Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:30:59 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2  (Đọc 421866 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #140 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 09:03:24 am »

Quyết định thành lập "Quỹ vì Trường Sa thân yêu"
[/b]

Ngày 19/4, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 557/QĐ-TTg về việc thành lập và hoạt động "Quỹ vì Trường Sa thân yêu." nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của quân và dân huyện Trường Sa, nhà dàn DKI.

Việc thành lập và hoạt động "Quỹ vì Trường Sa thân yêu" cũng nhằm tuyên truyền vận động cả nước hướng về Trường Sa, nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương và nhân dân trong và ngoài nước về vị trí, vai trò của biển đảo với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

"Quỹ vì Trường Sa thân yêu" là nguồn kinh phí huy động tự nguyện (không bắt buộc) từ đóng góp, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, cá nhân trong và ngoài nước để góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân huyện Trường Sa và nhà giàn DKI, từng bước giảm bớt khó khăn về vật chất và tinh thần cho quân và dân huyện Trường Sa.

Thủ tướng yêu cầu tổ chức các phong trào vận động các ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, các thành phần kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước tham gia ủng hộ, đóng góp vào "Quỹ vì Trường Sa thân yêu."

Thủ tướng giao Bộ Quốc phòng thành lập Ban Chỉ đạo "Quỹ vì Trường Sa thân yêu" do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là Trưởng ban, các thành viên gồm đại diện của các Bộ, ngành và địa phương liên quan.

Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng các cơ quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan đoàn thể các cấp, doanh nghiệp và các cơ quan báo chí có trách nhiệm tuyên truyền, vận động và tổ chức cho các đơn vị, cá nhân tham gia đóng góp vào "Quỹ vì Trường Sa thân yêu"./.


(TTXVN/Vietnam+)
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #141 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 12:50:10 pm »

Triển vọng cho việc giải quyết và quản lý xung đột ở biển Đông ( phần 2)
Mời các bác tự khám phá theo đường link http://nghiencuubiendong.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1373. Tôi không thể post lên diễn đàn phần 2 do BBT NCBĐ chỉ cho phép dẫn đường link. Mong các bác thông cảm.
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #142 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 09:13:45 pm »

Mời các bác cùng tham khảo quan điểm của S. Rajaratnam – nhà nghiên cứu thuộc Trường nghiên cứu Quốc phòng quốc tế Singapore và Bernard – Giáo sư thuộc Viện Nghiên cứu Chiến tranh và Chiến lược, hy vọng phân tích dưới đây sẽ có ích lợi cho việc hoạch định chiến lược phòng thủ biển đảo của chúng ta. Bài viết được dẫn xuất từ nguồn: http://www.seasfoundation.org/research-documents/military/490-hi-quan-trung-quc-s-gp-bt-li-khi-chin-u

Hải quân Trung quốc sẽ gặp bất lợi khi chiến đấu ?

S. Rajaratnam – nhà nghiên cứu thuộc Trường nghiên cứu Quốc phòng quốc tế Singapore và Bernard – Giáo sư thuộc Viện Nghiên cứu Chiến tranh và Chiến lược mới đây đã có một báo cáo chỉ ra rằng, mặc dù lực lượng quân sự của Trung Quốc đang không ngừng gia tăng, nhưng chưa đủ mạnh nếu có chiến tranh trên biển.

Phi đội tàu khu trục Trung Quốc

Trong bài báo cáo, hai nhà nghiên cứu đã mô phỏng lại tình hình chiến sự của Trung Quốc và nói rằng, mặc dù Trung Quốc đầu tư rất nhiều tiền vào lực lượng hải quân, nhưng nếu có chiến tranh xảy ra thật thì Trung Quốc cũng sẽ chỉ huy động được 1/3 lực lượng hải quân tham chiến mà thôi.
Vài tuần nay, những bài báo về tình hình chiến sự liên quan đến Trung Quốc luôn được đặt lên trang nhất, trong đó chủ yếu xoay quanh vấn đề vũ khí, tình hình căng thằng giữa Trung - Mỹ trong vấn đề biển Đông và Đông Nam Á. Trong 10 năm trở lại đây, các nhà phân tích ngày càng chú trọng hơn về thế lực quân sự đang ngày càng phát triển, đặc biệt là năng lực chế tạo tàu sân bay của Trung Quốc.

Xét về năng lực, quân giải phóng Trung Quốc cũng đã nâng cao thực lực hơn so với 10 năm trước, đặc biệt là không quân và hải quân. Đây cũng là hai lực lượng quan trọng để Trung Quốc bành trướng thế lực của mình tại sân chơi khu vực.

Bài báo cáo đã nói rằng, đầu tư cho không quân và hải quân chỉ là một phần, bên cạnh đó, Trung Quốc phải giải quyết vấn đề xây dựng mục tiêu như thế nào và chiến lược để ảnh hưởng trong khu vực Đông Nam Á ra sao. Để làm được những điều đó, Trung Quốc phải xem xét đến 4 biến số:

Biến số thứ nhất đó là quy mô của quân giải phóng, đặc biệt là quy mô của không quân và hải quân. Quy mô của quân giải phóng nếu so sánh với những lực lượng quân đội khác trong khu vực cũng đáng phải suy xét. Mặc dù sự phát triển quân đội của Trung Quốc trong 10 năm qua cũng đã khiến người ta ấn tượng, nhưng lực lượng không quân và hải quân vẫn còn thua kém. Đơn giản mà nói, nếu như theo chủ trương làm lợi trên biển Đông, dồn toàn bộ công sức đầu tư cho không quân và hải quân, thì quân giải phóng cũng sẽ bị đánh bại trước liên minh giữa Mỹ và các nước Châu Á Thái Bình Dương.

Biến số thứ hai, đó là vấn đề tổ chức sắp xếp hải quân còn tồn tại nhiều vấn đề. Thông thường, hải quân phân toàn bộ lực lượng ra làm 3, đặc biệt là trong thời kỳ hòa bình. Bất luận trong thời kỳ nào thì hải quân cũng chỉ nên giữ 1/3 quân lực, 1/3 số quân thì quay về đất liền để dưỡng sức, bổ sung; 1/3 số còn lại thì hoàn thành việc duy trì bổ sung, cuối cùng mới tiến hành thử nghiệm. Chỉ đến khi cuộc thử nghiệm kết thúc thì số quân này mới có thể tham chiến. do đó, mặc dù lực lượng hải quân của Trung Quốc đông, nhưng nếu xảy ra chiến tranh, thì cũng chỉ có khoảng 1/3 số quân có thể tham chiến.

Biến số thứ ba, đó là mặc dù quân lực của Trung Quốc đang không ngừng trưởng thành, thế nhưng thiếu tàu sân bay, lực lượng không quân lại kém xa so với quân giải phóng. Không có không quân yểm trợ thì dù vũ khí trên biển có mạnh cỡ nào cũng sẽ như lời tướng Đức Erwin Rommel đã nói trong Thế chiến thứ hai: “Giống như lũ mọi gặp phải vũ khí tinh nhuệ hiện đại của quân Châu Âu”.

Biến số thứ tư, đó là ưu thế của quân Trung Quốc trên biển Đông không thể duy trì trong thời gian dài. Nếu không giải quyết được vấn đề này thì không quân trên biển sẽ sớm đánh mất ưu thế.

Trong bài báo cáo, các nhà nghiên cứu không có ý nói quân giải phóng Trung Quốc thiếu năng lực triển khai quân sự trên biển Đông, mà có ý nhấn mạnh rằng, quân Trung Quốc sẽ không thể triển khai bất cứ hoạt động gì lâu dài trên biển Đông. Điều đáng nói ở đây, đó là nếu như không xét đến tình hình của liên minh Mỹ với các nước Châu Á Thái Bình Dương thì rất khó tưởng tượng được năng lực quân sự như vậy có thể bảo vệ lợi ích của Trung Quốc trong bao lâu? Nói cách khác, năng lực chiến đấu trong thời gian ngắn không có lợi cho lợi ích của Trung Quốc.

Bích Chuyên (Theo báo TQ)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #143 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2011, 07:58:46 pm »

Bài viết lấy từ link xấu, không được phép đưa lên diễn đàn quansuvn. Các bài viết từ link trên đã bị xóa.

Thành viên thanh63 chú ý khi nguồn (link) các bài viết khi cắt dán về diễn đàn!

Cảnh cáo lần thứ nhất!
Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #144 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 11:07:49 am »

54 dân tộc anh em hội tụ tại Trường Sa

Hôm qua, tàu HQ 996 đưa Đoàn đại biểu 54 dân tộc Việt Nam do Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức đến thăm và làm việc tại đảo Song Tử Tây, huyện đảo Trường Sa, Khánh Hòa.

Chiến sỹ đảo Song Tử Tây chơi đàn T'rưng cùng các cô gái Tây Nguyên.

Dịp này, đại diện các dân tộc anh em đã tặng quà động viên cán bộ chiến sỹ và nhân dân xã đảo. Phát biểu tại buổi lễ, Phó chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Lê Bá Trình khẳng định: "Huyện đảo Trường Sa là một phần máu thịt của dân tộc Việt Nam. 54 dân tộc anh em luôn hướng về chiến sỹ đồng bào nơi biên cương hải đảo của Tổ quốc".

Đoàn đã có một đêm lửa trại nối vòng tay hát với lính đảo giữa Trường Sa.

Đảo Song Tử Tây nằm ở cực Tây của Trường Sa. Lính đảo trẻ, gương mặt sạm đen vì nắng gió. Khi tàu HQ 996 cập đảo, các chiến sỹ ùa cả ra âu tàu, chào từng người một. Chiến sỹ Phạm Văn Chương tâm sự: "Bộ đội ở đảo xa nhớ đất liền, nhớ gia đình lắm nhưng vì biên cương hải đảo tổ quốc, vì nhiệm vụ thiêng liêng nên luôn quyết tâm học tập, rèn luyện, sẵn sàng chiến đấu giữ vững chủ quyền".

Đêm Trường Sa, các dân tộc đã mang đến những nét bản sắc giúp lính đảo phần nào nguôi nỗi nhớ nhà. Những chàng trai Đam San, những cô gái Tây Nguyên mang hơi thở đại ngàn, âm vang cồng chiêng ra tận đảo xa, khiến không khí đêm lửa trại thêm nồng nhiệt. Trên đảo chỉ có bàng vuông, cánh lính trẻ ngắt hoa muống biển, gửi tặng ca sỹ.

Khẩu đội trưởng Nguyễn Văn Tú nói: "Đây là lần đầu tiên có một đoàn đại biểu đại diện cho 54 dân tộc Việt Nam đến thăm Trường Sa, khiến các chiến sỹ rất xúc động và tự hào". Ông A Theor, đại biểu dân tộc Bana tâm sự: "Cùng hòa mình với lính đảo Trường Sa mới hiểu được hết những khó khăn thiếu thốn. Thật hạnh phúc khi cả 54 dân tộc đều hội tụ tại đây, cảm giác như cả núi rừng, đồng bằng, biển đảo hội về một mối. Sau này khi về với buôn làng, lũ làng có hỏi Trường Sa ở đâu, có xa không, ta sẽ bảo rằng, Trường Sa gần lắm, chỉ cách đất liền một nỗi nhớ mà thôi".

Lê Quang Minh
http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/535589/54-dan-toc-anh-em-hoi-tu-tai-Truong-Sa.html
 


Logged
trucngon
Thành viên
*
Bài viết: 1776



« Trả lời #145 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2011, 04:45:00 pm »

VN tổ chức hội thảo quốc gia lần hai về Biển Đông


Hai năm sau hội thảo lần thứ nhất, ngày mai (26/4), Bộ Ngoại giao và Học viện Ngoại giao sẽ tổ chức ở Hà Nội hội thảo khoa học quốc gia lần hai về Biển Đông với sự tham dự của các học giả, nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực.

Trung Quốc phản pháo Philippines về Biển Đông
'Không có chỗ cho hành động đơn phương ở Biển Đông'

Hội thảo quốc gia lần đầu tiên về Biển Đông được tổ chức tháng 3/2009 với chủ đề "Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông: lịch sử, địa chính trị và luật pháp quốc tế" đã mở ra cách tiếp cận mới công khai hóa, phi nhạy cảm hóa vấn đề tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông.

Hội thảo đầu tiên diễn ra trong bối cảnh biển Đông “nổi sóng” sau vụ va chạm giữa tàu Mỹ Impeccable và một số tàu Trung Quốc. Cùng lúc đó, Malaysia tiến hành thị sát quần đảo Trường Sa còn Philippines công bố Đạo luật đường cơ sở bao gồm các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Gần 100 nhà nghiên cứu cả nước đã dự hội thảo này. Họ là các nhà sử học, luật học, cán bộ nghiên cứu của các viện, các ban nghành trung ương, có người đã dành cả đời nghiên cứu về chủ quyền Việt Nam tại Trường Sa, Hoàng Sa và các vấn đề liên quan đến Biển Đông.

Tại hội thảo, các nhà khoa học đã đưa ra những chứng cứ lịch sử khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, cũng như nhận định những tranh chấp thời điểm đó đã đẩy Biển Đông thành vấn đề quốc tế. Việc giải quyết tranh chấp cần có sự công khai, minh bạch và tinh thần xây dựng, vì lợi ích chung của các quốc gia liên quan, vì an ninh khu vực và thế giới.

Hội thảo quốc gia về Biển Đông lần thứ hai được tổ chức trong bối cảnh những tranh chấp chủ quyền trên vùng biển này vẫn chưa lắng xuống. Trung Quốc gần đây liên tục có hoạt động tiến hành tập trận ở vùng biển đang tranh chấp chủ quyền cũng như công bố các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của các địa phương phía nam bao trùm cả quần đảo Hoàng Sa.

Philippines cũng đang có nhiều động thái khẳng định chủ quyền trên Biển Đông và thể hiện rõ thái độ với Trung Quốc trong những tranh cãi về vấn đề này.

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) vẫn đang là cơ chế ràng buộc được các quốc gia liên quan theo đuổi và kiên trì đàm phán để tiến tới Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).

Chung Hoàng
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/18128/vn-to-chuc-hoi-thao-quoc-gia-lan-hai-ve-bien-dong.html
Logged
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #146 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2011, 10:54:05 pm »

Vấn đề Biển Đông dưới góc độ pháp luật quốc tế



Hiển nhiên là Biển Đông có sự đan xen rất chặt chẽ lợi ích của nhiều nước với các mức độ khác nhau. Hòa bình và ổn định ở Biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình và ổn định của khu vực và thế giới.

Ngày 23/3, Tân Hoa Xã, hãng tin chính thức của Trung Quốc, đã phát bài viết “ Tranh chấp Nam Hải dưới góc độ của luật biển quốc tế ” của hai học giả Hạ Giám và Uông Cao, Đại học Tương Đàm, trong đó không những khẳng định cái gọi là “ chủ quyền ” của Trung Quốc mà còn vu cáo Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác, “ bẻ cong ” Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc và “ tranh giành chủ quyền của Trung Quốc ” ở Biển Đông.

Bài viết “Vấn đề Biển Đông dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế” của tác giả Hải Biên, nhà nghiên cứu về Biển Đông của Việt Nam, đăng trên TTXVN, nhằm làm rõ vấn đề Biển Đông dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc.

1. Khái quát về Biển Đông

Biển Đông là một biển nửa kín ở khu vực Thái Bình Dương với diện tích hơn 3,5 triệu km2. Có 9 quốc gia ven Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Bruney, Indonesia, Thái Lan, Campuchia và Singapore. Trữ lượng tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông lớn, đặc biệt là dầu, khí và hải sản. Gần đây, nhiều thông tin cho biết Biển Đông có trữ lượng khá lớn về băng cháy.

Biển Đông là tuyến hàng hải nhộn nhịp thứ hai trên thế giới, sau tuyến Địa Trung Hải. Mỗi ngày có khoảng 150 - 200 tàu trọng tài lớn đi qua Biển Đông. Hàng hóa xuất nhập khẩu thiết yếu đối với các nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công phụ thuộc rất nhiều vào tuyến đường biển này. Từ góc độ quân sự, Biển Đông là địa bàn hoạt động của hạm đội hải quân của nhiều nước trong và ngoài khu vực. Tất cả những yếu tố này dẫn đến một hệ quả tất yếu và hiển nhiên là ở Biển Đông có sự đan xen rất chặt chẽ lợi ích của nhiều nước với các mức độ khác nhau. Hòa bình và ổn định ở Biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình và ổn định của khu vực và thế giới.

(còn tiếp)
Logged
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #147 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2011, 10:55:38 pm »

2. Các vùng biển của các quốc gia ven Biển Đông theo luật biển quốc tế

Hội nghị Luật Biển lần thứ III của Liên hợp quốc (1967- 1982) đã thông qua Công ước Luật Biển năm 1982 với 320 điều khoản và 9 Phụ lục. Là thành quả của một cuộc thương lượng lâu dài giữa các nhóm nước khác nhau, Công ước là một giải pháp cả gói công bằng và đỉnh cao trong quá trình pháp điển hóa và phát triển tiến bộ ngành luật biển quốc tế. Công ước xác lập rõ ràng quy chế pháp lý của các vùng biển khác nhau thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển, quy định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khi tiến hành các hoạt động liên quan đến biển và thành lập một loạt cơ chế quốc tế quan trọng liên quan đến thực hiện Công ước và giải quyết tranh chấp biển như Tòa án Luật Biển quốc tế, Hội nghị các quốc gia thành viên của Công ước, Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy Đại dương và Ủy ban Thềm lục địa. Tính đến nay, đã có 161 quốc gia và tổ chức quốc tế tham gia Công ước Luật Biển năm 1982, trong đó có 7 quốc gia ven Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Bruney.

Áp dụng Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc vào điều kiện cụ thể của Biển Đông chúng ta thấy mấy điểm cơ bản sau đây.

Một là , các quốc gia ven Biển Đông có chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải 12 hải lý kể từ đường cơ sở của mình. Đáng lưu ý là theo luật biển quốc tế những năm 40 - 50 của thế kỷ trước, vùng lãnh hải của các quốc gia ven Biển Đông chỉ có 3 hải lý và toàn bộ phía ngoài 3 hải lý đó là vùng biển quốc tế. Như vậy, Công ước đã mở rộng phạm vi vùng lãnh hải của các quốc gia ven Biển Đông thêm 9 hải lý.

Hai là, mỗi quốc gia ven Biển Đông có quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa tối thiếu 200 hải lý của mình. Chiều rộng của hai vùng biển này đều được đo từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải. Trong trường hợp thềm lục địa thực tế lớn hơn 200 hải lý thì quốc gia ven Biển Đông có thể mở rộng thềm lục địa của mình đến 350 hải lý với điều kiện tuân thủ đúng các quy định và thủ tục nêu trong Công ước.
Mỗi quốc gia ven Biển Đông có toàn quyền thăm dò, khai thác các tài nguyên trong các vùng biển của mình, đặc biệt là trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, để phục vụ đời sống nhân dân và phát triển đất nước. Mỗi quốc gia ven Biển Đông có toàn quyền quyết định cho phép hay không cho phép các quốc gia khác khai thác tài nguyên trong các vùng biển của mình. Mỗi quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng các quyền chủ quyền đó của các quốc gia láng giềng khác ven Biển Đông. Đồng thời, phù hợp các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng quyền của các quốc gia khác được tự do hàng hải, tự do hàng không ở trong vùng đặc quyền kinh tế và ở vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển.

Ba là , xuất phát từ Công ước Luật Biển năm 1982 thì sự kiện Trung Quốc ký hợp đồng với Công ty Creston năm 1992 ở bãi Tư Chính của Việt Nam và chính thức đưa yêu sách “đường lưỡi bò ” ra Liên hợp quốc vào tháng 5 năm 2009 cần được nhìn nhận thế nào? Khu vực bãi Tư Chính hoàn toàn nằm trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam và đã được Việt Nam phân lô thăm dò dầu khí. Việc Công ty Dầu khí quốc gia Trung Quốc vào năm 1992 ký với Công ty Creston của Mỹ hợp đồng thăm dò dầu khí tại khu vực bãi Tư Chính trong thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam (mà họ đặt tên là Vạn An Bắc) là sự vi phạm trắng trợn quyền chủ quyền của Việt Nam theo Công ước Luật Biển năm 1982.

Còn về yêu sách “đường lưỡi bò” hay “đường 9 đoạn”, thì các học giả Trung Quốc đều biết rõ là tại Hội thảo quốc tế về Biển Đông ở Hà Nội (2009) và thành phố Hồ Chí Minh (2010) cũng như các Hội thảo quốc tế khác, các học giả Pháp, Bỉ, Mỹ và nhiều học giả quốc tế khác đã nêu rõ yêu sách “đường lưỡi bò” mơ hồ, không có cơ sở và cho rằng Trung Quốc cần giải thích rõ bản chất pháp lý của các vùng biển trong “đường lưỡi bò” đó. Nhưng cho đến nay, cả chính giới lẫn học giả Trung Quốc đều không thể đưa ra các câu trả lời thỏa đáng.
Dùng các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc cũng là một bên tham gia để đối chiếu thì ai cũng thấy rằng yêu sách này hoàn toàn trái với các quy định của Công ước. Không một quy định nào của Công ước có thể biện minh cho yêu sách “đường lưỡi bò” . Đơn giản bởi vì vùng biển mà “đường lưỡi bò” ngoạm vào không thể nào là lãnh hải hoặc vùng đặc quyền kinh tế hoặc là thềm lục địa của Trung Quốc. Đó chính là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam , Philippines, Malaysia, Indonesia và Bruney.

Yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý nói trên đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền của 5 nước ASEAN đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Chính vì vậy, mà Việt Nam , Malaysia, Indonesia và Philippines lần lượt gửi công hàm đến Tổng Thư ký Liên hợp quốc bác bỏ yêu sách này.

Việc đưa yêu sách phi lý nói trên ra Liên hợp quốc và tiến hành các việc làm gần đây ở trên thực địa nhằm theo đuổi yêu sách này đang làm cho tình hình Biển Đông trở nên phức tạp hơn, gây lo ngại thực sự cho cộng đồng thế giới và buộc dư luận phải lên tiếng. Không chỉ các quốc gia liên quan tranh chấp ở Biển Đông mà dư luận của nhiều quốc gia khác cũng đã bày tỏ ý kiến bất bình trước yêu sách này.
(còn tiếp)
Logged
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #148 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2011, 10:57:35 pm »

3. Các tranh chấp ở Biển Đông hiện nay dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế

Ở Biển Đông có hai loại tranh chấp, gồm tranh chấp về các vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn và tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

a. Do chiều rộng của một số khu vực ở Biển Đông (như Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan) hẹp hơn 400 hải lý, nên một phần vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia láng giềng chồng lấn lên nhau. Từ đó nảy sinh một số tranh chấp giữa các quốc gia ven Biển Đông về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Liên quan Việt Nam, ở phía Bắc chúng ta có vùng chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ và khu vực nhỏ phía ngoài cửa Vịnh, còn ở phía Nam có vùng chồng lấn với Campuchia, Thái Lan, Malaysia trong Vịnh Thái Lan và vùng chồng lấn với Indonesia ở nam Biển Đông. Các nước ven Biển Đông khác cũng có một số vùng chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế với nhau, như giữa Malaysia và Thái-Lan, giữa Thái Lan và Campuchia, giữa Indonesia và Malaysia. Các khu vực chồng lấn này đã và đang từng bước được Việt Nam và các nước hữu quan giải quyết thỏa đáng theo các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982.

b. Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa gồm nhiều đảo đá san hô rất nhỏ ở giữa Biển Đông. Hiện nay, hai quần đảo đang là tâm điểm tranh chấp phức tạp giữa một số nước ven Biển Đông. Tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa liên quan Việt Nam và Trung Quốc, còn tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa liên quan 5 nước, 6 bên là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Bruney (Bruney không yêu sách về chủ quyền các đảo) và Đài Loan (Trung Quốc).

Đối với việc giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với lãnh thổ, pháp luật quốc tế đã hình thành nguyên tắc xác lập chủ quyền là nguyên tắc chiếm hữu thật sự và thực hiện quyền lực Nhà nước một cách thật sự, liên tục và hòa bình. Nguyên tắc này đã được các nước và các cơ quan tài phán quốc tế áp dụng để giải quyết nhiều vụ tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ ở trên thế giới. Trong số đó, các vụ kinh điển thường được viện dẫn nhiều là vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Mỹ và Hà Lan, vụ Minquiers và Ecréhous giữa Anh và Pháp, vụ đảo Clipperton giữa Mexico và Pháp, vụ Greenland giữa Na Uy và Đan Mạch v.v…

Áp dụng nguyên tắc nói trên của pháp luật quốc tế vào trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mọi ngưòi đều thấy rằng Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này hàng trăm năm nay. Nói chính xác là nhà nước ta đã thực hiện chủ quyền ở đây ít ra từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa hề thuộc chủ quyền của bất cứ nước nào. Từ đó Việt Nam đã thực hiện thật sự chủ quyền của mình đối với hai quần đảo một cách liên tục và hòa bình.

Các bằng chứng mà Việt Nam đã thu thập được rất phong phú. Một là, các bản đồ Việt Nam thế kỷ XVII đã gọi hai quần đảo bằng cái tên Bãi Cát Vàng và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi. Hai là, nhiều sách cổ của Việt Nam như Toàn Tập Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư (thế kỷ XVII), Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và Chính Biên (1844 - 1848) v.v… đều nói về việc nhà nước cử đội Hoàng Sa ra khai thác quần đảo này. Hai là, nhiều sách cổ, bản đồ cổ của nước ngoài cũng thể hiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam . Ba là, Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để tiến hành khai thác hai quần đảo (mỗi đội Hoàng Sa gồm 70 người, ra Hoàng Sa 6 tháng đánh bắt hải sản như đồi mồi, hải sâm, ốc qúy‎ và thu lượm hàng hóa trên các tàu bị đắm).

Các thể lệ tuyển chọn người, chế độ khen thưởng, đãi ngộ đối với các đội đều được nhà nước quy định rõ ràng. Các đội này được duy trì và hoạt động liên tục từ thời chúa Nguyễn (1558-1783), đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn. Triều đình Nhà Nguyễn đã cử các tướng Phạm Quang Ảnh (năm 1815), Trương Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật (các năm 1834, 1835, 1836) ra Hoàng Sa khảo sát, đo đạc các đảo, khảo sát, vẽ bản đồ, xây miếu, dựng bia. Năm 2009, gia tộc họ Đặng ở đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi vừa mới hiến tặng Nhà nước một sắc lệnh trong gia phả của dòng họ khẳng định chủ quyền của Việt Nam.

Sau khi đô hộ Đông Dương, Pháp nhân danh Việt Nam tiếp tục quản lý hai quần đảo qua việc cử tàu chiến tuần tiễu để đảm bảo an ninh, ngăn chặn buôn lậu, cho phép người Nhật khai thác phân chim trên đảo, cử tàu De Lanessan ra nghiên cứu hải dương, địa chất, sinh vật, v.v…Từ năm 1930 đến 1932, các tàu chiến Inconstant, Alerte, La Malicieuse và De Lanessan của hải quân Pháp liên tiếp ra quần đảo Hoàng Sa. Đầu những năm 30 của thế kỷ 20, Pháp cho quân đóng ở các đảo chính thuộc quần đảo Trường Sa (Trường Sa, An Bang, Ba Bình, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ).

Các hoạt động này đã được công bố trong Công báo của Cộng hòa Pháp ngày 26 - 7 - 1933. Năm 1933, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định quy thuộc quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng tách quần đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Nam Nghĩa và đặt vào tỉnh Thừa Thiên và cho một đơn vị đóng quân ở đó. Sau khi trở lại Đông Dương, Pháp đã yêu cầu quân Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi các đảo mà họ đã chiếm đóng trái phép năm 1946 và Pháp đã cho quân thay thế quân Trung Quốc, xây dựng lại trạm khí tượng, đài vô tuyến.

Vào năm 1951, tại Hội nghị San Francisco có một đề nghị bổ sung bản dự thảo Hòa ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng Hội nghị đã bác bỏ đề nghị này với số phiếu áp đảo là 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng. Tại Hội nghị Trưởng đoàn quốc gia Việt Nam đã tuyên bố khẳng định chủ quyền lâu đời của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản đối hay bảo lưu của nước nào.

Năm 1956 Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho chính quyền Sài Gòn và nhà cầm quyền Sài Gòn đã cho quân ra tiếp quản, tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính (lập ở mỗi quần đảo một xã thuộc một huyện ở đất liền), xây các bia chủ quyền, duy trì các trạm khí tượng.

Từ những năm 50 của thế kỷ 20 tình hình hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trở nên phức tạp hơn. Đó là, lợi dụng việc Pháp rút khỏi Đông Dương theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Trung Quốc đã chiếm nhóm đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956. Chính quyền Sài Gòn kịch liệt phản đối. Năm 1959 quân Trung Quốc giả làm ngư dân đổ bộ lên nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Quân đội của chính quyền Sài Gòn đã đánh trả thắng lợi và bắt 82 “ngư dân” Trung Quốc.

Đối với nhóm đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa, chính quyền Sài Gòn tiếp tục quản lý cho đến năm 1974. Năm 1974, lợi dụng việc quân đội Sài Gòn phải đối phó với cuộc tiến công của quân cách mạng, Trung Quốc dùng không quân, hải quân chiếm luôn phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam đã phản đối. Năm 1975, chính quyền Sài Gòn sụp đổ, Nhà nước Việt Nam tiếp quản các đảo ở Trường Sa và lập các huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa.
 
Một sự thật hiển nhiên là cho đến năm 1988 chưa hề có bất kỳ sự hiện diện của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa. Ngày 14 - 3 - 1988, Trung Quân bắt đầu dùng vũ lực chiếm đóng một số đảo đá ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong trận chiến không cân sức năm đó, 64 người con yêu quý của Tổ quốc Việt Nam đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.

Tóm lại, dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế, Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự thật lịch sử là Trung Quốc bắt đầu chiếm đóng nửa phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ những năm 50 của thế kỷ trước và đến năm 1974 dùng vũ lực chiếm luôn phần phía Tây của quần đảo này. Còn ngày 14-3-1988 là ngày Trung Quốc dùng vũ lực để chiếm một số đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa của chúng ta.
(còn tiếp)
Logged
baokhanhnbk
Thành viên
*
Bài viết: 1089



« Trả lời #149 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2011, 10:59:09 pm »

4. Giải pháp cho các vấn đề liên quan Biển Đông

a. Các vấn đề liên quan Biển Đông rất phức tạp, hệ trọng và nhạy cảm đối với nhiều quốc gia liên quan. Các nguồn lợi trong các vùng biển ở Biển Đông rất quan trọng đối với kế sinh nhai và đời sống hàng ngày của hàng trăm triệu con người của 9 quốc gia ven Biển Đông. Các tài nguyên thiên nhiên ở đây là một điều kiện cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của các nước liên quan. Các nước ven Biển Đông đang đẩy mạnh các hoạt động thực hiện chủ quyền biển, đảo của mình. Đồng thời các hoạt động khác liên quan đến Biển Đông cũng hết sức đa dạng, phong phú (tự do, an toàn hàng hải, chống tội phạm trên biển..) và gắn với lợi ích của nhiều quốc gia khác nhau (cả trong và ngoài khu vực).

b. Từ đó, một yêu cầu hết sức khách quan đặt ra cho tất cả các nước có hoạt động liên quan Biển Đông là phải tuân thủ luật chơi chung mà cộng đồng quốc tế, trong đó có các quốc gia ven Biển Đông, đã dày công xây dựng - Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc. Khi vận dụng Công ước để thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền đối với nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình như được quy định trong Công ước, quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền và quyền chủ quyền của các nước khác ven Biển Đông đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ. Đó là nghĩa vụ của quốc gia thành viên Liên hợp quốc. Đó là nghĩa vụ theo Công ước Luật Biển năm 1982. Đó là nghĩa vụ theo Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước.

Sẽ là rất không công bằng và phi lý khi một quốc gia ven Biển Đông tùy tiện vẽ ra một đường yêu sách mơ hồ, trái với Công ước Luật Biển năm 1982, vi phạm các vùng biển của các quốc gia láng giềng, tạo ra “vùng tranh chấp” trong vùng biển của quốc gia láng giềng , để rồi đòi các quốc gia láng giềng bị nạn “gác tranh chấp, cùng khai thác” trên chính thềm lục địa của họ. Tương tự, việc một quốc gia ven Biển Đông tự ý quy định cấm đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia láng giềng khác cũng là việc làm trái với quy định của Công ước Luật Biển năm 1982. Cách hành xử như vậy, rõ ràng là những sự vi phạm cam kết quốc tế của một nước thành viên Liên hợp quốc theo Hiến chương của tổ chức này.

c. Sự tồn tại các tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như tranh chấp về các vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn là một thực tế khách quan. Việc giải quyết các tranh chấp này, đặc biệt là tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo, là một công việc khó khăn, phức tạp, nhưng không phải là không thể giải quyết được. Như đã nêu trên, giữa Việt Nam và Trung Quốc, Thái Lan, In-đô-nê-xia, Ma-lai-xia và Cam-pu-chia có các khu vực chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế ở Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Thời gian qua, căn cứ vào Công ước Luật Biển năm 1982 và với tinh thần hữu nghị, láng giềng, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, Việt Nam đã phân định ranh giới các vùng biển với Thái Lan, ranh giới các vùng biển với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ và ranh giới thềm lục địa với In-đô-nê-xia ở phía Nam Biển Đông. Các nước khác ven Biển Đông cũng đã giải quyết được một số tranh chấp trên biển với nhau bằng nỗ lực chung và trên cơ sở pháp luật quốc tế. Gần đây nhất, tranh chấp về chủ quyền đối với một số đảo nhỏ giữa Ma-lai-xia và Xinh-ga-po, giữa In-đô-nê-xia và Ma-lai-xia cũng đã được giải quyết bằng các phán quyết của Tòa án quốc tế La Hay (ICJ).

Kinh nghiệm đó chỉ ra rằng các tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các tranh chấp về các vùng biển chồng lấn giữa các nước ven Biển Đông sẽ được giải quyết ổn thỏa khi pháp luật quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982, được tôn trọng và khi các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc được áp dụng. Đe dọa vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực đã bị pháp luật quốc tế cấm. Đe dọa vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực sẽ không phải là cách thức đúng đắn để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

d . Các tranh chấp liên quan đến Biển Đông dĩ nhiên là phức tạp. Con đường đi đến giải pháp cuối cùng cho các tranh chấp mà các bên liên quan đều chấp nhận được sẽ không bằng phẳng và còn dài. Thực tế đó đòi hỏi các bên tranh chấp ở Biển Đông tăng cường nhiều nỗ lực hơn nữa. Trong quá trình tìm kiếm giải pháp cơ bản lâu dài cho các tranh chấp, các bên cần tuân thủ các cam kết đã được nêu trong Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002, đặc biệt là cam kết không có bất cứ hành động nào làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông. Các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc cũng cần tăng cường các nỗ lực, cùng nhau phấn đấu để xây dựng một văn kiện có tính pháp lý cao hơn, có tính ràng buộc cao hơn là Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Về hình thức văn kiện này có thể có thể dưới dạng một Hiệp ước, hoặc một Hiệp định, hoặc một Thỏa thuận, hoặc cũng có thể là một MOU giữa ASEAN và Trung Quốc được các đại diện có thẩm quyền của ASEAN và Trung Quốc ký, sau đó được các cơ quan có thẩm quyền của ASEAN và Trung Quốc phê duyệt.

Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản (các nguyên tắc just cogent) của pháp luật quốc tế, tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, thực hiện đầy đủ các cam kết trong DOC, tiến tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông, cùng chung sức theo hướng biến Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác chính là chìa khóa cho các vấn đề phức tạp ở Biển Đông hiện nay.

Theo TTXVN
http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Van-de-Bien-Dong-duoi-goc-do-phap-luat-quoc-te/20114/142515.datviet
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM