Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:38:46 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hitler Và Những Sứ Mạng Bí Mật Của Skorzeny  (Đọc 44649 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
alonely0209
Thành viên
*
Bài viết: 86


« Trả lời #60 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2010, 12:30:23 am »

Chương XVII

Đối phó khắp nơi
 

Tình hình quân sự càng trầm trọng, lãnh vực hoạt động của tôi càng được nới rộng. Sau nhiều cuộc thảo luận gay go với Bộ Tham mưu thuộc Bộ Tư Lệnh Tối cao, tôi đạt được kết quả mong ước là bành trướng các đơn vị đặc biệt của tôi. Tiểu đoàn duy nhứt mà tôi có trong tay cho đến nay, sẽ trở thành căn bản của một Lữ đoàn gồm sáu Tiểu đoàn, được thành lập phần đông nhờ 1.800 quân nhân tình nguyện thuộc Sư đoàn Brandebourg, đáp ứng lời kêu gọi của tôi. Mặt khác Fuhrer giao cho tôi chỉ huy luôn bộ phận thứ nhì của cơ quan tình báo quân đội (phá hoại và làm giảm tinh thần chiến đấu của địch).
Trong nhiều tuần lễ liền, chúng tôi phải làm việc tại Friedenthal như tù khổ sai: tổ chức lại, huấn luyện, chuẩn bị các chiến dịch mới. Bị bao vây tứ phía, Đức quốc càng ngày càng giống như một pháo đài vĩ đại: không những chúng tôi phải bảo vệ phòng tuyến, nhưng còn phải chặn đường tiến quân của địch bằng cách dự trù các cuộc phá hoại nội bộ địch. Vậy tôi phải tìm cách sử dụng các đơn vị đặc biệt của tôi để đóng góp vào nỗ lực khó khăn đó. Và cho đến hôm nay, khi nhìn lại quá khứ, có thể nói là chúng tôi đã tham dự các trận đánh thật đẹp.
Thật vậy, cuối mùa hè năm 1944, đội người nhái của chúng tôi cộng thêm với một phân đội thuộc lực lượng đặc biệt đã hoàn toàn thành công trong một công tác có thể làm cho họ hãnh diện. Các quân đoàn Anh-cát-lợi, dưới quyền chỉ huy của Thống chế Montgomery, vừa mới vượt qua Waal - một trong những nhánh sông chính thuộc lưu vực sông Rhin - và thiết lập chung quanh Nimègue một đầu cầu đe dọa cả phòng tuyến chúng tôi. Khốn thay, họ chiếm được cây cầu bắc ngang sông, nhờ đó các đoàn xe của họ dễ dàng chạy cho đến tuyến lửa. Vì lẽ người Anh đã cho bố trí chung quanh cây cầu một dàn D.C.A cực mạnh, các cuộc đánh phá bằng phi cơ chiến đấu oanh tạc của chúng tôi không có kết quả.
Được báo cho biết tình hình đó, tôi thảo luận với một số chuyên viên để sử dụng người nhái vào việc phá hủy cây cầu. Dầu cho là một sự phá hoại nhỏ cũng được coi như thành công, ít ra cũng giảm thiểu đáng kể áp lực địch trong vùng, tôi được biết rằng các chuyên viên hải quân đã sáng chế được một loại mìn thủy lôi để sử dụng trong trường hợp này. Loại khí giới này có hình dáng bằng một nửa quả thủy lôi có chỗ chứa không khí, có thể nổi trên mặt nước, nhờ đó rất dễ điều khiển. Theo kết quả của các lần thử đầu tiên, sức nổ cùng một lúc của hai trái mìn được đặt gần một cột cầu, đã làm di chuyển một khối nước vĩ đại mà không một thứ kiến trúc nào chịu đựng nổi.
Đầu cầu quân Anh dàn rộng cả về phía thượng lưu lẫn về phía hạ lưu sông Nimègue, mỗi bên chừng 7 cây số. Riêng vùng tả ngạn con sông thì đã hoàn toàn do địch chiếm đóng. Một đêm, đại úy Hellmer, người sẽ chỉ  huy chiến dịch, một mình bơi một vòng thám sát. Nhờ các chân vịt bằng cao su, anh ta bơi thật nhanh mà không gây tiếng động nhiều. Một tấm lưới dày được trùm lên đầu để che bớt các mảng da trắng trên mặt, nhưng không làm cản trở sự quan sát. Được trang bị như thế xong, Hellmer cẩn thận bơi về phía chiếc cầu, chọn lựa trụ cầu sẽ bị giật sập và nghiên cứu thật kỹ. Làm thế nào mà khi đến giờ ấn định, mỗi người phải biết các động tác thi hành. Bên trên, các chiến xa Churchill chạy không ngừng ra tiền tuyến. Tiếng động ầm ĩ của động cơ và xích sắt sẽ tạo một yếu tố quan trọng cho sự thi hành công tác, chúng tôi có thể hy vọng các tiếng động đáng nghi từ dưới sông sẽ bị át đi. Và lại lính gác sẽ không nghĩ đến chuyện canh chừng mặt sông. Làm sao mà sự nguy hiểm có thể đến từ phía ấy khi quân Anh chiếm đóng toàn thể khu vực mấy cây số trên thượng lưu cũng như hạ lưu con sông? Im lặng, Hellmer tự để cho dòng nước đưa đi, qua mặt các vị trí canh gác của địch hai bên bờ và trở lại phòng tuyến bạn.
Vài ngày sau, cơ quan khí tượng hứa với chúng tôi một đêm tối trời đặc biệt, có thể có mưa nữa. Thời tiết lý tưởng cho một hoạt động như thế này. Đưa các quả mìn thủy lôi xuống nước là cả một công việc nặng nhọc, nhất là khi súng cối của quân Anh rót vài quả khá chính xác. Vài người tham dự chiến dịch của chúng tôi đã bị thương. Sau cùng mọi chuyện đều xong - Các khối mìn to lớn trôi gần bờ sông. Mười hai quân tình nguyện đã sẵn sàng, ôm các thủy lôi bên hông - cứ ba người một bên - biến dần trong đêm tối, do dòng nước đưa đi. Đột nhiên bóng của chiếc cầu vĩ đại hiện ra trong bóng tối. Toán cảm tử đã nghe tiếng xe, tiếng xích sắt của thiết giáp đi từ bên này qua bên kia. Và rồi thì họ đến dưới bụng cầu. Thật nhanh, họ đưa 2 quả mìn đến một cột chân cầu đã được chọn lựa, đặt bên phải một quả, bên trái một quả và mở nắp ngăn chứa không khí, trong khi một chuyên viên phát động ngòi nổ chậm. Hiện tại, hai quả mìn vô hại cho đến giờ ấn định mới trở thành nguy hiểm. Từ từ những điếu xì gà khổng lồ chìm sâu xuống sóng nước dọc theo chân móng, trong khi đó các cảm tử dùng hết sức mình bơi ra xa. Năm phút sau một tiếng nổ kinh hồn xé toang bầu không khí. Các quả mìn tác động đúng mức, cột cầu gẫy sụm, kéo theo phần chính giữa của bụng cầu. Lập tức hai bên bờ sông trở nên náo nhiệt. Quân Anh bắt đầu bắn, thoạt tiên là bắn hú họa, dần dần với độ chính xác ghê rợn, bởi vì hiện tại, các tia sáng bình minh đầu tiên có thể giúp quân Anh nhìn thấy được đầu của quân cảm tử. Một loạt tiểu liên đã bắn trúng một người của chúng tôi. Các người khác bao quanh, che chở. Nhiều lần đạn đi ngay vào giữa đám người đang bơi, nhưng nhờ phép lạ, chỉ có hai người trúng đạn và lại rất nhẹ. Sau cùng tất cả nhóm đã trở về được phòng tuyến bạn cách chừng 10 cây số phía hạ lưu. Mệt nhoài nhưng những con người rắn rỏi đó cất bước trở về trại, mang theo ba đồng bạn bị thương.
Như vậy chiến dịch đã hoàn toàn thành công, nhưng từ đó, chắc chắn quân Anh sẽ canh gác kỹ và sự lập lại một vố táo bạo như thế nếu không phải là không thể làm được thì ít ra cũng rất khó khăn.
Logged
alonely0209
Thành viên
*
Bài viết: 86


« Trả lời #61 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2010, 12:30:46 am »

Vào đầu mùa thu 1944, tôi cùng với một trong các tiểu đoàn dưới quyền thực hiện một cuộc thực tập đặc biệt. Chúng tôi thỏa hiệp với viên Giám đốc một xưởng chế tạo vũ khí, nằm gần Friedenthal, rằng một ngày nào đó nhiều nhóm người sẽ xâm nhập vào và làm cho nhà máy tê liệt - Tóm lại đây là một trận giặc giả, bắt chước một cuộc tấn công của quân phá hoại địch.
Trước sự ngạc nhiên của mọi người, cuộc thực tập đã hoàn toàn thành công - tôi có thể nói là quá thành công. Vào khoảng 20 người xử dụng các thẻ căn cước giả lọt được vào các xưởng máy, và chỉ trong vòng 20 phút mà không bị ai chú ý, họ đặt được các khối chất nổ - lẽ dĩ nhiên là vật tượng trưng - vào những nơi quan trọng nhất, nhưng tầm thường nhất của cơ xưởng. Lẽ tất nhiên, cũng giống như tại các cơ xưởng làm việc cho hệ thống quốc phòng, một "phân đội bảo vệ" đã có mặt tại cơ xưởng từ lâu - tôi có cảm giác là phân đội này chẳng bảo vệ được gì cả. Ngày hôm sau, ban giám đốc làm một phúc trình thật dài gởi lên Bộ, và tôi nghĩ rằng các bộ phận bảo vệ cơ xưởng sản xuất vũ khí sẽ phải nhận các chỉ thị mới, nghiêm khắc hơn. Về phần tôi, kết quả của cuộc thực tập này đã cho tôi thấy một điều chắc chắn: đối thủ trực tiếp của chúng tôi, nghĩa là cơ sở tình báo Anh, đặc biệt là các cơ sở có nhiệm vụ phá hoại tại Đức, không phải là mạnh hơn chúng tôi, nếu không các cuộc phá hoại xưởng máy của chúng tôi sẽ xảy ra luôn luôn. Các phân đội bào vệ không phải là các đơn vị có thể đập tan âm mưu phá hoại do một nhóm nhỏ những người cương quyết chủ trương.
*
Cũng trong thời kỳ đó, mặt trận miền Đông yêu cầu các đơn vị đặc biệt của tôi can thiệp. Cuối tháng tám, một điện văn khẩn cho gọi tôi về trình diện Tổng hành dinh của Fuhrer. Ngay khi vừa đến, Đại tướng Jodl giới thiệu tôi với hai sĩ quan Tham mưu của ông để hai ông này cho tôi biết lý do của lệnh triệu dụng.
Một thời gian ngắn, sau khi một đoạn trung tâm của phòng tuyến phía Đông sụp đổ vào tháng 6 năm 1944, một cảm tử quân thám sát - nghĩa là một trong các bộ phận mà sở phản gián biệt phái cho mỗi đơn vị - đã được một người Nga, vốn làm việc với chúng tôi ngay từ khi chiến tranh bắt đầu, sau lưng hậu tuyến địch, gởi cho một điện văn có nội dung như sau:
"Trong một khu rừng rộng lớn phía Bắc Minsk, có nhiều đơn vị của Đức ẩn nấp và cho đến nay họ chưa đầu hàng"
Nhiều quân nhân, sau khi đi lạc hàng tuần trong khu vực bị quân Nga chiếm đóng, lần mò trở về được phòng tuyến bạn, cũng đã xác nhận có nghe nói đến các đơn vị bị bao vây này. Sau khi gủi bức điện văn trên, điệp viên của chúng tôi đã vượt phòng tuyến tìm người lính cảm tử thám sát của chúng tôi để báo cáo bổ túc. Cứ như lời anh ta tuyên bố thì hiện có vào khoảng 2.000 người dưới quyền chỉ huy của một trung tá tên Scherhorn, đang ở trong một khu vực mà anh ta chỉ có thể chỉ ranh giới một cách mơ hồ. Ngay lập tức, người tiền sát viên cảm tử của chúng tôi cố gắng dùng máy liên lạc vô tuyến để liên lạc với toán quân thất lạc này, nhưng cho đến nay, mọi cố gắng đều vô hiệu. Vậy mà Bộ tư lệnh tối cao quyết định tính chuyện mò trăng đáy nước, bằng cách tìm và đưa toán quân của trung tá Scherhorn về phòng tuyến bạn. Lẽ tự nhiên, người ta đã nghĩ đến các đơn vị đặc biệt của tôi.
- Ông có sẵn sàng nhận lãnh nhiệm vụ không? - Hai sĩ quan tham mưu hỏi tôi.
Tôi trả lời thuận. Tôi biết các sĩ quan và quân nhân giỏi, thích hợp cho một sứ mạng tương tự - nghĩa là phần đông gồm người Baltes - sẽ rất sung sướng vì có cơ hội đi cứu đồng bạn hiện đang bị thất lạc giữa vùng Cộng sản chiếm đóng. Ngay đêm đó, tôi lại lên máy bay và ngay khi về đến Friedenthal, chúng tôi bắt tay ngay vào việc. Vài ngày sau, một kế hoạch hoàn thành lấy tên kế hoạch Braconnier. Rôi chúng tôi lo cho hằng hà sa số các chi tiết mà kế hoạch đã đặt ra. Kế hoạch dự trù thành lập bốn toán, mỗi toán có hai lính Đức và ba Nga sô. Họ được vũ trang bằng súng lục Nga, mang theo lương thực cho bốn tuần, mỗi toán có một lều và đặc biệt, được trang bị một máy truyền tin xách tay. Điều rõ rệt hơn cả là người của chúng tôi phải giả trang thành lính Nga. Như vậy chúng tôi phải cung cấp cả giấy tờ, bằng lái xe v.v.. cần thiết. Ngay từ bây giờ, họ đã phải làm quen với thuốc lá Nga, và mỗi người phải có trong xách vài mẩu bánh mì đen phơi khô và loại đồ hộp của quân đội Nga, vừa đủ để khi cần chứng minh. Mọi người đều bị hớt tóc gần như trọc, theo kiểu quân đội Nga, và trong những ngày cuối trước khi khởi hành, họ sẽ phải từ bỏ việc tắm rửa, ngay cả việc cạo râu nữa.
Hai trong số các toán sẽ nhẩy dù xuống một nơi nào đó phía Đông Minsk, gần giữa thành phố Borisow và Cervenj và sẽ đi về phía Tây để khám phá khu rừng mênh mông thuộc khu vực này. Trong trường hợp thất bại, không tìm được toán quân của Scherhorn, họ phải tìm cách trở lại phòng tuyến. Toán số 3 và số 4 sẽ được thả xuống giữa Dzesinsk và Witeja, họ sẽ đi về phía Minsk, tìm tòi trong khu vực bán nguyệt mà tâm điểm chính là thành phố Minsk. Họ cũng vậy, trong trường hợp các cuộc tìm kiếm không có kết quả, phải tìm cách trở về phòng tuyến của Đức.
Chúng tôi hoàn toàn có ý thức rằng kế hoạch này chỉ có thể được dùng làm nền tảng lý thuyết. Trong thực tế chúng tôi bắt buộc phải để cho mỗi toán tự do hành động tới một mức độ nào đó, vì lẽ chúng tôi không chỉ dẫn cho họ được điều gì chính xác cả, họ bị bắt buộc phải tin tưởng vào linh tính và hành động tùy theo tình hình. Chúng tôi hy vọng là nhờ máy truyền tin, chúng tôi có thể chuyển chỉ thị cho họ khi cần. Hiện tại, chúng tôi có ý định, ngay khi một toán của chúng tôi tìm được đoàn quân của Scherhorn, làm ngay một phi đạo có thể giúp cho phi cơ vận tải lên xuống mang dần dần các binh sĩ trở về.
Vào cuối tháng 8, toán thứ nhất do thượng sĩ P. chỉ huy, lên đường bằng một chiếc Henkel 111, của phi đoàn thứ 200. Chúng tôi bồn chồn nóng nẩy chờ đợi phi cơ trở về, bởi vì vào thời kỳ đó, phi cơ phải bay sâu hơn 500 cây số vào vùng bị địch chiếm đóng trước khi đến địa điểm nhẩy dù (lúc đó chiến tuyến chạy dọc theo con sông Vistule). Vì một chuyến bay như vậy chỉ có thể thực hiện vào lúc ban đêm, không có một phi cơ săn giặc nào theo hộ tống chiếc máy bay vận tải khổng lồ, chậm chạp đó, may thay trước lúc rạng đông, chúng tôi đã thấy phi cơ quay về. Ngay đêm đó, người lính tiền sát cảm tử của chúng tôi đã liên lạc vô tuyến được với bộ phận của thượng sĩ P.
- Đáp rất tồi tệ, - họ báo cáo. - Chúng tôi đang thử tập hợp lại. Chúng tôi ở ngay dưới hỏa lực của nhiều súng liên thanh....
Bức điện văn ngừng ngay lại ở đó, có lẽ họ phải chạy trốn, bỏ lại chiếc máy truyền tin. Đêm này qua đêm khác, hiệu thính viên của chúng tôi rình nghe từng ám hiệu nhỏ nhoi trông nón nghe. Không có gì cả - không còn tin tức gì của phân đội do P. chỉ huy cả. Một sự khởi đầu không mấy tốt đẹp!
Đầu tháng 9, phân đội thứ hai, do thượng sĩ S. chỉ huy, cất cánh, bắt đầu chuyến phiêu lưu vĩ đại. Lúc trở về, viên phi công tuyên bố là họ đã nhảy đúng địa điểm và tất cả đều xuống đất an toàn. Tuy nhiên bốn ngày bốn đêm liền trôi qua mà chúng tôi không nhận được một điện văn nào. Chúng tôi đã nghĩ đến tình trạng bi đát nhất. Sự im lặng này chỉ có thể được giải thích bởi một tai nạn thê thảm. Sau cùng, vào đêm thứ 5, chiếc máy của chúng tôi trong khi không ngừng phát đi tín hiệu định trước, đã bắt được tín hiệu trả lời. Thoạt tiên là mật khẩu, sau đó là mật hiệu chứng tỏ người của chúng tôi nói một cách tự do (một sự cẩn thận cần biết: nếu không có mật hiệu này, người đối thoại đang bị đối phương bắt nói dưới họng súng). Và rồi tin tức trọng đại đã đến. Đoàn quân của Scherhorn có thật, thượng sĩ S. đã thành công trong nhiệm vụ tìm kiếm nó! Đêm sau, chính trung tá Scherhorn diễn đạt lòng tri ân của ông đối với chúng tôi bằng vài chữ đơn giản nhưng đầy cảm động. Những nỗ lực, các âu lo của chúng tôi đã được tưởng thưởng đẹp đẽ làm sao!
Logged
alonely0209
Thành viên
*
Bài viết: 86


« Trả lời #62 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2010, 12:31:13 am »

Hai mươi bốn tiếng đồng hồ sau đó, phân đội thứ 3 lên đường do hạ sĩ quan M. chỉ huy. Không bao giờ chúng tôi còn có thể biết số phận của 5 người này nữa. Đêm lại đêm, chúng tôi điều chỉnh tần số theo máy của họ, gọi danh hiệu của phân đội... rồi hàng tuần trôi qua, rồi hàng tháng trôi qua ..... vô ích, chúng tôi không nhận được câu trả lời nào hết. Phân đội M. đã biến mất trong nước Nga mênh mông.
Vẫn cách 24 giờ sau, chúng tôi đưa phân đội thứ 4 lên dường, do thượng sĩ R. chỉ huy. Trong bốn ngày đầu, R. gọi chúng tôi rất đều. Sau khi xuống đất, họ đi về phía Minsk. Họ không thể giữ mãi một hướng đi bởi vì họ phải tránh các đội quân cảnh Nga tuần tiễu. Thỉnh thoảng họ gặp các tên đào ngũ và bị coi là những người bạn đồng hành bất hạnh. Nói chung, thái độ của dân chúng trong phần đất Bạch Nga này có vẻ thân thiện. Đột nhiên, đến ngày thứ 5, liên lạc với phân đội R. bị gián đoạn. Chúng tôi chưa có thì giờ kịp chỉ dẫn địa điểm chính xác của đoàn quân do Scherhorn chỉ huy. Sự chờ đợi âu lo lại bắt đầu - rồi kéo dài, không chịu đựng nổi. Mỗi buổi sáng Foelkersam buồn bã báo cáo với tôi "không có tin tức gì về ba phân đội R., M. và P.". Cuối cùng, chừng ba tuần lễ sau, một đơn vị đồn trú đâu đó trong vùng biên giới Lithuanie gửi cho chúng tôi qua điện thoại, một điện văn như sau: "Phân đội R. đã tìm đến tuyến phòng thủ của chúng tôi không thiếu một ai".
Lẽ dĩ nhiên, báo cáo của thượng sĩ R. làm cho mọi cơ sở tình báo của chúng tôi lưu tâm cao độ. Thật vậy, hiếm khi có trường hợp các quân nhân Đức gặp cơ hội đi ngang qua một vùng nằm sau phòng tuyến của Nga. R. rất đỗi kinh ngạc khi thấy giới lãnh đạo Nga sô áp dụng nguyên tắc chiến tranh toàn diện, bằng các phương thức tàn bạo như thế  nào. Mọi lực lượng, sức mạnh đều được động viên, khi cần, gọi cả đàn bà và con nít nữa. Nếu thiếu phương tiện chuyên chở, thì chính dân chúng phải lăn các thùng xăng ra tiền tuyến qua hàng trăm cây số, rồi đứng thành hàng chuyền tay nhau các quả đạn súng cối cho đến các vị trí đặt súng. Rõ ràng không còn chối cãi gì được nữa, chúng tôi còn phải học hỏi người Nga nhiều điều.
Ngụy trang thành một Trung úy Hồng quân, Thượng sĩ R. đã táo bạo đến mức dám đi vào một câu lạc bộ sĩ quan để được mời ăn tối. Nhờ giỏi tiếng Nga, quan khách không ai nghi ngờ lý lịch của anh ta cả. Vài ngày sau anh ta trở lại phòng tuyến bạn mang theo toàn thể phân đội.
Hiện tại vấn đề đặt ra là thỏa mãn các nhu cầu cấp bách của đoàn quân Scherhorn, đơn vị đang bị thiếu hụt đủ thứ sau ba tháng trời bị cô lập. Trước hết Scherhorn yêu cầu gởi cho một bác sĩ, thuốc men, dụng cụ vệ sinh y tế. Viên bác sĩ đầu tiên nhảy dù xuống một cánh đồng tăm tối bị gãy luôn hai chân và vài hôm sau thì chết. Người y sĩ thay thế gặp nhiều may mắn hơn, ông nhảy xuống an toàn. Sau đó, chúng tôi gởi tiếp liệu gồm lương thực và đạn dược cho vũ khí nhẹ. Vì bị thiếu thốn từ lâu, tình trạng sức khỏe của binh sĩ tồi tệ đến nỗi, tạm thời, chưa thể ra lệnh cho Scherhorn lên đường được.
Cứ cách hai hay ba đêm, phi đoàn 200 lại phái nhiều máy bay mang tiếp liệu đến cho đoàn quân bị vây hãm. Khốn thay, việc thả dù không được chính xác lắm, thường các kiện hàng quý báu rơi vào nơi không đến được, hoặc lạc mất tiêu trong rừng già, và mỗi lần như vậy phải thả dù kiện hàng khác thay thế. Trong khi chờ đợi, tôi lập một kế hoạch cứu đoàn quân, cùng với các chuyên gia của phi đoàn. Chúng tôi dự trù làm một phi đạo gần nơi Scherhorn ẩn núp. Sau đó, lợi dụng các đêm tối trời vào tháng mười để dùng phi cơ đưa các người bị bệnh, bị thương di tản trước, rồi mới đến các người khỏe mạnh.
Do đó chúng tôi gởi cho Scherhorn một chuyên viên để giúp ông ta xây dựng nhanh chóng một phi đạo tạm thời. Tuy nhiên công việc vừa mới khởi sự thì quân Nga đã biết, và rồi các cuộc tấn công không ngừng của địch đã làm cho việc thiết lập phi đạo không còn có thể thực hiện được nữa. Vậy chúng tôi phải tìm cách khác. Sau khi bàn với Scherhorn qua máy truyền tin, chúng tôi quyết định rằng đoàn quân của ông ta phải rời chỗ ẩn náu, đi về phía Bắc để đến một vùng rải rác có nhiều hồ cách đấy chừng 250 cây số, gần biên giới cũ giữa Nga sô và Lithuanie thuộc khu vực Dunaburg. Các hồ nói trên sẽ đông cứng vào đầu tháng 12. Ngay khi lớp băng vừa đủ dầy, chúng tôi sẽ sử dụng như các phi đạo để phi cơ lên xuống.
Để giúp làm dễ dàng cho sự di chuyển cả một đoàn quân quan trọng như thế qua một vùng do địch chiếm đóng, Scherhorn chia thành hai toán, đi bộ theo hai hàng dọc. Hàng thứ nhất đi thẳng lên hướng Bắc do một đơn vị tiền sát hướng dẫn được Thượng Sĩ S. của chúng tôi chỉ huy. Hàng thứ hai, do chính Scherhorn chỉ huy, sẽ theo một con đường song song nhưng giữ hướng nam nhiều hơn. Hiện tại, phải đưa đến cho họ áo quần ấm và hàng trăm danh sách dụng cụ cần thiết. Nhân cho 2000, nhu cầu trở thành một số khổng lồ cần thả dù nhiều lần. Chúng tôi cũng gởi cho họ chín máy truyền tin mới và binh sĩ gốc Nga, để đề phòng trường hợp bị lạc đường, họ có thể giữ liên lạc với nhau và với chúng tôi.
Ngày 15 tháng 11 năm 1944, tất cả đều sẵn sàng và hai hàng người bắt đầu khởi hành, đi bộ, vì một vài chiếc xe đẩy kiểu Nga hiếm hoi phải được dùng để chở thương bệnh binh. Họ tiến tới quá chậm, khác xa với điều chúng tôi dự trù. Mỗi ngày trung bình đi được từ  8 đến 12 cây số. Nhiều lần Scherhorn phải cho xen kẽ vài ngày nghỉ ngơi, như thế mỗi tuần trung bình chỉ đi tới được chừng 40 cây số. Mặt khác, các điện văn phúc trình tới tấp các cuộc đụng độ đẫm máu với các đội tuần tiễu của quân cảnh Nga, số thương vong càng ngày càng tăng. Dần dần, tất cả những người biết về nước Nga, trong số chúng tôi đều ngã lòng. Cơ may trở lại quê nhà của nhóm Scherhorn trở nên quá mong manh.
Nếu đường bay của các phi vụ tiếp tế có ngắn hơn thật, thì việc xác định địa điểm thả dù trở nên khó khăn hơn. Qua máy truyền tin, chúng tôi thỏa thuận một địa điểm trên bản đồ và đến ngày giờ định trước, sẽ được đánh dấu. Mặc dù cẩn thận đến như vậy, nhưng càng ngày số kiện hàng rơi vào tay quân cảnh Nga càng nhiều không đếm xuể. Nhưng đó không phải là mối lo âu lớn nhất của chúng tôi. Từ tuần này đến tuần khác, số lượng xăng cấp cho phi đoàn 200 giảm dần trong khi nhu cầu vẫn giữ nguyên. Thỉnh thoảng chúng tôi gỡ gạc được của cơ quan cấp xăng một cấp khoản đặc biệt bốn hoặc năm tấn và nhấn mạnh đến tính cách khẩn cấp của đồ cứu trợ cần phải gởi đi, nhưng mỗi lần có yêu cầu mới, các khó khăn gặp phải càng gia tăng. Mặc dù Scherhorn kêu gọi thảm thiết, chúng tôi phải bắt buộc giảm số phi vụ tiếp tế vốn đã rất hạn chế rồi. Tôi tin rằng Scherhorn và binh sĩ của ông ta đang chiến đấu trong những điều kiện hãi hùng, chắc không thông cảm được các khó khăn của chúng tôi. Do đó tôi thử giữ vững tinh thần của họ, niềm tin của họ đối với ý chí của chúng tôi, ý chí giúp đỡ trong phạm vi phương tiện cơ hữu, bằng cách hàng ngày gởi cho họ các điện văn trong đó tôi cố tỏ vẻ lạc quan.
Đến tháng 2 năm 1945. Tôi chỉ huy một Sư đoàn ở mặt trận Miền Đông. Vừa đẩy lui các mặt tấn công điên cuồng của địch, tôi vừa cố gắng theo đuổi các “sứ mạng đặc  biệt” của chúng tôi.
Những điện văn do Scherhorn gởi về đều đều cho chúng tôi biết tình thế ngày càng tuyệt vọng. “Xin gởi thêm tiếp liệu… xin giúp đỡ chúng tôi… Đừng bỏ quên chúng tôi…” Chỉ có một tin vui duy nhất: Scherhorn vừa gặp được phân đội P., phân đội đầu tiên trong số bốn phân đội được gửi đi và bị coi như mất tính từ tháng 8. Nhưng ngoài sự kiện đó ra, đọc các điện văn ghi các cuộc đối thoại  ban đêm, làm cho tôi đau đớn như bị tra tấn. Hiện tại, chúng tôi chỉ có thể gởi mỗi tuần một chuyến phi cơ mà thôi. Một chuyến bay khứ hồi dài 800 cây số. Khối lượng tiếp liệu có thể gởi đi cũng giảm dần. Ngày đêm, tôi moi óc nghĩ cách giúp đỡ những người không muốn ngưng chiến đấu đó. Nhưng làm sao đây?
Vào cuối tháng 2, cấp khoản xăng không còn nữa. Tôi không ngăn được cơn giận khi nghĩ đến khối lượng nhiên liệu khổng lồ mà địch quân xài phung phí trong khi tiến quân. Tại mỗi phi trường của khu vực Warthegau[1] mà quân Nga vừa mới chiếm, hàng trăm tấn xăng được dự trữ cho phi cơ.
Logged
alonely0209
Thành viên
*
Bài viết: 86


« Trả lời #63 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2010, 12:31:30 am »

Ngày 27 tháng 2, chuẩn úy S. gởi cho tôi điện văn sau:
- Đã đến, với bộ phận tiền sát, khu vực có nhiều hồ. Sẽ bị chết đói nếu không nhận được lương thực gấp. Các ông có thể đến kiếm chúng tôi không?
Rồi, vì làn sóng phát yếu dần đi, các lời kêu cứu càng cấp bách. Và chúng tôi bất lực. Sau cùng: S. năn nỉ cấp cho anh một chút xăng để có thể “sạc” lại  bình điện cho máy truyền tin.
- Tôi chỉ còn xin có một điều… có thể giữ liên lạc với các anh… có thể được nghe các anh…
Sự suy sụp và nhiều khi là sự hỗn độn trong các công sở lại tỏ ra mạnh hơn chúng tôi. Hiện tại đừng nghĩ đến việc tiếp tế cho những người khốn khổ đó nữa và nhất là việc tìm kiếm đưa họ trở về.
Tuy nhiên, các hiệu thính viên của tôi hàng đêm vẫn ngồi trước máy, ống nghe úp chặt vào tai, cứ như thế, mặc dù quân đội rút lui dần và nhiều khi rút lui hấp tấp. Đôi khi, họ lập được liên lạc với các đoàn quân của Scherhorn. Thỉnh thoảng chúng tôi còn nhận được lời kêu cứu tuyệt vọng – thế rồi từ  ngày 8 tháng 5, không còn gì nữa, im lặng hoàn toàn. Scherhorn không trả lời nữa, chiến dịch Braconnier thất bại.
*
Vào cuối tháng tám, mặt trận Miền Đông lại sắp ghi nhận một tai họa khác. Liên quân Đức tại miền Nam – tại Bessarabie và Lỗ - ma - ni – hình như bị đợt tiến quân dũng mãnh như thủy triều của Nga sô nhận chìm. Theo các tin tức còn mơ hồ qua các thông cáo, chúng tôi lo âu theo dõi trên bản đồ, đà tiến quân liên tục của các Sư đoàn Nga sô qua lãnh thổ Lỗ - ma - ni. Trong sự tan rã đó, các thuộc địa lâu đời của Đức sẽ ra sao?
Vào đầu tháng 9, tôi được Tổng Hành Dinh của Fuhrer ra lệnh như sau:
- Thành lập ngay hai tiểu đội hoạt động vô giới hạn. Phi cơ cần để chuyên chở đã sẵn sàng. Nhiệm vụ của cảm tử quân là: nếu có thể, chắn ngang đèo Carpathes phía Nam, đẩy mạnh các điểm thám sát vào sâu trong vùng bị địch chiếm. Cản trở lưu thông của quân Nga, giúp đỡ tổ chức và đẩy mạnh công tác cứu thoát dân chúng gốc Đức.
Một lần nữa, chúng tôi lại được giao cho một nhiệm vụ, sau một quyết định vội vàng, vào phút chót, trong khi thông thường, sự thành công của hoạt động cảm tử lệ thuộc cốt yếu vào công tác chuẩn bị kỹ lưỡng và lâu dài. Mặc kệ - chúng tôi sẽ cố hết sức. Tôi nhận thấy Thiếu úy G. là sĩ quan thích hợp nhất để chỉ huy phân đội gồm có vài bộ phận xung kích, nhiều hạ sĩ quan công binh, và chừng mười quân nhân rành tiếng Lỗ-ma-ni. Chúng tôi vội vã kiếm dụng cụ cần thiết như điên, và rồi đơn bị lên đường đến nơi vô định. Danh từ này đúng nhất, phải dùng, vì lẽ tình hình quân sự biến chuyển hàng ngày. May thay, chúng tôi có ý tưởng là phái một chiếc phi cơ thám sát đến vùng do Tổng Hành Dinh chỉ định, nhờ đó đến phút chót chúng tôi biết rằng phi trường Temezvar, nơi mà toán quân tôi sẽ đổ bộ, đã bị quân địch chiếm mất. Các phi cơ vận tải phải đáp ở một bãi đất phụ do quân đoàn Phleps xây dựng.
Ngay khi vừa đặt chân xuống đất, phân đội chia ra làm bốn toán chiến đấu và tiến đến đèo Carpathes thành công. Lúc đó, không thể nói đến phòng tuyến của Đức trong vùng này nữa: quân sĩ của chúng tôi đang chạy dài, phần chủ động ở nơi quân Nga với các đợt tiến quân vũ bão. Nhưng trong nhiều ngày, quân đội chúng tôi cũng làm chậm đà tiến của địch nhờ vài ngọn đèo của núi Carpathes, và giúp được nhiều nhóm dân chúng Đức – gồm đàn ông, đàn bà tuyệt vọng chạy trốn không ngừng. Chẳng mấy chốc, quân cảm tử của chúng tôi cũng phải vừa đánh vừa lui. Thiếu úy G. và binh sĩ trong toán đã ngụy trang thành lính Lỗ-ma-ni, và cùng với quân Nga vào Kronstadt. Họ còn lấy hoa cài cả lên nòng súng gọi là “để mừng cuộc tiến quân thằng lợi của Hồng quân”. Tuy nhiên, cơ may đã đến với họ nay bỏ rơi họ, khi cố len lỏi cho đến phòng tuyến chót của quân Nga, họ bị phát giác. Quân Nga, sau khi dùng báng súng đánh ngất, lột hết quần áo và không cần xét xử gì cả, đem họ lên đỉnh đồi bắn bỏ. Đến phút chót, Thiếu úy G. nhẩy dựng lên và chạy trốn. Sau khi chạy hết sức qua nhiều cây số, chân mặt anh ta bị một viên đạn, khiến anh ta phải ẩn náu trong một đầm lầy. Đêm sau, anh trở về được phòng tuyến bạn mới được tái lập. Nhờ các điều anh quan sát được về sự chuyển quân của địch, quân Đức thành công vài ngày sau, trong việc cứu cả một Sư đoàn đang chiến đấu trong vùng Gyergyoti, khỏi bị vây hãm.
Về phần ba phân đội kia, họ đã trở về sau khi bị tổn thất nhẹ, và cung cấp các tin tức quí báu liên quan đến quân số và ý đồ của quân Nga.
*
Chính các loại công tác kể trên đã làm tôi thích thú nhất. Thường thường, một nhóm người không quá đông, nhưng gồm toàn người cương quyết, có thể đạt được các kết quả không ngờ. Khốn nỗi, sự thành công của các đơn vị cảm tử chỉ như là một tia sáng mặt trời yếu ớt trong một bức tranh tối tăm ảm đạm. Một chi tiết do viên Hạ sĩ quan thuộc toán của Thiếu úy G. phúc trình đã cho tôi thấy một tia sáng buồn thảm trong một tình hình vốn đã khẩn trương rồi: Tại Lỗ-ma-ni, bên kia dãy Carpathes, phân đội của anh gặp một đơn vị phòng không đông đến 2.000 người. Họ được trang bị đầy đủ và còn giữ nguyên vũ khí – loại tối tân – bắn nhanh – nhưng họ dừng lại trong một thung lũng nhỏ bên cạnh một con đường lớn và không biết làm gì, họ chờ đợi – nói tóm tắt, họ đầu hàng trước cả khi quân Nga đến nữa. Trong số 2.000 người chỉ có 300 là chịu theo phân đội của G. tìm về phòng tuyến. Những người khác ưa ở lại đó hơn – ngu ngốc, thụ động, tiêu cực, đến nỗi không có ý chí vạch một con đường đến khu vực còn ở trong tay quân bạn. Họ phải đầu hàng ngay với đội quân tiền sát của Nga – 1.700 người có trong tay một hỏa lực ghê gớm, nhưng lại không còn tinh thần chiến đấu nữa. Và câu chuyện thương tâm này xảy ra hàng chục hàng trăm lần tại mặt trận miền Đông. Liệu đã có thể kết luận rằng tinh thần quân Đức bị suy sụp, rằng quân Đức không còn tin vào chiến thắng cuối cùng, hay chưa? Hay đây chỉ là sự thể hiện “bệnh tinh thần phát cuồng của quân Nga” mà đôi khi người ta quan sát thấy trong các khu vực thuộc phòng tuyến miền Đông – nghĩa là một hiện tượng đặc biệt, do sự mệt nhọc quá sức, do tinh thần bị căng thẳng quá sức, gây ra? Lúc đó, tôi còn nồng nhiệt hy vọng rằng chỉ có vậy thôi.
 
Logged
alonely0209
Thành viên
*
Bài viết: 86


« Trả lời #64 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2010, 12:32:31 am »

Chương XVIII

Hoàng hôn ảm đạm
 

Ngày 10 tháng 9 năm 1944, trong khi tôi đang bận rộn tại Friedenthal, lo tổ chức lại các tiểu đoàn sao cho thuần nhất để có thể đảm trách bất cứ loại hoạt động nào, thì Tổng Hành Dinh của Fuhrer cho gọi tôi. Hiện tại “Hang sói” không còn cách xa phòng tuyến đầu bao nhiêu, mặt trận chỉ còn cách 10 cây số về phía Đông. Do đó cần phải thay đổi sắp xếp lại khu vực đặt Đại bản doanh. Người ta vừa hoàn thành một hầm ẩn núp chính – gọi là “Fuhrerbunker” – đó là một khối bê tông vĩ đại có vòm đậy dầy 7 thước. Vì không có một cửa sổ nào, người ta thiết trí một hệ thống thông hơi phức tạp, hoạt động rất kém khiến cho việc ở dưới hầm một ngày trở nên khó nhọc, vì lẽ bê tông chưa được khô hẳn, tỏa ra một mùi thật nhức đầu.
Ngược lại, dãy phòng trung ương được ưa thích hơn vì có nhiều ngỏ rộng, nhiều phòng sáng sủa, trật tự. Đó chính là nơi hằng ngày từ 14 đến 22 giờ, các cuộc hội nghị quân sự được tổ chức, được gọi vắn tắt là “tình hình” trong đó các quyết định chủ yếu được thành hình. Ngay khi mới đến vào lúc 10 sáng, Đại Tướng Jodl cho biết là trong nhiều ngày liên tiếp tôi sẽ dự các cuộc thảo luận liên quan đến khu vực phía Nam của mặt trận Miền Đông. Bộ Tổng Tư Lệnh Tối Cao hình như muốn giao cho tôi một sứ mạng cực kỳ quan trọng trong khu vực này.
Mặc dù chỉ dự vào một phần hội nghị liên quan đến một phần mặt trận mà thôi, tôi cũng ý thức được mau lẹ mối âu lo của các giới chức quân sự cao cấp. Bộ “Tổng Tư Lệnh Tối Cao” trong thực tế chỉ lãnh đạo có mỗi Mặt trận Miền Đông, riêng các mặt trận khác, kể cả mặt trận Balkans thì do “Bộ Tham mưu hành quân của Lục quân” trực tiếp chỉ huy. Hơn nữa, hải và không quân cũng phải gởi sĩ quan tham mưu đến phúc trình hàng ngày. Bên trên các cơ cấu phức tạp đó, một mình Adolf Hitler biểu tượng cho cơ quan điều hợp, nhất là từ khi ông nắm quyền lãnh đạo tối cao tất cả quân lực.
Một gánh nặng đè bẹp, có lẽ là quá sức chịu đựng của con người ngay cả đối với một siêu nhân.
Được đưa vào dãy nhà chính ở Trung tâm, tôi vừa mới trình diện với các tướng lãnh và sĩ quan tham mưu, thì một mệnh lệnh ngắn làm chúng tôi cứng người đứng nghiêm tại chỗ, Fuhrer đi vào có Thống chế Keitel và Đại Tướng Jodl tháp tùng.
Thật là hãi hùng, nếu tôi không nói là kinh sợ, tôi nhìn thấy người này, thật khác xa với hình ảnh một người đã khắc sâu trong trí nhớ của tôi. Càng dễ sợ hơn nữa khi nhớ lại lần gặp gỡ sau cùng mới xảy ra mùa thu năm rồi – chưa được một năm. Tôi thấy tiến về phía trước một người mệt mỏi vô biên, lưng còng, già khú, ngay cả giọng nói trầm ấm rung động ngày xưa nay cũng tỏ vẻ mệt mỏi. Liệu ông có hiểm độc như vẻ mặt biểu lộ? Bàn tay trái run dữ dội đến nỗi ông phải lấy tay phải nắm chặt. Phải chăng đấy là hậu quả của vụ mưu sát ngày 20 tháng 7? Hay là Fuhrer đã bị suy sụp dưới gánh nặng trách nhiệm kinh hồn mà ông chịu đựng trong nhiều năm qua? Tôi không thể ngăn mình tự hỏi ông già này làm cách nào tìm được năng lực cần thiết để hoàn thành trách nhiệm.
Adolf Hitler bắt tay vài sĩ quan đứng gần cửa, nói với tôi vài lời dịu dàng và yêu cầu được nghe báo cáo. Hai tốc ký viên đã ngồi vào đầu của chiếc bàn lớn đặt giữa phòng. Tất cả sĩ quan đều đứng, về phần Fuhrer, một chiếc ghế đẩu được đặt sau bàn, nhưng thỉnh thoảng ông mới ngồi vài phút. Trước mặt (là?) vô số bút chì màu và kiếng đeo mắt của ông.
Đại tướng Jodl trình bày tình hình. Chúng tôi theo dõi dễ dàng các điểm giải thích trên một bản đồ mênh mông phủ kín mặt bàn. Các con số sư đoàn, quân đoàn, trung đoàn thiết kỵ, được liệt kê không ngơi. Chỗ này quân Nga tấn công nhưng đã bị đẩy lui. Chỗ kia họ đã chọc thủng được phòng tuyến và tạo một túi thật sâu, mà hiện nay ta đang cố phản công. Tôi thật ngẩn ngơ khi thấy Fuhrer thuộc lòng nhiều chi tiết quá – Số chiến xa có sẵn tại chỗ này hay chỗ nọ, số lượng xăng dự trữ, tầm quan trọng của lực lượng tăng cường v.v… Ông kể các con số mới, ra lệnh điều quân, căn cứ vào tấm bản đồ, cứ thế không ngừng. Tình hình rất trầm trọng. Hiện tại, ngoại trừ vài chỗ lồi lõm, mặt trận gần như chạy dài theo biên giới Hung-Gia-Lợi và Lỗ-Ma-Ni. Được kinh nghiệm báo trước, tôi tự đặt vài câu hỏi âu lo: liệu những sư đoàn vừa được nhắc nhở còn có thể chiến đấu được không? Hỏa lực, bãi đậu xe của họ ra sao? Có bao nhiêu chiến xa, súng ống đã bị phá hủy hay thất lạc từ khi gởi xong bản báo cáo mà hiện nay đang được đem ra làm căn bản thảo luận?
-         Hôm nay không có quyết định nào thật quan trọng, - vài sĩ quan tham mưu thì thầm bên tai tôi.
Những lời nói đó nhắc nhở với tôi rằng tại đây, trên tột đỉnh của quân đội, người ta chỉ tính bằng đơn vị quân đoàn hoặc liên quân.
Khi đến phiên đại diện không quân thuyết trình, tôi nhận thấy có một cái gì sai lạc, thiếu sót. Fuhrer đứng ngay dậy và bằng giọng khô khan, yêu cầu viên sĩ quan giải thích chính xác hơn. Người ta nói rằng trước đây không quân rất được cưng chìu, nay thì điểm tình cảm bị sút giảm. Thật vậy, bài thuyết trình của viên sĩ quan tham mưu có vẻ vô vị, thiếu nhiệt thành. Một cử chỉ đột ngột, Fuhrer ngắt lời và quay lưng về phía viên sĩ quan. Đại Tướng Jodl đưa mắt ra dấu bảo tôi ra ngoài, bởi vì bây giờ người ta bắt đầu bàn luận đến tình hình các mặt trận khác.
Trong phòng kế bên, tôi bắt chuyện với một vài sĩ quan tham mưu trẻ. Vừa nhấm nháp ly rượu ngọt do các binh sĩ hầu cận mời, chúng tôi nói về Mặt trận Miền Đông. Tại Varsovie, quân đội bí mật của Ba-Lan vừa phát động cuộc nổi dậy: nhiều trận đánh đẫm máu xảy ra trong thành phố: càng về phía Nam, tình thế càng tệ hơn; tin tức về khu vực này thảy đều tai hại.
Chúng tôi không thể nói tất cả chuyện đó cho Fuhrer, một trong những sĩ quan nói với tôi. Chúng tôi phải tìm cách giải quyết êm đẹp tình trạng đó mà Fuhrer không biết.
Ba ngày sau, người ta quên bảo tôi ra ngoài khi cuộc thuyết trình về các mặt trận khác bắt đầu. Sĩ quan có trách nhiệm báo cáo không dám dấu tình trạng tệ hại tại khu vực này. Hitler vừa ngồi xuống đã nhảy chồm lên.
-         Tại sao tôi không được báo cáo sớm hơn? - Ông ta vừa hét vừa ném thật mạnh các cây bút chì khiến chúng lăn long lóc và rơi xuống đất.
Bối rối, tất cả đều giữ im lặng, trong khi Fuhrer để cho cơn giận bùng nổ, lần lượt Đại Tướng Jodl, Bộ Tổng Tư Lệnh tối cao Không quân phải đón nhận. Phần tôi, tôi cố thu người lại thật nhỏ, ít ra là trong phạm vi có thể được. Tôi cảm thấy khó thở, muốn đi ra chỗ khác. Các người trách nhiệm phải chịu xát xà phòng trước một cử tọa đông đúc đến thế sao? Đột nhiên, Hitler trở lại bình tĩnh và quay về phía một Tướng lãnh khác để đặt vài câu hỏi chính xác.
-         Chúng ta còn quân trừ bị trong khu vực đó không? Liệu có thể đưa một tàu đạn dược đến kịp không? Gần đó có đơn vị công binh nặng nào không?
Logged
alonely0209
Thành viên
*
Bài viết: 86


« Trả lời #65 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2010, 12:32:56 am »

Và đó là lúc bắt đầu công việc vá víu tạm bợ thật khó khăn và tế nhị. Bằng cách sử dụng tất cả lực lượng trừ bị, các biện pháp đầu tiên đã thành hình nhằm mục tiêu cứu vãn chỗ nguy cấp nhất, lần này dù hay dù dở, mọi chuyện lại được dàn xếp xong. Vào buổi chiều, tôi gặp nhiều sĩ quan quen biết từ lâu. Tất cả đều bi quan. Tin tức không có gì đáng vui, đó là sự thật. Một tia nắng mặt trời duy nhất chiếu trên quang cảnh hoàng hôn ảm đạm này: Lúc đó, có phần chán nản, tôi thơ thẩn theo các lối đi trong vườn và đột ngột gặp Hanna Reitsch. Cô báo tin là vừa đưa Tướng Von Greim về Tổng Hành Dinh, đây là một trong các Tướng lãnh Không quân chính yếu, cô cũng mời tôi đến thăm trại. Vào nửa đêm, sau bảng “tình hình tối”, tôi mò mẫm tìm đến doanh trại dành cho các quan khách đặt biệt. Trong một căn phòng rộng, một loại living room, Hanna giới thiệu tôi với Tướng Von Greim – khuôn mặt dịu dàng và dễ có cảm tình, nét mặt rành rẽ, mái tóc trắng như tuyết. Lập tức bỏ rơi các lời giáo đầu tầm thường, câu chuyện của chúng tôi hướng đến hai vấn đề mà có thể xem là cùng một bản chất: vấn đề Chiến tranh và vấn đề Không quân. Tôi ngơ ngẩn khi thấy trong giờ phút này mà ông Tướng còn châm biếm đùa cợt được! Ông giải thích lý do được triệu dụng về G.Q.G: Fuhrer muốn cách chức Thống chế Goering và giao quyền chỉ huy Không quân cho Von Greim. Tuy nhiên Goering còn giữ quyền quản trị nhân sự, trong khi Von Greim đòi có toàn quyền. Hiện tại vấn đề còn để đó, Hitler chưa quyết định gì cả. Với vẻ giận dữ đặc biệt, Von Greim chỉ trích Bộ Tham mưu Không quân kịch liệt, nhất là Goering.
-         Không quân đã ngủ quên trên chiến thắng. Tôi đồng ý là rất xứng đáng trong những năm 1939-1940 nhưng Không quân đã không nghĩ đến ngày mai. Những lời tuyên bố của Goering: Không lực của chúng ta là vô địch, nhanh nhất, can đảm nhất thế giới – những câu nói đó không đủ mang lại chiến thắng sau cùng, - Von Greim nói một cách chua chát.
Và rồi ông mô tả một bức tranh bi quan của tình hình không quân Đức. Hiện nay tôi không nhớ được hết các chi tiết, tôi chỉ còn nhớ rằng ông Tướng nhìn thấy một tia hy vọng, có thể nói là hy vọng độc nhất: các phi cơ săn giặc phản lực sắp được đem ra sử dụng. Rất có thể nhờ loại máy bay này chúng tôi đẩy lui được các cuộc oanh tạc không ngừng của Đồng minh và tái chiếm ưu thế không quân, ít ra cũng trong một vài khu vực. Nhưng tôi tự hỏi liệu với một chút thiện chí, người ta có cung cấp kịp thời cho phi công chúng tôi các loại máy bay đó không. Tôi biết là cuộc nghiên cứu loại phi cơ này đã hoàn tất năm 1942. Liệu trong lịch sử cuộc chiến tranh này, một lần nữa lại có một chương trong vô số chương mang danh “quá chậm” nữa hay không.
Logged
alonely0209
Thành viên
*
Bài viết: 86


« Trả lời #66 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2010, 12:33:28 am »

Chương XIX

Tôi hành động tại Hung-Gia-Lợi
 

Ba hôm sau, khi hội nghị “tình hình” buổi tối chấm dứt, Fuhrer ra hiệu cho tôi ở lại. Ông cũng giữ lại thống chế Keitel, Đại Tướng Jodl, Ribbentrop và Himmler (đặc biệt hiện diện hôm đó). Chúng tôi ngồi vào các ghế bành chung quanh chiếc bàn nhỏ và Adolf Hitler tóm lược tình hình khu vực Đông Nam trong vài câu. Mặt trận vừa mới được ổn định dọc biên giới Hung – gia – lợi phải được giữ vững bằng mọi giá, bởi vì trong khu vực mênh mông của tuyến phòng thủ này có một triệu quân Đức mà số phận của họ sẽ là bị bắt làm tù binh tất cả, nếu phòng tuyến tan vỡ.
         - Thế mà, - Fuhrer nói tiếp, - chúng ta vừa nhận được các báo cáo mật cho biết Nhiếp chính vương Hung – gia – lợi, Đô đốc Horthy, đang cố tiếp xúc với địch để thương thảo một nền hòa bình riêng rẽ. Các cuộc hội đàm này, một khi kết thúc, sẽ có nghĩa là đạo quân của chúng ta bị xóa bỏ. Horthy không những chỉ muốn ký kết với các cường quốc Tây phương mà còn chấp nhận đầu hàng toàn diện trước Nga sô nữa.
“Thiếu tá Skorzeny, anh phải chuẩn bị để chiếm đóng Mont du Château (Burgberg) tại Budapest. Anh sẽ phát động chiến dịch ngay khi chúng tôi được báo cáo rằng viên Nhiếp chính phản lại chúng ta, nghĩa là khiếm khuyết trong sự thi hành nghĩa vụ qui định trong hiệp ước liên minh với Đức quốc. Bộ Tổng Tham Mưu đã nghĩ đến một cuộc tấn công bằng lực lượng nhẩy dù hay có thể là cho hạ cánh nhiều phi cơ ngay trên đỉnh đồi. Trong công tác này anh được đặt dưới quyền chỉ huy của Tư Lệnh lực lượng Đức tại Budapest, Tướng N. Nhưng anh phải chuẩn bị ngay từ bây giờ, bởi vì Bộ Tham Mưu của Tướng N. đang còn được tổ chức. Để giúp anh vượt qua các khó khăn, tôi sẽ ký một lệnh viết cho anh nhiều thẩm quyền rộng rãi.
         Rồi thì Đại tướng Jodl đọc cho tôi danh sách các đơn vị được đặt dưới quyền sử dụng của tôi: Một tiểu đoàn dù của Không quân, tiểu đoàn dù 600 của binh chủng Waffen SS, một tiểu đoàn bộ binh cơ giới gồm sinh viên Trường Sĩ quan Wiener Neustadt. Ngoài ra, hai phi đội máy lượn vận tải cũng sẽ được đưa đến Vienne để đặt dưới quyền chỉ huy của tôi.
         - Trong suốt thời gian chiến dịch, anh cũng còn được cấp một phi cơ thuộc phi đội biệt phái cho Tổng Hành Dinh của Fuhrer, để sử dụng trong khi anh cần di chuyển, - Jodl kết luận.
         Trong vài phút, Hitler còn bàn luận với Ribbentrop về các báo cáo do Đại sứ quán Đức tại Budapest gửi về. Theo các điện văn đó thì tình hình được coi như rất căng thẳng, chính quyền Hung – gia – lợi công khai muốn bỏ khối Trục. Rồi Fuhrer ký sự vụ lệnh, đưa cho tôi, và nói thêm:
         - Tôi tin tưởng ở anh và các quân nhân thuộc quyền.
         Sau đó, ông rút lui. Môt lúc sau, những người khác cũng cáo biệt, để tôi ở lại một mình. Khi đọc thoáng qua các tài liệu, tôi bị sửng sốt về các phương tiện hành động vô giới hạn giành cho tôi. Trên một tờ giấy lớn khổ "văn kiện Quốc qia", bên góc trái phía trên có in nổi hình con ó và dấu chữ Vạn quốc xã, mạ vàng, và dưới đó, dòng chữ kiểu Gô – tích : Fuhrer, Tể tướng Đức Quốc Xã, tôi đọc thấy :
         "Thiếu tá trừ bị Otto Skorzeny được chính tôi giao phó thi hành một mệnh lệnh riêng, mật và tối quan trọng. Tôi yêu cầu tất cả các cơ quan quân sự và dân chính triệt để giúp đỡ và tuân hành ý muốn của đương sự".
Dưới các dòng chữ đó, là chữ ký từ bàn tay run rẩy của nhà lãnh tụ Đức Quốc xã. Trong thoáng chốc, tôi nghĩ rằng với tờ khống chỉ tương tự, tôi có thể, do tính thay đổi thất thường làm cho toàn diện chế độ lật nhào. Và tôi quyết định sử dụng văn kiện này rất hạn chế. Thật vậy, tôi vẫn khinh lối tuân phục mù quáng của các công sở khi trông thấy một "lệnh thượng cấp" được trình ra. Tôi thích dựa trên sự cảm thông và sự hợp tác tự nhiên của những người mà tôi sẽ nhờ cậy.
         Hiện tại, đã 2 giờ sáng rồi, tuy nhiên tôi muốn thực hiện vài công tác trước khi đi ngủ. May thay, hai ngày trước, tôi đã cẩn thận đánh điện đặt một trong các Lữ đoàn của tôi, tiểu đoàn khinh binh 502 cũ, trong tình trạng báo động.
         - Alô, Foelkersam. Tôi vừa được giao phó nhiệm vụ quan trọng. Hãy ghi nhận : Đại đội đầu tiên được tăng cường bằng một vài trung đội chọn lọc, có mặt tại phi trường Gatow đúng 8 giờ sáng mai. Tăng cường gấp ba lần tiếp liệu và đạn dược thường lệ, thêm vào đó trang bị hoàn toàn cho bốn trung đội chuyên về chất nổ. Phân phát cho mỗi người sáu ngày lương thực. Đặt Đại đội dưới quyền chỉ huy của Trung úy Hunke, sĩ quan chỉ huy phi đội vận tải đã biết nơi đến. Phần tôi, cũng đúng 8 giờ ngày mai, tôi sẽ bay về và đến phi trường của nhà máy Henkel gần Oranienbourg lúc 10 giờ. Hãy đến đó gặp tôi, đến trưa, chúng ta sẽ khởi hành, anh, Ostafed, Radl và tôi. Có gì cần hỏi lại không? Tốt – sẽ gặp lại.
Logged
alonely0209
Thành viên
*
Bài viết: 86


« Trả lời #67 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2010, 12:33:52 am »

Sau vài giờ nghỉ ngơi, tôi bay về trên một chiếc Henkel 111. Vừa ngắm cảnh, tôi vừa suy nghĩ hậu quả không tránh được của việc Hung – gia – lợi trở cờ. Trong canh bạc, vốn liếng mà tôi phải bảo vệ quá lớn: cả một đạo quân – một triệu người – mà tình trạng rất bấp bênh – phải nói là tuyệt vọng – nếu các sư đoàn Hung – gia – lợi buông võ khí, hay tệ hơn nữa, ngã theo phe địch. Và nếu như vậy, chúng tôi mất luôn Budapest, giao điểm của tất cả các ngõ giao thông của chúng tôi ... tai hại không thể tưởng tượng được. Miễn là tôi hành động đúng lúc!
         Đột nhiên, tôi nghĩ đến các máy lượn mà Fuhrer đặt dưới quyền sử dụng của tôi. Có cả hai tiểu đoàn dù nữa. Trong thực tế - làm sao mà quí ông trong Bộ Tổng Tham Mưu lại có thể tưởng tượng đến việc dùng quân nhẩy dù đánh Mont du Château mà lại không nói gì đến kế hoạch hạ cánh các phi cơ xuống đỉnh đồi! Tôi biết Budapest rất rõ, địa điểm duy nhất có thể bất đắc dĩ đổ quân dù, là một cánh đồng lớn không hiểu sao lại có tên "cánh đồng máu". Thế nhưng, nếu người Hung phản bội, chúng tôi sẽ lâm nguy, trước khi kịp tập họp thì đã hứng trọn hỏa lực tập trung từ trên đồi kế đó và từ các ngôi nhà trước bãi đáp quét sạch. Tuy nhiên cũng rất có thể là một vài đơn vị xung kích đổ bộ xuống được ... vậy đến lúc đó hẳn biết.
         Đúng giờ đã định, tôi đến Oranienbourg và gặp Foelkersam đang đợi đó. Anh ta báo cáo đại đội đầu tiên đã lên đường đi Vienne, địa điểm hẹn gặp của tất cả các đơn vị do tôi chỉ huy. Chúng tôi lái xe như bay về Friedenthal, để lấy vật dụng cần thiết, rồi có thêm Radl và Ostafed, chúng tôi bay đến thủ đô Áo quốc. Trong số hành lý chúng tôi có mang theo một thùng mìn, kiểu mới được phòng thí nghiệm quân đội sáng chế. Số lượng hành lý của chúng tôi không có gì cồng kềnh lắm nếu đừng nghĩ đến việc có thể gặp một phi cơ địch – chuyện này rất có thể bởi vì phi cơ săn giặc Đồng minh đã có mặt thường xuyên trên không phận Đức quốc rồi – chỉ một viên đạn trúng thùng mìn, tất cả sẽ nổ tung! Thật ra, vì quá bận rộn với kế hoạch, chúng tôi cũng không nghĩ đến điều đó nữa. Tất cả chúng tôi đều đồng ý là phải cơ giới hóa tất cả các đơn vị. Viễn cảnh đấu khẩu với các cơ quan cấp xe lại xuất hiện. Chúng tôi biết việc tìm kiếm xe cộ lúc này có kết quả đến mức nào. Mặt trận Miền Đông và cả Miền Tây nữa, đã hủy diệt biết bao nhiêu là xe cộ đến nỗi không một cơ xưởng nào dù lớn nhất hoàn vũ, có thể sản xuất kịp để trám vào chỗ trống.
         Tuy vậy, tại Vienne, chúng tôi chỉ mất có ba ngày là san bằng được hết mọi trở ngại. Tại Wiener Neustadt tôi đã duyệt qua tiểu đoàn bộ binh gồm 1.000 chuẩn úy – một sự chọn lựa tuyệt vời gồm toàn các thanh niên khỏe mạnh có tinh thần chiến đấu đáng chú ý đặc biệt. Tiểu đoàn dù của không quân đã đến Vienne, cùng lúc đó tiểu đoàn dù SS cũng đã từ mặt trận miền Đông trở về. Đơn vị trước ở trong tình trạng tốt đẹp, các sĩ quan đầy phong độ, trong khi quân dù SS, có vẻ bê bết hơn, tiếp theo sau các trận đụng độ gay go từ nhiều tuần lễ trước. Vả lại, đây cũng chính là tiểu đoàn đã tham dự vào cuộc hành quân bắt Tito vào tháng 6 năm 1944.
         Ngay sau khi giải quyết xong các vấn đề do sự cơ giới hóa và trang cụ cho các đơn vị, tôi khởi hành đi Budapest, có Radl tháp tùng. Thật vậy, đây là lúc tôi cần phải biết tại chỗ, diễn biến của tình hình. Xử dụng một thông hành mang tên "bác sĩ Wolff", mặc một bộ thường phục cắt thật đẹp, tôi đến thủ đô Hung – gia – lợi và tìm đến nhà một nhân vật M.X. nào đó mà một người bạn chung đã ân cần giới thiệu với tôi. Ông nầy đã tiếp đón tôi vô cùng vồn vã và tỏ ra hiếu khách với truyền thống tốt đẹp của dân Magyare (1). Thậm chí ông còn dọn đi ở chỗ khác để tôi được hoàn toàn tự do xử dụng nhà ông kể cả người bồi phòng và bà đầu bếp. Tôi phải hổ thẹn nhìn nhận rằng suốt đời tôi, thời gian sống sung sướng nhất là tuần lễ đó – và là ba tuần lễ sống sung sướng trong năm thứ năm của cuộc chiến! Ông chủ nhà còn rất phật ý nếu tôi ăn uống khiêm nhượng quá.
         Giữa lúc đó, cấp chỉ huy trực tiếp của tôi, Tướng N. cũng đã đến Budapest. Trước hết, ông ráng lập một Bộ Tham mưu có khả năng để làm việc. Vì thiếu sĩ quan nên tôi cho mượn Foelkersam và Ostafel để sẵn sàng đương đầu với mọi chuyện sắp xẩy ra, chúng tôi thiết lập một kế hoạch báo động cho toàn thể các đơn vị Đức đóng trong và chung quanh Budapest, mục đích của kế hoạch là trong trường hợp có xung đột, các đơn vị của chúng tôi phải chiếm giữ các thiết lộ, nhà ga trung tâm điện thoại và điện tín.
         Cơ quan tình báo của chúng tôi đã khám phá rằng con của Nhiếp chính vương là Nicklas Von Horthy, vừa mới mở cuộc tiếp xúc – lẽ tất nhiên là tối mật – với đại diện của Tito. Rõ ràng là người Hung đang tìm cách, nhờ trung gian các đảng viên cộng sản Nam – Tư, tiếp xúc với Nga sô để thương thảo một nền hòa bình riêng. Một lần nữa, tin tức của Tổng hành dinh của Fuhrer tỏ ra rất chính xác. Trong một cuộc thảo luận với các Chỉ huy trưởng Tình báo, chúng tôi quyết theo dõi sát hành động của Nicky Horthy, bằng cách gài một người của chúng tôi vào làm việc gần hắn ta. Thật vậy, một người gốc dân Croate, được đặt đúng chỗ trong guồng máy chính quyền, đã mau lẹ lấy được lòng tin cẩn của người Nam – Tư cũng như Nicky Horthy. Nhờ vậy, chúng tôi biết rằng chính viên Nhiếp chính sẽ tham dự một cuộc họp đêm với những người dự mưu trong một ngày rất gần. Đây là một tin tức không mấy tốt đẹp đối với chúng tôi bởi vì chúng tôi không mong ngay chính vị Quốc Trưởng lại thông đồng với sự việc. Tôi để cho cơ quan tình báo và cảnh sát tìm cách đối phó, phần tôi, tôi có chuyện khác phải làm.
Logged
alonely0209
Thành viên
*
Bài viết: 86


« Trả lời #68 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2010, 12:34:10 am »

Mỗi lần xe tôi leo dốc để lên đồi Mont du Château – tôi đến thăm khi thì sĩ quan tùy viên quân sự - khi thì ông Đại sứ hoặc khi thì Tướng lãnh Chỉ huy Quân đội Đức – nỗi âu lo của tôi lại tăng thêm, bởi vì, một khi tình hình đòi hỏi, tôi không biết làm cách nào có thể chiếm ngọn đồi thật cao và được cấu tạo như một pháo đài thiên nhiên này. Mặc dù lệnh của Fuhrer không được rõ, để ngăn cản sự phản bội của người Hung – gia – lợi, tôi thấy không thể nào dùng lực lượng quân sự tấn công vào khu vực chính phủ và vào lâu đài, một hành động được phát khởi tự động ngay khi có dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự thù nghịch của các nhân vật Magyare đối với Đức quốc.
         Tôi bèn giao cho Foelkersam nghiên cứu tỉ mỉ các bản đồ thành phố có trong tay, và bổ túc bằng các sự hiểu biết lý thuyết của anh ta sau nhiều lần dò xét liên tục các con đường trong khu vực được chú trọng. Công việc này đã mang lại cho chúng tôi đủ loại ngạc nhiên: Dưới chân đồi Mont du Château, có cả một hệ thống đường hầm hành lang và giếng nước chằng chịt như mê hồn trận, và sự kiện này cũng không giúp ích gì cho chúng tôi thêm khi cần hành động. Vì lẽ dựa theo hệ thống báo động đã được thiết lập, tôi có nhiệm vụ chiếm ngọn đồi với các đơn vị cơ hữu, tôi cho gọi 3 tiểu đoàn của tôi đến Budapest. Họ rời Vienne vào đầu tháng 10 và đóng quân ở ngoại ô Budapest.
         Trong thời gian đó, Tổng Hành Dinh của Fuhrer lại gửi đến một ông Obergruppen-fuhrer SS – một loại Thiếu Tướng – tên Bach-Zelewski với nhiệm vụ chỉ huy toàn thể quân Đức tại Budapest. Đó là một cấp chỉ huy mạnh về phương diện tàn bạo – ông lại còn tượng trưng cho người có bàn tay sắt và là chuyên viên trong những vụ cực kỳ khó khăn. Ông từ Varsovie đến sau khi dẹp tan vụ quân Ba-Lan nổi loạn trong nội bộ. Lập tức ông tuyên bố quyết tâm chứng tỏ, nếu cần, thái độ tàn nhẫn như vừa được chứng tỏ tại thủ đô Ba-Lan. Ông còn nói thêm là chính với ý định đó mà ông cho mang theo một khẩu súng cối 65 ly. Cho đến lúc đó, khẩu súng quỉ quái này chỉ được sử dụng có hai lần; một lần để triệt hạ toàn diện chiến lũy hình con trốt chung quanh thành Sébastopol, và lần thứ hai, trong các trận mới đây tại Varsovie. Đối với tôi, sự tàn bạo quá mức như vậy là thừa ... tôi không dấu quan điểm đó, theo ý tôi, chúng tôi có thể đạt mục tiêu nhanh chóng hơn và hữu hiệu hơn bằng cách vận dụng các phương thức lịch sự hơn. Chiến dịch được hoạch định – mang tên chiến dịch Bazooka – sẽ thành công mà không cần đến khẩu đại pháo đó.
Ngược lại, một vài sĩ quan rất thán phục cung cách cộc cằn và dữ dội của Bach-Zelewski – có lẽ ông ta đã làm cho họ trở nên rụt rè. Tuy nhiên, không bao giờ tôi tỏ ra khó chịu vì các tiếng la hét, đập bàn của ông ta, và khi dốc toàn lực để bênh vực quan điểm của mình, cuối cùng bao giờ tôi cũng thắng.
Khốn nỗi, không phải chính tôi là người chủ động tất cả mọi hành động. Khác với tình trạng xảy ra tại Ý, nơi đó, tôi chỉ phúc trình cho Đại tướng Student và trong thực tế, gần như tôi được độc lập hoàn toàn trong việc chuẩn bị cho chiến dịch, hiện nay, tôi phải dự vô số các phiên họp và phải lưu tâm đến đủ thứ vấn đề liên hệ đến các thừa số cá nhân. Cách nhìn của Tướng N. không hoàn toàn phù hợp với ông Đại sứ và quan điểm của ông này cũng không nhất thiết giống ông Tướng Cảnh sát Winkelmann. Các cơ quan tình báo và một vài nhân vật Hung-gia-lợi tham dự các cuộc bàn cãi, một đôi khi cũng thêm mắm thêm muối vào câu chuyện. Tôi thật rất bằng lòng là khỏi bị đóng vai trò phối hợp các quan điểm đó. Nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao chúng tôi lại đem thảo luận kế hoạch trước cả 15 hay 20 sĩ quan? Thế nào chính quyền Hung-gia-lợi cũng đã nghe nói đến các phiên họp này, rồi đoán già đoán non các âm mưu; do đó, lấy các quyết định hấp tấp. Mối lo sợ này rất đúng vì chúng tôi được biết Tướng M. tư lệnh tối cao quân đội Hung ở Carpathes đã điều đình thẳng với người Nga rồi.
Ngày 10 tháng 10 năm 1944, Nicklas Horthy đã họp đêm với các đại biểu Nam Tư. Mặc dù được báo trước, cảnh sát Đức vẫn không hành động gì. Một cuộc tiếp xúc khác còn được dự liệu tổ chức ngày 15 tháng 10 tại một ngôi nhà đồ sộ gần bờ sông Danube. Hiện tại, đã đến lúc phải hành động! Ngày 13 tháng 10, Tổng Hành Dinh của Fuhrer lại gởi Tướng Wenck đến với nhiệm vụ là chỉ huy toàn thể quân lực nếu có lộn xộn, và sẽ ban hành các quyết định tuỳ theo diễn tiến của tình hình. Lần này cảnh sát quyết định bắt con của Horthy và những người Nam Tư. Kế hoạch dự liệu các hành động của cảnh sát, đã dựa trên mối hy vọng rằng viên Nhiếp chính lo âu muốn tránh cho cậu con khỏi bị kết tội, sẽ từ bỏ ý định ký kết hoà bình riêng rẽ với kẻ thù. Tướng Winkelmann, Chỉ Huy trưởng Cảnh sát, mượn tôi một đại đội trong buổi sáng ngày 15 tháng 10, vì ông biết rằng cuộc tiếp xúc đầu tiên của Nicklas Horthy đã diễn tiến dưới sự bảo vệ của một phân đội quân lực Hung-gia-lợi. Lần này, chắc người Hung cũng sẽ thận trọng tương tự, và đại đội của tôi có nhiệm vụ vô hiệu hoá hoàn toàn quân Magyare. Tôi nhận lời giúp với điều kiện là chính tôi quyết định lúc nào phải can thiệp.
Logged
alonely0209
Thành viên
*
Bài viết: 86


« Trả lời #69 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2010, 12:34:29 am »

Chúa nhật 15 tháng 10 năm 1944, mặt trời chói lọi chiếu sáng bầu trời trong vắt. Vào lúc 10 giờ sáng - giờ họ hẹn gặp - đường phố còn vắng vẻ. Đại đội của tôi ẩn trong một con đường yên tĩnh không sợ gây chú ý. Đại uý Foelkersam giữ liên lạc giữa tôi và đơn vị. Bởi vì hôm đó tôi không thể xuất hiện với quân phục. Nếu muốn tham dự vào các biến cố đang xẩy ra, tôi phải mặc thường phục. Tài xế và một hạ sĩ quan của tôi mặc quân phục không quân, ngồi nghỉ ngơi trên một ghế dài nơi công viên chiếm hết cả mặt tiền của toà nhà. Phần tôi, tự lái xe đến địa điểm vài phút sau khi cuộc nói chuyện của họ bắt đầu. Vừa đến đầu công viên, tôi thấy ngay trước cửa toà nhà có một quân xa của Quân lực Hung và một xe dân sự, có lẽ là xe của Horthy con. Không ngần ngừ, tôi đậu xe ngay trước mũi hai chiếc xe của người Hung, đầu xe tôi châu sát vào đầu xe của họ để ngăn cản không cho xe họ vọt chạy bất thình lình.
Đêm trước, nhiều cảnh sát Đức đã chiếm các căn phòng ký túc xá ngay bên trên các gian hàng thương mại được dùng làm nơi hội họp. Mặt khác, hai cảnh sát viên khác đúng 10 giờ 15 phải đi vào toà nhà để thi hành việc bắt bớ. Trong chiếc xe của Quân lực Hung có ba sĩ quan Hung, trong khi đó hai người khác đang đi lui tới trên công viên. Mọi diễn viên đều đã có mặt tại chỗ - màn thứ nhất bắt đầu!
Tôi vừa xuống xe và làm như đang tìm xem nguyên nhân khiến xe bị hỏng máy, thì hai cảnh sát viên Đức xuất hiện. Đúng lúc người thứ nhất bước qua ngưỡng cửa vào toà nhà, một tràng tiểu liên từ chiếc xe của Quân lực Hung bắn ra và trúng người cảnh sát viên thứ nhì. Bị thương nặng ở bụng, anh ta lăn về phía tôi. Hai sĩ quan Hung đang đi dạo chạy đến, súng lục cầm tay, bắt đầu nhả đạn. Tôi chỉ kịp chạy ra nấp sau xe, một lát sau, một tràng tiểu liên thứ hai nhắm bắn vào cánh cửa chiếc Mercédès còn mở của tôi. Hiện tại diễn biến đã đến hồi sôi nổi. Người tài xế và viên hạ sĩ quan đã nhào tới, khi loạt đạn đầu tiên nổ, để che chở tôi, tài xế bị một viên vào đùi nhưng anh ta còn đứng vững. Bằng một tiếng còi, tôi báo hiệu cho đại đội bắt đầu hành sự và với các khẩu súng lục, chúng tôi cố sức trả đũa các khẩu tiểu liên. Tình thế của chúng tôi không có vẻ gì là trò đùa cả, chiếc xe của tôi dần dần biến thành một cái rổ. Chung quanh chúng tôi đạn dội trên lề đường và phát ra tiếng rít bên tai chúng tôi. Thỉnh thoảng chúng tôi nhô đầu lên một giây để ngắm kỹ, ít ra là cũng gần mục tiêu để giữ cho địch không tiến tới sát quá – nói như vậy chứ khoảng cách hiện tại giữa chúng tôi và địch quân chỉ có từ 10 đến 15 thước. May thay trận chiến bất bình đẳng này chỉ kéo dài có 3 hay 4 phút. Rồi tôi nghe tiếng bước chân của đại đội binh sĩ của tôi đằng sau lưng. Tiểu đội đầu tiên đã đến đầu công trường và lập tức bố trí ở góc đường. Những toán khác chiếm giữ mau lẹ toàn thể công trường và các ngôi nhà kế cận. Sau vài cuộc trao đổi hoả lực đầu tiên, địch quân rút về phía vòm cửa của ngôi nhà kế cận, trong đó hình như có một số quân trừ bị Hung-gia-lợi. Ngay khi cơn đọ súng chấm dứt, chúng tôi kéo hai người bị thương vào tầng thứ nhất của toà nhà, nơi đang có cuộc thương thuyết giữa Nicky Horthy và những người Nam-Tư. Vừa chạy vào chỗ nấp, chúng tôi biết là đối thủ đang sửa soạn đánh mở đường thoát ra ngoài. Chúng tôi phản ứng thật nhanh: một quả lựu đạn được ném một cách khéo léo đã làm bật tung hai cánh cửa và vài tảng đá cẩm thạch, khiến cho cả một đống hỗn độn đó bít mất lối ra. Tiếng nổ này làm chấm dứt cuộc nổ súng kéo dài chỉ có hơn 5 phút.
Hiện tại, các cảnh sát Đức từ lầu một đi xuống áp tải theo bốn tù nhân. Chúng tôi đưa hai người Hung – Nicklas Horthy và bạn của hắn ta, Bornemisza – lên một quân xa; để khỏi bị chú ý, các cảnh sát viên đã nghĩ ra cách gói hai tù nhân bằng hai tấm thảm lớn, theo chỗ tôi thấy thì mưu kế này không mấy thành công. Hai kẻ âm mưu vùng vẫy dữ dội, các cảnh sát viên phải nặng tay đưa họ lên xe và nổ máy khởi hành tức khắc. Tôi ra lệnh cho đại đội rút lui. Thật vậy, tôi cố tránh các rắc rối mới có thể xảy ra nếu quân Hung sau khi lấy lại được bình tĩnh, tập trung lại để tấn công chúng tôi.
Linh tính thúc đẩy tôi đi theo chiếc quân xa bằng một chiếc xe khác do Foelkersam phái đến. Cách công trường chừng 100 thước, tôi thấy ba đại đội Quân lực Hung tiến tới gần như bằng cách chạy việt dã. Nếu toán quân này tới công trường, chắc lại có cuộc chạm súng mới  - biến cố mà chúng tôi không muốn để xảy ra. Phải làm sao đây? Làm sao kiếm được vài phút để cho binh sĩ của tôi có thì giờ rút lui? Chỉ có một trò bịp táo bạo mới giúp chúng tôi khỏi bị rắc rối. Tôi ra lệnh tài xế ngừng xe lại, nhảy xuống xe và tiến mau đến gặp viên sĩ quan, mà do vị thế đi trước đại đội đầu tiên, chắc phải là cấp chỉ huy của đoàn quân.
- Bảo binh sĩ của anh đợi đi – trên kia lộn xộn không thể tả. Lên đó chắc không gặp được ai đâu. Hãy ở nguyên tại chỗ, theo tôi anh nên đến đó trước coi chuyện gì đang xảy ra.
Trò bịp thành công. May thay anh ta nói được đôi chút tiếng Đức. Anh ta ra lệnh “Dừng lại” và nhìn tôi với vẻ phân vân thấy rõ. Có thể là anh ta chẳng hiểu gì cả, nhưng tôi bất cần. Điều quan trọng đối với tôi lúc ấy là một sự trì hoãn ngắn ngủi. Hiện tại chắc binh sĩ của tôi đã lên xe rồi. Một phút nữa, họ sẽ di chuyển. Tôi phán cho viên sĩ quan hãy còn do dự một câu “Tôi bận lắm” rồi tiến về phía xe và chạy về khu vực phi trường. Khi đến nơi, hai tù nhân của chúng tôi đã được đưa vào phi cơ, một lát sau, phi cơ cất cánh bay về Vienne.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM