Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:47:46 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đông Dương hấp hối  (Đọc 81790 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #70 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2010, 11:07:20 pm »


CHIẾN TRƯỜNG MÙA ĐÔNG NĂM 1953-1954

Chiến trường miền Tây Bắc1

Các lực lượng Việt Minh tương đối quan trọng kiểm soát vùng Thượng du Bắc Bộ, nơi chúng ta chỉ còn giữ Lai Châu và một vài “điểm” được các lực lượng du kích của ta trấn giữ.

Để có thể tái lập một cách vững chắc sức mạnh của ta trong vùng này đồng thời bảo vệ vùng Bắc Lào, ta dự kiến vào mùa hè vừa qua, sau khi rút khỏi Nà Sản, mở một cuộc hành quân để kiểm soát vùng Điện Biên Phủ, được xem như là một điểm chiến lược quan trọng chủ yếu. Do thiếu phương tiện nên chúng ta đã phải trì hoãn kế hoạch này.

Cuộc hành quân này đòi hỏi phải sử dụng các đoàn quân xuất phát từ Lai Châu, thung lũng Cao của vùng Nậm Ư (chúng ta tái chiếm được vào tháng 9) và các đơn vị nhảy dù. Nó được dự kiến sẽ được tiến hành vào tháng 12 hay tháng giêng, khi các tiểu đoàn quân Lào mới được thành lập tạo điều kiện giải phóng các lực lượng cơ động cần thiết. Trong những ngày đầu tháng 11, có nhiều dấu hiệu ngày càng rõ ràng cho thấy các lực lượng quan trọng của Việt Minh (sư đoàn 316 và những đơn vị của một hay có thể hai sư đoàn khác) đang tiến về vùng Thượng du, nhắm vào mục tiêu đầu tiên là Lai Châu, sau đó là dựa vào Điện Biên Phủ để tiến vào Bắc Lào.

Đứng trước một sự uy hiếp nghiêm trọng như vậy, đối với trung tâm kháng cự của ta ở Lai Châu và vùng Bắc Lào, chúng ta phải có ngay một quyết định thích ứng, không thể chậm trễ được. Trong chương tiếp theo, nói về chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi sẽ nói rõ thêm về những hoàn cảnh đã khiến tôi phải có một quyết định. Ở đây, tôi giới hạn sự giải thích này như sau: vì những lý do tôi đã nói đến ở phần trước, để có thể trực tiếp bảo vệ nước Lào, tôi đã quyết định tiến hành cuộc hành quân dự kiến vào Điện Biên Phủ, để chặn đường tiến quân của Binh đoàn Tác chiến địch.

Giai đoạn đầu, ta chiếm Điện Biên Phủ bằng một cuộc hành quân không vận. Qua giai đoạn hai ta rút các phương tiện từ Lai Châu về Điện Biên Phủ, do đặc điểm đặc thù của địa hình, ta không thể nào bảo vệ được cứ điểm này trước một quả đấm mạnh.

Cuộc hành quân được dự kiến vào ngày 20 tháng 11. Nó đã được thực hiện bằng việc thả xuống 6 tiểu đoàn nhảy dù, mà không gặp khó khăn lớn, mặc dù gặp phải một sự kháng cự khá quyết liệt của một tiểu đoàn địa phương Việt Minh.
_____________________________________
1. Phần này sẽ được trình bày ngắn gọn, vì nó được nói đến một cách chi tiết trong chương kế tiếp, nói riêng về chiến dịch Điện Biên Phủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #71 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2010, 11:10:57 pm »


Ngay sau khi chiếm được Điện Biên Phủ, chúng ta bắt đầu xây dựng một cứ điểm cho một lực lượng từ 5 đến 6 tiểu đoàn, và có thể tăng lên 10 đến 12 tiểu đoàn, tùy theo tính cách quan trọng của các lực lượng đối phương mà ta phải đối đầu.

Lai Châu đã được sơ tán ngày 8 tháng 12, và lực lượng đồn trú của nó rút về Điện Biên Phủ, một phần bằng đường bộ, một phần bằng đường không.

Trong những ngày kế tiếp, chúng tôi nhận được thông tin liên tiếp về sự di chuyển về vùng Thượng du của các sư đoàn 316, 308 và 312, sau đó là một số đơn vị của sư 304 (một, rồi hai trung đoàn) và cuối cùng là sư đoàn nặng 351.

Một số lượng lớn các trang thiết bị và đồ tiếp tế từ Trung Quốc đã được báo cáo.

Tập hợp một lực lượng dân công lớn hơn các chiến dịch trước rất nhiều, đối phương đã phục hồi và làm mới hệ thống đường giao thông từ biên giới Trung Quốc đến Điện Biên Phủ. Họ xây dựng tại Tuần Giáo một căn cứ hậu cần rất lớn.

Từ đầu tháng giêng, Binh đoàn Tác chiến Việt Minh đã tập trung quanh Điện Biên Phủ, và ngày càng có nhiều dấu hiệu của một cuộc tiến công.

Về phía ta, ta tăng cường đến mức tối đa quân số được dự kiến cho lực lượng đồn trú, và mọi thứ đã được thực hiện để đảm bảo phòng thủ thắng lợi.

Song song với những nỗ lực phòng thủ trên, ta cho tiến hành một loạt các động thái, xuất phát từ thung lũng sông Mêkông Thượng nhằm mục đích triển khai một lực lượng nhằm bảo vệ vùng Bắc Lào trong trường hợp quân địch sẽ bỏ qua Điện Biên Phủ và tiến về Luang Prabang; đồng thời làm bàn đạp cho các cuộc tiến công của chúng ta nhằm hỗ trợ Điện Biên Phủ.

Toàn bộ các cuộc hành quân đã phá vỡ gần hết mọi sự chuẩn bị (gạo và đạn dược) để tiến đánh vùng Bắc Lào của Việt Minh vào mùa hè.

Vào cuối tháng giêng, khi cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ đã gần như chắc chắn, thì bất ngờ địch quân - ít nhất là cũng tạm thời - từ bỏ hướng này, di chuyển sư đoàn 308 và trung đoàn 148 gấp rút tiến về hướng Luang Prabang.

Giả thuyết này được dự kiến trước từ lâu và ta đã sẵn sàng đối phó. Ta rút một phần các lực lượng từ Nậm U Thượng về Luang Prabang, một phần về Mường Sài, nơi lực lượng không vận1 đã hình thành nhanh chóng các trung tâm phòng thủ. Khi tiến đến vùng Nậm Bạc, ở khoảng giữa Điện Biên Phủ và Luang Prabang, đối phương ngừng lại, chỉ giao tranh có tính cách thăm dò với những đơn vị nhẹ ở Luang Prabang, Mường Sài. Họ bị không quân của ta gây rất nhiều khó khăn, nhất là trong việc tiếp tế, mà con đường tiếp vận chính của họ đã bị cứ điểm của ta tại Điện Biên Phủ chặn từ phía sau lưng2.
______________________________________
1. Một binh đội cơ động và hai tiểu đoàn rút từ vùng châu thổ, ba tiểu đoàn rút từ miền Trung Lào.
2. Ngoài ra chúng ta còn làm đảo lộn mọi sự chuẩn bị về mặt tổ chức của Việt Minh đã thực hiện trong mùa thu tại vùng Thượng Lào.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #72 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 09:43:24 pm »


Chiến trường miền Trung và Nam Lào

Vào tháng 11 trong vùng Vinh, Bộ Chỉ huy Việt Minh hình thành một lực lượng tiến công (gồm sư đoàn 325 và một trung đoàn của sư 304) nhằm mục đích đánh vào vùng trung tâm Đông Dương. Ta không thể biết được họ sẽ nhắm vào vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam (vùng Đồng Hới) hay là các hệ thống giao thông với vùng Bắc Lào (vùng thung lũng sông Cửu Long về phía Thakek và Seno).

Cùng lúc ấy, lực lượng của Liên khu V chuẩn bị một cuộc tiến công đánh vào Tây Nguyên, họ cũng có khả năng uy hiếp các đường liên lạc của chúng ta với vùng Bắc Lào dọc theo thung lũng sông Cửu Long (vùng Pakse - cao nguyên Bolovens).

Trước khả năng rõ ràng của các cuộc tiến công này và trong tình hình tôi không biết chắc họ sẽ bắt đầu tấn công vào đâu, tôi quyết định thành lập một Bộ Chỉ huy hành quân thống nhất cho vùng trung tâm Đông Dương, và giao quyền chỉ huy cho tướng tư lệnh vùng Trung Bộ Việt Nam1 phụ trách cả vùng Trung và Nam Lào, cũng như vùng Tây Nguyên.

Biện pháp này cho phép sử dụng một cách có hiệu quả tối đa số lực lượng ít ỏi đóng ở đây. Một binh đội cơ động đến từ vùng châu thổ được đặt dưới quyền của vị tướng tư lệnh vùng trung tâm Đông Dương. Đây là lực lượng cơ động duy nhất có thực lực của vùng này2. Nó phải được bố trí để có thể vừa hoạt động được, hoặc ở vùng Bắc Trung Bộ hoặc ở Trung Lào, tùy theo các hoạt động khác nhau của đối phương nhận được thông qua các nguồn tin tình báo3. Cuộc tiến công của Việt Minh bắt đầu ngày 20 tháng 12. Nỗ lực chính của họ hướng về vùng Trung Lào. Bỏ qua tất cả các con đường lớn, chỉ sử dụng hệ thống các đường mòn xẻ dọc dãy Trường Sơn ở phía Đông Bắc Thakek, tranh thủ thời tiết xấu gây nhiều trở ngại cho không quân chúng ta, nhất là trên vùng sườn đông của dãy Trường Sơn các lực lượng Việt Minh đã bất ngờ đánh bật các lực lượng phòng thủ của ta. Những trận đánh ác liệt xảy ra từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 12. Bước đầu tiên, chúng ta rút về Thakek, rồi sau đó bước thứ hai rút về Seno. Ngày 26 tháng 12, một số đơn vị Việt Minh tiến vào Thakek, nơi chúng ta sơ tán khỏi ngày hôm trước. Tất cả báo chí đều loan tin: “Đông Dương bị cắt ra làm đôi”. Dư luận Pháp xôn xao và tư tưởng chủ bại lại một lần nữa trỗi dậy.

Do đó một số lực lượng tương đối quan trọng được rút khỏi vùng châu thổ4 để di chuyển về phía Seno, nơi một căn cứ không quân lớn đã được xây dựng vào tháng 9 để đối phó với một tình huống như thế.

Từ ngày 5 đến ngày 9 thánh giêng, cuộc tiến công của Việt Minh đánh vào Seno vấp phải một sự ngăn chặn quyết liệt. Vài ngày sau đó, Seno được giải tỏa và trục giao thông trên sông Cửu Long cùng tuyến đường bộ dọc theo nó (đường 13) nối vùng Trung và Bắc Lào được mở lại. Thakek được tái chiếm.

Thế nhưng đối phương không hoàn toàn biến mất. Bằng cách chia nhỏ các tiểu đoàn, họ vẫn duy trì sự có mặt trong vùng rừng rậm Trung Lào, thậm chí còn xâm nhập về phía Nam Lào, tạo ra sự bất ổn thường xuyên trong vùng, có khả năng bóp nghẹt vùng Trung và Bắc Lào.

Do thiếu thốn các phương tiện đường không, nhất là phần cơ sở hạ tầng, ngăn cản chúng ta thiết lập một cầu hàng không, nên việc bảo vệ các trục lộ giao thông đã thu hút một số lượng quan trọng các lực lượng chiến đấu. Việc phòng thủ này làm suy yếu nghiêm trọng các lực lượng đóng ở những nơi khác. Về mặt này, Việt Minh gặt hái được một kết quả không thể tranh cãi được.

Hơn nữa, các lực lượng của Liên khu V mở một cuộc tiến công vào phía bắc Tây Nguyên ngày 28 tháng 1. Cuộc tấn công nhanh chóng đạt được những kết quả quan trọng buộc ta phải sơ tán khỏi Kontum và rút chạy về Pleiku. Thêm một áp lực đè lên trục giao thông của thung lũng sông Mêkông.
____________________________________
1. Tướng Leblanc, rồi sau đó là tướng Bourgund.
2. Tình hình chung quanh cùng châu thổ, nơi còn khoảng từ 3 đến 4 sư đoàn Việt Minh không cho phép có thể rút đi một lực lượng nào quan trọng hơn.
3. Việc chuyển quân của các đơn vị trù bị giữa vùng Trung Bộ Việt Nam và Trung Lào vẫn có thể làm được - dù có nhiều khó khăn - thông qua con đường từ Huế đến Seno (đường số 9).
4. Thời kỳ này nguy cơ một cuộc tổng tiến công vào vùng đồng bằng đã hoàn toàn biến mất.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #73 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 09:45:13 pm »


Chiến trường Tây Nguyên và cuộc hành quân “Atlante”

Cuộc hành quân “Atlante”, có mục đích tiêu diệt Liên khu V, được lên kế hoạch để thực hiện từ tháng giêng đến tháng 9. Đây là khoảng thời gian duy nhất trong năm có điều kiện thời tiết thuận lợi1.

Là một dãy đất hẹp chạy dọc theo bờ biển, có chiều dài 370 km và chiều ngang trung bình 70 km, Liên khu V là một vị trí tương đối có giá trị về mặt kinh tế (sản xuất lúa gạo, đánh cá) và dân số (khoảng 2.500.000 người). Nhưng tầm quan trọng về mặt chính trị và chiến lược của nó còn lớn hơn. Đây là con đường nối liền Nam - Bắc giữa Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Bộ. Thông qua con đường này Việt Minh gửi cán bộ, vũ khí, tiền bạc cho lực lượng của họ ở phía nam và Campuchia. Việc giải phóng vùng này rồi giao quyền quản lý trực tiếp của nó cho Chính phủ Việt Nam sẽ có một ảnh hưởng về mặt tinh thần rất lớn đối với toàn bộ nước Việt Nam, kể cả trong những vùng do Việt Minh kiểm soát. Đây là một cuộc trắc nghiệm chính trị quan trọng hàng đầu.

Nhưng đây không phải là mục đích chủ yếu của cuộc hành quân. Đây là biện pháp phủ đầu chống lại một nguy cơ rất lớn. Thực vậy, Liên khu V cùng với những căn cứ địa trên vùng cao nguyên Bolovens là một mối nguy cơ thường xuyên đối với tất cả vùng Nam Đông Dương (Nam Bộ, Nam Lào và Campuchia). Do ở xa nguồn tiếp tế của Trung Quốc nên sức mạnh quân sự của Liên khu V bị tụt hậu trong một thời gian dài về mặt số lượng và chất lượng so với những vùng của Việt Minh ở phía Bắc. Nhưng trong vòng một năm trở lại đây, nó đã phát triển một cách nhanh chóng. Chúng ta nắm được từ các nguồn tin chắc chắn là Bộ Chỉ huy Việt Minh xem Liên khu V như một căn cứ để tung ra các cuộc hành quân quan trọng vào năm 1954 - 1955. Vì thế, do chúng ta chậm trễ trong việc tiêu diệt nó nên đang phải đối đầu với một vấn đề khủng khiếp.

Vào cuối những năm 1953, các dấu hiệu nghiêm trọng cho thấy có sự chuẩn bị của Liên khu V cho một cuộc tiến công, hoặc vào Đà Nẵng hoặc vào Nha Trang, nhiều khả năng là vào vùng Tây Nguyên. Sự phối hợp hành động của cuộc tiến công này với một cuộc tiến công khác vào Seno có thể gây cho chúng ta những hậu quả hết sức bi thảm: sự cắt đứt hoàn toàn những đường giao lộ của chúng ta với vùng Bắc Lào, một cuộc tiến quân của Việt Minh vào Campuchia và Bắc Nam Bộ.

Các lực lượng của Liên khu V ước tính có khoảng 30.000 người, trong đó có 12 tiểu đoàn chính quy, từ 5 đến 6 tiểu đoàn địa phương với chất lượng chiến đấu rất tốt. Vị trí của họ trên các “chiến tuyến vòng trong” cho phép họ có khả năng tiến công liên tục về nhiều phía. Do đặc tính của địa hình và có rất nhiều kho dự trữ được giấu kín ở nhiều nơi khác nhau, nên họ có khả năng tập trung, và đưa các lực lượng của họ tiếp cận các mục tiêu một cách bí mật.

Ngược lại, ta phải trấn đóng ở vòng ngoài nên phải cảnh giác trên cả ba mặt trận: nam Đà Nẵng, bắc Nha Trang và vùng mặt đông của Tây Nguyên. Khu vực của chúng ta bị chia cắt rất nhiều, các cuộc chuyển quân của ta hoặc phải được thực hiện trên các đoạn đường dài và khó khăn, hoặc bằng đường hàng không trong khả năng của cơ sở hạ tầng rất nghèo nàn.
____________________________________
1. Xin nhắc lại là cuộc hành quân này được tướng Salan đề nghị trong bản nghiên cứu của ông vào tháng 5 năm 1953 (xem chương 3).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #74 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 09:55:13 pm »


Có khả năng một cuộc tấn công của Việt Minh diễn ra trong hoàn cảnh rất khó khăn của ta. Các lực lượng tối thiểu cần thiết để chống đỡ một quả đấm đầu tiên - mà ta vẫn chưa biết sẽ xảy ra ở đâu, có khả năng diễn ra bất cứ lúc nào1 - là 5 binh đội cơ động2.

Tuy nhiên, lực lượng cần thiết để vừa tiến hành cuộc hành quân “Atlante” vừa đủ đảm nhận công việc bảo vệ ở các điểm ta không tấn công, được ước tính khoảng 6 binh đội cơ động3.

Giữa một giải pháp có tính cách thuần tuý phòng thủ không giải quyết được gì và một giải pháp tiến công có khả năng làm xáo trộn toàn bộ kế hoạch của đối phương, loại trừ hoàn toàn sự uy hiếp của Liên khu V, cái giá phải trảm, là gần như ngang nhau về các lực lượng trên bộ4. Còn về mặt không quân, thì tiến công không đòi hỏi lực lượng nhiều hơn khi phòng thủ5.

Các chi tiết trên đây rất cần thiết để chứng minh rằng, khác với một số nhận định, cuộc hành quân “Atlante” không làm ảnh hưởng đến các mặt trận khác, nhất là vùng Bắc Bộ, cho dù trận chiến xảy ra ở trong vùng châu thổ hay ở tại Điện Biên Phủ.

Do đó cuộc hành quân “Atlante” được mở ra, như dự tính vào ngày 20 tháng giêng, trước cuộc tiến công của Việt Minh vào Tây Nguyên chỉ vài ngày. Nó không ngăn chặn được cuộc tiến công này của Việt Minh, nhưng làm giảm rất nhiều cường độ ác liệt của nó.

Một trận đánh phức tạp diễn ra trên cả vùng Tây Nguyên, nơi Việt Minh tiến đánh căn cứ của ta tại An Khê cùng nút giao thông quan trọng tại Pleiku, và trong vùng đồng bằng duyên hải, nơi các lực lượng của ta di chuyển ngược từ phía nam lên phía bắc dần dần tiến gần đến Quy Nhơn.

Vào đầu tháng 3, ta chiếm được vùng phía nam của Liên khu V, cho đến tuyến Quy Nhơn (trong tay Việt Minh) - An Khê (trong tay chúng ta). Nhưng ta lại để mất vùng bắc Tây Nguyên đến tuyến An Khê- Pleiku (vẫn nằm trong tay ta).

Trận đánh tiến dần đến sự ổn định. Việt Minh phải từ bỏ việc chiếm An Khê, Pleiku. Còn chúng ta, rất thất vọng về các đơn vị người Việt Nam và người Thượng: đào ngũ, từ chối ra trận, bỏ vị trí chiến đấu, thậm chí đào ngũ cả đơn vị, nổi loạn cùng những khó khăn trong việc sử dụng lính Thượng ở vùng đồng bằng và sử dụng người Kinh trên cao nguyên. Mặt khác, giới thẩm quyền dân sự - quân sự Việt Nam được bố trí vào các vùng lãnh thổ chiếm được tỏ ra hoàn toàn không có khả năng trong việc quản lý, bình định các vùng này.
____________________________________
1. Ở cả Đông Dương, Liên khu V là vùng ta có được ít thông tin nhất.
2. Một binh đội cơ động tại Đà Nẵng, một tại Nha Trang, và 3 trên Tây Nguyên.
3. Có thể thêm một số lượng tương đối nhiều các tiểu đoàn nhẹ Việt Nam vừa được thành lập để dùng vào công tác bình định. Nhưng đây là những đơn vị không thích hợp cho những cuộc hành quân. Chúng chỉ được sử dụng đặc biệt cho dùng Nam và Trung Bộ, không thể sử dụng được ở dùng Bắc Bộ.
4. Cần phải chú ý thêm là “bản kê các lực lượng cần thiết” nói trên không hề được lập ra trên cơ sở có hại cho vùng lãnh thổ khác bị Việt Minh uy hiếp - nhất là ở Bắc Bộ - vì trên 6 binh đội cơ động cần thiết, thì có hai nhóm (số 41 và số 420) tuyển từ dân miền cao, một nhóm (số 21) tuyển từ dân Trung Bộ, một nhóm (số 110) hoàn toàn từ dân Nam Bộ và nhóm còn lại (số 100) có một phần là dân Nam Bộ. Các binh đội cơ động chỉ sử dụng được trong vùng Nam và Trung của Đông Dương. (Sẽ có những cuộc đào ngũ, thậm chí nổi loạn nếu chúng ta tìm cách đưa đi những nơi xa gia đình họ cư ngụ). Chỉ có binh đội cơ động 10 gồm những người Bắc Phi, là có thể được sử dụng không khó khăn ở Bắc Bộ. Nhưng việc huy động binh đội cơ động này có thể tạo ra rủi ro rất lớn vì nó là đơn vị duy nhất có chất lượng chiến đấu đảm bảo và sự hiện diện của một đơn vị vững mạnh là sự cần thiết để củng cố một tập thể những đơn vị có chất lượng chiến đấu không cao - nhất là trong việc phòng thủ.
5. Chúng được hình thành phần lớn bởi những máy bay không sử dụng được tại Điện Biên Phủ, vì lý do chủng loại hoặc vì tình trạng kỹ thuật của chúng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #75 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 09:56:06 pm »


Chiến trường tại vùng châu thổ cho đến tháng 2 năm 1953

Từ cuối tháng 10 năm 1953, cho dù cuộc chiến trở nên ác liệt đến mức nào đi nữa, vùng châu thổ sông Hồng vẫn là một chiến trường phụ. Tổng số lực lượng chính quy Việt Minh xâm nhập vào cùng với các đơn vị đóng chung quanh hoặc ở trong tình trạng sẵn sàng can thiệp không ngừng giảm sút từ 78 tiểu đoàn vào thời điểm ngày 15 tháng 10 xuống khoảng 50 tiểu đoàn vào khoảng ngày 28 tháng 2.

Cùng thời gian nói trên, tôi cho rút khỏi vùng châu thổ một số lực lượng tổng trù bị để đối phó với các hành động của đối phương trên những mặt trận khác ở Đông Dương. Tôi vẫn để lại các lực lượng trực thuộc địa phương. Việc rút các lực lượng nói trên được thực hiện tiếp sau từng sự sụt giảm lực lượng của Việt Minh đóng chung quanh vùng châu thổ; và số quân rút đi luôn luôn được tính toán để không mất thế cân bằng bất lợi cho ta. Trên thực tế, không chỉ sự cân bằng lực lượng nói trên được duy trì, mà tỷ lệ giữa lực lượng của ta và Việt Minh luôn luôn nghiêng hẳn về phía chúng ta, ngay cả khi chiến tranh tổng lực diễn ra tại vùng châu thổ vào khoảng tháng 11 năm 1953, như là chúng ta từng lo ngại trước khi Việt Minh thay đổi kế hoạch.

Cho dù điều trái lại đã được nhiều người nêu lên, sự thật là Bộ Chỉ huy Bắc Bộ bao giờ cũng có đủ lực lượng để đối phó với những mối hiểm họa nghiêm trọng đè nặng lên vùng châu thổ. Số lượng và chất lượng các phương tiện cùng với sự thuận lợi về địa bàn hoạt động và sự phong phú tương đối của hệ thống giao thông làm cho Bộ Chỉ huy ở đây có nhiều thuận lợi hơn so với các Bộ Chỉ huy ở những nơi khác (vùng Trung Lào, nhất là trên Tây Nguyên).

Đối với những người chấp hành mệnh lệnh thì trận đánh ở vùng châu thổ là một trong những trận đánh cam go nhất. Mật độ dày đặc và sự đan chéo lẫn nhau của các đơn vị đối kháng nhau, cùng sự tinh nhuệ của các binh sĩ đối đầu nhau đã làm cho các cuộc chạm súng trở nên thường xuyên và ác liệt hơn những nơi khác.

Sau cuộc hành quân “Mouette” đã loại khỏi vòng chiến sư 320 trong nhiều tuần lễ, qua đó làm thay đổi kế hoạch của đối phương, vùng châu thổ có được một thời kỳ an bình tương đối (bên cạnh những đơn vị dân quân và địa phương, thì chỉ có bốn trung đoàn chính quy Việt Minh hoạt động).

Sau một thời gian ngắn nghỉ ngơi, các đơn vị cơ động của ta nắm thế chủ động và với các cuộc hành quân bủa vây rộng lớn, ta đã cố gắng tiêu diệt các đơn vị đối phương. Mức độ các kết quả đạt được là khác nhau. Có nhiều thắng lợi được ghi nhận nhưng cũng có nhiều lần, mặc dù ta huy động nhiều phương tiện quan trọng, nhưng lại rơi vào các vùng trống.

Bằng một chỉ thị ký ngày 22 tháng 12, tôi yêu cầu tướng Cogny nên từ bỏ các cuộc hành quân mang dáng dấp quy mô, với “những phương tiện to lớn nhưng không đem lại những kết quả tương xứng” và “nên tập trung vào việc phá hủy những căn cứ địch bằng những cuộc tiến công nhanh chóng và trực tiếp, được thực hiện bởi một hay hai binh đội cơ động hoặc thiết giáp”. Phương cách này, tuy không gây ấn tượng lắm, nhưng hiệu quả, phải mang lại những kết quả tốt hơn, với phí tổn thấp hơn.
 
Vào cuối tháng 12, sau khi tổ chức lại, sư đoàn 320 bắt đầu tái xâm nhập vào vùng phía nam, trong lúc một trung đoàn độc lập khác hoạt động trong vùng phía bắc. Ta phản ứng bằng các cuộc hành quân tấn công gây thiệt hại nặng cho đối phương, nhưng chúng ta cũng phải chịu một số thất bại.

Vào giữa tháng 2, một sự yên tĩnh tương đối kéo dài đến đầu tháng 3.


Chiến trận ở Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam

Ở các vùng này chỉ có các cuộc hành quân mang tính địa phương, thế nhưng cũng không kém phần khó khăn vì không còn các đơn vị tinh nhuệ. Họ đã được chuyển đến các chiến trường ác liệt hơn. Tôi xin nhấn mạnh ở đây, những sự hy sinh rất lớn của tướng Bourgund, Tư lệnh quân đội ở Trung Bộ, và các tướng Bondis, Gardet, những vị tư lệnh kế tiếp nhau ở Nam Bộ đã thi hành nhiệm vụ với những phương tiện tối thiểu có được trong tay.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #76 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 09:58:21 pm »


TÌNH HÌNH TỔNG THỂ VÀO CUỐI THÁNG 2 - 1954

Vào cuối tháng hai, cuộc tiến công của Việt Minh bắt đầu từ đầu mùa đông đã lan rộng nhanh chóng ở các vùng Bắc, Trung và Nam Lào cũng như trên vùng Tây Nguyên, có vẻ như đạt đến quy mô phát triển tối đa.

Các hoạt động chính của họ đã bị chặn lại tại tuyến Mường Sài - Luang Prabang - Seno và Pleiku, nơi có một sự cân bằng lực lượng.

Vẫn còn vài cuộc tiến quân của đối phương ở các vùng gần như hoang vắng như Nam Lào, Bắc Campuchia, Tây Nguyên nhưng do không được tiếp tế đầy đủ về mặt hậu cần vì ở quá xa căn cứ, phải phân tán nhỏ để sống nên các hoạt động của họ trong các vùng này chỉ giới hạn ở chiến tranh du kích.

Tuy nhiên, các hoạt động của Việt Minh trên đường 13, con đường huyết mạch tối cần thiết mang tiếp liệu vào đất Lào, chạy dọc theo sông Mêkông nối liền Sài Gòn với Seno, gây rất nhiều khó khăn cho ta. Rất nhiều công trình xây dựng trên con đường này1 là mục tiêu tấn công không ngớt của họ. Ta phải tăng cường nhiều phương tiện trong vùng Paksé và Bắc Campuchia để đảm bảo việc di chuyển của các đoàn công - voa.

Một số cuộc tập kích vào các vùng Trung và Nam Tây Nguyên gây khó khăn cho liên lạc của ta với Pleiku và An Khê.

Trong vùng Tây Bắc, sư đoàn 308 rời khỏi Bắc Lào đi ngược về phía Điện Biên Phủ, nơi mọi sự chuẩn bị cho một cuộc tiến công đã hoàn tất. Qua những thông tin thu thập được, cuộc tấn công sẽ diễn ra vào khoảng 15 tháng 3. Nó sẽ rất ác liệt, nhưng chúng ta biết hậu cần của địch về đạn dược không cho phép họ kéo dài trận đánh hơn vài ngày. Do đó chúng ta có quyền nghĩ có thể thắng trong trận đánh này.

Cuộc tấn công này, Việt Minh gọi là “mặt trận chính”, chắc chắn sẽ được thực hiện cùng lúc với các hoạt động quan trọng khác diễn ra trong vùng châu thổ Bắc Bộ, đánh vào các đường giao thông liên lạc và căn cứ không quân của ta, với mục đích là cầm chân các lực lượng trên bộ, phân tán lực lượng không quân của ta. Chúng ta cũng có các biện pháp đối phó.

Nói tóm lại, nhờ vào sự bám trụ tại Điện Biên Phủ, nơi 12 tiểu đoàn của ta kèm chân 33 tiểu đoàn quân chính quy Việt Minh, ta có thể thực hiện được sự cân bằng chiến lược trên toàn bộ các chiến trường Đông Dương. Từ đó có thể đối đầu được mà không gặp quá nhiều khó khăn, với một Binh đoàn Tác chiến lớn hơn chúng ta rất nhiều. Đối phương đã có các dấu hiệu tỏ ra mệt mỏi.

Để có thể kết thúc cuộc chiến với một kết quả bất phân thắng bại là tham vọng của chính tôi, tôi phải hoàn tất hai điều kiện: thắng trận đánh quyết định tại Điện Biên Phủ và tiêu diệt những mũi nhọn nguy hiểm nhất trên các mặt trận khác.

Do đó, tôi đã ra lệnh nâng cao tối đa khả năng bảo vệ cụm cứ điểm Điện Biên Phủ và quyết định mở những cuộc phản công trên tất cả các chiến tuyến phụ nhằm vô hiệu hóa các kết quả mà đối phương có khả năng đạt được. Cuộc phản công này phải được tiến hành song song với đấu tranh chính trị, bắt chước theo phương pháp đối phương đã thực hiện.

Tất cả những phương cách trên được hướng dẫn trong chỉ thị ký ngày 25 tháng 2 năm1954.

Vào thời kỳ này, sau khoảng một tháng công tác tại Đông Dương, một phái bộ do ông Pleven, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu, trở về Pháp. Phái bộ này gồm các ông Marc Jacquet, Tổng trưởng phụ trách các Quốc gia Liên kết; ông De Chevigné, Tổng trưởng Bộ Chiến tranh; tướng Ely, Tổng tham mưu trưởng; tướng Blanc, Tổng tham mưu trưởng Lục quân; và tướng Fay, Tổng tham mưu trưởng Không quân. Phái bộ này đã viếng thăm tất cả các chiến tuyến, đặc biệt là Điện Biên Phủ. Phái bộ này chia sẻ sự tin tưởng của tôi vào thời kỳ cuối của giai đoạn chiến tranh 1953-19542.

Khi trở về nước ông Pleven đã nhắc lại sự tin tưởng này bằng những lời tuyên bố trước Quốc hội. Về sau ông bị chỉ trích vì sự lạc quan này, nhưng vào thời điểm lúc bấy giờ sự tin tưởng của ông là có cơ sở.
____________________________________
1. Trên tuyến đường 13 nối liền Sài Gòn và Seno, có đến 275 cầu được xây dựng.
2. Mặt khác tôi cũng phát biểu sự dè dặt cho tương lai do những sự thất vọng về phía Việt Nam đối với nỗ lực chiến tranh và hình thành quân đội của họ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #77 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 10:00:18 pm »


HỘI NGHỊ GENÈVE VÀ CUỘC TỔNG TẤN CÔNG CỦA VIỆT MINH

Vào giai đoạn cuộc chiến mùa xuân năm 1954 đang diễn biến theo chiều hướng ổn định, thậm chí tốt hơn, và “mặt trận chính” Điện Biên Phủ đang báo hiệu một trận đánh dữ dội nhưng có nhiều thuận lợi thì một sự kiện quyết định đã diễn ra, đã làm đảo lộn mọi vấn đề.

Ngày 18 tháng 2, nước Pháp đã chấp thuận, nếu không muốn nói là đã gợi ý, một hội nghị sẽ được diễn ra tại Genève vào cuối tháng 4 để bàn về hoà bình tại Đông Dương.

Cả ngài Tổng uỷ lẫn tôi đều không được thông báo trước về sự việc này. Chúng tôi đã không được tham khảo về thời cơ của hội nghị, quan trọng hơn là ý kiến của chúng tôi về thời điểm, thời gian và các thành phần tham dự hội nghị.

Ngược lại, phía Việt Minh, Bộ Chỉ huy của họ được thông báo về những gì họ có thể chờ đợi ở hội nghị này. Họ quyết định lập tức kết nối các hoạt động quân sự với sự kiện này, mà theo họ là một sự kiện quyết định và có khả năng mang lại thắng lợi cuối cùng cho cuộc chiến tranh trong thời gian ngắn. Bằng cách điều chỉnh tất cả các kế hoạch của họ, Việt Minh cho tiến hành sớm hơn dự kiến (một hoặc hai năm) một cuộc tổng tiến công nhằm mục đích đạt chiến thắng quyết định.

Do đó, hậu quả của một sáng kiến không đúng lúc của các nhà lãnh đạo chính trị phía ta làm cho tình hình quân sự bất ngờ chuyển biến một cách hết sức nghiêm trọng đối với chúng ta.

Trong những ngày đầu tiên của tháng ba, từ nguồn tin chắc chắn ta biết được quyết định tổng tấn công của Việt Minh1.

Quyết định tổng tiến công này lập tức được thể hiện qua nhiều dấu hiệu khác nhau.

Ta đã phát hiện Việt Minh đưa vào sử dụng một cách gấp rút đủ các loại phương tiện phục vụ cho cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ. Lực lượng vây hãm được các lực lượng chi viện rất lớn đang tăng cường.
__________________________________________
1. Các tài liệu của Việt Minh cho thấy họ chỉ đạo cuộc tổng tiến công này “để gây sức ép lên hội nghị Genève” mà theo họ sự nhóm họp đã là một thắng lợi vô cùng to lớn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #78 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 10:01:50 pm »


Chúng ta ghi nhận có một sự tuyên truyền rất mạnh nhắm vào dân chúng, nhất là vào quân đội Việt Nam. Nó đã tạo ra một sự tan rã nhanh chóng trong hàng ngũ quân đội này: việc tuyển mộ quân bị ngưng hẳn, một làn sóng đào ngũ mạnh mẽ, việc từ chối ra mặt trận và nổi loạn ở một số đơn vị.

Ta biết có những chỉ thị được đưa ra ở tất cả các cấp chỉ huy, ra lệnh “tăng cường hoạt động” và chuẩn bị tiến hành các trận đánh kéo dài ít nhất là cho đến cuối tháng 7, nghĩa là kéo dài đến giữa mùa mưa. Khác với mọi năm, năm nay việc hành quân không thể bị ngừng lại vì mùa mưa.

Và cuối cùng, đây là điểm quyết định, chúng ta biết rằng sự viện trợ của Trung Quốc được gia tăng với một khối lượng rất lớn gồm đạn dược, vũ khí mới, xe cộ1.

Cuộc tổng tiến công của Việt Minh diễn ra trên tất cả các chiến tuyến của Đông Dương, nhưng nỗ lực chính dồn vào Điện Biên Phủ. Chính tại đây đối phương muốn chiến thắng đầy ấn tượng nhằm mục đích bẻ gãy tinh thần của nước Pháp và các Quốc gia Liên kết. Các mặt trận khác sẽ “hỗ trợ cho mặt trận chính” này bằng những hoạt động phối hợp để cầm chân lực lượng trên bộ, trên không của ta, đồng thời ngăn chặn các đơn vị này can thiệp vào chiến dịch Điện Biên Phủ.

Chiến dịch này sẽ được trình bày ở chương tiếp theo. Trước khi bàn đến nó, tôi xin nói vắn tắt về những mặt trận phụ, cuộc tiến công của Việt Minh và kết quả trên các mặt trận này.

Ở Nam Bộ, tình hình ngày một tệ hại đi, nhất là ở những vùng đã được chuyển giao cho nhà cầm quyền Việt Nam. Những cuộc tiến công của đối phương vào các đồn bót nhỏ và tháp canh gia tăng mạnh mẽ. Do thiếu phương tiện, tôi đành phải từ bỏ việc chiếm đóng phần lãnh thổ bên kia sông Bassac.

Ở Trung Bộ, ta ghi nhận sự gia tăng của chiến tranh du kích gây nhiều khó khăn cho ta, buộc ta phải từ bỏ các cuộc hành quân tảo thanh.
_____________________________________
1. Các tin tức tình báo chính xác có được sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, xác nhận tất cả những gì chúng ta được biết khi trận đánh diễn ra. Việt Minh xem hội nghị Berlin có một “tầm quan trọng quyết định” đã thúc đẩy đồng minh của họ (Liên Xô và Trung Quốc) có các nỗ lực tối đa để giúp họ có những điều kiện tốt nhất khi đến dự hội nghị Genève. Sự giúp đỡ của Trung Quốc gia tăng vô cùng mạnh mẽ. Khi chiến dịch Điện Biên Phủ xảy ra thì các nhà lãnh đạo của Việt Minh, Trung Quốc và Liên Xô thường xuyên liên lạc với nhau.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #79 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 10:04:07 pm »


Trên các vùng cao nguyên và trong vùng hoạt động của cuộc hành quân “Atlante”, chiến cuộc lại nổ ra chung quanh Pleiku, An Khê. Đối phương tìm cách cô lập hai thị trấn này. Ta chiếm được Quy Nhơn, nhưng đối phương đã kháng cự mạnh. Ta không thể nào nối liền Quy Nhơn và An Khê, để giảm bớt một số lượng lớn các lực lượng cần thiết. Đối phương xâm nhập vào sau lưng chúng ta, uy hiếp vùng Tuy Hoà, Ban Mê Thuộc, thậm chí Đà Lạt. Họ tìm cách chiếm lại dân chúng bằng một cuộc đấu tranh chính trị quyết liệt mà nhà cầm quyền Việt Nam tỏ ra bất lực khi phải đối phó. Chúng ta đã bị bắt buộc phải phòng thủ trong điều kiện hết sức khó khăn, khi tất cả những phương tiện khác đều phải được huy động để bảo vệ vùng châu thổ.

Tại vùng Trung Lào, quân Việt Minh giao tranh dữ dội với ta trong vùng núi vôi Thakek. Sau các trận đánh khốc liệt, ta đẩy lui được họ. Họ đã không thành công trong việc bao vây lực lượng của ta, nhưng lại cầm chân được quân ta.

Trong vùng Nam Lào và Campưchia, lực lượng Việt Minh tiến rất xa về phía nam Seno, lần lượt uy hiếp Saravane và Paksé, sau đó chiếm Voeune Sai rồi tản ra trong rừng già Bắc Campuchia, tìm cách liên lạc với các nhóm địa phương ủng hộ Việt Minh, gia tăng sự phân hóa về mặt chính trị của nước này.

Ở vùng Bắc Lào, Việt Minh hỗ trợ cho các lực lượng của họ đang bao vây Điện Biên Phủ bằng cách chuyển một số đơn vị về phía Nga Na Son để chặn đánh các đơn vị của ta di chuyển từ Luang Prabang và Mường Sài tiến về phía bắc tìm cách bắt liên lạc với các lực lượng đang cố thủ tại lòng chảo này.

Cuối cùng trong vùng châu thổ, các trận đánh nổ ra một cách dữ dội. Phối hợp với cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ, lực lượng Việt Minh tiến hành một loạt các hoạt động quan trọng nhắm vào các đường liên lạc chủ yếu (đường sắt, đường bộ nối liền Hải Phòng và Hà Nội), vào vùng phía tây, nhất là phía nam và các căn cứ không quân Cát Bi, Gia Lâm.

Tại vùng nam và tây, địch quân đã bị đánh bại. Những thiệt hại gây ra do các cuộc đột kích của họ vào sân bay chúng ta là nhỏ1.

Họ đạt được nhiều thành công hơn trên trục đường Hải Phòng - Hà Nội (đường bộ và đường sắt). Họ đã cắt đứt được trục giao thông này trong vòng 4 ngày. Sở dĩ họ làm được như vậy, là do trục đường này đã không được bảo vệ một cách đầy đủ, do sự phối hợp không tốt của các đơn vị trú đóng trong vùng châu thổ. Ngay khi các lực lượng được bố trí phù hợp hơn với nhiệm vụ2, thì cuộc tiến công của đối phương bị đánh bại.
_____________________________________
1. Số lượng máy bay bị loại khỏi vòng chiến rất ít, những biện pháp cấp bách đã được thực hiện để đối phó.
2. Các nhiệm vụ của lực lượng bảo vệ vùng châu thổ được quy định trong chỉ thị ký ngày 7.10.1953. Nhiệm vụ chính là bảo vệ trục Hà Nội Hải Phòng. Nhưng Bộ Chỉ huy Bắc Bộ cho rằng, ngoài việc dùng để vận chuyển cho chúng ta, nó được Việt Minh sử dụng vận chuyển bí mật mọi thứ hàng hóa của họ, cho nên nó sẽ không bao giờ bị cắt đứt lâu dài. Từ nhận định đó mà Bộ Chỉ huy đã không có đầy đủ các biện pháp để bảo vệ trục đường này.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM