Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:53:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2  (Đọc 421989 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #210 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2011, 04:34:20 am »

Điều trần ủy ban đánh giá Mỹ - Trung ngày 4.2.2010

Trung Quốc trở lại lập trường hiếu chiến ở Biển Đông

Bản dịch Tóm lược  trên báo The Epoch Time về phiên điều trần ngày 4/2/2010 tại Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ – Trung (USCC), Quốc hội Mỹ, về các hoạt động của Trung Quốc tại Đông Nam Á và những tác động về kinh tế, chiến lược và an ninh đối với Mỹ.

 
*******

WASHINGTON – Trong buổi điều trần cả ngày 4 tháng 2 tại Đồi Capitol, các nghị sĩ Quốc hội Mỹ và các chuyên gia đến từ Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng, giới học giả và các tổ chức phi chính phủ đã tham gia trình bày về các hoạt động của Trung Quốc ở Đông Nam Á, và những tác động về kinh tế, chiến lược và an ninh đối với Mỹ. Các quan ngại của của những nước láng giềng chung biên giới biển và đất liền với Trung Quốc ở phía Nam cũng được thảo luận, liên quan đến việc Trung Quốc gia tăng đe dọa và sẵn sàng sử dụng vũ lực để củng cố các yêu sách lãnh thổ của mình.
 
Buổi điều trần được tiến hành bởi Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ – Trung (USCC), có chức năng tư vấn cho Quốc hội về các hoạt động của Trung Quốc.

“Đặc biệt ở Biển Đông, Trung Quốc ngày càng trở nên hiếu chiến – thậm chí khiêu khích – nhằm vào các nước láng giềng trong các vấn đề trên biển”, Tiến sĩ Richard Cronin thuộc Trung tâm Henry L. Stimson nói. Tiến sĩ Cronin nhận định rằng có vẻ như Trung Quốc đang trở lại lập trường thời kỳ trước năm 1995, khi họ sử dụng hành động quân sự để củng cố yêu sách lãnh thổ của mình ở Biển Đông.

“Kể từ thập niên 50, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã đòi yêu sách hầu hết Biển Đông như thể là vùng biển của Trung Quốc”, Tiến sĩ Andrew Scobell, thuộc trường Đại học Texas A&M nói.

“Từ cuối năm 2007 Trung Quốc đã gia tăng tuần tra hải quân, gây áp lực ngăn chặn các công ty dầu khí nước ngoài hoạt động trong vùng biển tranh chấp, [tiến hành các bước đi tương ứng tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,] và đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá ở một số khu vực biển”, Bronson Percival, thuộc Trung tâm Phân tích Hải quân (CNA) cho biết. Theo Percival, Trung Quốc khẳng định các tranh chấp là “vấn đề song phương,”như giữa Trung Quốc và một quốc gia yếu hơn, và không thể  đem ra xử lý bởi “các cơ chế đa phương.”

Năm ngoái, Trung Quốc cho thể hiện các hành động hung hăng đối với các tàu Hải quân Mỹ. Vào tháng 3 năm 2009 tàu hải quân Mỹ Impeccable khi đang ở vùng biển quốc tế Biển Đông đã bị các tàu Trung Quốc quấy rối và đòi phải rời khỏi khu vực hoặc “phải chịu hậu quả,” nghị sỹ Dana Rohrabacher (đảng Cộng hoà ở bang CA) xác nhận. Sự cố tương tự đã xảy ra hồi tháng sáu với khu trục hạm USS John S. McCain.

“Những hành động này mang ý nghĩa rõ ràng. Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa qua các hành động của họ nêu tín hiệu một cách hiếu chiến về thống trị và kiểm soát Biển Đông”, ông Rohrabacher nói. Ông nói thêm rằng, Trung Quốc hành động hiếu chiến như thế đối với Mỹ thì có thể hình dung là các nước khác trong khu vực cũng bị đe dọa như thế nào.

“Chúng tôi lên án mạnh mẽ các hành động gây nguy hiểm cho an toàn của các con tàu của chúng ta, và đó là sự vi phạm rõ ràng các chuẩn mực quốc tế về ứng xử trên biển thuộc phạm vi bên ngoài lãnh hải”, Phó Trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ông Robert Scher cho biết. Ông khẳng định rằng Mỹ bác bỏ bất kỳ nỗ lực nào nhằm hạn chế quyền tự do trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Gần 40% đại dương trên thế giới nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Do đó, theo Scher, quyền tự do hàng hải phải được duy trì vì lợi ích kinh tế toàn cầu và hoà bình quốc tế.

Nghị sỹ Rohrabacher cho rằng: mặc dù không có mối đe dọa quân sự thường trực nào đối với Trung Quốc, nhưng họ đang củng cố quân đội với quy mô lớn, và hiểm họa này đang bị chúng ta bỏ qua. Ông dẫn chứng tới tên lửa chống vệ tinh và tên lửa đạn đạo đối hạm mà Trung Quốc đang phát triển, với ý định ngăn chặn chúng ta hỗ trợ các đồng minh trong khu vực.

Theo Ủy viên Larry M. Wortzel, người đồng chủ trì buổi điều trần, lực lượng hải quân đang lớn mạnh của Trung Quốc được xem như mối đe dọa tiềm tàng đối với các nước có tranh chấp trên biển với Trung Quốc như Việt Nam, Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines và Đài Loan. Ông nói rằng, trong chuyến thăm Việt Nam của Ủy ban hồi tháng mười hai vừa qua, họ đã nhiều lần nghe phía Việt Nam bày tỏ lo ngại về tính hiếu chiến của Trung Quốc ở Biển Đông, liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước.

Các đại biểu tham dự điều trần thống nhất rằng Mỹ nên can dự nhiều hơn tới khu vực và Mỹ có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn Trung Quốc thống trị ở Biển Đông và trong việc đảm bảo tự do di chuyển của lực lượng vũ trang Mỹ và đường vận chuyển năng lượng.

ASEAN lo ngại khi Trung Quốc phát triển thương mại

Trong thập niên 90, các nước Đông Nam Á đã từng rất lo ngại rằng Trung Quốc có thể làm điều gì đó, nhất là liên quan tới các lãnh thổ ở Biển Đông mà họ đòi hỏi chủ quyền. Walter Lohman, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Châu Á, thuộc Quỹ Heritage, dẫn chứng về các hành động đối đầu của Trung Quốc trong tranh chấp quần đảo Trường Sa với Philippinse và trong cuộc khủng hoảng tên lửa tại eo biển Đài Loan năm 1995-1996. Tuy nhiên, vào cuối thập niên 1990 và những năm đầu sau năm 2000, Trung Quốc bắt đầu đảo ngược hình ảnh của mình với việc sử dụng “cuộc tấn công hấp dẫn”, bớt ý thức hệ hơn và nhấn mạnh tới quan hệ thương mại hơn là các tranh chấp lãnh thổ.

Năm thành viên sáng lập của ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam Á) vào năm 1967 là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan, gia nhập sau là Brunei, Campuchia, Lào, Myanmar (Burma) và Việt Nam. Với mục đích là liên kết kinh tế, chính trị và văn hóa khu vực.

Quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và ASEAN phát triển hàng năm và nhiều khả năng sẽ phát triển hơn nữa sau khi Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc – ASEAN (CAFTA) có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm nay. Thương mại hai chiều của Trung Quốc và mười nước ASEAN đạt $193 tỷ trong năm 2008, vượt của Mỹ với $181 tỷ, giúp Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của ASEAN sau Liên minh châu Âu và Nhật Bản. “Xét về qui mô thị trường, CAFTA chỉ đứng sau Cộng đồng Châu Âu (European Community) và Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA)”, giáo sư Donald E. Weatherbee, Đại học South Carolina, nói.

“Theo Ban Thư ký ASEAN, thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc đã duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình là 26% hàng năm kể từ 2003,” Walter Lohman từ Heritage Foundation nói. ”… có thể dự kiến rằng thương mại của Trung Quốc với ASEAN sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn thương mại của các đối tác khác với ASEAN …. Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Malaysia và Việt Nam, và là đối tác lớn thứ hai của Philippines, Thái Lan, Singapore và Myanmar”, Giáo sư Weatherbee nói.

Tăng trưởng thương mại được các nước này chào đón, nhưng sự thống trị của Trung Quốc ở châu Á khiến cho các nước này cảnh giác về các động cơ của Trung Quốc. Đồng nhân dân tệ đang có giá thấp và Trung Quốc không muốn định giá lại, "xuất khẩu của ASEAN kém cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, và nhập khẩu từ Trung Quốc – sẽ gia tăng với CAFTA – cạnh tranh hơn ở thị trường nội địa ASEAN. Việt Nam nhận thấy cần thiết phải phá giá đồng tiền của mình, và các nước ASEAN khác, đặc biệt là Thái Lan, có thể sẽ phải hành động theo cho phù hợp”, Giáo sư Weatherbee nói. Ông cũng cho rằng, nhiều tiếng nói ở Indonesia - là thị trường lớn nhất ASEAN- lo lắng rằng hàng nhập khẩu rẻ hơn từ Trung Quốc sẽ dẫn đến mất việc làm trầm trọng trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, và thuỷ sản.

Gia tăng quan hệ thương mại và đầu tư tạo cho Trung Quốc đòn bẩy mà trước đây họ không có. Giáo sư Weatherbee dẫn chứng: nhân vật thứ hai của Trung Quốc là Tập Cận Bình tới Phnôm Pênh ký 14 hiệp định hỗ trợ kinh tế giữa Trung Quốc và Campuchia thì hai ngày sau nước này đã trục xuất hồi hương 20 người tị nạn thiểu số Tân Cương, những người đã được Cao ủy Liên Hiệp quốc về người tỵ nạn (UNHCR) bảo vệ.

Ngoại trưởng Clinton: ‘Mỹ trở lại’

Tất cả những người ra điều trần đều nói về tầm quan trọng của biển Đông Nam Á đối với Trung Quốc và đối với các nước khác phụ thuộc vào việc đi lại ở đây. “Các tuyến đường biển  qua khu vực Đông Nam Á là một trong những tuyến bận rộn nhất và quan trọng chiến lược nhất. Năm ngoái, 90% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc được chuyên chở qua eo biển Malacca”,David B. Shear, Phó Trợ lý Ngoại trưởng nói.

Tuy vậy, theo những người tham gia điều trần, Mỹ thiếu một chiến lược rõ ràng trong khu vực.

“Phần lớn Chính phủ các nước ASEAN trông đợi sự can dự sâu hơn của Mỹ. Dưới thời Tổng thống George W. Bush, nhận thức chủ yếu là Mỹ chỉ quan tâm đến việc chống khủng bố và thờ ơ với các nhu cầu khác của Đông Nam Á”, Tiến sĩ Ellen Frost, thuộc Viện Kinh tế Quốc tế Peterson, nhận định. Chính quyền Obama đã nỗ lực làm mới và mở rộng sự can dự của Mỹ ở Đông Nam Á. Tháng 7 năm 2009, Ngoại trưởng Clinton đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác, điều chỉnh chính sách của chính quyền Bush và tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ Mỹ-ASEAN. Cũng trong tháng bảy, bà đã tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Phuket ,Thái Lan, nơi bà  tuyên bố: “Mỹ đang trở lại”.

“Tuyên bố Clinton” rõ ràng là sự đáp trả, thể hiện quan ngại rằng sự tham gia của Trung Quốc trong khu vực tạo ra bất ổn tiềm tàng, đặc biệt là ở lưu vực sông Mekong và Biển Đông “, Tiến sĩ Cronin nói.

Hồi tháng 11, Tổng thống Obama đã gặp ASEAN -10 trong chuyến thăm Singapore và  dự Hội nghị Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và đây là cuộc gặp đầu tiên của Tổng thống Mỹ với tất cả những người đứng đầu chính phủ các nước ASEAN. Và ngày 1 tháng 2, Nhà Trắng thông báo rằng Tổng thống sẽ  thăm Indonesia và Úc vào tháng ba.

Sự tham gia của Trung Quốc vào các dự án cơ sở hạ tầng mang tính hủy hoại

Báo cáo bằng văn bản của của tiến sĩ Cronin tại phiên điều trần phần lớn đề cập về quyết định của Trung Quốc xây tám đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mê Kông, điều mà ông nói là sẽ có tác động tàn phá môi trường ở các nước hạ nguồn sông Mekong như Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam. Ông cũng quy lỗi cho các quốc gia hạ nguồn này có cái nhìn thiển cận khi theo đuổi sự phát triển không bền vững tác động đến môi trường với kế hoạch xây dựng 13 con đập trên dòng chính ở hạ nguồn sông Mekong.

“… Các con đập ở dòng chính của cả thượng nguồn sông Mê Kông tại Trung Quốc lẫn hạ nguồn sông Mekong tại Lào, Thái Lan, Campuchia [và Việt Nam] sẽ có tác động không thể lường được đối với con người, an ninh lương thực và môi trường sống trong toàn bộ lưu vực sông Mekong”, Tiến sĩ Cronin nói. Việc bảo tồn các nguồn cá, điều mà nhiều dân chúng kiếm sống phụ thuộc vào, không tương ứng với các con đập chính.

Bình luận về viện trợ của Trung Quốc cho các nước Đông Nam Á, Ernest Z. Bower, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), cho biết:

“Thông thường, tài trợ của Trung Quốc được sử dụng vào các dự án không cần thiết,  phục vụ mục đích chính trị hơn là yêu cầu thực tế. Các dự án này chỉ mang lợi cho các chính trị gia bản địa hơn là các yêu cầu thực tế. “

Gary Feuerberg

21-02-2010
Người dịch: Phương Nga

( còn tiếp )
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Năm, 2011, 04:46:45 am gửi bởi thanhh63 » Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #211 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2011, 04:40:48 am »

( tiếp theo )
Điều trần ủy ban đánh giá Mỹ - Trung ngày 4.2.2010

Điều trần của David B. Shear, Phó trợ lý Ngoại trưởng, vụ các vấn đề Đông Á, Thái Bình Dương, Bộ Ngoại giao Mỹ.

Việc Trung Quốc vươn ra biển Nam Trung Hoa là điều tự nhiên do sự gần gũi về mặt địa lý của nước này, do các mối quan hệ kinh tế và văn hóa trong lịch sử của nó, và sự tăng trưởng năng động của Trung Quốc. Chúng ta mong muốn Trung Quốc hòa hợp với các nước láng giềng của họ, bởi vì một khu vực hòa bình và ổn định hỗ trợ cho những lợi ích của Mỹ. Chúng ta hoan nghênh sự can dự của Trung Quốc trong khu vực và hướng tới hợp tác chặt chẽ hơn nữa với Trung Quốc cũng như các đối tác của chúng ta trong khu vực. Gia tăng đối thoại giữa Trung Quốc và các cổ đông chủ chốt của khu vực và sự công khai minh bạch nhiều hơn đối với tất cả các bên có thể đảm bảo chắc chắn rằng sự ổn định vẫn được duy trì và sự phát triển kinh tế được tiếp tục trên một con đường tích cực ở châu Á, và sự can dự tích cực của Mỹ sẽ đóng một vai trò then chốt trong việc đem lại điều này, và trong việc đảm bảo những lợi ích chiến lược của Mỹ trong khu vực quan trọng này.

**********

Thưa Chủ tịch Slane, thưa Phó Chủ tịch Bartholomew, thưa ngài Phó Chủ tịch Ủy ban Wortzel, thưa các thành viên Ủy ban, cám ơn các vị đã mời tôi có mặt trước quý vị ngày hôm nay. Châu Á-Thái Bình Dương là một khu vực quan trọng mà chúng ta đã tiếp cận với cam kết được khẳng định lại trong năm qua. Đồng nghiệp của tôi từ Bộ Quốc phòng sẽ tập trung vào các hoạt động liên quan đến quốc phòng ở Đông Nam Á, vì vậy phát biểu của tôi sẽ tập trung vào những khía cạnh kinh tế và ngoại giao rộng lớn hơn của khu vực.

Những lợi ích kinh tế

Trung Quốc có những lợi ích chiến lược và kinh tế lâu dài ở Đông Nam Á do vị trí sát gần của khu vực này với Trung Quốc đại lục, những thị trường đang mở rộng của khu vực cho hàng hoá Trung Quốc, và các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của nó. Những quan hệ kinh tế đã phát triển đáng kể khi các nước Đông Nam Á tận dụng các cơ hội do sự tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc đem lại. Buôn bán 2 chiều của Trung Quốc với tất cả 10 nước ASEAN là 193 tỉ USD trong năm 2008, tăng so với 9 tỉ USD năm 1993 - một tỉ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm 23%. Xin nêu cho các vị một vài ví dụ về các quan hệ thương mại song phương của Trung Quốc trong khu vực, buôn bán hai chiều của Việt Nam với Trung Quốc ước khoảng 20 tỉ USD năm 2009, một sự gia tăng gấp 4 lần kể từ năm 2005. Buôn bán của Malaixia với Trung Quốc lên tới 53 tỉ USD năm 2008, tăng 77% kể từ 2005. Năm 2009, Trung Quốc nhập 4 triệu tấn dầu cọ từ Malaixia, chiếm 23% tổng sản lượng dầu cọ của Malaixia. Rõ ràng là cả CHND Trung Hoa lẫn các nước ASEAN đều nhận thấy những lợi ích chung từ buôn bán mở rộng. Các quan hệ kinh tế của Trung Quốc với khu vực sẽ có khả năng phát triển hơn nữa theo Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN đã trở thành hiệp định đầu tiên có hiệu lực của năm nay.

Tuy nhiên, buôn bán và đầu tư tăng lên với Trung Quốc không phải là một điều tốt hoàn toàn đối với nhiều nền kinh tế ASEAN. Một số nhà quan sát đã tuyên bố rằng Trung Quốc đã đem lại sự trục trặc về kinh tế địa phương và những căng thẳng cho một số nền kinh tế Đông Nam Á. Lo ngại rằng cạnh tranh từ hàng hoá giá rẻ từ Trung Quốc có thể có tác động tiêu cực đến các ngành công nghiệp trong nước họ, Inđônêxia đã kêu gọi xem xét lại hiệp định này, và các nước khác trong khu vực cũng dấy lên mối lo ngại.

Trong việc đánh giá sự phát triển về buôn bán của Trung Quốc với các nước ASEAN, điều có ích là so sánh điều đó với các mối quan hệ kinh tế của ASEAN với các nền kinh tế toàn cầu lớn khác. Năm 2008, buôn bán của Mỹ với các nước ASEAN là ở mức 181 tỉ USD, trong khi buôn bán của Nhật Bản với ASEAN là 212 tỉ USD. Mỹ và Nhật Bản cũng có những đầu tư trực tiếp lớn trong khu vực. Từ 2006 đến 2008, các nhà đầu tư Mỹ đã đầu tư 12,8 tỉ USD vào các nước ASEAN trong khi mức của Nhật Bản là 25,8 tỉ USD. Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc trong khu vực vẫn còn ít trong giai đoạn đó, tổng số là 3,7 tỉ USD. Điều này để nói rằng trong khi các nước Đông Nam Á công nhận những cơ hội lớn ở Trung Quốc, họ tiếp tục coi các quan hệ kinh tế với Mỹ và các nước khác là có tầm quan trọng sống còn.

Buôn bán của Trung Quốc ở Đông Nam Á cũng được theo sau bởi viện trợ phát triển của Trung Quốc. Tháng 10/2009, Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc-ASEAN lần thứ 12 đã nhận được một lời hứa của Trung Quốc về khoản đầu tư và tín dụng thương mại tới 25 tỉ USD trong 3 đến 5 năm tới. Vào tháng 12/2009, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đi thăm Campuchia, ký kết các hiệp định song phương trị giá trên 1 tỉ USD, và Mianma, nơi ông đã ký một số hiệp định, kể cả hiệp định về các dự án kinh tế. Bất chấp nhiều khía cạnh tích cực của việc Bắc Kinh vươn ra châu Á, Mỹ lo ngại về một số khía cạnh của sự giúp đỡ phát triển của Trung Quốc cho khu vực. Trong khi các chương trình phúc lợi xã hội và pháp trị được Mỹ ủng hộ chủ yếu có sức hấp dẫn đối với xã hội dân sự, thì các chương trình viện trợ của Trung Quốc bao gồm những dự án rất rõ ràng, như Sân vận động quốc gia mới của Lào và tòa nhà Hội đồng Bộ trưởng của Campuchia, có sức hấp dẫn trực tiếp đối với các nhà lãnh đạo khu vực. Hơn nữa, Trung Quốc không ràng buộc viện trợ của mình với sự tiến bộ về cai trị, làm nảy sinh những nghi ngờ về giá trị lâu bền của viện trợ như vậy. Giúp đỡ phát triển có hiệu quả nhất khi được nhằm tăng cường cấu trúc chính trị, xã hội và kinh tế của một xã hội thay vì những dự án nhằm vào giới tinh hoa và tạo ra ảnh hưởng có hạn khắp đất nước đang phát triển này.

Những lợi ích chiến lược

Trung Quốc tin rằng họ cũng có lợi ích chiến lược sống còn trong khu vực, đặc biệt liên quan đến các láng giềng trực tiếp của Trung Quốc, Mianma, Lào và Việt Nam . Trong vài thế kỷ, sự xâm chiếm thuộc địa, sự bất ổn định và chiến tranh kinh niên, sự có mặt quân sự của Mỹ trong những năm 1960 và 1970, và sự có mặt quân sự của Liên Xô trong những năm 1970 và 1980, tất cả được Bắc Kinh coi là những mối đe dọa nghiêm trọng đến an ninh của họ. Giờ đây, theo quan điểm của Trung Quốc, 2 thập kỷ sau khi Liên Xô rút đi và các lực lượng Việt Nam rút khỏi Campuchia, Đông Nam Á lục địa chưa bao giờ ổn định hơn. Trung Quốc đã ký kết một hiệp định phân định lại các đường biên giới dài bị tranh chấp từ lâu với Việt Nam vào tháng 12/2008 và triển khai một số lực lượng lục quân dọc đường biên giới của nước này với Đông Nam Á lục địa.


Những lợi ích chiến lược của Bắc Kinh ở Đông Nam Á vùng biển đã tăng đáng kể với sự phụ thuộc tăng lên của Trung Quốc vào thương mại biển và các nguồn cung cấp năng lượng nhập khẩu. Các con đường biển chạy qua Đông Nam Á là thuộc một số tuyến đường tấp nập và có tầm quan trọng chiến lược nhất của thế giới. Chúng là những con đường huyết mạch chính của buôn bán đã kích thích sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ ở Trung Quốc và khu vực. Năm ngoái, 80% lượng dầu lửa nước ngoài mà Trung Quốc nhập khẩu là đi qua eo biển Malắcca. Hơn một nửa số đội tàu buôn của thế giới, kể cả một tỉ lệ lớn các tàu buôn treo cờ Trung Quốc, đi qua biển Nam Trung Hoa mỗi năm.
....
( còn tiếp )

« Sửa lần cuối: 11 Tháng Năm, 2011, 04:47:37 am gửi bởi thanhh63 » Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #212 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2011, 04:50:17 am »

( tiếp theo )
Điều trần ủy ban đánh giá Mỹ - Trung ngày 4.2.2010

Điều trần của David B. Shear, Phó trợ lý Ngoại trưởng, vụ các vấn đề Đông Á, Thái Bình Dương, Bộ Ngoại giao Mỹ.

Chính sách ngoại giao thăm hỏi và quyền lực mềm

Bắc Kinh đã triển khai một loạt công cụ ngoại giao và quân sự trong một nỗ lực nhằm thúc đẩy những lợi ích biển của họ và xây dựng “quyền lực mềm” ở Đông Nam Á. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc duy trì một mức độ dồn dập các chuyến thăm chính thức đến khu vực, đồng thời tiếp đón các chuyến thăm cấp cao đến Bắc Kinh – như một dấu hiệu về sự ưu tiên và tôn trọng đối với các láng giềng châu Á của họ. Chẳng hạn, năm ngoái các nhà lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc, kể cả chủ tịch Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo, đã đi thăm 6 nước ở Đông Nam Á, gồm 4 trong 5 nước lục địa. Trung Quốc cũng sử dụng các chương trình giáo dục và văn hoá để tìm cách tăng cường quyền lực mềm của họ. Trung Quốc đã mở Viện Khổng tử đầu tiên của họ ở châu Á vào năm 2004; hiện nay có 70 viện ở khắp châu Á và 282 viện trên toàn cầu. Chỉ riêng ở Thái Lan có 12 viện, và Trung Quốc gần đây đã mở viện đầu tiên ở Campuchia. Hiện số sinh viên Thái - khoảng 10000 người - học tập ở Trung Quốc nhiều hơn ở Mỹ. Và vào tháng 12/2008, Trung Quốc đã khai trương Đài phát thanh Hữu nghị Trung Quốc –Campuchia. Những ảnh hưởng thực tế của những nỗ lực của Trung Quốc đến cách nhìn nhận của địa phương cũng như sự nhạy cảm về những lợi ích của Trung Quốc vẫn còn là lĩnh vực quan tâm của Mỹ.

Trung Quốc cũng đã mở rộng sự hợp tác và viện trợ quân sự để thúc đẩy những lợi ích của mình trong khu vực. Những sự hợp tác của Trung Quốc bao gồm cung cấp trang bị, xe cộ và vũ khí, các cuộc tập trận và phô diễn quân sự, và đào tạo các sĩ quan nước ngoài ở Trung Quốc.

Các diễn đàn khu vực

Trung Quốc cũng tham gia một số thể chế khu vực, điều tăng cường hình ảnh của họ ở khu vực châu Á và cải thiện các quan hệ của họ với các láng giềng. Sự tham gia đó bao gồm từ các thể chế như ASEAN+3, Tổ chức hợp tác Thượng Hải cho đến các diễn đàn châu Á- Thái Bình Dương rộng lớn hơn như APEC và Diễn đàn khu vực ASEAN. Chúng ta khuyến khích sự can dự của Trung Quốc với những tổ chức này như một biện pháp để hội nhập Trung Quốc vào hệ thống khu vực và hợp tác trong những lĩnh vực cùng quan tâm.

Đường hướng của Mỹ với khu vực

Tổng thống Obama đã tuyên bố rằng Mỹ hoan nghênh sự nổi lên của Trung Quốc và “trong một thế giới liên kết với nhau, sức mạnh không nhất thiết phải là trò chơi được mất ngang nhau.” Mối quan hệ của chúng ta với Trung Quốc ở Đông Nam Á bao gồm cả các yếu tố hợp tác lẫn cạnh tranh. Sự hội nhập kinh tế đã đan kết các nền kinh tế Mỹ, Trung Quốc và Đông Nam Á thành một mạng lưới phức tạp. Chúng ta cũng hợp tác với Trung Quốc thông qua APEC và Diễn đàn khu vực ASEAN, và nhiều thể chế đa phương khác như IMF, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á, và Tổ chức Y tế thế giới. Đồng thời Trung Quốc cạnh tranh với Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và các nước khác về ảnh hưởng ở Đông Nam Á.

Như Ngoại trưởng đã nói trong bài phát biểu của bà hồi tháng 1/2010 về Cơ cấu khu vực ở châu Á: “Chúng ta bắt đầu từ một tiền đề đơn giản: tương lai của nước Mỹ gắn với tương lai của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và tương lai của khu vực này phụ thuộc vào nước Mỹ. Mỹ có lợi ích mạnh mẽ trong việc tiếp tục truyền thống lãnh đạo kinh tế và chiến lược của mình, và châu Á có lợi ích mạnh mẽ trong việc Mỹ vẫn là một đối tác kinh tế năng động và có ảnh hưởng quân sự tạo ổn định.” Đông Nam Á là trung tâm trong nỗ lực của chúng ta ở khu vực châu Á–Thái Bình Dương rộng lớn hơn.

Mục đích của chúng ta là đạt được một sự cân bằng ổn định giữa các yếu tố đa dạng trong quan hệ của chúng ta với Trung Quốc khi chúng ta tìm kiếm một sự cân bằng ổn định trong khắp khu vực. Khi ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực tăng lên, một sự có mặt mạnh mẽ tiếp tục của Mỹ trong khu vực sẽ đảm bảo quyền tự do hành động cho các đồng minh và bạn bè của chúng ta, ngăn chặn thái độ cư xử hung hăng tiềm tàng, và bảo vệ những lợi ích chiến lược của chúng ta ở Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực không phải là mối đe dọa đối với những lợi ích của Mỹ chừng nào mà nó hỗ trợ cho sự ổn định khu vực, nền kinh tế Mỹ tiếp tục hùng mạnh, các liên minh và các mối quan hệ đối tác của chúng ta vẫn mạnh mẽ, quyền tự do hàng hải và tiếp cận được giữ gìn như một lẽ phải thông thường, và các nước thân thiện trong khu vực nhận thấy sự có mặt của Mỹ là cần thiết.

Người ta nói rằng để theo đuổi ngoại giao thành công ở Đông Nam Á, tất cả những gì anh phải làm là “thể hiện ra”. Đây là một tiêu chuẩn quá thấp và chính quyền này sẽ làm nhiều hơn. Trước chính quyền này, đôi lúc Mỹ đã không đạt được tiêu chuẩn này – các tổng thống đã bỏ lỡ các hội nghị thượng đỉnh APEC; các ngoại trưởng đã bỏ lỡ các cuộc họp của Diễn đàn khu vực ASEAN; các quan chức cấp cao Mỹ không sử dụng đủ thời gian hướng về các mối quan hệ song phương khu vực. Bức thông điệp của chính quyền Obama để giải quyết vấn đề này là đơn giản: chúng ta đang trở lại và sẵn sàng can dự tích cực. Tổng thống đã có một chuyến thăm thành công đến Xinhgapo tháng 11 năm ngoái liên quan đến Hội nghị thượng đỉnh APEC và sẽ đi thăm khu vực này một lần nữa vào nửa đầu năm nay. Ngoại trưởng Clinton đã đi thăm khu vực 3 lần năm ngoái và sẽ ưu tiên khu vực này năm nay và những năm tới.

Thể hiện ra là cần thiết nhưng không phải là cơ sở đầy đủ cho sự can dự thành công. Chính quyền này cũng đang theo đuổi hoạt động ngoại giao mạnh mẽ và sáng tạo. Chúng ta đã truyền đạt đến bạn bè chúng ta ở Đông Nam Á rằng chúng ta sẵn sàng mở rộng và làm sâu sắc thêm những quan hệ của chúng ta, thúc đẩy sự hợp tác vượt ra ngoài giọng điệu hùng biện trong những lĩnh vực có giới hạn, kể cả chống khủng bố.
Thể hiện cam kết của chúng ta với khu vực, vào tháng 7/2009 Ngoại trưởng Clinton đã ký Hiệp ước thân thiện và hợp tác, điều mà ASEAN đã tìm kiếm từ Mỹ trong 2 thập kỷ nay. Bà cũng tham dự cuộc họp của Diễn đàn khu vực ASEAN ở Phuket hồi tháng 7. Tháng 2/2009, bà là Ngoại trưởng Mỹ đầu tiên đến thăm trụ sở khu vực của ASEAN ở Giacácta. Tổng thống Obama đã tổ chức cuộc họp cấp tổng thống đầu tiên cho đến nay với những người đứng đầu nhà nước và chính phủ của ASEAN + 10 trong chuyến thăm Xinhgapo của ông vào tháng 11/2009 và ông đã tham dự cuộc họp của các nhà lãnh đạo APEC. Mỹ cũng có ý định cử một đại sứ tại ASEAN đóng trụ sở ở Giacácta và, để hỗ trợ ý định của tổng thống can dự đầy đủ hơn với các tổ chức khu vực mới, sẽ bắt đầu các cuộc trao đổi ý kiến với các đối tác châu Á về cách thức Mỹ có thể đóng một vai trò ở Hội nghị thượng đỉnh Đông Á.

Chúng ta đang xây dựng một mối quan hệ đối tác toàn diện với Inđônêxia, điều đang tăng cường mối quan hệ song phương cũng như sự hợp tác và tham khảo ý kiến của chúng ta với nhau về các vấn đề khu vực và toàn cầu. Chúng ta đang xây dựng một mối quan hệ nồng ấm hơn với Malaixia. Chúng ta đã khẳng định lại cam kết của chúng ta với các đồng minh của chúng ta ở Thái Lan và Philíppin và làm sâu sắc thêm mối quan hệ đối tác của chúng ta với các nước như Xinhgapo và Việt Nam . Và vào tháng 7/2009 chúng ta đã loan báo Sáng kiến Hạ lưu lòng chảo sông Mê công, bao gồm Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam .

Cam kết tiếp tục lại của chúng ta với Đông Nam Á đã được hoan nghênh rộng rãi và những cơ hội cho sự can dự hơn nữa đang tăng lên ở một khu vực đang tìm kiếm sự đa dạng trong các quan hệ đối ngoại và buôn bán của mình. Đối với Mianma, trong nhiều thập kỷ chế độ Mianma đã tự cô lập mình bằng việc phớt lờ những kết quả của cuộc bầu cử 1990, bỏ tù hàng nghìn người vì những lý do chính trị, từ chối đối thoại với phe đối lập đã giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử cạnh tranh gần đây nhất, và cai trị bằng sắc lệnh quân sự. Mỹ và phần lớn cộng đồng quốc tế đã đáp lại bằng những hình phạt và giữ khoảng cách với chế độ Mianma. Trung Quốc đã có những quan hệ mạnh mẽ hơn với Mianma và trở thành ngoại lệ đối với lập trường của phần lớn cộng đồng quốc tế.

( còn tiếp )
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #213 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2011, 04:52:44 am »

( tiếp theo )
Điều trần ủy ban đánh giá Mỹ - Trung ngày 4.2.2010

Điều trần của David B. Shear, Phó trợ lý Ngoại trưởng, vụ các vấn đề Đông Á, Thái Bình Dương, Bộ Ngoại giao Mỹ.

Ngoại trưởng Clinton đã chỉ đạo cho chúng tôi đánh giá chính sách về Mianma của chúng ta vì không đường hướng dựa trên hình phạt nào do Mỹ chủ trương cũng như không sự can dự nào do các nước khác ủng hộ đem lại các kết quả tích cực. Do vậy chúng ta hiện theo đuổi đối thoại trực tiếp, cấp cao với nhà cầm quyền Mianma. Trong cuộc đối thoại đó chúng ta nêu ra những mong đợi về một nước Mianma dân chủ và bảo vệ quyền của nhân dân mình. Chúng ta nêu rõ rằng những hình phạt sẽ chỉ được bãi bỏ để đáp lại những hành động cụ thể của nhà cầm quyền Mianma.

Các đồng minh của Mỹ cũng can dự ở Đông Nam Á; chẳng hạn, hồi tháng 11/2009 Nhật Bản đã chủ trì Hội nghị cấp cao Nhật Bản-Mê công lần đầu tiên từ trước đến nay, tại đó họ đã cam kết hơn 5 tỉ USD giúp đỡ phát triển. Hàn Quốc tiếp tục vươn ra Đông Nam Á về kinh tế, và xu hướng đó đã được mở rộng theo “sáng kíến châu Á mới” của Tổng thống Lee.

Các vấn đề về biển

Mỹ từ lâu đã có lợi ích mang tính sống còn trong việc duy trì sự ổn định, quyền tự do đi lại trên biển, và quyền tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp trong vùng biển của Đông Á. Trong nhiều thập kỷ, sự can dự tích cực của Mỹ ở Đông Á, trong đó có sự hiện diện được triển khai phía trước của các lực lượng Mỹ, là nhân tố chính trong việc duy trì hòa bình và gìn giữ những lợi ích đó.

Chúng ta đã nỗ lực ủng hộ sự tôn trọng đối với luật pháp quốc tế thông thường, như được phản ánh trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS). Mặc dù Mỹ vẫn chưa phê chuẩn Công ước này, nhưng Chính quyền này và các chính quyền tiền nhiệm của nó ủng hộ việc làm như vậy, và trên thực tế, Mỹ tuân thủ các điều khoản của Công ước quy định việc sử dụng theo truyền thống các đại dương.

Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Philíppin, Malaixia, Inđônêxia và Brunây mỗi bên đều có yêu sách chủ quyền đối với các phần của biển Nam Trung Hoa, trong đó có các vùng biển và các địa phận trên đất liền. Quy mô yêu sách của mỗi bên rất khác nhau, mức độ mạnh mẽ mà họ khẳng định cũng vậy. Những yêu sách tập trung vào chủ quyền đối với 200 hòn đảo nhỏ, bãi đá và vỉa đá ngầm tạo nên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 2002, các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Nam Trung Hoa”. Trong khi không mang tính ràng buộc, Tuyên bố này đề ra những nguyên tắc hữu ích, chẳng hạn như tất cả các bên yêu sách cần phải “giải quyết các tranh chấp… bằng các biện pháp hòa bình” và “tự kiềm chế”, và họ “tái khẳng định sự tôn trọng và cam kết của họ đối với quyền tự do đi lại trên biển và quyền bay qua trên biển Nam Trung Hoa, như được quy định bởi những nguyên tắc được tất cả mọi người công nhận của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982”.

Văn kiện năm 2002 đã báo hiệu sự sẵn sàng giữa các bên yêu sách đối với việc tiếp cận tranh chấp này một cách đa phương. Chúng ta đã hoan nghênh hiệp định này, hiệp định đã giảm bớt những căng thẳng giữa các bên yêu sách và tăng cường ASEAN với tư cách là một thể chế, và chúng ta ủng hộ những nỗ lực nhằm tăng cường Tuyên bố này bằng việc đưa ra Bộ quy tắc Ứng xử mang tính ràng buộc dựa trên những nguyên tắc của Tuyên bố.

Chính sách của Mỹ tiếp tục là chúng ta không ủng hộ những yêu sách pháp lý tranh giành nhau đối với chủ quyền lãnh thổ ở biển Nam Trung Hoa. Tuy nhiên, chúng ta hết sức lo ngại khi chứng kiến bất kỳ nỗ lực nào nhằm làm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực. Chúng ta cũng lo ngại về “các vùng lãnh hải” hay bất kỳ vùng biển nào không dính với một vùng lãnh thổ đất liền. Những yêu sách về biển như vậy không phù hợp với luật pháp quốc tế thông thường, như được phản ánh trong Luật về Công ước Biển.

Trong trường hợp có những yêu sách mâu thuẫn nhau ở biển Nam Trung Hoa, chúng ta khuyến khích tất cả các bên theo đuổi các giải pháp phù hợp với UNCLOS, và các hiệp định khác đã được đưa ra giữa ASEAN và Trung Quốc. Chúng ta cũng hối thúc tất cả các bên yêu sách thực hiện kiềm chế và tránh những hành động gây hấn để giải quyết những yêu sách đối lập nhau. Chúng ta đã tuyên bố rõ ràng rằng chúng ta phản đối sự đe dọa hay sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp, cũng như bất kỳ hành động nào cản trở quyền tự do đi lại trên biển. Chúng ta mong muốn chứng kiến một giải pháp phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS.

Chúng ta vẫn lo ngại về tình trạng căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam , khi cả hai nước đều tìm cách khai thác các trữ lượng dầu lửa và khí đốt tiềm tàng dưới biển Nam Trung Hoa. Bắt đầu vào mùa Hè năm 2007, Trung Quốc đã yêu cầu một số công ty dầu lửa và khí đốt của Mỹ và nước ngoài chấm dứt hợp tác thăm dò với các đối tác Việt Nam ở biển Nam Trung Hoa hoặc phải đối mặt với những hậu quả không xác định rõ trong những giao dịch kinh doanh của họ với Trung Quốc.

Chúng ta phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm đe dọa các công ty Mỹ và đi ngược lại tinh thần của các thị trường tự do. Trong chuyến thăm tới Việt Nam hồi tháng 9/2008, Thứ trưởng Ngoại giao lúc đó là John Negroponte đã khẳng định các quyền của các công ty Mỹ hoạt động ở biển Nam Trung Hoa và tuyên bố chúng ta tin rằng những yêu sách tranh chấp cần phải được giải quyết một cách hòa bình và không sử dụng bất kỳ hình thức hăm dọa nào. Chúng ta đã bày tỏ trực tiếp những mối lo ngại của chúng ta với Trung Quốc. Những tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia không nên được giải quyết bằng việc tìm cách gây sức ép với các công ty không phải là bên tranh chấp.
 
Kết luận

Việc Trung Quốc vươn ra biển Nam Trung Hoa là điều tự nhiên do sự gần gũi về mặt địa lý của nước này, do các mối quan hệ kinh tế và văn hóa trong lịch sử của nó, và sự tăng trưởng năng động của Trung Quốc. Chúng ta mong muốn Trung Quốc hòa hợp với các nước láng giềng của họ, bởi vì một khu vực hòa bình và ổn định hỗ trợ cho những lợi ích của Mỹ. Chúng ta hoan nghênh sự can dự của Trung Quốc trong khu vực và hướng tới hợp tác chặt chẽ hơn nữa với Trung Quốc cũng như các đối tác của chúng ta trong khu vực. Gia tăng đối thoại giữa Trung Quốc và các cổ đông chủ chốt của khu vực và sự công khai minh bạch nhiều hơn đối với tất cả các bên có thể đảm bảo chắc chắn rằng sự ổn định vẫn được duy trì và sự phát triển kinh tế được tiếp tục trên một con đường tích cực ở châu Á, và sự can dự tích cực của Mỹ sẽ đóng một vai trò then chốt trong việc đem lại điều này, và trong việc đảm bảo những lợi ích chiến lược của Mỹ trong khu vực quan trọng này.

Xin cám ơn quý vị đã cho tôi cơ hội được điều trần trước quý vị ngày hôm nay về chủ đề quan trọng này. Tôi xin hoan nghênh các câu hỏi của quý vị.

( còn tiếp )

Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #214 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2011, 05:00:05 am »

( tiếp theo )
Điều trần ủy ban đánh giá Mỹ - Trung ngày 4.2.2010

Điều trần của Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher, phụ trách các vấn đề an ninh châu Á, Thái Bình Dương, thuộc văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng.

Đông Nam Á chắc chắc đóng một vai trò quyết định trong việc xác định rõ tương lai của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, và sự tiếp tục can dự của Mỹ với khu vực này cho phép Mỹ định hình tương lai đó. Chúng ta sẽ tiếp tục sử dụng sự can dự quân sự với các đồng minh và bạn bè của chúng ta ở Đông Nam Á và Trung Quốc để chứng tỏ cam kết của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, để thúc đẩy các mục đích và mục tiêu chung, và khuyến khích Trung Quốc đóng một vai trò xây dựng trong khu vực.
Nhưng, chúng ta cũng sẽ duy trì sự hiện diện của chúng ta và các liên minh của chúng ta ở châu Á, phát triển các năng lực của chúng ta, và tỏ rõ quyết tâm của Mỹ trong việc duy trì hòa bình và ổn định. Mỹ đã có sự lựa chọn nhất quán trong nhiều thập kỷ qua rằng các lợi ích của chúng ta nằm trong sự can dự mang tính xây dựng với Trung Quốc, được kết hợp với một mạng lưới liên minh và các quan hệ đối tác hùng mạnh trong khu vực. Chúng ta tin tưởng rằng thông qua đường hướng này, chúng ta sẽ tiếp tục phục vụ cho lợi ích của chúng ta và những lợi ích của các đồng minh và bạn bè của chúng ta trong khắp khu vực.
 
Lời giới thiệu

Thưa Phó Chủ tịch Bartholomew, thưa Phó chủ tịch Wortzel và các thành viên Ủy ban, xin cảm ơn các quý vị đã mời tôi có mặt trước Ủy ban ngày hôm nay để điều trần về các hoạt động có liên quan đến phòng thủ của Trung Quốc ở Đông Nam Á và những tác động đối với lợi ích của Mỹ. Đây là một vấn đề mà Bộ Quốc phòng đang chú ý theo dõi chặt chẽ và tôi rất có ấn tượng với việc ủy ban tiếp tục quan tâm đến chủ đề quan trọng này.

Đối với Chính quyền hiện nay, các quý vị sẽ nghe thấy chủ đề nhất quán rằng nước Mỹ là một quốc gia Thái Bình Dương về mọi mặt - địa chính trị, quân sự, ngoại giao, và kinh tế. Châu Á và Thái Bình Dương đóng một vai trò không thể thiếu trong việc giải quyết những thách thức và nắm bắt các cơ hội của thế kỷ 21. Các Liên minh của chúng ta với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Thái Lan, và Philíppin vẫn là nền tảng cho sự hiện diện và can dự của chúng ta ở châu Á - Thái Bình Dương. An ninh và ổn định được tạo ra thông qua các mối quan hệ này là mang tính quyết định đối với sự thành công và phát triển của khu vực này. Những giá trị chung và những lợi ích chiến lược của chúng ta đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thế hệ phát triển và thịnh vượng trong một khu vực phần lớn ở trong thời bình, và chúng tiếp tục là chìa khóa để duy trì ổn định và an ninh. Chính quyền Obama cam kết tăng cường các liên minh này nhằm giải quyết những thách thức đang tồn tại cũng như đang nổi lên. Ngoài ra, chúng ta cam kết tăng cường các mối quan hệ với các bên tham gia then chốt khác. Chúng ta đang theo đuổi một cuộc đối thoại chiến lược với Ấn Độ cũng như mối quan hệ đối tác toàn diện với Inđônêxia. Chúng ta cũng đang làm việc để tăng cường các mối quan hệ đối tác của chúng ta với các đối tác mới hơn như Việt Nam cũng như đối với các đối tác lâu đời như Xinhgapo.

Tầm quan trọng địa chiến lược của Đông Nam Á

Đông Nam Á là một phần quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Khu vực này là nơi sinh sống của trên 550 triệu người, là nơi có quốc gia Hồi giáo lớn nhất thế giới, một nền kinh tế khu vực với giá trị hơn 1 nghìn tỉ USD, và các đường thủy chiến lược nhất thế giới, nơi 50% lưu lượng thương mại toàn cầu và một phần ba nguồn cung cấp dầu lửa thế giới được vận chuyển qua đây.
Đông Nam Á sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc xác định rõ ràng tương lai của khu vực, và can dự tiếp tục của Mỹ với khu vực này cho phép Mỹ định hình tương lai đó. Đây là khu vực có vai trò chủ chốt cho hòa bình và ổn định tiếp tục của toàn khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như sự thịnh vượng kinh tế tiếp tục của Mỹ. Kim ngạch thương mại Mỹ - Đông Nam Á đạt trên 200 tỉ USD hàng năm với đầu tư của Mỹ ở khu vực này đạt hơn 100 tỉ USD. Do tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với toàn bộ sự ổn định khu vực và nền kinh tế của chúng ta, Mỹ có những lợi ích quan trọng ở khu vực này, chẳng hạn ổn định khu vực, chống chủ nghĩa khủng bố, kinh doanh, và việc tiếp tục tiếp cận những lợi ích chung toàn cầu về quyền tự do lưu thông đối với con người, hàng hóa, và thiết bị quân sự.
Tuần này, Báo cáo Quốc phòng bốn năm một đã được công bố và báo cáo này nêu bật tầm quan trọng của sự cần thiết của việc Mỹ tiếp tục tiếp cận những lợi ích chung toàn cầu. Báo cáo này tuyên bố rằng trong thế kỷ 21, “… những lợi ích chung toàn cầu sẽ có thêm tầm quan trọng. Những lợi ích chung toàn cầu là các lĩnh vực hay các khu vực không phải do một quốc gia kiểm soát mà tất cả các nước đều phải dựa vào đó. Chúng tạo thành một chuỗi hệ thống quốc tế gắn liền với nhau. An ninh và thịnh vượng toàn cầu là phụ thuộc vào luồng hàng hóa tự do được vận chuyển bằng đường hàng không hoặc đường biển, cũng như thông tin được truyền dưới đại dương …” Chúng ta tin rằng Đông Nam Á, là một phần quyết định của những lợi ích chung đó, sẽ là một khu vực nơi sự tiếp cận này có thể được thử nghiệm do bản chất quyết định của các tuyến đường giao thông trên biển chạy qua khu vực này và ảnh hưởng đến rất nhiều quốc gia.
....
( còn tiếp )

Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #215 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2011, 05:04:21 am »

( tiếp theo )
Điều trần ủy ban đánh giá Mỹ - Trung ngày 4.2.2010

Điều trần của Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher, phụ trách các vấn đề an ninh châu Á, Thái Bình Dương, thuộc văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng.
( tiếp theo)
...
Các hoạt động của Trung Quốc ở Đông Nam Á

Trong khi Mỹ tiếp tục theo đuổi một chiến lược can dự mạnh mẽ với các nước trong khu vực nhằm đảm bảo việc bảo vệ lợi ích của chúng ta, chúng ta thừa nhận rằng chúng ta không phải là cường quốc duy nhất đánh giá được những lợi ích chiến lược đạt được từ các mối quan hệ an ninh mạnh mẽ với các quốc gia Đông Nam Á, do khu vực này nằm giữa một Trung Quốc đang trỗi dậy và một Ấn Độ đang nổi lên. Trong nhóm các cường quốc khác đang can dự tích cực ở Đông Nam Á - Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, và thậm chí cả Nga - Trung Quốc trong những năm gần đây đã đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao, kinh tế và quân sự trong khu vực - phù hợp với chiến lược “vươn ra ngoài” của nước này nhằm thúc đẩy và bảo vệ những lợi ích và ảnh hưởng trong khu vực của nước này.

Việc Trung Quốc là một bên tham gia chiến lược ở Đông Nam Á không phải là điều mới - Bắc Kinh lâu nay đã đặt ưu tiên vào các mối quan hệ của mình với các quốc gia Đông Nam Á, đồng thời coi khu vực này có tầm quan trọng chủ chốt đối với sự ổn định của các đường biên giới tây nam của nước này, là một thị trường đối với hàng hóa xuất khẩu, và là nguồn cung cấp các nguyên liệu thô mang tính quyết định. Trong suốt thế kỷ 19 và 20, Trung Quốc đã rút khỏi ưu thế lịch sử khu vực của mình, nhưng dường như sẵn sàng tìm cách giành lại ưu thế đó trong thế kỷ 21. Để tạo dựng ảnh hưởng của mình và đảm bảo việc tiếp cận, Trung Quốc đang theo đuổi việc xây dựng một mạng lưới các mối quan hệ song phương mạnh mẽ được hỗ trợ bởi sự can dự rộng rãi hơn với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các quốc gia thành viên của tổ chức này. Theo quan điểm của Trung Quốc, sự can dự đa tầng ngăn chặn sự liên kết của các quốc gia đi ngược lại lợi ích của nước này, tạo ra các phương tiện để tiếp cận ưu đãi trên cơ sở song phương, và thúc đẩy hình ảnh mà nước này muốn tạo dựng phù hợp với chủ đề tìm kiếm một “thế giới hài hòa". Tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với sự tiếp tục phát triển kinh tế của Trung Quốc đã trở nên lớn hơn khi nền kinh tế của nước này tăng trưởng vì các nguồn tài nguyên mà Trung Quốc cần để duy trì sự tăng trưởng, an ninh và ổn định của nước này đều đi qua khu vực này.

Trung Quốc đang phát triển các mối quan hệ này bằng cách sử dụng tất cả các yếu tố của sức mạnh quốc gia của mình - ngoại giao, kinh tế, văn hóa, quân sự và thông tin - và việc triển khai các công cụ này dường như phần lớn phù hợp với lợi ích lâu dài đã được tuyên bố của nước này, bao gồm việc thiết lập và duy trì ảnh hưởng trong khu vực, bảo vệ các đòi hỏi chủ quyền của nước này, và sử dụng tác dụng đòn bẩy để tiếp cận trong khu vực với các thị trường, các nguồn tài nguyên, và đảm bảo các tuyến đường quá cảnh ở trên đất liền lẫn trên biển.

Trong Bộ Quốc phòng, chúng tôi đặc biệt chú ý đến các hoạt động quân sự của Trung Quốc trong khu vực, bao gồm sự hiện diện, viện trợ an ninh và những can dự giữa quân đội các nước. Những xu hướng gần đây về mặt này bao gồm:

- Tăng cường số lượng và tần suất của các chuyến thăm viếng lẫn nhau của các bộ trưởng quốc phòng và các tham mưu trưởng của Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á;
- Ký kết một số hiệp định trong khuôn khổ quốc phòng rộng lớn, song phương với Thái Lan, Philíppin, Malaixia, và Việt Nam ;
- Quan sát các cuộc tập trận khu vực, trong đó có các cuộc tập trận mà chúng ta đã mời họ tới quan sát, như cuộc tập trận Hổ mang Vàng.
- Tham gia các cuộc tập trận song phương với Thái Lan và Xinhgapo, cũng như tiến hành các cuộc tuần tra chung trên biển với Việt Nam .
- Tạo thêm cơ hội cho các đại diện quân sự của các nước Đông Nam Á tham dự các chương trình giáo dục quân sự của Trung Quốc; và
- Bán thiết bị quân sự cho các quốc gia có lựa chọn trong khu vực.

Hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều đón nhận sự can dự phòng thủ của Trung Quốc - đặc biệt ở các khu vực phù hợp với lợi ích an ninh riêng của họ, đặc biệt khi nó có liên quan đến viện trợ an ninh và trao đổi đào tạo - và coi các mối quan hệ quốc phòng là sự bổ sung tự nhiên cho sự can dự kinh tế và ngoại giao đang gia tăng của Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu so sánh thì các mối quan hệ quốc phòng vẫn ở mức tương đối khiêm tốn và Trung Quốc còn lâu mới trở thành đối tác an ninh được lựa chọn đối với khu vực nói chung. Chúng ta giám sát chặt chẽ các hoạt động của Trung Quốc và lưu ý rằng các chính sách viện trợ "vô điều kiện" của nước này - bao gồm vũ khí và thiết bị quân sự - có thể thường xuyên phục vụ cho các mục đích không phù hợp với lợi ích riêng của chúng ta khi chúng ta tìm cách thúc đẩy sự ổn định, quản trị tốt, pháp trị, và tôn trọng nhân quyền. Tuy nhiên, chúng ta không coi sự can dự của Trung Quốc trong khu vực là một trò chơi được - mất ngang nhau. Trong phạm vi mà chúng ta có thể, chúng ta đang khuyến khích Trung Quốc tăng cường hợp tác với cộng đồng quốc tế trong việc phân phối những hàng hóa mà mọi người đều có quyền sử dụng. Ở đây chúng ta nhận thấy tiềm năng to lớn để Trung Quốc phát huy những khả năng đang gia tăng của mình trong việc góp phần tìm kiếm các giải pháp chung cho các vấn đề chung, đặc biệt trong các khu vực có các mối đe dọa phi truyền thống và liên quốc gia như chống cướp biển, không phổ biến vũ khí hạt nhân, chống ma túy, viện trợ nhân đạo, và cứu trợ thảm họa. Hơn nữa, Trung Quốc càng can dự nhiều hơn trong khu vực, càng không ngăn cản được Mỹ làm nhiều hơn - và chúng ta đang làm như vậy. Trên thực tế, mặc dù Trung Quốc ngày càng tăng cường sự hiện diện, nhận thức của khu vực đối với tầm quan trọng của sự hiện diện tích cực làm ổn định của Mỹ vẫn mạnh mẽ, và đã gia tăng ở một số khu vực. Những xu hướng này thực sự tạo thuận lợi cho các mối quan hệ gần gũi hơn với Mỹ vì các quốc gia Đông Nam Á mong muốn một sự hiện diện tích cực và can dự của Mỹ trong khu vực để làm đối trọng với Trung Quốc. Các quốc gia Đông Nam Á đánh giá cao sự can dự của Mỹ vì nó xuất phát từ một quốc gia không gắn trực tiếp với bất cứ đường biên giới nào của họ, không có các tuyên bố chủ quyền nào, và có lịch sử lâu dài đang có và ủng hộ những lợi ích chung.

Vấn đề Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)

Một lĩnh vực mà Trung Quốc có lập trường kiên định hơn là trong việc giải quyết các cuộc tranh chấp dai dẳng về lãnh thổ và lãnh hải ở Đông Nam Á và Biển Nam Trung Hoa. Trong những năm gần đây, chúng ta đã nhận thấy sự gia tăng xung đột và căng thẳng đối với các cuộc tranh chấp, xung đột này trái ngược với sự chú trọng tương đối mang tính hòa bình và hợp tác vào các giải pháp ngoại giao đặc trưng cho vấn đề này tiếp theo Tuyên bố về Quy tắc ứng xử của các bên ở biển Đông ASEAN - Trung Quốc năm 2002 mang tính cột mốc. Nguồn gốc của những xung đột đang gia tăng là rất đa dạng:
- Nhu cầu gia tăng về dầu lửa và khí đốt tự nhiên đương nhiên làm tăng những lợi ích rõ ràng giữa các quốc gia tuyên bố chủ quyền trong việc đảm bảo các quyền về tài nguyên.
- Thời hạn chót về việc nộp báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển.
- Chủ nghĩa dân tộc đang nổi lên, làm tăng sự nhạy cảm giữa các chính phủ và các dân tộc về việc rõ ràng bất chấp và vi phạm luật lệ có liên quan đến lãnh thổ và chủ quyền; và
- Những khả năng quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc, đã trở thành một nhân tố ảnh hưởng đến giọng điệu của cuộc đối thoại về những tranh chấp lãnh hải khu vực.

Bộ Quốc phòng xem xét hành vi ứng xử của Trung Quốc ở Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) và rộng hơn là ở khu vực Biển Nam Trung Hoa - một phần lớn trong đó Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền - vì có hai lý do cơ bản.
Thứ nhất, có một vấn đề chiến lược về sự khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với phần lớn Biển Nam Trung Hoa. Điều này được thể hiện chủ yếu trên các mặt trận chính trị và kinh tế, và Trung Quốc phản đối mạnh mẽ bất cứ hoạt động nào của các nước tuyên bố chủ quyền khác nhằm khẳng định các tuyên bố chủ quyền riêng của họ. Việt Nam, Đài Loan, Philíppin, Malaixia, Inđônêxia và Brunây đều tuyên bố chủ quyền về lãnh hải của họ trong Biển Nam Trung Hoa; nhiều tuyên bố trong số đó trái ngược với nhau, đáng lưu ý là ở các khu vực xung quanh hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Thứ hai, để hỗ trợ cho sự chú trọng chiến lược và chính trị ngày càng tăng ở khu vực này, Trung Quốc đã tăng cường và sẽ tiếp tục tăng cường tư thế sức mạnh của mình ở Biển Nam Trung Hoa. Chẳng hạn, khi Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã nâng cấp các cơ sở của mình trên đảo Hải Nam, chúng ta nhận thấy sự tương quan trực tiếp với thái độ quyết đoán của Trung Quốc trong phản ứng của nước này đối với hoạt động của Mỹ trên biển và trên không.

Việc hiểu được lý do chiến lược không có nghĩa là Bộ Quốc phòng Mỹ chấp nhận cách thức theo đó Trung Quốc đã tự khẳng định mình trong khu vực này. Chúng ta phản đối mạnh mẽ thái độ ứng xử gây nguy hiểm cho sự an toàn của các tàu thuyền của chúng ta và vi phạm rõ ràng các chuẩn mực ứng xử quốc tế ở các vùng đại dương bên ngoài lãnh hải chủ quyền . Bộ Quốc phòng sẽ tiếp tục sử dụng tất cả các kênh sẵn có để thông báo về lập trường này cho các bên tương quan PLA. Hai bên đã triệu tập một Cuộc họp Đặc biệt theo các điều khoản của Thỏa thuận Tham vấn Hải quân (MMCA-1998) vào tháng 8/2009 để xem xét cách thức thúc đẩy tiến trình MMCA, cải thiện thông tin liên lạc và giảm bớt những nguy cơ xảy ra sự cố hoặc tai nạn giữa các lực lượng quân đội hai nước khi hai bên hoạt động gần nhau.

Hơn nữa, chúng ta phản đối nỗ lực của bất cứ quốc gia nào nhằm đưa ra những hạn chế đối với việc thực hiện các quyền tự do đi lại ở các vùng biển sâu trong một vùng EEZ. Đây là lập trường của Mỹ từ năm 1982 khi Công ước LHQ về Luật Biển được ban hành, rằng các quyền hạn và các quyền tự do đi lại có thể áp dụng trong vùng EEZ là tương đồng cả về chất lượng lẫn số lượng với các quyền hạn và quyền tự do được áp dụng ở các vùng biển sâu. Chúng ta lưu ý rằng gần 40% đại dương trên thế giới nằm trong các EEZ trong vùng 200 hải lý , và điều chủ yếu đối với nền kinh tế toàn cầu và hòa bình và an ninh quốc tế là các quyền hạn và quyền tự do lưu thông trong vùng EEZ phải được khẳng định mạnh mẽ và được duy trì.
Hoạt động quân sự của chúng ta ở khu vực này là thông lệ và phù hợp với luật pháp quốc tế thông thường như đã được phản ánh trong Công ước LHQ về Luật biển năm 1982. Chúng ta nhắc lại một cách nhất quán chính sách cơ bản của chúng ta đối với những tuyên bố chủ quyền tranh giành ở biển Nam Trung Hoa rằng Mỹ sẽ không đứng về bên nào trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ và ủng hộ một giải pháp hòa bình bảo vệ quyền tự do lưu thông hàng hải.
....
( còn tiếp )

Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #216 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2011, 05:08:41 am »

Điều trần ủy ban đánh giá Mỹ - Trung ngày 4.2.2010

Điều trần của Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher, phụ trách các vấn đề an ninh châu Á, Thái Bình Dương, thuộc văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng.
( tiếp theo)
...
Sự can dự của Mỹ ở Đông Nam Á

Để hỗ trợ các mục tiêu chiến lược của chúng ta, chính phủ Mỹ đã tìm cách can dự nhiều hơn khắp Đông Nam Á và khu vực châu Á - Thái Bình Dương rộng lớn hơn thông qua một đường hướng toàn chính phủ. Bộ Quốc phòng đã bắt đầu thực hiện một chiến lược đa phương bao gồm:
1- Chứng tỏ một cách rõ ràng, thông qua lời nói và hành động, rằng các lực lượng của Mỹ vẫn sẽ tiếp tục sự hiện diện và với tư thế là lực lượng quân sự vượt trội trong khu vực;
2- Những khẳng định thận trọng và mang tính xác định về quyền tự do lưu thông của tàu Hải quân Mỹ;
3- Xây dựng các mối quan hệ an ninh mạnh mẽ hơn với các đối tác trong khu vực, ở cả mức độ chính sách thông qua các cuộc đối thoại chiến lược lẫn mức độ hoạt động thông qua các cuộc trao đổi quân sự, tập trận và huấn luyện; và
4- Tích cực tham gia các diễn đàn đa quốc gia giải quyết các vấn đề an ninh như Diễn đàn khu vực ASEAN.

Nhằm mục tiêu này, chúng ta đã gắn kết sự hiện diện quân sự của chúng ta ở Đông Bắc Á và khu vực Trung và Tây Thái Bình Dương với việc chú trọng vào việc mở rộng và làm sâu sắc hơn hoạt động ngoại giao quốc phòng của chúng ta và các chương trình xây dựng năng lực ở Đông Nam Á như là những nỗ lực quan trọng nhằm tăng cường vị thế "cường quốc khu vực" của chúng ta trong khu vực và giải quyết có hiệu quả hơn những thách thức an ninh phổ biến của khu vực. Chúng ta thừa nhận rằng những thách thức mà khu vực này phải đối mặt không thể đơn thuần được giải quyết bởi một, hay thậm chí hai quốc gia, cho dù nước đó giàu có hay hùng mạnh đến mức nào.

Việc chúng ta tiếp tục can dự với Thái Lan và Philíppin, hai đồng minh hiệp ước của chúng ta ở Đông Nam Á, và các đối tác trong khu vực đã giúp tăng cường và làm sâu sắc thêm các mối quan hệ an ninh của chúng ta. Năm 2008, chúng ta đã kỷ niệm 175 năm quan hệ Mỹ - Thái, và chúng ta mong muốn tiếp tục xây dựng liên minh này với việc mở rộng hợp tác trong những năm tới. Liên minh của chúng ta với Philíppin đã trở nên sâu sắc hơn khi chúng ta giải quyết những thách thức từ chủ nghĩa khủng bố đến cứu trợ thảm họa cho tới cải cách quốc phòng. Chuyến công du của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates đến Manila năm 2009 đã củng cố thêm mối quan hệ này. Và, khi chúng ta phối hợp với các đối tác của chúng ta trong khu vực, Bộ Quốc phòng mong muốn tăng cường mối quan hệ quốc phòng với Inđônêxia khi chúng ta xây dựng một mối quan hệ đối tác toàn diện mới. Quan hệ đối tác của chúng ta với Xinhgapo vẫn mạnh mẽ và là một phần then chốt của việc chúng ta duy trì sự hiện diện của mình trong khu vực.

Chúng ta gần đây đã thiết lập các cuộc đối thoại chính sách quốc phòng cấp cao với Việt Nam, Campuchia và Malaixia và các cuộc đối thoại này bổ sung cho các cơ chế tham vấn vốn đã mạnh mẽ của chúng ta với Philíppin, Xinhgapo, Thái Lan và Inđônêxia. Thông qua một loạt hoạt động hợp tác an ninh từ các cuộc hội thảo cho đến các cuộc tập trận đa phương, chúng ta cũng đang góp phần giúp các quốc gia trong khu vực vượt qua những rào cản lịch sử và văn hóa lâu đời cản trở sự hợp tác an ninh đa phương.

Một trong những lĩnh vực trong đó chúng ta can dự nhiều nhất là an ninh-hàng hải - và những nỗ lực chống cướp biển và chống phổ biến vũ khí hạt nhân. Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ đã phối hợp chặt chẽ với một số đồng minh và quốc gia - Inđônêxia, Malaixia và Philíppin - để tiến hành huấn luyện và trang bị, từ rađa cho đến máy bay tuần tra , tạo điều kiện cho những nước này khẳng định sự kiểm soát đối với các đường thủy đã được sử dụng bởi những kẻ buôn lậu ma túy, buôn lậu vũ khí, và các phần tử khủng bố. Mỹ cũng đã cung cấp viện trợ góp phần giúp các quốc gia phối hợp với nhau: chẳng hạn Inđônêxia, Malaixia, Xinhgapo, Philíppin, và các nước khác đảm bảo an ninh và cải thiện các tuyến đường quá cảnh trong khu vực.

Sự can dự Mỹ - Trung và tác động của nó đối với Đông Nam Á

Đường hướng của chúng ta đối với sự can dự gia tăng của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á là phần thiết yếu không những của sự can dự của chúng ta với Đông Nam Á, mà còn đối với toàn bộ đường hướng của chúng ta đối với các quan hệ song phương Mỹ - Trung. Theo quan điểm của chúng tôi, chúng tôi tin rằng sự phức tạp của môi trường an ninh, cả ở khu vực Đông Nam Á lẫn trên toàn cầu, đòi hỏi một cuộc đối thoại tiếp tục giữa các lực lượng vũ trang của Mỹ và Trung Quốc, ở tất cả các cấp, để mở rộng sự hợp tác thực tế ở nơi những lợi ích quốc gia của hai nước hội tụ và để thảo luận một cách thẳng thắn về các lĩnh vực mà hai nước có những bất đồng. Bằng cách theo đuổi đường hướng này, quân đội Mỹ và quân đội nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ ở vào một vị trí tốt hơn để nắm bắt các cơ hội hợp tác, cải thiện các cơ cấu thông tin của chúng ta, và giảm nguy cơ xảy ra các sự cố hay tai nạn giữa lực lượng quân sự của chúng ta khi các lực lượng đó hoạt động gần nhau.

Hiện tại, những lợi ích chiến lược của Oasinhtơn và Bắc Kinh về cơ bản không xung đột nhau ở khu vực Đông Nam Á. Chúng ta vừa tìm kiếm sự ổn định khu vực vừa muốn khuyến khích sự phát triển, ngăn chặn sự trỗi dậy của chủ nghĩa cực đoan, và can dự về kinh tế nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng của khu vực. Tuy nhiên, vẫn còn những câu hỏi về ý định trong tương lai của Trung Quốc ở Đông Nam Á, và sự sẵn sàng của nước này trong việc tỏ ra công khai minh bạch và mở cửa, cũng như trong việc theo đuổi các hoạt động hỗ trợ và tăng cường các hệ thống chính trị, kinh tế, và an ninh quốc tế.

Như Tổng thống Barack Obama đã tuyên bố, "chúng ta không thể dự đoán chắc chắn tương lai sẽ mang lại những gì, nhưng chúng ta có thể chắc chắn về các vấn đề sẽ xác định rõ thời đại của chúng ta". Sự hiện diện và ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc đối với các vấn đề kinh tế và an ninh mang tính khu vực và toàn cầu đã trở thành một trong những vấn đề rõ ràng đó. Quả thực, Trung Quốc đã đạt được sự tiến bộ đáng kể trong 30 năm qua về việc nâng cao thu nhập quốc gia và đạt mức sống cao hơn cho người dân Trung Quốc. Chúng ta tôn trọng và hoan nghênh thành tựu có tầm quan trọng lịch sử này. Mỹ đã làm nhiều việc để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và thịnh vượng của Trung Quốc thông qua sự can dự của nước này với cộng đồng quốc tế. Mỹ hoan nghênh một nước Trung Quốc hùng mạnh, thịnh vượng, và thành công đóng một vai trò lớn hơn và có trách nhiệm hơn trong các vấn đề quốc tế. Tuy nhiên, đồng thời, chúng ta đã và đang theo dõi sát sao vì Trung Quốc cũng đã bắt đầu một nỗ lực toàn diện nhằm biến khả năng kinh tế của nước này thành sức mạnh quân sự và ảnh hưởng ở Đông Nam Á và những nơi khác.

Với việc cả Mỹ lẫn Trung Quốc tăng cường can dự an ninh ở Đông Nam Á, việc thúc đẩy sự mở cửa và công khai minh bạch hơn thậm chí có tầm quan trọng hơn. Bộ Quốc phòng và các cơ quan khác trong chính phủ Mỹ đang đầu tư vào một loạt rộng rãi các cơ cấu đối thoại và tham vấn với Trung Quốc, như Đối thoại Chiến lược và Kinh tế do Bộ Ngoại giao và Bộ Tài chính chỉ đạo, một chương trình tăng cường trao đổi giữa quân đội hai nước, các cuộc đàm phán tham vấn quốc phòng của Bộ Quốc phòng , và tiến trình MMCA mạnh mẽ hơn, đã được đề cập ở phần trên, nhằm xử lý các vấn đề an toàn hàng hải giữa các lực lượng vũ trang hai nước.

Trung Quốc là một cường quốc trỗi dậy đang tìm kiếm một chỗ đứng lớn hơn trên thế giới và một quân đội hùng mạnh hơn là một phần của vai trò lớn hơn đó. Khi vai trò quốc tế của Trung Quốc được mở rộng, và sự can dự quân sự của nước này ở Đông Nam Á tăng lên, quân đội của hai nước sẽ ngày càng thấy đang hoạt động trong cùng một không gian. Chúng ta cần có các kênh liên lạc ổn định và đáng tin cậy để đảm bảo rằng Trung Quốc hiểu rõ những lợi ích của chúng ta và không tìm cách thách thức những lợi ích đó bằng quân sự. Khi chúng ta hoan nghênh vai trò gia tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á trong việc theo đuổi các mục tiêu quốc gia riêng của nước này, chúng ta muốn đảm bảo rằng nước này làm như vậy theo các cách không trái với các chuẩn mực quốc tế hoặc các lợi ích của các quốc gia ở Đông Nam Á.

Kết luận

Đông Nam Á chắc chắc đóng một vai trò quyết định trong việc xác định rõ tương lai của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, và sự tiếp tục can dự của Mỹ với khu vực này cho phép Mỹ định hình tương lai đó. Chúng ta sẽ tiếp tục sử dụng sự can dự quân sự với các đồng minh và bạn bè của chúng ta ở Đông Nam Á và Trung Quốc để chứng tỏ cam kết của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, để thúc đẩy các mục đích và mục tiêu chung, và khuyến khích Trung Quốc đóng một vai trò xây dựng trong khu vực. Nhưng, chúng ta cũng sẽ duy trì sự hiện diện của chúng ta và các liên minh của chúng ta ở châu Á, phát triển các năng lực của chúng ta, và tỏ rõ quyết tâm của Mỹ trong việc duy trì hòa bình và ổn định. Mỹ đã có sự lựa chọn nhất quán trong nhiều thập kỷ qua rằng các lợi ích của chúng ta nằm trong sự can dự mang tính xây dựng với Trung Quốc, được kết hợp với một mạng lưới liên minh và các quan hệ đối tác hùng mạnh trong khu vực. Chúng ta tin tưởng rằng thông qua đường hướng này, chúng ta sẽ tiếp tục phục vụ cho lợi ích của chúng ta và những lợi ích của các đồng minh và bạn bè của chúng ta trong khắp khu vực.

( còn tiếp )
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #217 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2011, 05:13:28 am »

( tiếp theo và hết )
Điều trần ủy ban đánh giá Mỹ - Trung ngày 4.2.2010
Điều trần của Nghị sĩ Dana Rohrabacher


Những lời lẽ và việc làm của Trung Quốc có thể là nguyên nhân gây lo ngại ở Mỹ. Tình hình hiện nay không khác gì với tư duy của Nhật Bản trước Chiến tranh thế giới thứ nhất rằng họ có quyền thống trị khu vực này của thế giới. Sự khác biệt duy nhất là các mục tiêu của Trung Quốc mang tính tham vọng hơn nhiều so với việc chỉ thống trị khu vực này.
*******

CHND Trung Hoa (PRC) ngày nay là một đất nước chuyên chế, đang cố gắng trở thành một đế quốc chuyên chế. Kể từ thời Mao, PRC đã chinh phục các nhóm thiểu số sắc tộc và tôn giáo của họ và đàn áp bất cứ ai theo đuổi mục đích chính trị hoặc văn hóa được cho là không thích hợp với ban lãnh đạo Cộng sản. Trung Quốc vẫn là nước vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất thế giới. Ngày nay, PRC đang truyền bá ảnh hưởng và sự chi phối của mình trên khắp khu vực, đặc biệt ở Đông Nam Á. Những lợi ích kinh tế và công nghệ Trung Quốc đạt được trong những thập kỷ qua hiện đang tạo ra khả năng biến việc mở rộng mạnh mẽ sức mạnh quân sự của nước này trở thành hiện thực.
 
Chẳng hạn, Hải quân PLA đang trong quá trình tăng cường đảo Hải Nam , xây dựng một căn cứ hải quân lớn tại Sanya. Căn cứ này sẽ cho phép các tàu nổi và tàu ngầm tấn công của Trung Quốc phô trương sức mạnh và đe dọa các nước láng giềng của nước này. Tương tự như vậy, Trung Quốc đã mở rộng sân bay trên đảo Woody (đảo Phú Lâm) tại quần đảo Hoàng Sa, xây dựng các cơ sở của mình ở Bãi đá ngầm Fiery Cross tại quần đảo Trường Sa, và đã duy trì sự hiện diện của hải quân tại bãi đá ngầm Mischief nằm ở phía Tây bờ biển của Philíppin. Những hoạt động mang tính đe dọa này đem lại cho PRC tác động đòn bẩy đáng kể đối với các nước láng giềng của mình và đe dọa các tuyến hàng hải sống còn. Chẳng hạn, nó cũng cho phép PRC tranh giành quyền kiểm soát Eo biển Malắcca vốn là tuyến đường huyết mạch quá cảnh hàng hải giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Nhật Bản cũng đang trở nên dễ bị tổn thương trước khả năng quân sự của Trung Quốc là điều không hề tồn tại 25 năm trước đó.
 
Đôi khi việc tăng cường sức mạnh quân đội do PRC thực hiện đã biến thành những hành động rất hung hăng chống lại các tàu Hải quân Mỹ. Vào năm 2007, một tàu ngầm tấn công chạy bằng động cơ điêzen của Trung Quốc đã nổi lên mặt nước giữa lúc diễn ra cuộc tập trận trên Thái Bình Dương gần tàu Kitty Hawk của Mỹ, một động thái rất kịch tính sát gần một tàu sân bay của Mỹ. Tháng 3/2009, tàu nghiên cứu USNS Impeccable đã bị một số tàu của Trung Quốc chặn lại và máy bay quân sự của PRC bay trên đầu. Một số tàu đã đi chặn ngang lộ trình của tàu Impeccable với khoảng cách gần một cách nguy hiểm và tìm cách cản trở bằng các tàu kéo các thiết bị định vị đáy biển. Tàu Impeccable đã buộc phải có hành động né tránh để không đâm phải một trong những tàu này. Khi liên lạc bằng rađiô được thiết lập, tàu của Hải quân PLA đã yêu cầu tàu của Hải quân Mỹ phải rời đi hoặc “gánh chịu hậu quả”. Vào tháng 6/2009, tàu khu trục USS John S. McCain đang ở trên Biển Hoa Nam thì thiết bị định vị đáy biển của tàu này va phải một tàu ngầm của Trung Quốc. Có lẽ không ai hiểu nhầm về ý nghĩa của những việc làm này. PRC đang đánh tín hiệu một cách hung hăng thông qua những hành động này, tuyên bố địa vị thống trị và quyền kiểm soát đối với Biển Đông. Và nếu quân đội Trung Quốc dám đe dọa hải quân của một nước hùng mạnh như hải quân của Mỹ, người ta chỉ có thể hình dung ra mối đe dọa đối với những nước yếu hơn sẽ như thế nào.
 
PRC tiếp tục có nhiều tranh chấp với các nước láng giềng của mình. Trung Quốc tiếp tục tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, cách bờ biển của nước này hơn 1.000 dặm hàng hải, bất chấp những sự phản đối mạnh mẽ của cả Philíppin lẫn Đài Loan vốn đều gần Trường Sa hơn một cách đáng kể. Nữ phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao PRC Khương Du khẳng định vào năm 2009 rằng “Trung Quốc có chủ quyền không thể bàn cãi” đối với những hòn đảo này. Điều mỉa mai là PRC nói hai lời bởi nước này cũng tuyên bố muốn thúc đẩy các mối quan hệ “hài hòa” với các nước láng giềng của mình.

Vào tháng 5/2009, PRC đã đóng cửa một khu vực đánh cá lớn ở Biển Đông trong vòng ba tháng, vào cao điểm của mùa đánh cá, gây khó khăn lớn cho ngư dân ở Việt Nam . Để thực thi việc cấm đánh cá PRC đã tràn lên các tàu của Việt Nam ở khu vực này và giam giữ một số thuyền viên. Điều này dẫn đến một cuộc tranh cãi ầm ĩ về ngoại giao. Việt Nam đúng là rất lo ngại với nước láng giềng phía Bắc của mình và đã quay sang người Nga để tăng cường vũ khí quân sự của họ. Việt Nam đã trở thành nước mua vũ khí lớn nhất của Nga, gần đây mua 6 tàu ngầm hạng Kilo và 13 máy bay phản lực tiên tiến Su-30.

Trong tất cả các nước ở châu Á, có lẽ mối quan hệ “thân thiết” nhất mà PRC có được là với chế độ găngxtơ hiện kiểm soát Mianma. Trung Quốc đã vũ trang tới tận răng cho chính quyền quân sự của Mianma và đổi lại, Trung Quốc đã lấy đi các nguồn tài nguyên thiên nhiên to lớn của người dân Mianma.
 
Trung Quốc là một quốc gia hung hăng trong quá khứ đã phát động nhiều cuộc chiến tranh giành lãnh thổ. Giờ đây, Trung Quốc đang sẵn sàng và ngày càng có khả năng phô trương thanh thế trong việc ủng hộ những khát vọng của mình ở Đông Nam Á và các nơi khác. Ngay lúc này Hải quân PLA đang triển khai các tàu ngầm tấn công và các tàu nổi, nhưng họ cũng đang triển khai các tên lửa chống vệ tinh và các tên lửa đạn đạo chống hạm. Cho dù Trung Quốc không có ý định trực tiếp chiến đấu với Mỹ, họ vẫn muốn có khả năng ngăn cản chúng ta tới trợ giúp và bảo vệ các đồng minh trong khu vực của chúng ta, để số phận của những nước này vào tay Trung Quốc.
 
Tôi muốn nhắc Ủy ban rằng có một lý do khiến ban lãnh đạo CCP quyết định gọi thế kỷ 21 là “thế kỷ của Trung Quốc”. Họ đanh hành động một cách hung hăng, ngạo mạn tuyên bố chủ quyền đối với gần 80% diện tích Biển Đông. Không ai có thể nghi ngờ những tham vọng về lãnh thổ của họ; không ai có thể phủ nhận bản chất tàn bạo và chuyên chế của chế độ họ. Không ai có thể phủ nhận công cuộc tăng cường sức mạnh quân đội đồ sộ của họ, nhằm chống lại Mỹ và các nước Đông Nam Á. Chúng ta đang bỏ qua điều này với nguy cơ đối với chính bản thân chúng ta. Không một quân đội thường trực nào hiện nay có thể đe dọa được Trung Quốc. Việc tăng cường binh lực của PRC đối với họ có thể được coi là hành động mang tính phòng thủ. Những hành động của họ chỉ bị hạn chế bởi tầm vóc lực lượng và sức mạnh tàn bạo của họ.
 
Gộp lại với nhau, những lời lẽ và việc làm của PRC có thể là nguyên nhân gây lo ngại ở Mỹ. Tình hình hiện nay không khác gì với tư duy của Nhật Bản trước Chiến tranh thế giới thứ nhất rằng họ có quyền thống trị khu vực này của thế giới. Sự khác biệt duy nhất là các mục tiêu của PRC mang tính tham vọng hơn nhiều so với việc chỉ thống trị khu vực này./.

link: http://nghiencuubiendong.vn/chuyen-de/ieu-tran-uy-ban-anh-gia-my-trung

 
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Năm, 2011, 05:24:44 am gửi bởi thanhh63 » Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #218 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2011, 05:22:17 am »

Mỹ lo ngại Trung Quốc mở rộng hoạt động tại Biển Đông


(Toquoc.gov.vn 9/2/2010)- Mỹ ngày càng lo ngại sức mạnh hải quân Trung Quốc, nhưng chưa có khả năng khắc phục tình trạng mất cân bằng trong thời gian ngắn. Ấn Độ có kế hoạch rút ngắn khoảng cách sức mạnh hải quân.

Ủy ban Điều tra An ninh Kinh tế Mỹ-Trung, cơ quan tư vấn chính sách của Quốc hội Mỹ, ngày 4/2 đã mở phiên điều trần với chủ đề “Hoạt động của Trung Quốc ở Đông Nam Á và ý nghĩa của hoạt động đó đối với Mỹ” để nghe những lời làm chứng của các quan chức cấp cao trong chính quyền Obama.

Nỗi lo về chủ trương

Trong phiên điều trần của Quốc hội Mỹ, các quan chức cao cấp quốc phòng và ngoại giao của chính quyền Obama và nhiều nghị sĩ Mỹ bày tỏ lo ngại về việc Trung Quốc mở rộng hoạt động quân sự ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở vùng biển Đông. Các quan chức Mỹ cho rằng hành động này của Trung Quốc cũng gây nguy hiểm cho vận tải hàng hải của Nhật Bản.

Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Scher cho rằng cùng với việc tăng cường can dự ngoại giao và kinh tế ở khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc còn tăng cường hoạt động quân sự, đặc biệt là tiếp tục tăng cường sự hiện diện quân sự ở biển Đông. Ông Scher cho biết: “Quân đội Trung Quốc đang củng cố căn cứ hải quân ở đảo Hải Nam, tăng cường sức mạnh nhằm đối phó với hoạt động trên không và trên biển của Mỹ”.

Phó trợ lý Scher cho rằng việc Trung Quốc đòi chủ quyền mang tính chiến lược và đơn phương trong tranh chấp biển đảo với 6 nước, trong đó có Việt Nam, Philppines và Malaisia, là điều không chấp nhận được đối với Chính phủ Mỹ. Ông này cũng bác bỏ việc Trung Quốc coi khu đặc quyền kinh tế biển (EEZ) 200 hải lý tính từ thềm lục địa theo Luật về biển của Liên hợp quốc ở biển Đông là lãnh hải thực sự của nước này và áp dụng biện pháp yêu cầu tàu chiến các nước khác phải xin phép Trung Quốc khi hoạt động ở khu vực này.

Còn Phó Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ David Shear nêu vấn đề liên quan đến những tuyên bố của Trung Quốc về biển Đông, trong đó có việc Trung Quốc yêu cầu các công ty nước ngoài, trong đó có các công ty Mỹ, không được tham gia hoạt động khai thác dầu khí với Việt Nam, cảnh cáo rằng nếu tham gia sẽ chịu những hậu quả nặng nề. Ông Shear cho rằng “việc Trung Quốc đe dọa các công ty Mỹ đã vi phạm nguyên tắc thị trường tự do”.

Hạ nghị sĩ Mỹ Dana Rohrabacher cũng nêu việc Trung Quốc tiến hành xây dựng các cơ sở quân sự ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với ý đồ mở rộng quyền lợi của nước này ở biển Đông, tăng cường năng lực chi phối quân sự trên tuyến hàng hải từ biển Đông đến Ấn Độ Dương. Hạ nghị sĩ Dana Rohrabacher cảnh báo rằng vụ việc này sẽ đặt Nhật Bản vào thế yếu.

Nỗi lo về mất cân bằng lực lượng trên biển

Tin từ New Dehli cho biết, theo các nhà nghiên cứu Mỹ về hải quân Trung Quốc, Bắc Kinh hiện có 9 tàu ngầm hạt nhân, trong đó có 3 tàu được trang bị tên lửa hạt nhân tầm xa, 53 tàu ngầm chạy bằng động cơ diesel, 74 khu trục hạm và tàu hộ tống cùng số lượng tương tự tàu đổ bộ và tàu tuần tra ven biển trang bị tên lửa.

Nếu không tính tới các tàu đã cũ, thì lực lượng có khả năng tác chiến hiệu quả của hải quân Trung Quốc sẽ gồm 7 tàu ngầm hạt nhân (trong đó có 3 tàu được trang bị vũ khí hạt nhân), hơn 30 tàu ngầm động cơ diesel và 45 khu trục hạm và tàu hộ tống. Nếu tính tới các kế hoạch đóng tàu được biết hiện nay của Trung Quốc tới năm 2020, hải quân Trung Quốc có thể sẽ có 2 tàu sân bay, 40-45 tàu ngầm động cơ diesel, khoảng 55 khu trục hạm và tàu hộ tống; số lượng có thể ít hơn hoặc nhiều hơn, song không chênh lệch quá nhiều. Ngân sách chi phí cho việc hỗ trợ sức mạnh trên đại dương của Trung Quốc liên tục tăng hàng năm bởi Bắc Kinh coi phát triển sức mạnh của hải quân là yếu tố then chốt trong chương trình hiện đại hoá quân đội nước này.

Trong khi đó, đội tàu ngầm của Nga thuộc Hạm đội Thái Bình Dương đã bị giảm bớt đáng kể. Tuy chính quyền Nga muốn tăng cường sức mạnh hiện diện tại vùng biển này, nhưng ngân sách quân sự bị dàn trải ra trên nhiều lĩnh vực then chốt khác. Lực lượng hải quân Mỹ, nhất là tàu ngầm, bị xem là quá mỏng. Các chuyên gia Mỹ đề xuất kế hoạch đóng thêm 2 tàu ngầm/năm và tăng cường phối hợp hải quân với các nước đồng minh.

Ấn Độ nhận thấy hải quân của họ vừa ít số lượng và chất lượng

Hải quân Ấn Độ cần có 3 tàu sân bay vì Viraat – tàu sân bay duy nhất hiện có đã quá cũ kỹ không thể hoạt động nổi thêm 5 năm nữa. Bức tranh về lực lượng khu trục hạm và tàu hộ tống – lực lượng tác chiến chính trên biển cũng không sáng sủa hơn. Hiện hải quân chỉ có 14 tàu hoạt động và 9 tàu đang được đóng, trong đó 3 tàu do Nga đóng và 6 tàu đang được đóng ở các giai đoạn khác nhau tại xưởng đóng tàu Nazagon (MDL) tại Mumbai. Tình cảnh của lực lượng tàu ngầm diesel còn u ám hơn. Tới năm 2020, tất cả số tàu ngầm đóng trước năm 1990 cần phải loại bỏ, khiến lực lượng tàu ngầm loại này trong hải quân còn lại vỏn vẹn 4 chiếc.

Để khắc phục tình thế hiện nay, Ấn Độ có kế hoạch đặt hàng đóng tiếp ngay một tàu ngầm hạt nhân tương tự Arihant và một tàu sân bay loại Vikran. Ngoài ra, thay đổi kế hoạch đóng 6 tàu hộ tống bằng cách rút bớt số lượng đóng tại hai nhà máy MDL hoặc GRSE (giao cho mỗi nhà máy đóng 2 thay vì 3 chiếc như kế hoạch), 2 chiếc còn lại đặt nhà máy nào đó của nước ngoài có khả năng nhanh chóng thực hiện đơn đặt hàng. Hải quân Ấn Độ đang tính toán đặt hàng đóng thêm 6 tàu ngầm động cơ diesel./.

Linh Hương (theo các báo nước ngoài)
link: http://nghiencuubiendong.vn/chuyen-de/ieu-tran-uy-ban-anh-gia-my-trung/685-m-lo-ngi-trung-quc-m-rng-hot-ng-bin-ong
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #219 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2011, 05:40:04 am »

Chủ đề là Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2. Bác thânh63 trước khi gửi (post) bài chú ý nhé!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM