễn tả một giai đoạn từ tình bạn sang tình yêu mà anh đinh ninh giữa anh và Hồng. Sự thật không phải vậy, mà người ký tên ấy là em, chỉ là em mà thôi! Lý do: Hồng rất làm biếng đọc thư, trong khi công việc, nào tiền bạc, khách khứa, rộn rịp suốt ngày. Do đó, Hồng giao cho em trả lời tất cả thư từ, em có hỏi lại… Cả thư anh Liệu nữa sao? Hồng trả lời cụt ngủn: “Tất cả chẳng từ một ai”… Em hiểu ngay Hồng chẳng có chút cảm tình riêng tư gì với anh cả. Lẽ ra, em nên nói cho anh biết lúc ấy. Nhưng, không biết vì cơn cớ gì, đã xui em… viết tiếp cho anh.
Cho đến hôm nay, đám cưới của Hồng, em không còn lý do gì để giấu giếm được nữa, đành phải viết thư này nói rõ cho anh biết. Em là người con gái nghèo, trình độ học vấn lại ít, tiền của không có gì, chỉ là một kẻ làm công cho Hồng như tất cả mọi người làm trong nhà bảo sanh ấy. Đối với anh, em chỉ là một con số O - không có gì xứng đáng cả. Cái tội gian trá xin anh tha thứ cho em và em thanh minh với anh rằng: Hồng là con người vô tội, không biết gì về việc em đã làm cả. Em thật có lỗi nhiều, nhưng bây giờ, em biết nói gì đây? Chỉ xin anh nhớ cho rằng: Hồng không lừa anh mà chính em lừa anh và căn nguyên sự lừa lọc ấy chỉ là một tình yêu cuồng nhiệt không kịp suy nghĩ, thế thôi!
Từ nay chúng ta sẽ không bao giờ gặp nhau nữa, nhưng luôn luôn trong lòng em vẫn có một chỗ cao quý nhất, sâu kín nhất để tôn thờ hình ảnh anh:
Há phải vì ai, lỗi tại ai?
Hoa xuân tàn tạ rụng hiên ngoài
Hoa tình nở trái thì mau rụng
Há phải vì ai, lỗi tại ai!
Vĩnh biệt anh
THU TÂM

Nhận thư Thu Tâm tức Phạm Thị Bách, cô em họ của Phạm Thị Hồng, cũng ra Côn Đảo năm 1933, Liệu đã cảm thấy những gì? Hẳn là những nhận biết trái ngược đến hỗn loạn: hẫng hụt, tự ái, không khỏi ê chề, nhưng lại cũng bâng khuâng, mừng rỡ. Cảm giác cuối cùng hẳn phải là mừng rỡ.
Có cái cơ duyên nào từ trên trời rơi xuống nên anh mới tránh mặt Hồng khi còn trên đảo chứ. Trời đã không cho anh cái tình của Hồng, thì lại “bù” cho một cô em họ trẻ hơn, chắc chắn là rất lãng mạn, nồng nàn. Anh vẫn thích điều đó cơ mà, khi bên mình đã có người vợ khỏe mạnh, hết lòng với chồng con nhưng đơn giản, chả lý mấy đến thơ phú với “tình tang”.
Những suy đoán trên phù hợp với thực tế sau này, nhưng trước mắt, có lý với đoạn trích sau trong- hồi ký “Những ngày xa xưa ấy”.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy hơi trễ, lại có hai người đẻ khó nên phải đến 11 giờ, công việc mới kết.
Tôi rửa tay xong bước ra phòng khách thì con bé Nhi con chị bếp, cầm đưa cho tôi phong thư, nói nhí nhảnh: “Có phải thơ của cô không? Mọi khi thơ cô đề khác kia mà”.
Tôi nhìn dòng chữ đề trên bao thơ. Madame Trần Huy Liệu, 6 Mac Mahon Sai gon. Đúng là nét chữ anh Liệu. Mồ hôi tôi toát trên trán, cầm lấy phong thư, tay run lẩy bảy ngồi phịch trên chiếc đi văng bọc đệm mềm mà ghê sợ như ngồi trên gai góc. Không biết làm sao lại có những dòng chữ như thế này nhỉ? Tôi lặng đi đến năm phút mới dám bóc ra. Bức thư như sau:
Hà Nội ngày… tháng… năm…
Thu Tâm, người vợ yêu quý của anh,
Anh thật buồn cười khi đọc thư em, sao em lại trẻ con thế. Tình yêu không phải là một trò đùa giải trí, cũng không tạo nên bởi những cái phù phiếm bên ngoài, tiền bạc, nhà cửa, xe cộ… Em không biết gì về nhân sinh quan của anh, nên mới… dám đặt bút viết cho anh những câu như thế. Nếu anh không biết rõ những sự ngây thơ thành thật của em thì có thể là anh cho rằng em cả gan xúc phạm đến nhân phẩm của anh một cách nặng nề, nhưng vì anh biết rõ tâm hồn chất phác của em, nhất là sự khép kín trong gia đình, chưa từng chạm trán với đời nên mới có những thái độ vội vàng như vậy.
Anh tha thứ tất cả cho em và càng yêu quý em nhiều hơn. Vậy từ nay em hãy vui vẻ và yên ổn khi mang tên anh, đừng nghi ngại gì cả. Gởi cho em tất cả những cái hôn nồng cháy và thương nhớ.
TRẦN HUY LIỆU
Suốt đêm hôm ấy, tôi không sao ngủ được, cử lẩm nhẩm trong bụng đọc lại bức thư của anh Liệu vừa nhận buổi trưa. Tôi dự tính khi nào Hồng đi chơi về nói hết sự thực cho Hồng nghe, xin Hồng giúp tôi mở một nhà bảo sanh khác để sau khi có căn bản làm ăn sẽ tính đến việc thành hôn với anh Liệu. Còn cách đối phó với chị Liệu ra sao thì lúc ấy tôi còn trẻ người non dạ, nhất là chưa kinh nghiệm về chuyện chồng đôi vợ ba, cứ nghĩ đơn giản anh Liệu đã thương tôi nhiều đến thế, thì hẳn là anh thu xếp được việc nhà, không để đến nỗi tôi phải dở dang.
“
Chương” mới trong cuốn “tiểu thuyết tình cảm” của Liệu bắt đầu được viết, xuất phát có vẻ giống với những câu chuyện kiểu Tự Lực Văn Đoàn.
Nhưng đoạn cuối của nó lại chả lãng mạn tị nào.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #23 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:19:48 pm »

YÊU VÀ KHÔNG THỂ LẤY VÀ…
Trần Huy Liệu thấp nhỏ, không “đường bệ” tí nào, chân hơi khập khiễng vì có tật, mắt lại hay “rơi” lệ do không được giữ gìn hồi còn ở quê nên mang biệt danh “ông Lòe”. Vậy mà theo ngôn ngữ tử vi cung Thê của ông lại tươi tốt. Liệu chỉ có hai bà vợ chính thức là Trần Thị Tý, lấy rất sớm, đẻ 6 lần đậu 4, và Nguyễn Thì Hy tức Sửu, đẻ 2 con. Bà Phạm Thị Bách tức Thu Tâm nữ sĩ đi với ông một chặng đường khoảng mươi năm là một gánh tình chẳng dễ quên, tuy chẳng được bà Tý và đoàn thể công nhận nào…
Sau năm 1975, ông Phan Huy Lê, người trong giới sử, vào Đà Lạt, thì bà đến, tự giới thiệu là người thân Trần Huy Liệu. Ông Lê thuật lại cùng đi có người đàn ông. Bà Bách chỉ vào, bảo là chồng, sau đó rất tự chủ: “Sau này tôi có gặp một vài người nữa, nhưng không có ai nặng tình như với ông Liệu. Ấn tượng của Phan Huy Lê về bà Bách là rất sắc sảo thành thực, có khả năng biểu đạt cao.
Sau giải phóng miền Nam ít lâu, bà Bách “lội” ra Hà Nội, mục đích duy nhất là để thăm mộ Trần Huy Liệu. Bà ở 16 Phan Huy Chú, ngủ trên chiếc giường ông Liệu nằm, cùng với bà Tý. Khoảng năm 1996, người viết gặp được bà ở Sài Gòn vài ba lần, lúc tới thăm bà trong cái “ấp” ở Củ Chi thì đọc, ngay trong đêm, hồi ký “Những ngày xa xưa ấy” mới in bên Mỹ. Tâm trạng của bà đêm ấy là “cái này in trong nước thì có sao không?”.
Rồi bẵng đi. Bặt tăm luôn.
Phạm Thị Bách tức Thu Tâm, như trong hồi ký kể trên, ra Côn Đảo năm 1930, lúc 18 tuổi. Giờ đây, bà ở đâu, còn hay mất chả biết, nhưng người viết cứ xin phép đoán bà đẻ năm 1912 theo cách tính của người Tây. Bà quê Hải Dương, dòng dõi văn thân, bà nội là chị ruột ông Tán Thuật theo Cần Vương đánh Pháp. Ông bố là giáo thụ, mẹ làm ruộng, dệt vải ưu tiên con gái út cho học quốc ngữ. Có người bạn gái lớn tuổi là chị Giáo Nhất, Bách quen biết “luôn” Nguyễn Thái Học cùng đám đồng chí Quốc dân đảng của ông, cả “chị” Giang, người yêu Học.
Sự giao du này hẳn đã gieo vào Bách sự cảm mến với những người yêu nước chống Pháp nói chung, những người Quốc dân đảng nói riêng. Mà Trần Huy Liệu, cuối những năm hai mươi thế kỷ trước, là bí thư kỳ bộ Nam Kỳ của Quốc dân đảng, đang làm loạn Nam Kỳ bằng những bài báo ký Nam Đẩu, Côi Vị trên các tờ Đông Pháp thời báo, Nông Cổ mín đàm, Ngòi bút sắt, Rạng đông…, các vận động để tang Phan Chu Trinh, đòi thả Phan Bội Châu…
Cuốn “Một bầu tâm sự” của Liệu phân tích thời cuộc bàn kế sách cho quốc dân làm cô gái lớn lên ở phố huyện say mê lắm. Đến nỗi mà, khi có người chị họ là Phạm Thị Hồng, vừa tốt nghiệp trường hộ sinh, rủ ra làm việc ngoài đảo thì nhận lời ngay. Đối với tuổi trẻ, gặp được người mình cảm mến là tất cả. Xa xôi, đến chốn lưu đày có là gì, thậm chí tưởng tượng cảnh nhìn được mặt nhau giữa trời nước còn lãng mạn hơn. Nhưng thực tế lại nghiệt ngã. Giữa bể cả, những hòn đảo chả có gì đặc biệt. Cây cối, dù là cổ thụ, xơ xác. Cỏ héo queo ôm lấy những con đường gập ghềnh sỏi cát. Công việc cũng ít, vừa hiếm người sinh nở vừa có người tù được phái ra giúp, nên Bách tha thẩn tới nhà thờ xem lễ. Rồi ra được cha “giác ngộ”, theo đạo thật. Học giáo lý rất chăm, tuy chả mấy tin, sau sáu tháng, Bách được đặt tên Thánh Theresa và sắp chịu lễ Thêm sức. Đấy cũng là sáu tháng thư từ, xướng họa với Trần Huy Liệu.
Giờ thì thật khó để xác định cô hay người chị họ đã gửi lời nhắn đầu tiên của Hồng đến Liệu - đang ở banh 2. Nhưng đó là thời gian Liệu đang là tù chính trị Quốc dân đảng, có nhiều đồng chí quen biết Bách.
Những lá thư cuốn hình tổ sâu đan đi đan lại, nối nơi cầm cố với ngoài đời, cũng không khác với một nơi cầm cố nhiều lắm. Có thể hình dung trong lòng người con gái đầy hoài bão, khao khát một cuộc sống mới mẻ, mạnh mẽ ấy hai quá trình diễn ra khá nghịch ngược nhau. Đằng này là “thần tượng” trần trụi, cụ thể, đương nổi loạn chống lại trật tự hiện hữu. Đằng kia là Nước Chúa vĩnh cửu, người ta hướng đến để có sự yên hằng. Bên ngoài là con chiên siêng năng ăn nhời cha, bên trong lại giao du với phản nghịch. “Đu đưa” giữa hai nhẽ, cô gái vừa mơ màng vừa tủm tỉm cười.
Được sáu tháng, thì vụ “đánh lừa” Trần Huy Liệu - mà chả phải là để đùa cợt - tắt cái phụt. Đang học kinh trong nhà thờ, Bách bị điệu ra, tống về đất. Những mối liên hệ của cô đã bị nhà cầm quyền trên đảo biết. May không thành bạn tù với Liệu, chắc vì những thủ tục truy tố chưa đủ. Nhưng khi rời đảo, giữa tiếng còi tàu tu tu, cô chỉ muốn nhảy xuống biển quay lại với người ấy.
Bách đi, rồi Hồng hết hạn cũng về Sài Gòn, lại mở nhà hộ sinh Hồng Phúc. Năm 1935, cầm tờ Tiếng vang ra ở Hà Nội, đọc bài đánh Tự Lực Văn Đoàn, trái tim Bách lại trồi đập dữ dội. Hồng “lăn” vào các hoạt động thời Bình dân, đi suốt ngày, giấy tờ thư từ, trong đó có cả của Liệu đến chả đọc bao giờ, phó cả cho Bách. Ban đầu, cô tưởng Hồng cũng yêu Liệu. Nhưng rồi tìm cách “thanh kiểm tra”, thấy trong tim Hồng chả chỗ nào có chỗ cho “thần tượng” của mình, Bách nối lại cuộc “đùa dai” bắt đầu từ trên đảo.
Hồng lấy chồng. Chả còn lý do gì để “náu mình”, Bách “ra công khai” bằng lá thư kể tình đầu, mong Liệu tha lỗi. Cái phải đến đã đến. Trong thư trả lời, Liệu nhận ngay Bách là “người vợ yêu quý của anh”. Họ đã gặp nhau trong tình trạng “tình trong như đã mặt ngoài còn chưa tỏ” thế nào? Dường như đã có một giai thoại. Rằng, vì Liệu không được phép vào Nam Kỳ nữa, hai người hẹn giáp mặt ở Huế, với “ký tín ám hiệu” anh cầm quyển sách, em mặc áo dài màu vàng. Cầu Trường Tiền hôm đó chứng kiến đôi nam nữ, người thật sang trọng, kẻ rõ tiều tụy, lượn đi lượn lại mãi rồi mới bắt nhời nhau.
Những ngỡ ngàng, e ấp qua đi, còn lại là sóng tình dữ dội. Chắc chắn Liệu được hưởng ở Bách những cảm giác mà Tý không thể đem lại. Trẻ trung, thanh sắc hơn, đã đành. Nhưng cái tuyệt diệu là những câu chuyện. Đồng điệu, lời mới ra đã hiểu bao nhiêu ý nhị, khác hẳn “chính thất” chân phương nói thế nào biết thế nấy. Hai bên đều có những mối quan hệ, sự yêu ghét chung, đều lui tới tòa soạn này, hội thơ nọ. Bách chả lạ gì cái gia đình nhỏ, nheo nhóc của Tý, cũng thuộc rành rành cái trụ sở khét tiếng của báo Tin túc, nơi có những con người mà thực dân chả ưa gì như Đặng Xuân Khu, Trần Đình Long, Khuất Duy Tiến. Người con gái trẻ có ngán ngại gì đòn ngầm chính quyền có thể dành cho mình không? Chắc là có. Nhưng đã yêu thì kể gì. Được nghe cái giọng truyền cảm, vang, từng thuyết phục cả biển người thủ thỉ cho mình mình nghe, há chẳng quản những nguy hiểm rình rập. Vì chả muốn “ngứa mắt” Tý, tuy đã “chị chị em em” xin nhận làm hai, đôi người yêu nhau thỉnh thoảng lại hẹn hò ở những nơi xa xôi. Tự do giữa biển trời, chỉ có hai trái tim đồng điệu, không cần giữ ý giữ tứ khi muốn bày tỏ, chả phải là hơn à.
Sau những bỡ ngỡ, e dè, sự đụng chạm ban đầu, là những khám phá về tính cách đích thực của nhau. Bách nhận thấy Liệu rất tiết kiệm, không chịu xài hoang phí bao giờ. Chấp nhận điều ấy, cô lại ấm ức vì anh ghét cả ăn mày, cho đó là không tự lập. Về phần mình, Liệu bắt đầu làm quen với nếp cẩn thận, chau chuốt về ăn mặc của Bách mỗi khi ra ngoài. Sức khỏe của Bách cũng là một vấn đề: cô không dai sức, chịu được gian khổ như Tý. Có rất nhiều “đỗi” để so sánh trong lòng người đàn ông đa mang. Nhưng mỗi lần đi đâu với Bách, Liệu đều thẳng thắn nói với vợ. Một người bạn gái chung của cả hai khuyên họ làm vậy vì “ngay từ buổi đầu, anh phải giữ lấy cái quyền làm chồng để sau này dễ xử”. Có lẽ những đận đi xa rất tốn kém ấy, anh đàn ông lại không phải là người chu cấp chính. Đoàn thể có tiền, Liệu còn viết báo rất nhiều, chắc không thể sinh lợi bằng ngôi nhà hộ sinh ở Sài Gòn, vừa đổi sang tên mới Hạnh Phúc.
Nhưng hạnh phúc nào thì cũng có giá, đòi “trả” trong những tình huống bất thường đến oái oăm.
Một đêm khuya thức giấc, anh Liệu thở dài và nói với tôi thế này:
“Em có biết những lúc chúng ta vui vẻ thế này thì má thằng Diễm (tức bà Tý) ở nhà làm gì không?”
Tôi giật mình, thấy rờn rợn, ấp úng trả lời:
“Em làm sao biết được?”.
Anh Liệu ngồi dậy nói một cách buồn rầu:
“Bà ấy ăn trầu em ạ!”.
Tôi ngạc nhiên: “Sao lại ăn trầu vào nửa đêm?”
“Thì bà ấy buồn mà lại. Em có biết rằng anh vắng nhà bao nhiêu đêm thì bấy nhiêu đêm bà ấy thức suốt sáng. Những lúc ấy dĩ nhiên phải ăn trầu miếng nọ tiếp miếng kia chứ ngồi không sao được”.
Tôi ngẩn ngơ hỏi:
“Thế tại sao anh lại biết được? Chị ấy nói với anh?”
Anh Liệu lắc đầu: “Không, chị ấy không bao giờ nói với ai cả”.
“Thế sao anh biết được?”
“Chị Khu (vợ ông Đặng Xuân Khu, tức Trường Chinh) nói với anh”.
Tôi giật thót mình: “Trời ơi! Sao mà chị ấy ác thế? Muốn cho người ta tan cửa nát nhà hay sao?”
Anh Liệu lắc đầu nhè nhẹ: “Chị Khu sợ anh Khu sẽ bắt chước anh”
Tôi kêu lên: “Trời ơi! Mấy mươi đêm thức suốt sáng khổ đền thế ư?”.
Tôi bỗng thấy như có một mũi dùi nung đỏ đâm suốt qua trái tim mình. Tôi thật sự đã hiểu hết cái khổ của một kẻ yêu chồng người khác.
Giấc mộng yêu đương bừng tỉnh, hạnh phúc bỗng vụt tan đi như làn khói gặp cơn gió lốc. Tôi nắm chặt tay anh Liệu, giọng run lên: “Làm thế nào bây giờ? Làm thế nào bây giờ?”.
(Những ngày xa xưa ấy. Hồi ký của Phạm Thị Bách. Thế kỷ. Hoa Kỳ 1996)

“Lắc lư” giữa hai người đàn bà, hẳn Trần Huy Liệu phải thấm thía sức nặng của hai chữ “tình” và “nghĩa”. Một mặt, là người vợ ngang tầm tuổi, đã bắt đầu héo đi, dù có sức chịu đựng hầu như vô biên những tai ách do cuộc sống hoạt động của chồng đem lại. “Bên này” là người con gái trẻ trung nói mãi những chuyện đời mà không hết. Anh cố gắng làm mọi chuyện để đôi bên được đầy đặn, như về Hải Dương thăm nom mẹ Bách ốm nặng, đi đưa đám bà cụ, chắt chiu tiền nong đỡ đần Tý. Và “có hiếu” với con cái lắm. Như lúc Diễm 9 tuổi, không được vào trường nào vì “con nhà xấu”, ông bố đưa lên báo đấu.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #24 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:22:06 pm »

MỒNG 1 THÁNG 5 NĂM 1938
Những năm từ 1936 đến 1939, ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân bên Pháp dội sang Đông Dương thật mạnh mẽ. Người Pháp phân cực rõ ràng trong thái độ với thuộc địa. Một mặt, là những kẻ có tư tưởng thực dân, muốn ngu dân để tiện cai trị, bóc lột, triệt để bóp nghẹt dư luận. Nhưng tư tưởng “Bình đẳng - Tự do - Bác ái” của cuộc đại cách mạng tư sản vĩ đại lại dẫn dắt những người khác đến hành động nới lỏng quyền phát ngôn, tôn trọng dân bản xứ hơn. Cả hai phía “lập trường” đều có người trong bộ máy cầm quyền, sinh ra những mâu thuẫn trong cách “cầm” dân. Hoàn cảnh ấy nhá nhem, người muốn độc lập vừa được mạnh mồm lộng ngôn, lại cũng dễ “xộ” khám. Dù sao thì cũng “được thể”, Mặt trận Dân chủ Đông Dương ra đời, tập hợp những xu hướng có thể gọi là tương đối gần nhau, để rồi làm mưa làm gió ở Bắc Kỳ. Cái sự “tương đối” ấy thể hiện ở hai chữ Dân chủ, còn nghĩ về ý tứ độc lập thì vẫn khác nhau nhiều lắm. Dẫu sao thì “mảnh chăn chung” mặt trận thì ai ai cũng cần “đắp” trong cơ hội tự do này.
Mặt trận có vẻ “lơ lửng”, ít hậu thuẫn, vì chỉ có ba nhóm. Cộng sản tập hợp quanh tờ Tin tức của Đặng Xuân Khu, Khuất Duy Tiến, Trần Huy Liệu… Nhóm Ngày nay của Nguyễn Tường Tam nhiều trí thức, tiểu tư sản, quan tâm đến việc cải thiện đời sống người lao động, như hô hào làm “nhà ánh sáng”. Và chi nhánh đảng Xã hội (Đệ nhị Quốc tê) Pháp tại Hà Nội, bí thư là Caput rồi Lemaire, người ta có Trần Văn Lai, Phan Thanh, Phan Tử Nghĩa… Bộ ba ấy nhiều điểm mỗi anh nhìn mỗi phía, nhưng đều cần quần chúng. Mà quần chúng thì những người Cộng sản nắm, tuy chính đảng đang là bất hợp pháp. Cái cả ba đều muốn là đi với nhau, thế ỷ dốc sẽ làm thực dân kiềng, bẻ cả bó đũa vẫn khó hơn từng chiếc. Thanh thế của Mặt trận rất lớn, cho thấy sự lựa chọn của cái nhóm trong đó, vào thời điểm này, là phù hợp.
Vấn đề đặt ra là: Tổ chức quần chúng có công khai không? Thực tê lúc ấy cũng trả lời là nó vừa công khai vừa bí mật. Vì, theo nguyên tắc, tổ chức quần chúng phải là công khai, nhưng đảng lãnh đạo nó lại nằm trong bí mật. Cho đến giữa năm 1939, trong cuộc liên minh với các nhà báo, trừ hai tờ La Patrie annamite và Nước Nam của bọn bảo hoàng, từ mấy tờ báo hàng ngày đến hết thảy các báo hàng tuần, đều ký tuyên ngôn chống việc thi hành hiệp ước 1884, Mặt trận Dân chủ lại được mở rộng hơn trước. Nhưng rồi, cuộc Đại chiên thứ II bùng nổ, Mặt trận Dân chủ cũng hạ màn. Có thể nói là từ năm 1936 đến năm 1939, Mặt trận vẫn đương coi là thời kỳ hình thành. Lúc mới đầu, trong đám chính trị phạm ở nhà tù ra, vẫn có anh em không thông với chính sách mặt trận. Có người bảo những người hoạt động hợp pháp như thế là làm chính trị, chớ không phải là làm cách mạng, vì làm cách mạng đánh đổ “chính phủ” thì phải bí mật mới được. Bây giờ cũng có anh em nhận định Mặt trận Dân chủ bấy giờ không phải là Mặt trận Dân tộc thống nhất, vì nó không chống đế quốc, còn ủng hộ chính phủ Mặt trận Bình dân và thành phần của chi nhánh Xã hội Đệ nhị quốc tế còn có cả người Việt lẫn người Pháp. Thực ra, thì Mặt trận Dân chủ về tổ chức, đương trong thời kỳ hình thành, về mục đích yêu cầu, nó chủ trương chống phản động thuộc địa, đòi tự do dân chủ. Không thể nói là phản động thuộc địa không có “bà con” gì với đế quốc chủ nghĩa. Có chăng, nó là những khẩu hiệu thấp nằm trong chương trình tối thiểu của luận cương cách mạng tư sản dân chủ.
Những đánh giá trên trong cuốn “Hồi ký Trần Huy Liệu” ra năm 1991, đặt ra những câu hỏi về cái nhìn của ông về chính sách mặt trận. Cho giai đoạn 1936 - 1939 mới chỉ là “thời kỳ hình thành” của Mặt trận Dân tộc thống nhất sau này, phải chăng ông có ý tiếc cho một liên minh giàu khả năng bị đứt đoạn vì chiến tranh thế giới? Cho chủ trương chống phản động thuộc địa, đòi tự do dân chủ lúc bấy giờ chỉ là những “khẩu hiệu thấp” so với lý tưởng của cách mạng tư sản dân chủ, phải chăng ông chưa thỏa mãn với hiện tình dân chủ?
Cách mạng cần mặt trận như một chính sách để đạt đến một độc tôn tuyệt đối hay lấy đó để mưu cầu hạnh phúc cho cả khối thống nhất, nghĩa là con người vừa đủ ăn đủ mặc, vừa được lựa chọn tư tưởng của mình, hành động trong khuôn khổ pháp luật?
Đấu tranh với thực dân và bộ máy cai trị bằng nhiều hình thức, Mặt trận Dân chủ không quên xông cả vào nghị trường. Ở miền Trung, đại biểu Phan Thanh, người của đảng Xã hội trúng vào viện Dân biểu. Ngoài Bắc, ông cộng sản Khuất Duy Tiến đoạt phiếu rất cao rồi bị chính quyền gạt đi với “mánh” rằng lý trưởng địa phương đã chứng nhận phi pháp cho Tiến. Kể thì rộn rịp, sôi nôi vô cùng, các hoạt động của một thời “chưa bao giờ được tự do như thể”, có lẽ vậy. Nhưng không gì vĩ đại bằng cuộc mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5-1938 tại trường Đấu Xảo Hà Nội, nay là Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt Xô.
Họ (chi nhánh đảng Xã hội - TC) đứng ra xin phép bọn thống trị Pháp và dựa vào ta (nhóm Tin tức) vì ta có quần chúng. Ta cũng dùng áp lực quần chúng để đẩy họ tiến lên từng bước. Mới đầu vì bọn thống trị đe dọa, họ muốn làm chiếu lệ, hạn chế số người tham gia cũng như số người phát biểu ý kiến. Nhất là họ không muốn cho có tiếng nói của người cộng sản. Thế nhưng các đoàn thương nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, tiểu thương… đều đòi có được các đại biểu lên nói. Họ phải nhượng bộ. Rồi những đoàn thể kia lại đòi có tiếng nói của nhóm đại diện cho lọ là nhóm Tin tức, Caput cuối cùng phải nghe, nhưng lại ghép đại biểu báo Tin tức chung vào với đoàn Thanh niên. Về diễn văn, họ đòi phải đưa cho họ, nghĩa là cho bọn thống trị, duyệt trước, nhưng đến lúc nói, ta nói thêm vào rất nhiều. Về tổ chức, họ phải thi hành mệnh lệnh của bọn thống trị là cấm không cho được tụ tập và biểu tình ngoài đường, mà mọi người chỉ kéo đến làm mít tinh ở trong phạm vi trường Đấu Xảo. Khi làm mít tinh, quần chúng không được dùng cờ biển, không được hát Quốc tê ca, mà chỉ hát bài Marseillaise là Quốc ca của Pháp. Ta không cưỡng lại. Thế nhưng đến ngày 1-5, các đoàn thể quần chúng trước khi đến trường Đấu Xảo làm mít tinh, đều tụ tập ở Hội quán ái hữu của mỗi ngành hay ở một địa điểm nhất định. Hàng ngũ chỉnh tề, có người phụ trách từng nhóm, từng đoàn. Mỗi người đều đeo huy hiệu. Trên mũ cài những khẩu hiệu la liệt. Từng đoàn qua các đường phố, ai cấm được họ hô những khẩu hiệu vang lừng. Bà con trong phố nhiều người cũng hô theo. Thế là, các phố đều nổi dậy những cuộc biểu tình kéo đi như nước lũ về trường Đấu Xảo Hà Nội. Trong các đoàn thể nhân dân, còn có cả đoàn người thất nghiệp. Nhân dân ngoại ô thành phố Hà Nội cũng tiến vào như thác chảy. Khi đi đường cũng như lúc làm mít tinh, các đoàn thể đều có trật tự nghiêm chỉnh, bọn mật thám và cảnh sát không còn vin vào được cớ gì để can thiệp.
Ban tổ chức lễ kỷ niệm vừa khai mạc, sau bài Marseillaise, mọi người đồng thanh hát luôn bài Quốc tế ca. Ai bịt được hai vạn rưởi cái mồm trong lúc ấy? Sau đó, chỉ trong giây phút, 12 lá cờ đỏ của 12 đoàn thể nhân dân trương lên phần phật trước gió. Ai dẹp được cái khí thế hùng dũng ấy? Hôm ấy, đại diện cho Đảng Xã hội là bác sĩ Trần Văn Lai khai mạc. Các đại biểu nhân dân lần lượt lên đọc diễn văn. Diễn văn của chị Thảo, thay mặt phụ nữ, được vỗ tay rất nhiều. Đại biểu nông dân là Mai Văn Thể hô những khẩu hiệu bỏ thuốc nào (lào) thuốc ná (lá) ai cũng bật cười. Anh Phan Tử Nghĩa nhân danh Đảng Xã hội. Tôi thay mặt cho nhóm cộng sản công khai là nhóm Tin tức đọc một bài diễn văn viết ít nói nhiều, được người nghe vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Hoan nghênh nhiệt liệt đây có nghĩa là hoan nghênh nhiệt liệt Đảng Cộng sản.
Bọn thống trị Pháp không hài lòng lắm, nhưng làm cách nào cản được. Tôi còn ghi mãi trong đầu cái ấn tượng hôm ấy. Đứng trên lễ đài nhìn xuống: cả một bể người sục sôi, nhưng rất có kỷ luật.

Đoạn hồi ký trên không ghi nhiều về diễn văn (thực ra là “phát biểu) của đại biểu nhóm Tin tức; một biểu thị khiêm nhường. Nhưng trong ký ức nhiều người dự cuộc mít tinh khổng lồ, Trần Huy Liệu được ghi nhận như một người có tài nói. Chữ eloquent (hùng biện, có tài kích thích) được báo chí nhắc đi nhắc lại trong các bài tường thuật.
Hiển nhiên Liệu là một trong những đích ngắm lớn nhất của nhà đương cục để sau này… Nhưng bấy giờ cái dịp ấy chưa đến. Còn hơn một năm nữa, đời tự do “làm loạn” của anh mới hết.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #25 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:25:41 pm »

ĐỨT GÁNH TÌNH
Chế độ đa thê ở Việt Nam đang hồi cáo chung. Có nhiều nhẽ, như văn hóa phương Tây đang đàn áp thứ giáo lý bảo vệ đàn ông. Cơ sở kinh tế trong gia đình không còn do một tay ông chồng gây dựng, nắm giữ nữa, nhiều khi chuyển sang người vợ. Dù Liệu đã hết sức “thu dàn xếp”, dù Tý với Bách nhiều lúc cũng chị chị em em thân tình, mà những cá tính vẫn va chạm nhau, cảnh chồng chung không thể quá mượt mà. Chả biết là may hay không may cho họ, đến một lúc, có cái sức ép từ bên ngoài đến, nó làm đứt phựt, vỡ toang tấm tình đến sau; một vết thương chả thể nào lành.
Cuộc đi chơi Huế kết thúc đột ngột, vì Hà Nội gọi Liệu về. Hai người đã cãi nhau về vụ Bách muốn đến thăm cụ Phan Bội Châu, rồi làm lành, rồi tỷ tê sang chuyện sinh con. Rõ ràng là Liệu rất muốn.
Được thế, chả phải chỉ mình Tý bị đặt vào chuyện đã rồi. Nhưng bao lâu mà Bách chả thấy gì. Đêm khuya, Liệu hé cho cô biết có những áp lực đang chờ họ. Rồi rõ, là đoàn thể không cho phép kéo dài tình trạng này nữa. Đó là cuộc họp ở tòa soạn báo Tin tức 105 phố Henry d’Orlean (Phùng Hưng), Bách gọi là “phiên tòa đặc biệt”, diễn ra ngay sau ngày cặp uyên ương trở về từ Huế.
Ở tuổi bảy mươi, bà lão Phạm Thị Bách nhớ lại trong “Những ngày xa xưa ấy”:
… có mặt: Đặng Xuân Khu, Trần Đình Long, Hoàng Quốc Việt, Khuất Duy Tiến, và dĩ nhiên là cả anh Liệu. Chính giữa là một chiếc bàn tròn, phía trước còn chiếc ghế trống, có lẽ để dành cho tôi.
Từ cầu thang tôi vừa bước lên nhìn sơ những người xung quanh, tình oan nỗi giận chất chứa trong lòng. Tôi ngồi xuống ghế cất tiếng hỏi:
“Xin các anh cho biết chẳng hay tôi có tội gì?”
Anh Khu trả lời giọng dịu ngọt:
“Chị không có tội gì cả, vì luật lệ Đảng không cho phép đảng viên có hai vợ, thế thôi!”
Anh Long nói tiếp: “Chị Thu Tâm, chúng tôi thương chị nhiều lắm nhưng có bổn phận phải thương sự nghiệp của anh Liệu nhiều hơn”.
Anh Việt nói thêm: “Chẳng là anh Liệu vốn làm việc ngoài công khai, nếu anh trái luật Đảng lấy vợ hai thì quần chúng sẽ bất mãn không tín nhiệm Đảng nữa, đại cuộc sẽ vì vậy mà giảm thanh thế đi. Xin chị hãy suy nghĩ cho kỹ mà đừng oán giận chúng tôi”
Anh Khu xích ghế lại gần tôi giọng vuốt ve an ủi:
“Mai sau Việt Nam độc lập, tên anh Liệu ghi vào lịch sử, chị cũng sẽ được tiếng thơm muôn đời!”
Tôi nhìn anh Liệu, vẻ mặt khắc khổ và nhẫn nại của anh khiến tôi chạnh lòng đau đớn. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc rồi quay gót bước xuống lầu không chào hỏi gì ai cả.

Cuộc chia tay ở ga Hàng Cỏ đã rất ít lời. Cả hai đều nghẹn ngào, nhưng có lẽ chẳng ai biết sẽ không còn gặp lại nhau.
“Ta có tội gì?”.
“Vì ta có tới mười hai chiếc áo màu và bảy đôi giày khác nhau để đi chơi với Liệu trong các lần du lịch các tỉnh khác nhau ư?”. “Cơn cớ gì mà Liệu ngoan ngoãn chịu chấp hành quyết định của họ vậy? Có phải sức ép đã được tạo ra từ rất lâu mà anh không cho ta biết?”. “Chẳng nhẽ người cách mạng lấy đạo đức thay cho ái tình ư? Nhưng lại đã có những ông ấy ông nọ cũng vợ nọ con kia đấy thôi sao?”. “Chắc chắn là Tý, và có lẽ cả bà Đặng Xuân Khu không ưa gì sự có mặt của mình, đã tác động lên các ông. Tại sao ta không thể yêu ai khác? Ta còn trẻ, có đầu óc, những đàn ông vẫn chạy theo ta kia mà…”

Đó hẳn là những câu hỏi ám ảnh người đàn bà bị bỏ rơi. Rồi Bách cũng lấy chồng, có những người con, sống chả phải chật vật nhưng vết thương lòng còn đó. Nhiều năm sau, bà lão gầy gò và còn rất sắc sảo giải thích “lý do lớn nhất”:
Tai hại hơn hết là một câu chuyện tâm tình giữa đôi vợ chồng trẻ vì vô tình đã lọt vào tai các đồng chí. Nằm trên mui thuyền trong một đêm trăng sáng tại cửa biển Thuận An, khi tôi và anh Liệu nằm nghỉ trong khoang thuyền, giữa hôm ấy tôi nói với anh Liệu một câu thế này:
“Theo chỗ em biết anh là một nhà văn chân chính và quả thật là có thiên tài, em xét đoán rất công bằng chứ không hề có ý gì thiên vị. Anh còn khá hơn Nguyễn Tường Tam rất nhiều. Vậy sao anh không theo nghiệp văn mà lại ưa thích chính trị nhỉ?”
Anh Liệu trả lời không ngần ngại: “Anh chỉ thích viết lối văn tranh đấu mà thôi chớ còn viết văn tiểu thuyết thì không bao giờ anh muốn viết”. Tôi nói: “Ai bảo anh viết tiểu thuyết! Anh có thể chỉ viết những bài ích lợi và thiết thực cho dân chúng, cho quốc gia thì mai sau anh vẫn có thể có một chỗ ngồi xứng đáng trên văn đàn, hà tất cứ phải tham gia chính trị?”
Anh Liệu hỏi lại: “Em không thích anh làm chính trị phải không?”
Tôi trả lời một cách nghiêm túc: “Không phải thế nhưng em tiên liệu rằng môi trường chính trị không hợp với anh, bởi anh bản chất nhiều tình cảm, người anh còn chịu ảnh hưởng Nho giáo rất nhiều, không thể hợp với chủ nghĩa Mác-xít”.
Anh Liệu cầm tay tôi: “Nói nhỏ chứ kẻo người ta nghe được!”
Câu chuyện chấm dứt tại đây, và sớm mai khi đò trở về đến bến sông Hương, các bạn từ giã chúng tôi một cách rất tự nhiên không có ý gì khác. Nhưng mãi nhiều ngày sau anh Liệu nói cho tôi hay những cách trang điểm lộng lẫy quá và câu chuyện tôi nói với anh hôm ở Cửa Thuận đã lọt vào tai đồng chí Đặng Xuân Khu và chắc chắn anh Liệu sẽ bị kiểm điểm”.

Đoạn viết trên trích trong “Những ngày xa xưa ấy” Tập hồi ký mỏng có 9 chương. Chương cuối là một bức thư gửi người đã nằm dưới ba thước đất, bà Phạm Thị Bách “tổng kết”: “Cuộc đời em chỉ chui rúc vào những sự kiện gì xảy ra chung quanh người anh”. Tuy nhiên, in kèm vào hồi ký là một phụ lục, người biên soạn xác định là bà Bách viết và đưa sau đó, đặt “tít”: Nói chung về cuộc đời Trần Huy Liệu.
Tôi không có phước được gần ông trọn đời.
Nhưng theo sự hiểu biết và nhận thức của tôi thì ông có chí lớn nhưng kiên thức đối với cuộc đời không được sâu sắc lắm:
1) Ông muốn tìm kiếm một cái gì thật toàn thiện, toàn mĩ, là điều không thể được.
2) Không chịu tìm hiểu cho thật thấu đáo “cá thể” của mình mà chỉ hành động theo cái xốc nổi của bản năng.
3) Nhìn thấy những cái hay quá sớm, quả là một con người có một giác quan bén nhạy ít ai có được; nhưng lại không thấy được cái hiện tại mình đang sống
4) Quá chủ quan trước mọi sự việc do bản tính kiêu căng, vì lầm mình đã thành công sớm tức là có đủ tài năng.
5) Về tình cảm, ông thật có nhiều điểm đáng trách: vì yêu mà không dám hy sinh một mảy may nào của cá nhân mình, cũng không hề dám đương đầu với nghịch cảnh. Nếu đến lúc diện đối diện thì ông lại thực thi cái thuyết của Thánh hiền là “phu thê như y phục” và trong thâm tâm có còn một chút gì vướng vất thì cũng chỉ tự an ủi bằng cái câu “Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương”.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #26 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:26:53 pm »

SƠN LA
- Dậy! Dậy! Các bố có dậy nhanh lên thì bảo?
- Dậy làm gì?
- Cứ dậy khắc biết! Thằng tù mà còn hỏi lắm thế…
Đó là đêm 11 tháng 1 năm 1940. Trời rét kinh khủng. Rét và đêm đen là đồng hành với những cuộc ra đi của tù Hỏa Lò, trong đó có những cuộc đi không về. Quản tù chả muốn thân nhân của những “thằng” sắp đi, nhờ ánh sáng và cái ấm áp của ban ngày mà tha hồ tiễn biệt chúng, lắm chuyện dễ rách việc lắm.
Mặt trận Bình dân bên Pháp tan rã tháng 9 năm 1939, Liệu và những ông làm mưa làm gió trên vũ đài chính trị “rớt” ngay, không phải xuống đời người dân thường, mà vào thẳng khám. Đêm 29-9, xe mật thám đến 32 Hàng Than điệu anh đi. Vậy là đời tù trở lại sau năm năm tự do. Cũng không bất ngờ lắm, vì bộ phận công khai của Cộng sản đã dự liệu là nhất định sẽ bị bắt. Liệu vớ cái cặp da đựng quần áo đã chuẩn bị sẵn, từ biệt Tý và các con đang lưng tròng nước mắt.
Trong nhóm Tin tức “trúng sổ” còn có Khuất Duy Tiến, Trần Đình Long, Nguyễn Văn Phúc… Nằm Hỏa Lò ít lâu, đầu năm 1940, họ bị tòa án xử, khép tội làm rối cuộc trị an, âm mưu lật đổ chính phủ. “An phận” nhận án, nhưng họ vẫn hy vọng được ăn Tết Canh Thìn ở Hà Nội, dẫu sao cũng có hơi vợ con đâu đây, nghe tiếng xe cộ bên ngoài. Vậy mà bây giờ, quân ác độc lại khua đi. Cám cảnh làm sao, dù phần lớn ở Hỏa Lò, anh nào cũng đã trên một lần nếm cơm tù Chương trình đón xuân ở Hỏa Lò, được Nguyễn Văn Phúc soạn sửa rất vĩ đại, đâm ra phải đem bông phèng trên đường.
Tù nhân loáng thoáng biết sẽ đi, nhưng lúc nào, quản tù bịt tin rất chặt. Rồi nhà bếp được lệnh chuẩn bị hàng trăm nắm cơm. Tin lập tức loang ra ngoài. Mỗi người được trang bị dép xỏ một ngón, thứ đi nhẹ chân lắm nhưng vấp thì đi tong cả ngón cũng dễ. Tù rất có kỷ luật, coi đây như một chiến dịch hành quân, phân công các ban ngoại giao, tiếp tế, cấp cứu tuyên truyền. Hành trang của họ ngoài thuốc men, quần áo, còn cả tài liệu lý luận, chính trị… Lính khố xanh áp giải, chỉ huy là thiếu úy Pháp.
Thành phố đương ngủ. Người lèn chặt trong xe tải, mệt mỏi vì lắc lư và rét, bỗng tỉnh hẳn lên vì tiếng nhao nhao bên ngoài. Ga Hàng Cỏ đấy, la liệt vợ tù con tù người yêu bạn bè bố mẹ tù tay vẫy miệng gọi. Liệu cố vươn cổ ra, thấy Tý và vợ Phúc khệ nệ ôm bọc. Nhưng nào có được gì. Xe chạy ù qua. Trong làn khói mù phía sau, những người ở lại tội nghiệp kêu gào trong tuyệt vọng.
- Chắc các bà chuẩn bị cho chúng mình lắm thứ trong gói lắm. Vậy mà… Quân ác độc? - Liệu bảo Phúc ngồi mé kia, trong khi tay anh đang bị xích làm một với Xuân Thủy.
- Thế nào cũng có bánh chưng… - Phúc bảo - Các bà muốn chúng mình được ăn Tết trước. Tớ thích của nếp lắm…
Trong đêm đen, nước mắt chảy ướt gò má đen sạm. Những con người đã từng trải đến dày dạn thắt lòng lo cho người thân, thèm một bếp lửa, hơi ấm bàn tay vợ. Đã đành đời tranh đấu là vậy, dấn thân không tiếc, nhưng họ lại là những con người có ruột rà, thân quán với bao nhiêu yêu thương. Họ đâu có biết là khi tin lọt ra ngoài, “liên hiệp các gia đình tù nhân” đã phân nhau người chực ngoài cửa Hỏa Lò, ngoài ga (xe tất phải qua đấy chứ lị), người về quê gọi thêm người. Gia đình Vũ Đình Huỳnh còn nghĩ xa, thuê xe lên chực tận Hòa Bình. Chu đáo thế, mà rồi “Tiếng có gọi người thì không thấy, Tay có giơ máy chạy không ngừng”…
Dằn lòng lại. Đành lòng vậy. Khi phút yếu lòng đi qua, người tù tìm cách thích nghi với hoàn cảnh.
Đường xấu, xe xóc, cứ hai thằng tù một xích, muốn chuyển chỗ cho đỡ mỏi thì phải chuyển cả đôi, có khi ngã chổng kềnh vào nhau. Được cái lắm anh vui tính, bất ngờ “hôn” bạn lại cười ầm.
Qua Lương Sơn, lác đác có người đốt đuốc đi chợ. Đã là địa phận của người Mường, đàn bà gánh măng đắng, bí rợ váy áo rối rít. Trong nhập nhoạng bình minh những cảm giác về họ thật lạ. Con cháu những Âu Cơ, Mỵ Nương đấy ư? Cả nghìn năm nay, các cụ đã hát câu “Đẻ đất đẻ nước” thế nào nhỉ? Rồi Liệu nghĩ đến những người phụ nữ của đời mình. Tý vừa sinh thêm con gái Nguyệt Hồng, giờ lại phải chịu cảnh đơn côi kiếm sống nuôi con. Ta lúc nào cũng biền biệt, ở nhà không tơ tưởng người khác thì nguy hiểm lại rình rập. Và Thu Tâm. Thu Tâm đang ở đâu, làm gì? Hôm chia tay ngoài ga Hàng Cỏ, Thu Tâm đã nhìn mình với ánh mắt thật bi phẫn, dường như sắp đi đến một quyết định kinh khủng lắm. Thu Tâm là một người phụ nữ mới, có suy nghĩ độc lập và cũng biết làm ăn, chắc đường kinh tế sẽ không đến nỗi nào. Bên nàng, ta có những cảm giác thật lạ, bất ngờ, khác hẳn Tý chỉ biết có chồng con. Dù sao ta thật may mắn khi được hưởng những tình cảm trọn vẹn của cả hai. Mà này, khi muốn có cả hai, liệu cái tư cách đảng viên của ta có đáng bị coi là ích kỷ, đa tình không nhỉ? Thế còn cái tư cách đàn ông của ta, nó ra thế nào?…
Tảng sáng là Kỳ Sơn, Hòa Bình. Chiếc xe chở Liệu đi thứ hai bỗng chồm lên, lật nghiêng. Nước ồ ồ chảy vào, Liệu bị đè không thở được.
- Dẫm thế này thì chết người ta rồi còn gì? - Xuân Thủy bị cú nhồi vào bụng rên rỉ.
Nhưng đau không bằng lo chết ngạt. Ngã xuống sông Đà, chết là cầm chắc. Hai thằng một xích không vùng ra được. Được cái là nước vào chậm, người ngâm trong giá lạnh mà cổ vẫn ngóc lên thở. Ai đó hô bình tĩnh, hoảng loạn sẽ đạp chết nhau. Từng đôi dìu nhau chui ra khỏi xe. Đến lượt mình trở dậy được, Liệu hết cả hồn khi đụng phải cái xác bê bết bùn.
- Chết rồi. Thằng Voi chết rồi anh em ơi. - Liệu hoảng hốt kêu.
“Voi” là Trịnh Tam Tỉnh, vốn ngồi cạnh Liệu.
Nhưng trên bờ Tỉnh đứng lù lù. “Voi” đây cơ mà!
Thế ai chui vào chết trong xe?
Sáng rõ, thì thủng chuyện. Đó là người đàn ông Mường bên đường, khi thấy xe chồm lên thì hoảng hốt nhảy xuống đầm, xe đổ chả biết thế nào lại lọt vào trong, bị dẫm đạp mà chết. Đương nhiên lại chết vì mấy thằng “trời đánh không chết”.
Lính thổi còi tập hợp, điểm người. Đoàn tù lướt thướt đi. Ngoái nhìn lại, chị người Mường đang không thể khóc nổi bên xác chồng. Oái oăm. Oan uổng quá. Nhưng sự đau xót người không bằng cái lạnh của mình. Vừa đi vừa run bắn như thể sốt ác tính. May lên đến bến Ngọc, vợ Vũ Đình Huỳnh đã đợi cùng con trai Vũ Thư Hiên, cho Liệu cái khăn quàng cổ.
Bến Ngọc - Chợ Bờ - Phương Lâm. Bắt đầu đi bộ từ Suối Rút. Thực dân chả phải tử tế, cho đi xe đến Hòa Bình là để tránh dân nhiễu dọc đường. Trịnh Tam Tỉnh phụ trách tiếp tế, những thuốc men, vật dụng nặng nhọc nhất cứ việc chất lên lưng, đúng là “Voi”. Bởi cứ “từng đôi chim bay đi” nên một anh “Tào Tháo đuổi” là anh kia tha hồ thưởng thức bên cạnh. Liệu và Xuân Thủy là một cặp rất hợp.
Chuyện thơ thuổng, chuyện thổ ngơi, địa chí. Đến Chợ Bờ nhắc nghĩa quân Đốc Ngữ, đến Suối Rút phố buôn thuốc phiện, nắc nẻ như hai đứa trẻ khiến các cặp khác chụm lại nghe.
Hữu tình thay cảnh Phương Lâm
Gặp nhau vừa mới một lần đã quen
Ơ kìa cô gái sông Đen
Non cao rừng thẳm con thuyền đợi ai
Mấy câu ứng khẩu của Liệu được Xuân Thủy tán thưởng lắm. Rằng anh hôi như cú, ai người ta bắt chuyện mà đã bảo là quen. Rằng đợi ai chứ “thuyền” người ta nhất định không đợi anh. Nhưng mà cái dúm lục bát này được, ít nhất nó có phong vị “du lịch”, chứa đựng cái tâm hồn vô cùng đa cảm của cậu. Được khen là vậy, mà Liệu không thể “tiêu hóa” nổi cái tật thấy khói thuốc lào là sà lại của Thủy. “Đãi” lại bạn là món cứt trâu; cái chân từ cú ngã ở Hòn Cau muốn tránh mà cứ tương thật gọn ghẽ vào giữa bãi, đâm thối hoăng cả đoạn đường.
Ai đưa mình đến Châu Yên
Hoa rừng một đóa càng nhìn càng tươi
Thấy nhau chẳng hỏi chẳng chào
Nhung xa nhau cũng nao nao trong lòng
Cái “phương pháp” thi vị hóa ấy rút cho đoạn đường ngắn lại đáo để. Đi mười ngày thì tới Sơn La, đầu tỉnh có hai cây đào cổ thụ. Chao ôi? Hoa gì mà thắm quá thể…
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #27 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:27:49 pm »

HẦM TỐI
Tỉnh lỵ Sơn La nằm trong châu Mường La, tiếng Thái nghĩa là “mường Cây lựu”. “Nước Sơn La, ma Vạn Bú”, chả thế mà công sứ tỉnh Saint Pouloff năm 1933 đã gửi Thống sứ Bắc Kỳ báo cáo mật, rằng số mạng loại chính trị phạm hung hăng khó trị ở Hỏa Lò Hà Nội lên đây sẽ do vi trùng sốt rét định đoạt. Trong sáu tháng của năm đó, gần 40 người đã chết, xác vùi nghĩa trang Gốc ổi dưới chân dốc Chiềng Lề. Sau này, kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật thiết kế một đài tưởng niệm họ ở đó, thiên nhiên hòa nhập với các mảng khối rất dễ chịu.
Liệu gặp ngay người quen. Công sứ Sơn La là Cousseau, thời Mặt trận Dân chủ làm trưởng phòng địa chính tỉnh Hà Đông. Báo Đời nay chửi việc trưng thu ruộng đền, ruộng chùa, cả ruộng hậu tư nhân giao cho Nông phố ngân hàng. Cousseau nhắn muốn gặp riêng Liệu, phàn nàn sao cũng cộng sản với nhau mà công kích việc nó muốn tập trung ruộng đất lại cho nhân dân. Liệu nhắn lại là cứ đến tòa soạn làm việc, chả thấy hồi âm gì.
Giờ thì bài đã lật ngược. Nhưng Cousseau ra chiều tử tế, gọi ngay “đồng chí” Trần Huy Liệu ra, nhăn nhó: “Mấy ông quan lại An Nam bảo tôi là cộng sản, nhưng những đồng chí của tôi thì lại không nhận tôi là cộng sản. Thế thì tôi biết ăn làm sao, nói làm sao bây giờ”, tiếng Việt rất sõi. Liệu cười trừ, nhưng nhận sự chỉ định cùng Phi Vân làm đại diện chính trị phạm trước đương cục.
Cousseau là tay làm việc già dặn. Tổ chức lưới nội gián trong những nhà buôn bán dưới dốc Chiềng Lề, hắn cũng đồng ý vài thỉnh nguyện của tù. Liệu phô chủ ngục Gabori biển lận, đánh cắp phần ăn của những kẻ đã khốn cùng rồi, Cousseau bảo đừng chấp. “Lão già ấy giống lũ kỳ mục kỳ nát ở nông thôn Việt Nam ấy mà”. Và bắt anh em xe nước, kiếm củi cung cấp cho tòa công sứ, việc khổ sai rất cực nhọc. Gần hết buổi làm, nó đi ô tô đến xem xét, kéo thêm giờ, bắt tăng chuyến. Kẽo cà kẽo kẹt, đoạn đường từ cầu Bản Giảng lên đồi Chiềng Lề có biết bao nhiêu mồ hôi, máu tù đổ xuống, đêm nằm nghĩ những leo dốc đổ dốc mà kinh.
Liệu là bí thư chi bộ, lại đại diện chính trị phạm, căm Cousseau lắm nhưng luôn phải mềm mỏng, đấu dịu, điều chả hợp với tính cách của anh? Câu chuyện không còn những “đồng chí” với “lập trường” nữa, toàn những đoạn: “Còn hai mươi phút nữa đi không kịp chuyến, anh em nghỉ là phải”. “Thì làm dấn thêm, có làm sao”.. “Nhưng anh em bị cắt khẩu phần. Người chứ có phải sức máy đâu mà…” Cầm cự. Lãn công. Công sứ sai giám binh kèm cho đến hết giờ mà số chuyến nước lên đồi chả tăng, hết anh này đau bụng đến anh kia sứt móng. Cousseau phạt giam họ dưới nhà hầm, hình ngục tàn ác nhất. Phải tạo ra một sự kiện gì, lái nó theo hướng mình, gây sức ép trở lại chúng mới được.
Nhưng đỉnh điểm đến sớm hơn lúc những người tù dự liệu. ủy ban tranh đấu, do Liệu làm trưởng, họp toàn trại phát động tuyệt thực. Chính trị phạm, ngoài cộng sản, còn những đảng viên Quốc dân đảng và Phục quốc Đồng minh hội, đều nhất trí tham gia, trừ hai ông thân Nhật Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Thế Song. Tô Hiệu có bệnh lao giai đoạn cuối, nằm riêng một xà lim, có nhiệm vụ đưa tin, tiếp tế, tất nhiên khi có thể.
Trưa 13-5-1941, tù đi làm về, không đụng đến cơm đã bày ra sân. Đại biểu thông báo cho Gabori biết họ tuyệt thực để phản đối công sứ bỏ hầm mấy người kéo xe nước, rồi đồng loạt vào nằm trong trại lớn. Đây là một thứ “bối thủy trận” tử thủ kiểu Hàn Tín, quay lưng ra sông mà đánh nhau, lùi là chết.
Chưa kịp xếp xong chỗ, lính xông vào dồn hết xuống hầm tối dưới gầm nhà bếp. 156 mạng lèn vào cái chỗ thường ngày chỉ nhốt được 11 người.
Cousseau lệnh bắn ngay ai đem vào đây một hạt cơm, một giọt nước, bảo Sở Công chính chuẩn bị sẵn áo quan. Cuộc tranh đấu đâm ra mất hướng, vì mình đâu có tuyên bố nhịn uống. Tù ngục, bướng bỉnh lắm anh đã trải, nhưng kiểu này thì chưa ai có kinh nghiệm.
Việc đầu tiên xác định với nhau là lâu dài, gian khổ đây, đừng thối chí. Binh lính được gieo ảnh hưởng của tù, dân dưới phố biết, rồi chuyện sẽ lan đi không đời nào Cousseau dám “chôn sống” cả ngần này đứa mình đâu. Và xếp chỗ nằm, dành nơi thoáng khí nhất cho những anh già yếu, có bệnh gọi là “tiểu Đồ Sơn”. Trong tối đen ngày đêm như nhau, cứ 12 tiếng người nằm cuối và đầu hầm đổi chỗ cho nhau, để không ai bị thiếu không khí quá lâu. Nào, anh này để chân cho anh kia gối đầu, ngả lưng vào nhau nhá. Không khí có vẻ bình yên, thậm chí có tiếng khúc khích. Sướng nhất là Khánh, được suy tôn “Hoàng để” vì “ngự” trên thùng cứt.
Dần dà, nặng nhọc đè lên. Tiếng thở to, gấp gáp.
“Tàn dư” những bữa ăn trước thải vào ống bơ, Chuyền đến cái “ngai” của Khánh, mấy ngày đầy ứ.
Bọ trắng nhun nhút bò ra chui lên mặt mũi những con người đã hết thần sắc, mắt nhắm nghiền, chả biết có còn sự sống. Nhưng nước đái thì quý vô ngàn. Uống của mình không đủ, còn xin người “dùng không hết”. Nhưng của những cậu mắc bệnh phong tình thì bố bảo không dám.
Cái đói tử tình tử tội hành hạ nhất vào ngày nhịn thứ hai, thứ ba. Muốn ngủ lắm, nhưng dạ dày nó không yên cho, gào réo như con thú dữ tợn. Thèm nhớ miếng mẹ đi chợ về ngày bé, tiếc sao vợ nấu canh cá dấm ngon mà mình bỏ dở. Ngày nhịn ăn ở khám Lớn Sài Gòn, nhìn đôi giày da, nghĩ chuyện thái nhỏ nó ra xào hành mỡ, Liệu đã tốn bao nhiêu nước dãi.
Đói so với khát không là gì. Thần kinh lúc nào cũng căng, nhất là những anh “thực như hổ”. Liếm láp mồ hôi, chắt bóp từng giọt nước đái. Mùi người khẳn lằm lặm, da nhơm nhớp, có anh khỏa thân trăm phần trăm. May có cái chăn đem kịp xuống, để mà quạt khí từ cái cửa sổ nút kín.
Sang ngày thứ tư, hầm tối đúng là cái nhà mồ. Người của ủy ban không còn sức động viên, những người khác cũng không thể đáp lại. May ông Đắc điên người Hải Phòng lại hiền khô, phục tùng kỷ luật vô cùng, còn động viên anh khác đừng thối chí.
Hồi trên trại (hồi nào ấy nhỉ, xuống đây bao lâu rồi nhỉ…), những cơn lên, ông ấy lại múa chổi hét “Giai cấp vô sản toàn thế giới liên hiệp lại?”.
Cousseau đi kiểm tra, “bắn” vào là sẽ xây gạch bít cửa hầm lại. Tô Hiệu xoay được mấy miếng đường phên gửi vào, chia nhau liếm. Nhưng vị ngọt vẫy gọi bao nhu cầu, cái đầu tiên không gì khác là nước. Lũ giun sán trong bụng không được ăn làm loạn. Nhiều anh bí đái bí là đã lịm đi. Đập cửa báo với lính, là có người sắp chết cần tới bệnh viện. Tin tới tai Cousseau, “đồng chí” này truyền lại: “Đứa nào chết cứ để cho chết trong hầm rồi chôn luôn một thể”.
Bảo nhau kiên gan. Mình vững vàng thì rồi bên ngoài sẽ biết mà tiếp sức. Chớ cáu giận nhau nhá, chả ai được hơn phần thở cũng như chỗ nằm nào… Mà không, cũng đừng manh động, ra khỏi chỗ này mà bạo động thì cũng làm gì được thằng vạn ác Cousseau đâu. Bao nhiêu mưu mô được mấy bộ đầu não thều thào bàn tính, cuối cùng chỉ đến một cuộc hò la “Nước? Nước”. bằng tiếng ta lẫn tiếng tây.
Hai đêm liền, một người lính dũng cảm tiếp nước cho cuộc tuyệt thực. Ngày thứ năm, ủy ban tranh đấu quyết định dừng lại. Nhưng thằng công sứ Pháp quá đểu, bắt phải viết ra giấy những lời nhận lỗi theo ý nó. Không đầu hàng thời cứ ở dưới hầm, có điều đã có nước uống. Đó là thứ nước từ trại gia đình binh lính thải ra, bẩn thỉu vô cùng.
Ngày thứ 12 thì dừng hẳn. Không phải bãi chiến cả hai bên. Cousseau đương có thế, gọi Liệu lên chế nhạo. Muốn chơi à? Biết tay nhau chưa? Người tù đang ở cơ dưới nín thinh, tránh khiêu khích. Dù sao cuộc tuyệt thực đã phải nổ ra bất thình lình, chưa chuẩn bị tới nơi. Còn nhiều cách đấu tranh đòi cải thiện chế độ lao tù, ta chơi dài dài được.
Lên khỏi hầm, gặp cơn gió mát, mà yếu quá, Liệu bàng hoàng tưởng ngã gục. Trại giam bình thường giờ đã là thiên đường để mà tận hưởng, mà xem ai thức hết đêm dài…
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #28 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:29:34 pm »

SUỐI REO
Vụ tuyệt thực 12 ngày đêm có thể coi là một thất bại của tù chính trị, nòng cốt là cộng sản, trước kẻ cai trị. Thất bại là phải. Mình định làm reo, không ăn, vẫn ở trên trại, thì nó cắt cả uống, lèn xuống hầm tối quá cá hộp. Cousseau hành động quá nhanh, cờ vừa bày nó đã ra đòn tàn độc. Nghĩ cũng đau. Và người ngợm, lên trại trên rồi cả tháng mới lại sức Nhưng đêm dài, thức rồi cũng thêm lắm thứ hay. Cái tình người, sự đoàn kết được thắt lại, chả phải chỉ trong đám cộng sản. Qua thử thách biết anh nào có thể tin cậy, anh nào phải cảnh giác.
Lính tráng, đám dân dưới phố, không hẳn như Cousseau trông đợi, nể tù ra mặt, cho khi quả nhót khi cuộn chỉ. Và cuộc tuyệt thực, dù có thế nào, cũng chỉ là một khấc trong cuộc đời còn rất dài. Ta tổ chức cái nhà của những đứa xa nhà theo ý ta, được lắm chứ.
Đầu 1940, vừa sấp ngửa lên Sơn La thì Tết xịch đến. Chiều ba mươi đi làm về, được ăn cơm tẻ mát ruột (trong năm toàn ăn gạo nếp nương), uống rượu men lá. Tù chế ra một thứ “tiền”, đánh bài bao nhiêu cũng không “thủng túi”. Hoa tươi không hiếm, đào phai nhẹ nhõm, mận trắng chi chít “bấu” trên cành rất mạnh mẽ. Và thơ, cái thứ họ trồng được, ngoài đời lo kiếm ăn, tranh đấu, giờ ngồi rồi tha hồ bò ra. Đêm ba mươi, nghe tiếng pháo dưới phố nổ ran, tù nhỏm dậy chuyện trò. Liệu đọc một bài thơ “chúc Tết những thằng mất Tết” là đừng đái ra máu, được hoan nghênh lắm.
Văn nghệ lu bù. Trần Đình Long, vốn là trưởng một đoàn kịch ngoài đời, đến là lắm sáng kiến. Diễn kịch, hát ả đào, thi thơ, câu đối rộn rịp, lính tráng cũng xúm vào xem. Xuân Thủy nhỏ nhắn, trắng trẻo được lựa đóng vai đào Thu. Đào Thu ra vào õng ẹo, giọng khéo rên rỉ trong câu “Tỳ bà hành”:
Đồng thọ thiên nhai luân lạc nhân
Tương phùng hà tất hằng tương thức
(Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau họ sẵn quen nhau)

Bài thơ của Bạch Cư Dị về cuộc kỳ ngộ của đôi trai gái vận vào phận tù sao mà ngọt, khiến nhiều người ứa nước mắt. Liệu tranh thủ gửi tiếng lòng mình vào giọng hát “đào” Thu câu miễu:
Xuân về thu chửa thấy về
Bừng xanh bát ngát làng quê rộn ràng
Thấy ai, ai những mơ màng
Gặp ai tạm trút muôn vàn nhớ thương

…
Thu Tâm? Phải, là Thu Tâm chứ còn ai? Người tù đa cảm ranh mãnh nhắc đến mối tình của mình giữa những người từng góp phần làm cho nó đứt đoạn. Đồng chí, cùng nhau hoan lạc phân ưu phân tư đấy, nhưng có những nỗi chỉ một mình mình biết một mình mình hay.
Hai Tết sau, các cuộc vui chung càng đình đám, việc tổ chức đã vào nề nếp lắm. Trại lớn trại nhỏ đều có tao đàn, gánh hát. Dù đóng góp nhiều thơ phú nhưng không có “tài diễn xuất”, Liệu phải chân rửa bát hai ngày sướng bỏ bu.
“Phong trào” làm thơ lên mạnh. Nhiều anh ở ngoài củ mỉ cù mì vào đây bỗng lai láng vần vè, hết gửi em yêu phương xa đến tưởng ra non nước bồng lai. Tết, như một cái “thúng” quá “nhỏ”, “đựng” không hết. Nhu cầu ra một tờ báo để chứa những tiếng lòng, khi ai oán, lúc hài hước - rất lớn. Tiếng suối reo ra đời, có cả tòa soạn, nhà in nhưng độc bản. Dưới ánh đèn điện được hạ thấp xuống cho cai ngục khỏi dòm, các ký giả mân mê con chữ, bàn cách trình bày. Thực ra trình bày là chuyện nhỏ, vì sau đấy nó xuất bản mồm hoàn toàn. Nhưng được thực hiện do những tay “gộc” vốn đã quậy tung trường báo mấy năm trước, nó có đủ các chuyên mục với tính chất riêng “như người lớn”, nghĩa là cũng khá chuyên nghiệp.
- Thầy đồ? Thầy đồ ơi, “Nhạn Lai Hồng” là thầy ký tên à?
- Thế những “Cù Văn Cười” với “Cù Không Cười” là ai? Chịu! Làm sao mà đoán ra cũng là thầy.
Khu rừng vắng, khá xa phố Chiềng Lề rộn lên những tiếng đùa reo tinh quái của đám tù. “Thầy đồ, là Liệu, hôm trước vừa đem cái tật hay gãi của Nguyễn Văn Phúc ra trêu trên Tiếng suối reo, dù bệnh ghẻ của Phúc đã chả còn. Khối anh có tật cũng bị réo, nào ỉa chảy, nào mới ra con sán “dài bằng bốn đoạn ruột”. Liệu cũng tự bôi bác đôi mắt ướt của mình. Báo in nhem nhuốc, đêm đêm được “radio” thêm mắm thêm muối khi “xuất bản” gây những trận cười nôn ruột trong từng trại.
Đang là kỳ kiếm củi. Tốp năm người, đa phần là thanh niên như Hoàng Tùng mới ngoài hai mươi, ưu tiên Liệu ngồi trên khúc cây cho khỏi đu đưa, còn bốn người kéo cưa xoèn xoẹt.
- Thế cái tích bài “Tỳ bà hành” là thế nào?
- Tớ nhớ không rõ, đại loại ông nhà thơ gặp bà chán chồng bèn lai láng lên. Thằng chồng đi buôn muối thế nào đấy, cô mình không thỏa mãn…
- Mấy chữ population dịch là “bình dân” được à?
- Tùy văn cảnh. Tiếng tây tớ “i tờ ít”, phải về trại hỏi Hoàng Công Khanh mới chính xác.
- Những bài chính trị thầy giảng rất hay, nhưng khó nhớ quá. Sao không in lên báo nhà tù cho nhiều anh em học nữa?
- Thì tù mình có phải cộng sản cả đâu. Mà in nữa báo nặng nề, khó đọc lắm, mình muốn dành chỗ cho những thơ phú, tiếu lâm.
- Kể thế cũng phải. Đêm đêm cười rung cả trại, hay thật. Thế thằng Cousseau nó đã biết gì về báo chưa?
- Để yên. Đến giờ thủy phi cơ lên xuống rồi…
“Thầy đồ” giơ tay ra hiệu im lặng, rồi tụt khỏi khúc cây, rón rén ra bụi le. Từ chỗ đó, tụt xuống dưới dăm chục mét, một cảnh tượng bồng lai hiện ra trước mặt họ. Mấy cô gái Thái đi nương về qua suối trầm mình tắm. Họ rất khéo, cứ nguyên váy áo bước xuống, nước đến đâu mới kéo lên đến đó, ngủm cả người thì cả bộ váy đội cả lên đầu. Đứng xa mà nhìn, suối như đang bồng bềnh những đóa hoa lớn. Mà hoa thật, đàn bà là hoa của trời đất chứ đâu. Suỵt! Khẽ chứ. Các bố đừng cười. Chả xem được cả tòa thiên nhiên đâu mà tưởng bở.
“Thủy phi cơ” về bản, năm anh đàn ông quay lại kéo cưa lừa xẻ, vẻ mặt thoảng chút mơ màng, nhất là mấy thanh niên. Trên đầu, lũ ve rừng râm ran, dòng suối bên dưới róc rách. Cứ trông vào câu chuyện và khung cảnh, có thể tưởng họ là những du khách an lành, hồn nhiên nhất trên đời.
Rừng chiều ngả sang sẫm sịt. Củi vác qua khe, qua con suối vừa in bóng những bông hoa rừng, chất lên xe. Hò dô. Bắt bánh nào. Quành nhanh quá hết bố nó đà rồi. Đằng sau, người tù có tuổi trở nên trầm lặng. Ô, mình đã qua tuổi “bất hoặc” rồi, sức vóc thanh niên nhìn mà thèm. Mình xa vợ con, xa người yêu mà còn vô tư được thế này… Mấy hôm nay Tô Hiệu ho ra máu nhiều quá. Hiệu biết Thu Tâm đấy…”
Đêm đến, trên “giường” xi măng, có những trạng thái trái ngược không cho người tù ngủ sớm. Này, thật êm đềm, lãng mạn, bài thơ về một “bông hoa rừng”. Này, nghịch ngợm, quấy phá một ý tứ cho mục “Cù không cười”. Tiếng suối reo đã thành một phần cuộc sống nhà tù. Nhờ nó, bao người đã thay đổi, trở thành một phần của cái chung, lại “phát hiện” ra rằng mình cũng có tâm hồn thi sĩ.
Tháng 8 năm 1942, Liệu rời Sơn La về “căng” Bá Vân ở Thái Nguyên. Chỗ trại tập trung mới, điều kiện đỡ khắc nghiệt hơn. Tờ báo ra lần này có tên Dòng sông Công, ảnh hưởng lan ra cả dân cư bên ngoài. Chẳng phải chỉ có đời tù, người ta còn biết Hồng quân Liên Xô bắt đầu phản công quân phát xít cờ Việt Minh kêu gọi đánh đổ đế quốc đã phất lên…
Liệu khỏe ra. Đến nỗi Tý lên thăm, khi trở về mang thai, đứa bé ra đời mang tên Công để nhắc dòng sông “sinh thành” ra nó.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #29 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:30:29 pm »

NGHĨA LỘ
“Nhất Thanh nhì Lò tam Than tứ Tấc”. Nghĩa Lộ, tức Mường Lò, là cánh đồng lớn thứ nhì Tây Bắc. Tự nghìn năm, người Thái đen trồng lúa nước, quăng chài đánh cá, ăn nậm pịa và múa xòe bên những con suối lớn. Thực dân đến lập nên một đồn binh lớn trên đỉnh đồi cạnh thị trấn nhỏ. Và vì hè thì nóng nung, đông rét giá, muỗi độc đốt mau chết, nên bên cạnh đồn binh lại mọc lên dãy nhà nhốt tù, bên ngoài là rào nứa, rào thép gai giữa cắm chông. Có vẻ như đã vào đây thì một con chim cũng không bay ra được.
Đang ở “căng” Bá Vân, một “thiên đường” so với Sơn La của thằng đểu Cousseau, đám tù dời về Hà Nội do gần đấy có “loạn”. Pháp dò được bí mật của chi bộ ở Bá Vân, họ lại bị di lên Nghĩa Lộ sau hai tháng nằm Hỏa Lò. Ngày đầu tiên lếch thếch qua thị trấn, thấy dân chúng bị cách ly với tù quá, có anh bảo “chúng nó coi mình như quân ôn rắc dịch tả không bằng”.
Thật thì cái “dịch” đám tù chính trị reo rắc còn nguy hại bằng mấy bệnh thổ tả, tất nhiên đối với bọn cai trị. Bởi vì vừa đặt chân tới nơi, mấy ông ở tù thành thần này đã ra báo Đường nghĩa, mở lớp chính trị, dạy lý luận, bắt mối tuyên truyền trong binh lính và dân chúng. Một cái mới trong những hành động có chủ trương, tổ chức giờ đây là huấn luyện cả quân sự. Thời thế đang thay đổi gấp rút.
Pháp bị Nhật đè ép lắm rồi, lật lúc nào không biết. Có cơ cứ chuẩn bị, cờ đến tay là phất được ngay. Tết Ất Dậu đầu năm 1945 đã diễn ra không còn mơ màng, “vui như Tết” bằng hồi Sơn La, mà đã đằng đẵng một cái gì phía sau.
Quản đồn Nghĩa Lộ là Civet, hàng ngày liên lạc qua vô tuyến điện với Hà Nội. Sau ngày 9 tháng 3, mọi thứ tắt ngủm. Tù nhận định: Hà Nội đã trong tay Nhật rồi. Lực lượng Pháp ở Yên Bái, Lao Cai…phân hóa. Có tín hiệu phái De Gaulle muốn gặp mặt, Liệu, cùng một người khác, được cử ra tiếp.
Lập trường, tôn chỉ, phân chia lực lượng trong tương lai bên tôi bên anh thế nào đem ra bàn thảo rất hăng. Đang trong tù mà được bàn, chỉ có mỗi chuyện phía kia biết mình có quần chúng đằng sau nên muốn lợi dụng thôi, chứ còn gì. Việt Minh đương cả thế bên ngoài, thì chúng mình có thế một chút.
Bàn thảo chưa đi đến đâu thì “phái De Gaulle” không đến nữa. Lực lượng Pháp ở Nghĩa Lộ được tăng cường khi phó công sứ Yên Bái Pellier từ tỉnh lỵ kéo lính tráng về. Có lẽ là thực dân, sau những ngày đầu hoảng hốt, đã có một sách lược mới: né Nhật ở các trung tâm lớn, rút về vùng sâu xa, đợi viện binh từ biên giới Trung Hoa, nơi quân Đồng Minh đang có ảnh hưởng? Mình toàn người chủ trương đánh Pháp đuổi Nhật, hai thằng choảng nhau, nằm trong tay thằng nào trong tình hình xung sát này cũng dễ bị tàn sát lắm. Tình hình nghiêm trọng đấy. Một ban chỉ huy trại được lập ra, có Phạm Quang Thẩm, Nguyễn Sĩ Nghiêm, Vương Thừa Vũ, Trần Đức Sắc (Văn Tân), và Liệu.
Tình hình rất khẩn trương. Những người tù có một trung đội thường trực, coi như “lực lượng vũ trang” - mà chẳng có vũ khí gì cả - đề phòng sự biến. Và phân nhau chuẩn bị lương thực, thuốc men, bản đồ, truyền đơn bằng quốc ngữ, chữ nho, chữ Pháp, cả la bàn tự chế. Căng như sợi dây đàn, vì địch có thể choảng ta, hay ta choảng trước, bất cứ lúc nào cũng có thể. Những hành động theo từng tình huống, nay gọi “phương án tác chiến” được đặt ra, báo động tập thử.
Dền dứ. Cảnh giác. Giữ miếng. Có những người lính đã bỏ đi mang theo súng. Địch không dám đàn áp nhưng rất mực đề phòng. Rồi sự việc xảy đến bất thình lình, chả theo cái cách đã dự liệu nào.
Đó là hôm Tây giải 50 thường phạm từ Yên Bái về Nghĩa Lộ. Quản tù muốn nhốt chung “cả lũ”, chính trị phạm nhất định không chịu, bèn cho lính xông vào đám tù phụ nữ, có sáu chị. Đang giằng co thì viên phó công sứ tiến vào sân trại. Tù nhân, đã chuẩn bị sẵn, đứng sắp hàng, trương lên hai tấm băng viết sẵn hàng chữ Pháp: “Hãy võ trang cho chúng tôi chống phát xít Nhật?” và “Thả ngay chúng tôi ra?”. Pellier đứng cười khẩy, bảo các anh không phải tay quân sự lành nghề, không chống được Nhật đâu. Cứ ăn no ngủ kỹ đi, nửa tháng nữa người Pháp sẽ trở lại Yên Bái… Đang đắc ý thì “huỵch”, bảy tám cánh tay xúm vào vật sấp Pellier xuống. Củi, guốc bổ vào thình thịch. Lão quản đồn Civet chạy ra cổng, Phạm Quang Thẩm phóng theo bị thằng quản người Việt bắn trúng đầu. Lính Pháp dưới chợ kéo lên nã súng vào. Cuộc vũ trang cướp đồn, định nổ ra vào đêm ấy, đã trở thành cuộc tháo chạy xuất kỳ bất ý của tù nhân.
Bụi cây lúp xúp, phần nhiều là giống chó đẻ, cứt lợn, lá bị dứt ra tỏa mùi hăng nồng. Dây xấu hổ đầy gai xóc vào người xót điếng. Lũ kiến càng bắt đầu kéo đến bu. Vậy mà cứ phải nằm yên. Trời còn nắng nỏ, chưa chạy đi đâu được.
Cuộc cướp đồn hóa thành cuộc chạy trốn lúc nãy đưa đẩy ba người vào chỗ náu quái quỷ này. Chốc chốc già Tế lên một cơn rũ rượi, càng nén càng ho khỏe. Nằm trong bụi gần đó, Liệu và Tiếp lo lắng nhìn nhau. May mà tiếng ho không bay ra nơi mấy đàn bà Thái đào măng đắng. Rừng già đầy vắt muỗi và hiểm họa, thường ngày là nỗi khiếp đảm của tù nhân khi đi kiếm củi, giờ quá xa xôi để có thể bươn tới mà ẩn trốn. Có lúc Liệu trông thấy hai bóng áo vàng phía xa, nhưng không lo lắng mấy. Lúc tán loạn trên đồn, lính dõng chả toàn bắn chỉ thiên đấy ư? Đấy là kết quả của những ngày tuyên truyền vận động, khơi gợi lòng yêu nước, đùm bọc đồng bào. Nếu cuộc bạo động không bị non, hẳn không ít người trong số họ đang đứng về phía những người tù. Dầu sao những kẻ đi trốn phải hết sức thận trọng. Hồi Sơn La, một bạn tù trốn của Liệu chạy đã xa rồi còn bị bắt, chặt đầu đem về bêu.
Trên đồi đồn rộ lên một tràng súng. Tiếp bấu vào tay Liệu: “Có lẽ nó làm thịt những thằng chưa chạy được”. Sau này, họ biết trong những người bị bắn lúc ấy có Kim, chú bé ngoan rất hăng hái trong cuộc chuẩn bị.
Gần tối lại hồi kèn điểm. Vậy là địch đã làm chủ được tình thế, thiết lập lại chế độ sinh hoạt hàng ngày. Liệu ngao ngán. Là chỉ huy tối cao, anh đã không làm chủ được cơ sự, để nó nổ ra bất thình lình. Máu người phải đổ ra. Nhiều người không còn về được dưới xuôi, nơi vợ con chờ đợi, nơi cách mạng cần người biết bao. Đau nhất là lúc vượt hàng rào, Liệu phải bỏ lại người đồng đội ốm yếu. Cái túi đã chuẩn bị sẵn anh không kịp vớ, còn thứ quý giá nhất là những thư, ảnh người thân yêu.
Ba kẻ trốn tù chia nhau tài sản, quý nhất là tám mươi đồng bạc và ít gạo rang của Tiếp. Đã đến lúc lên đường, dặn rằng bước gần nhau, lạc không hú gọi được đâu. Dây rợ giằng dịt, có lúc cả ba lăn xuống suối, người bó tròn trong gai móc. Rất lâu mới ra đến cánh đồng, sa ngay vào đám thụt, mỗi lần rút chân lên lại “oạp”, nghe trong đêm rất to.
Lũ chó chết tiệt chốc chốc lại sủa ác. Chạy ào qua đường cái sau khi xe tuần rọi đèn sáng trưng chạy qua. Bao nhiêu lần hú hồn, tưởng đã bị phát hiện, đến lúc ung dung được lại nghĩ đến rắn, hầm hố, những hồn ma bóng quỷ. Nhưng sợ gì cũng không bằng gặp người. Biết đâu trong những ngôi nhà đương say ngủ kia có kẻ đang muốn tóm mình đem lĩnh thưởng. Sao trong ngôi nhà không nóc, chỉ còn nền kia lại có tiếng ho, tiếng chẻ củi… Cuống cuồng chạy. Sau lưng có tiếng vó ngựa. Thôi chết. Càng thục mạng, cho đến lúc biết chỉ có con ngựa không yên lồng đứt dây theo. - Sáng ra, cả ba người đều đoan chắc đã lạc đường.
Sang đến Tú Lệ mất rồi. Đi đâu thì đi, càng xa Yên Bái càng tốt. “Quán trọ” đầu tiên là một nhà sàn, bà mẹ mù nghe câu được câu mất, nhưng hai con trai nói tiếng Kinh sõi. Được cái họ chả hỏi gì cả, lại thông báo tin Tây chạy qua đây hiếp cả người già, còn Nhật đã tràn ngập sông Đà, chiếm cả Sơn La, Trái Hút. Năm đồng bạc mất hút vào bữa cơm rau bí xào, tiếc đứt ruột. Nhưng hướng đi được xác định, là ra Trái Hút. Vấp Nhật còn hơn gặp Tây “đi cả nải”.
Xuyên sơn. Cái chân Tiếp ngày một tệ, khiến anh lúc phải dựa vào Liệu, lúc vào ông Tế mà lần.
Tế già thế mà dai sức. Liệu giữ con dao của ông, bị bắt là tự tử ngay. Anh chả hy vọng gì rơi vào tay Tây Nghĩa Lộ mà được chúng tha mạng. Ông cụ bản Nhốn cho hay hội kín ở nhà tù Nghĩa Lộ giết chết một quan ba bị bắn chết hết, có sáu kẻ chạy thoát, lính đi tìm đang ở ngay nhà bên cạnh.
Những ẩm lạnh bất chợt. Những hẻo hút thê lương. Trùm lên tất cả là nỗi sợ, nó khiến người ta không thể ngủ trong chăn dày, mà chui vào búi tre, đầm mình trong cứt trâu. Cũng có lúc đã tuyệt vọng, hạnh phúc đơn giản lại hiện ra trớ trêu, được cầm thông, thương tình, được ngả lưng thây kệ sự đời, ngửi mùi khói, ngắm bóng đàn bà trên vách.
Ra đến Trái Hút, bán nhẵn nhụi sống áo, họ thuê được bè về xuôi nhưng lạc mất Tiếp. Âu Lâu hiện ra với những thanh kiếm Nhật sáng loáng, hàng ria mép trên gương mặt lạnh. Sống lưng kẻ đi trốn bỗng như có bàn tay ma vuốt dọc. Sau lưng anh tiếng chân rầm rập, ai đó bị lùng đang thục mạng tháo thân.
Đò dọc từ Việt Trì đổ về chen chúc đủ loại người. Một ông khách không ngớt “xi nê ma mồm” về đám tù làm loạn ở Nghĩa Lộ, rằng chúng tợn tạo, luồn lách khôn ranh lắm, quân tuần đã bắt được cả chục, còn dăm ba đứa chả biết thăng thiên độn thổ nơi đâu. Hôi như cú, liên tục “à” “ồ” ngạc nhiên, Liệu và già Tế nghe như nuốt câu chuyện. Ngoài mui thuyền, gió sông ào ạt thổi. Những tàu chuối trên bờ đánh phần phật. Người đàn bà ngồi cạnh Liệu, chắc đang nuôi con, tỏa ra mùi sữa ngầy ngậy. Tự do đang rất gần trong cái khung cảnh vừa hung hiểm vừa giản dị, tức cười biết bao.
A? Ta sắp làm một người đàng hoàng? Ta sẽ gặp ai, nói câu gì, có được chọn món gì để ăn không nhỉ?
Làm sao mà, có dễ đến chục lần rồi, mà tự do vẫn có cái mùi tươi mới quyến rũ đến vậy…
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM