Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:25:38 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bão táp cung đình  (Đọc 49165 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #40 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 09:45:01 pm »

CHƯƠNG 15

Từ khi mời được cư sĩ Phùng Tá Thang về triều làm thày dạy học thay cho quan sư phó, nhà vua lấy làm mãn nguyện. Những điều tiên sinh giảng giải rất hợp ý nhà vua. Trần Cảnh là người tôn sư trọng đạo. Nhà vua khẩn khoản mời tiên sinh vào ở ngay trong nội điện, để tiện việc học hành, và cũng là để được đàm đạo nhiều hơn.

Tiên sinh lấy cớ rằng ông không quen ở nơi đô hội. Ông chỉ muốn sống một mình cho tĩnh lặng, vừa tiện việc đọc sách và viết sách. Bởi thế nhà vua đã thu xếp để tiên sinh ở điện Cao Minh gần cửa Đại Hưng. Tuy vậy, tiên sinh cũng khéo léo từ chối và xin được ở chùa Thắng Nghiêm, đối diện với cửa Đại Hưng ở phía ngoài hoàng thành. Nhà vua vui vẻ chấp nhận, vì có đôi lần qua lại Thắng Nghiêm, ngài tỏ lòng mến mộ cảnh chùa u nhã, lại được vị thiền sư trụ trì là người đạo cao, đức trọng. Hằng ngày, tiên sinh thường đến giảng kinh sách cho nhà vua tại điện Nhật Minh. Xong ông lại lui về trụ tại chùa Thắng Nghiêm. Nhà vua đã dựng cho tiên sinh một mái thảo đường ngay dưới gốc cây bồ đề sum sê, soi bóng xuống hồ bán nguyệt, và kế cận với vườn hoa rợp bóng các loài mẫu đơn trắng, đỏ, vàng xen với ngâu, ngọc bút, bạch trà, ngọc lan… bốn mùa tỏa hương thơm ngào ngạt.

Một hôm bất chợt Thái tôn vi hành tới thăm Phùng tiên sinh. Nhà vua cải dạng như một nho sinh, có tiểu đồng đi theo, quẩy hai chiếc tay nải nhẹ tênh. Qua tam quan, tiểu đồng dẫn nhà vua theo con đường quanh co trong vườn chùa. Khen thay chỉ có một vuông đất không rộng lắm, mỗi bề bất quá hơn một ngàn bước chân, mà nhà chùa sắp xếp cây cối, nhà cửa, đường đi lối lại cứ như là đường vào cõi thượng giới. Đây là rừng đại ngàn với những cây muỗm cổ thụ, thân cao vút, gốc xù xì, cành lá vươn dài, tán khép dầy. Loáng thoáng có những giọt nắng xuyến qua kẽ lá, trải lốm đốm trên nền cỏ đã ngả sang màu lục nhạt, nom như những bộ da của đám hươu sao trên thung Yên Tử. Kia là một dải suối, chảy róc rách qua những khe đá nằm lăn lóc trong lòng suối. Con suối nông choèn, nước chỉ ngập tới mắt cá chân cũng được bắc qua một cây cầu gỗ làm theo kiểu thượng gia hạ kiều(1), hai bên lan can con tiện. Lác đác còn có những lầu lục giác, bát giác ẩn dấu trong bóng cây. Nơi là đình Nghinh phong(2), nơi là lầu Tịch huyên(3). Qua suối lại đến khu vườn dược. Tại đây hàng trăm loài cây thuốc được đưa về trồng thành rừng.Loáng thoáng mộtvài chú tiểu đang lom khom đào, hái. Vẳng đâu đây một tiếng gà gáy của chú chim cu cườm. Con đường dẫn tới vườn hoa, vòng ra hồ bán nguyệt. Tại đây nhà vua đã nhìn rõ toàn cảnh ngôi thảo đường dưới gốc cây bồ đề. Ba gian nhà nhỏ, cửa mở toang. Tiên sinh đang rạp mình trên tờ giấy điều trải rộng với cây bút lông lớn trong tay. Vừa lúc tiên sinh phẩy nét bút cuối cùng, ngẩng đầu lên đã thấy nhà vua đang chăm chú nhìn mình. Tiên sinh vội đứng dậy vái nhà vua hai vái. Nhà vua cũng vái lại đáp lễ. Nhà vua đưa mắt nhìn nơi ăn ở của sư phụ. Gian giữa chỉ trải một chiếc chiếu rộng. Nhìn sang gian bên tả, thấy chiếc nệm cỏ đặt trên tấm chiếu cói. Gian bên hữu, vài kệ sách kê sát tường. Một chiếc bàn cuốn thư, một chiếc ghế triện. Trên bàn vài thứ đồ văn phòng tứ bảo.

Thấy cảnh sinh hoạt sơ sài như một đạo sĩ, nhà vua trạnh lòng hỏi:

- Bẩm sư phụ, quan thiên phủ(4) đã cho người đưa các thứ lại đây hầu sư phụ chưa?

Phùng tiên sinh ngẩng đầu nhìn nhà vua. Chiếc khăn nhiễu nâu hơi trùm búi tóc tuột ra một vòng, khẽ đung
đưa. Tiên sinh nhẹ vén hai tay áo thụng rồi vuốt chòm râu bạc mỉm cười.

- Đội ơn bệ hạ. Quan thiên phủ có đến gặp bần đạo, nhưng bần đạo với ngài thuyền sư đây vốn là chỗ bằng hữu, nên mọi thứ đã có nhà chùa chu cấp. Ngay thuyền sư đạo hữu cũng nài nỉ bần đạo ở nhà phương trượng, nhưng bần đạo vốn quen cảnh lâm tuyền đạm bạc.

Nhà vua tự nghĩ: “Có nhẽ tiên sinh không muốn phiền đến ta. Đây là cái ơn tri ngộ, biết đến bao giờ mới đền đáp được”. Lúc này nhà vua mới chú ý tới đôi liễn tiên sinh vừa viết xong.

Thấy nhà vua liếc nhìn, tiên sinh vội đem treo lên vách.

Nhìn hai bức liễn viết theo lối thảo tự, nhà vua xem như xem tranh chứ không đọc. Nét chữ bay bướm, một cách tài tình. Chỗ đậm, chỗ nhạt, khoảng sáng, khoảng tối nom thật thanh nhã, sâu lắng, ẩn giấu một triết lý cao siêu như tư chất của tiên sinh vậy. Nom những bức liên của tiên sinh, khiến Thái tôn liên tưởng đến những bức sơn thuỷ hoạ của Vương Duy(5) treo trong điện Thiên An.

Thái tôn đã cố gắng đoán mà không đoán ra một chữ nào, bèn kính cẩn hỏi tiên sinh:

- Xin sư phụ đọc giùm cho, tiểu sinh quả là có mắt như đui.

Phùng tiên sinh liền cất cao giọng đọc:

PHẬT - NHO - LÃO TAM GIA NHẤT TRÙ

QUÂN SƯ PHỤ NÃI NGŨ LUÂN CHI YẾU
(6)
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #41 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 09:45:43 pm »

Đọc xong, tiên sinh bèn giảng giải:

- Tâu bệ hạ, đấy là chữ của thầy tôi dùng trong bài văn sách, khoa thi tam giáo năm Hội phong thứ sáu(7)

- Thưa sư phụ, Thái tôn nói - Cứ theo như ý trong đôi liễn này, có nghĩa là tam giáo đồng nguyên?

Ngẫm ngợi một lát, Phùng tiên sinh đáp:

- Tâu bệ hạ, sự không phải vậy, nhưng lý là vậy đó.

Thái tôn lắc đầu:

- Thưa sư phụ, tiểu sinh không hiểu.

Phùng tiên sinh đem ra một be rượu kim cúc. Ông rót vào chén sành Bát Tràng men ngọc, dâng vua.
Thái tôn chắp hai tay vái, chối từ. Nhà vua vẫn có ý chờ tiên sinh chỉ giáo.

Phùng tiên sinh sửa lại khăn áo, đốt lò trầm, rồi thong thả nói:

- Tâu bệ hạ, ba đạo Nho, Lão, Phật là do ba nhà chủ trương. Tông chỉ của mỗi đạo cũng khác nhau về căn
bản. Sự là như vậy, nên không thể nói ba đạo cùng một nguồn gốc. Đời nhà Đường, đạo Phật du nhập từ Tây Trúc sang Trung Hoa, đã bị nhà nước Trung Hoa chèn ép. Các giáo phái bài xích, phản bác nhau mạnh mẽ. Sự tranh chấp quyết liệt đôi phen đã đổ máu. Có người đã đứng ra hoá giải, cũng nói là “tam giáo đồng nguyên”(Cool. Vì sự không phải là đồng nguyên, nên cuộc hoá giải không thành. Tranh chấp kéo dài tới cả trăm năm, rồi ba đạo đó mới tìm được chỗ đứng trong nhau, sống hoà thuận được với nhau.

Nhưng ở ta thì khác, các đạo Nho, Lão của Trung Hoa tràn sang ta. Các cụ ta lý hội ngay được sự tinh tuý của hai đạo lớn đó. Tiếp đến khi đạo Phật từ Tây Trúc tràn sang. Rồi sau nữa đạo Phật cũng qua đường Trung Quốc tràn vào. Các cụ ta đều nhiếp thống được cái tinh tuý của tam giáo. Thành thử ở ta không có sự chèn ép giữa các tông giáo. Đến đời nhà Lý, từ Lý Thái tổ đã lấy đạo Phật làm Quốc giáo. Song không vì đưa đạo Phật lên vị trí siêu việt mà có sự bài xích Nho, Lão.

Nhà vua nghe Phùng tiên sinh giảng giải thật là chăm chú. Đôi mắt nhà vua nhìn vào miệng Phùng tiên sinh
- nơi phát ra những lời nói vừa mộc mạc vừa cao siêu, khiến nhà vua như uống lấy từng lời.
Nhấp một ngụm rượu, tiên sinh lại nói:

- Về sự là như vậy. Song về lý thì cả ba tôn giáo đều có chỗ nhất quán, nghĩa là vừa siêu nhiên, vừa hiện
thực. Nho, Lão, Phật đều không phải là những hệ thống đóng mà là dòng nước luôn luôn lưu thoát. Ở nước ta, các bậc minh quân thường kiêm dùng cả ba đạo, gồm cả xuất lẫn nhập, cả siêu nhiên lẫn hiện thực, lấy cái nọ chế thắng cái kia cho thêm phong phú tinh thần về đường khai phóng. Bởi thế, việc kén hiền tài cũng xuất phát từ tam giáo. Ví như đã trúng cách khoa minh kinh bác học rồi, lại phải trúng cách khoa tam giáo nữa mới được bổ dụng.

- Tâu bệ hạ, vậy là các cụ ta, đã tạo ra được một đạo mới thấm nhuần ý nghĩa nhân văn siêu việt của tam giáo, trở thành nền đạo thống của quốc gia. Cái lý về tam giáo đồng nguyên chính là ở đấy.

Thái tôn cuối đầu suy tư. Nom dáng vẻ nhà vua đã vượt ra khỏi tầm vóc của một thiếu niên. Phùng tiên sinh ngừng lời lâu rồi, nhà vua vẫn còn miên man với những ý nghĩ về dân, về đạo. Chợt Thái tôn ngẩng nhìn Phùng tiên sinh, nhà vua có cảm giác như là thầy đã biết cả gan ruột mình rồi.

Lúng túng vua nói:

- Sư phụ, những điều thầy nói vừa cao minh, vừa uẩn ảo, khiến tiểu sinh thấy băn khoăn khó nghĩ quá.

- Tâu bệ hạ, chẳng hay có điều gì làm bệ hạ phiền lòng? Bần đạo tuổi cao, tránh sao khỏi, sự khiếm
khuyết, mong bệ hạ đại xá.

- Ồ không! Thưa sư phụ, những điều mà sư phụ thường giảng giải cho tiểu sinh sâu rộng quá, nó hàm chứa
cả nhân, cả nghĩa, cả đạo nữa. Tiểu sinh tự thẹn vì mình ở ngôi cao mà chưa làm được điều gì ích dân lợi nước. Tự thẹn còn vì tiểu sinh được người họ Lý nhường ngôi. Mà rường mối cương thường lại cũng chính do các triều vua Lý đặt nền móng cả. Làm được như nhà Lý đối với dân, đối với đạo ở các thời thịnh đã khó. Vượt được nhà Lý về mọi mặt là muôn khó. Thưa sư phụ, gần đây thái sư thống quốc đã cho san định bộ bình luật, tiểu sinh đã chấp thuận bố cáo cho thần dân đều biết mà thi hành. Nhưng trong lòng vẫn còn áy náy.

- Bệ hạ áy náy điều gì? - Phùng tiên sinh nhẹ hỏi như là một sự khuyến nhượng, khiến nhà vua phấn chấn hẳn lên, ngài nói:

- Thưa sư phụ, điều tiểu sinh thấy chưa được yên ổn trong lòng, ấy là hình luật xem ra có bề hà khắc.
Phùng tiên sinh lấy làm cảm kích thiện tâm của đức vua. Ông không khỏi sung sướng vì đã dậy cho hoàng thượng nhuần thấm được cái đạo nhân nghĩa ở đời. Tự dưng nước mắt ông nhểu ra.

- Tâu bệ hạ, bần đạo đã có đọc qua bộ hình thư đó. Bần đạo cũng có cái cảm nhận như bệ hạ. Song le, mấy chục năm nay kỷ cương nát mục, luân thường đảo lộn, dưới trên lẫn lộn, ác thiện khó phân. Nhà Trần ta mới được thiên hạ, nhẽ ra phải làm trước hết là các việc thiện đức. Khốn nỗi xã hội rối như một mớ bòng bong, thế thì làm sao thi hành được cái đạo của nhà vua. Cho nên phải dựa vào hành pháp để khôi phục đạo thống, lập lại kỷ cương, rồi sau đó mới có thể làm sang việc khác. Bộ hình thư đó lúc này là cần thiết. Nhưng khi dân đã đi vào kỷ cương lễ luật rồi, hình pháp phải khoan giảm.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #42 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 09:46:22 pm »

Thái tôn nhích lại gần Phùng tiên sinh hỏi:

- Thưa sư phụ, khi đã ổn cố được kỷ cương rồi thì phải làm gì?

Tiên sinh cười, vui vẻ đáp:

- Ổn cố được kỷ cương đâu phải chuyện một sớm một chiều làm được. Việc này cực kỳ hệ trọng, vì nó xây dựng rường mối cho một triều đại. Việc hình luật muốn có thành tựu là phải nghiêm. Trước hết đối với những người làm ra luật pháp, những người cầm cân nảy mực trong bộ máy quốc gia, không được phép vi phạm. Có thế dân mới tin. Dân tin từ các điều nhỏ nhặt thì nhà vua mới làm được các điều to lớn khác.

- Tâu bệ hạ, việc này bần đạo nhớ có lần thầy Tử Cống hỏi đức Khổng Tử: “Việc chính nên như thế nào?”.

Đức Khổng tử đáp:

- Đủ ăn, đủ binh, dân tin mình.

Tử Cống lại hỏi:

- Bất đắc dĩ phải bỏ một trong ba điều ấy thì bỏ điều nào trước?

Không ngần ngại nghĩ suy, đức thánh liền nói:

- Bỏ việc binh.

Lại hỏi:

- Còn hai điều ấy, bất dắc dĩ phải bỏ đi một điều nữa, nên bỏ điều nào trước?

Khổng Tử đáp:

- Bỏ ăn. Bỏ ăn thì chết. Nhưng xưa nay người ta vẫn chết. Còn như dân không tin thì hỏng. Hỏng hết. Sụp đổ hết.

Phùng tiên sinh thủng thẳng nói rành rõ từng lời. Nhà vua cứ há mồm ra nghe. Đức vua đã nhích sát tới
mép chiếc bàn chân qùi. Tức là hai thầy trò ngồi cách nhau chỉ còn một khoảng bằng cái mặt bàn, ước đôï hai gang tay.

Tiên sinh biết người học trò của mình có được cái tâm hiếu thiện. Ông thầm nghĩ: “Thật phúc cho nhà Trần, phúc cho trăm họ”. Ông tự hứa với mình, chừng nào còn có cơ may được hầu giảng đức vua, sẽ bằng mọi cách, giúp cho nhà vua hiểu thấu được điều nhân nghĩa, nhẽ trị loạn ở đời. Phải làm cho nhà vua biết kính cẩn và thận trọng, phải nắm được các điều mấu chốt của tam giáo. Biết yêu điều thiện, ghét điều ác. Chớ có ghét cái dân yêu mà yêu cái dân ghét, thì cơ đồ trường cửu bất quá không hơn chiếc bong
bóng dưới giọt tranh.

Tiên sinh chợt nhớ, chưa nói điều vua hỏi: “Ổn cố được kỷ cương rồi thì phải làm gì?”. Nhìn vào khuôn mặt thơ ngây rất đỗi đáng mến của nhà vua, Phùng tiên sinh nói:

- Trở về cái chuyện hình luật. Tâu bệ hạ, khi đã ổn cố được kỷ cương rồi, tức là dân tin theo hình pháp. Trong xã hội không còn trộm cướp. Nhà nhà đủ ăn, đủ mặc. Cha con, chồng vợ hiếu thuận thì phải khoan nới hình luật. Các việc tiếp theo là khai phóng dân trí. Muốn khai phóng dân trí thì phải mở mang việc học. Phải trọng kẻ sĩ, chuộng người tài đức. Vì một nước trị hay loạn, thịnh hay suy là cốt ở nhóm người này. Đây chính là bộ phận thiểu số dẫn lối đưa đường cho toàn xã hội. Cho nên không thể không chăm lo quý trọng họ, để họ giúp rập trong việc đưa toàn xã hội phát triển lên về mọi mặt. Như mở trường học, truyền bá trí thức, giáo hoá nhân luân. Phát triển nghề nông. Mở mang nghề công. Trau dồi nghề thương. Trong một xã hội, ai ai cũng lo làm việc. Nhà nhà đầy đủ ắt sẽ đua nhau làm điều thiện. Vậy lại phải giáo hoá cho dân ghét điều ác hiểm, gian trá, dối lừa, trộm cắp, ắt dân không bao giờ làm điều gian ác nữa. Dân ghét điều ác, điều xấu không làm, hơn là dân sợ hình pháp mà không làm điều xấu, điều ác. Như thế thì dân trở nên thuần phác, giàu có, nước của bệ hạ không muốn phú cường cũng không được.

Thái tôn hết đỗi vui mừng. Bởi mỗi lời nói của sư phụ như ngọn đuốc tuệ soi vào cõi vô minh, khiến nhà vua cảm thấy mình được sáng hoá, được gia tăng sức mạnh để tiến sâu vào đường đạo.

Thái tôn lại hỏi:

- Trình sư phụ, nếu dân trí được khai phóng rồi thì còn phải làm gì nữa?

Phùng tiên sinh suy ngẫm giây lâu rồi đáp:

- Tâu bệ hạ, khi các việc lớn về dân trí, dân sinh đã xây đắp được rồi, lại phải nghĩ đến dân tâm. Tức là
hướng tâm thức chúng dân đi vào con đường đạo. Xin bệ hạ cứ suy xét từ nay cho tới lúc viên mãn cuộc
đời, nếu không có một đấng cao minh nào đó để tôn thờ và cũng là để nương tựa thân tâm, không phải là mối lo lớn cho bách tính sao? Xin bệ hạ hãy ghi nhớ nằm lòng, rồi di truyền lại cho cháu con đời đời, đừng có bao giờ nghe lời xúc xiểm của những người thiển cận mà tước bỏ phần tâm linh của nhân chúng. Lý Cao tôn đã dại dột nghe lời Đàm Dĩ Mộng(9) thu độ điệp(10), bắt tăng ni hoàn tục, phá bỏ chùa chiền, khiến nhân tâm con người trở nên bơ vơ, náo loạn. Phá chùa, đuổi tăng, nhưng nhà vua lại không ngừng xây cất lầu son, gác tía, cung điện nguy nga, ăn chơi xa xỉ, mặc chúng dân lầm than đói khổ.
Xã hội rối loạn bắt đầu từ sự sa đoạ lương tri, tâm linh đoạ lạc.

Từ đấy nhà Lý, bắt đầu từ Lý Cao tôn, và kết thúc ở Lý Huệ tôn. Hai cha con ông này đã chôn cất trọn vẹn sự nghiệp hơn hai trăm năm huy hoàng của cả dòng họ.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #43 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 09:47:08 pm »

Phùng tiên sinh ngừng lời, khiến Thái Tôn ngỡ ngàng, vì nhà vua đang chăm chú lắng nghe. Thái tôn khiêm nhường hỏi tiên sinh:

- Thưa sư phụ, có một điều tiểu sinh chưa rõ lắm, nếu các điều như tiên sinh dậy đã được hoàn tất, thì ngôi quân trưởng như tiểu sinh còn phải làm những gì nữa để dân chúng được an cư lạc nghiệp, nhà nhà hạnh phúc.

Nghe nhà vua hỏi, trong lòng tiên sinh loé lên một niềm vua lớn. Tiên sinh ao ước, nếu như vào tuổi trưởng thành, khi đã nắm trọn quyền lực trong tay, mà nhà vua vẫn còn muốn hỏi han những người am tường thế sự, những người có thiện tâm với dân, với nước. Ôi nếu được như vậy thì Thái tôn sẽ là ông vua mở nghiệp sáng giá. Mặc dù sự lên ngôi của nhà vua, ngay cả công việc điều hành triều chính, lèo lái con thuyền quốc gia đều do tay Trần thủ độ sắp đặt. Sợ rằng nhà vua không chịu tu chính nhân cách, trau dồi đạo học, để trở thành một người mẫn tuệ, thiện đức mà chỉ ham mải cung nữ, mê say các lạc thú trần gian thì sớm muộn cũng trở nên một bạo chúa. Mấy chục năm qua, chỉ vì bậc quân trưởng ngu tối. Xiết bao người chết oan khuất vì đói rét, bất công. Đi về nẻo nào cũng thấy xác người. Tai chất đầy tiếng rủa nguyền hờn oán của đám lê dân. Chính vì thế mà tiên sinh không tiếc sức mình để huấn hỗ cho đức vua trở thành đấng minh quân, đem hạnh phúc đến cho mọi nhà. Nghĩ vậy tiên sinh bèn nói:

- Tâu bệ hạ, thật là phúc cho trăm họ, khi người quân trưởng có bổn tâm chí thiện. Nay bệ hạ nắm giữ ngôi trời, mà lúc nào cũng lo đến làm lợi cho dân, ắt là dân được nhờ. Thế là nhà vua đã thể theo mệnh trời. Nhưng mệnh trời không nhất định. Thiện thì được. Không thiện thì mất. Như nhà Lê mất về tay nhà Lý. Nhà Lý mất về tay nhà Trần. Chẳng qua là các triều đại về sau không giữ được đức thiện, làm trái lòng dân, nghịch mệnh trời. Vì sao vậy? Vì rằng Vua thay Trời trị dân, thì Vua muốn điều gì là Trời muốn điều ấy. Thế nhưng Trời lại chiều Dân. Cho nên Vua làm điều gì trái lòng Dân, tức là trái mệnh Trời. Bởi thế đức Vua tuy được quyền thay Trời, nhưng phải chịu trách nhiệm về mọi mặt đối với Dân. Dân tuy chịu quyền cai quản của Vua, nhưng vẫn có quyền bắt Vua phải theo điều thiện mà làm. Thành thử muốn biết lòng Trời thì hãy xem lòng Dân. Trời với Dân làm một thì trên dưới giao hoà được với nhau. Cứ theo cái lý ấy, thì người làm vua, phải theo lòng dân mà tề chỉnh sự chính trị của mình.

Phùng tiên sinh ngừng lời. Thái tôn vẫn chăm chú lắng nghe với niềm thành kính xúc động. Tiên sinh lại nói:

- Tâu bệ hạ, những điều bần đạo tâu trình bệ hạ, phần theo chữ nghĩa của thánh hiền, phần theo sự thành tựu của các đời trước đã làm, xin bệ hạ lưu tâm.

Thái tôn cúi đầu vái tiên sinh hai vái.

===============================

1. Loại cầu có mái che.

2. Nghinh phong: Đón gió - nơi ngồi nghỉ mát.

3. Tịch huyên: Tĩnh lặng, không có tiếng ồn ào - thường là nơi đọc sách hoặc gẩy đàn.

4. Chức quan trông coi về các kho tàng trong cung vua.

5. Vương Duy (698-759) một thi hoạ nổi tiếng danh đời Đường. Ông được coi là người đã sáng lập ra phái
Nam thuỷ hoạ.

6. Có nghĩa là: Phật - Nho - Lão tuy ba nhà nhưng chung một bếp. Vua - Cha - Thầy là cái lõi của năm
luân.

7. Thầy học của Phùng Tá Thang là Đỗ Đô, đỗ Minh Kinh bác học xong lại đỗ ưu khi vào thi tam giáo năm Hội phong thứ sáu, tức năm Đinh Sửu (1097) triều Lý Nhân tôn. Đỗ Đô là người sáng lập giáo phái Hoàng Giang, tiền thân của phái Trúc Lâm sau này. Ông sống trên một trăm tuổi, trải 5 triều vua.

8. Tam giáo đồng nguyên: chữ Hán có nghĩa là: Ba đạo cùng một nguồn gốc. Liễu Tôn Nguyên đời Đường đã đứng ra giải thích việc này. Đương thời không chấp nhận.

9. Đàm Dĩ Mộng làm tới chức Thái phó triều Lý Cao tông. Ông cho việc làm rối loạn xã hội, kinh tế khó khăn là do nhiều người đi tu quá. Chủ trương bắt tới quá nửa số sư sãi phải hoàn tục.

10. Độ điệp: một loại giấy chứng chỉ của chính quyền cấp cho người tu hành. Ai có độ điệp mới được miễn sưu dịch.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #44 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2010, 09:07:04 pm »

CHƯƠNG 16

Bay đâu! Bà thiên cực công chúa Trần Thị Dung quát gọi đám nô tì.

- Dạ! Tiếng dạ ran lên từ miệng hàng chục đứa thị nữ. Chúng kéo đến vây quanh bà:

- Dạ, bẩm phu nhân, chúng con có mặt.

- Ta nghe có tiếng quân dẹp đường, có phải kiệu của đức ông về đấy không?

- Bẩm phu nhân, để con ra cổng ngó xem. - Trịnh Huyền vừa nói vừa nhanh nhảu chạy ra cổng. Một lát đã thấy về.

- Trình phu nhân, đấy là kiệu của quan Thái uý(1) phụ chính đi dạo mát.

Phu nhân lắc đầu nói nhỏ, nhưng vẫn không giấu nổi vẻ bực dọc: “Đi dạo mát mà cũng tiền hô hậu hét. Ngông nghênh quá thể. Không trách ông chú ghét là phải”. Mà lạ, hai chú cháu cứ như xung khắc ấy. Bà thầm nghĩ: “Nếu không có ta can ngăn ông ấy, không biết tình chú cháu sẽ đi đến đâu. Ta vừa là mẹ vợ nó, vừa là thím nó, nói mãi cũng chẳng lọt tai nó. Từ dạo lập phủ riêng, mộ quân luyện tập ráo riết, nó lại càng vênh váo lên mặt”.

Đám thị nữ đã lui ra hết, chỉ còn Trịnh Huyền vẫn băn khoăn đứng gần phu nhân, như muốn bày tỏ điều gì. Trịnh Huyền chính là thị nữ đã mật chuyển tờ chiếu Cần vương do quan thừa chỉ thảo đến cho Lý Huệ tôn ký, chẳng may bị lính tuần thám của Trần Thủ Độ bắt được. Việc vỡ lở, nhưng cả hai thầy trò đều được Trần Thủ Độ đại xá. Không những thế, quan thừa chỉ còn được cất nhắc, thị Huyền vẫn được tin dùng. Thị vẫn được ở lại trong cung hầu hạ đức bà, khiến thị cảm kích cái ơn cứu tử, dẫu có kết cỏ ngậm vành cũng chưa báo đáp được.

Đức bà là người khoan nhân đức độ, không chấp nê những chuyện đã qua. Nhiều lần phu nhân còn gia ân cho tiền bạc để thị về quê, chu cấp cho cha mẹ.

Thị Huyền đứng mãi, không thấy đức bà cho lui, cũng không thấy sai bảo điều gì, Huyền bèn bê khay trầu từ bàn nước đưa lại chỗ đức bà đang ngồi trên kỷ. Thiên cực đang đắm chìm vào những suy tư, chợt giật mình, bà vẫy tay ra hiệu cho thị Huyền trở lui.

Thiên cực đang mong Thủ Độ trở về để khoe biết bao là chuyện. Nhất là từ hôm được tin con gái bà - hoàng hậu Chiêu Thánh đã tắt kinh hơn một tháng, lòng bà chấp chới như muốn bay lên. Thế là bà yên tâm. Con gái bà đã ấm chỗ, chắc chân. Thảo nào nom con bé khác quá. Đang ăn chơi phổng phao thì ốm đứng ốm ngồi, chợt ngửi thấy mùi cơm đã ậm oẹ nôn mửa. Mừng thì mừng thật, nhưng bà hơi ngại. Vì sức Chiêu Thánh mảnh mai quá. Còn trẻ quá. Con bé mới chớm sang tuổi mười lăm mà đã sắp làm mẹ.
Bà bấm đốt ngón tay nhẩm tính từ ngày thái sư thống quốc đi khỏi kinh thành. Cứ như lời ông nói lúc ra đi: “Tôi chỉ đi trọn một tháng” thì hôm nay đã là một tháng năm ngày rồi, vẫn chưa thấy về.

Bà mong chồng về còn vì có chuyện bà nhờ vả ông, xin cho một thằng cháu về bên ngoại. Tức là cái tên phải gọi bà bằng bà cô để được làm câu đương(2). Chả là bữa thái sư sắp ra đi, bà hỏi:

- Ông lại sắp đi đâu đấy?

Thái sư mỉm cười, đáp:

- Tôi đi có công việc của triều đình.

- Thì có bao giờ tôi nghĩ ông đi làm việc gia đình. Chẳng qua là vợ chồng ăn ở với nhau, quen hơi bén tiếng,
ông đi, vắng cửa vắng nhà, tôi cũng hỏi thế thôi. Thiên cực nói hơi có ý hờn mát.

Trần Thủ Độ làm lành:

- Tôi đi xét định hộ khẩu mấy châu Sơn Nam, Thanh Hoá. Tiện thể lựa một số câu đương.

Thiên cực hỏi:

- Vậy chớ thời bình, sao phải xét định hộ khẩu làm gì?

- Để phòng việc binh. Mình sống cạnh một nước khổng lồ. Sểnh ra là mất nước như chơi. Thôi thì cái gì lo
sớm được cứ lo, chẳng hơn lúc lâm sự, trở tay không kịp.

- Ông có về Long Hưng(3) chứ?

- Có. Tôi phải tuyển ở đấy hơn chục tên câu đương. Bởi có một số già quá không làm được việc. Còn một
số trẻ quá lại chỉ ham cờ bạc, trai gái, hà lạm, đục khoét của dân.

Thấy Thiên cực có vẻ băn khoăn, Thủ Độ gặng hỏi tới hai, ba lần bà mới chịu nói:

- Tôi có một thằng cháu họ ngoại, muốn xin ông gia ân cho nó một chức câu đương.

Trần Thủ Độ cười lớn:

- Tưởng chuyện gì khó, chứ chuyện ấy trong tầm tay tôi. Bà cứ nói tên họ nó cùng quê quán, làng xã để
tôi biên lại, thế nào tôi cũng cho nó làm câu đương.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #45 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2010, 09:07:42 pm »

Bà Thiên cực thường nghĩ, mình xa quê quán kể tới mấy chục năm rồi. Nhất là họ hàng về phía bên mẹ cách sông cách đò, thảng có về thăm cũng không sang được. Nay cho thằng cháu làm chức câu đương, xem như đấy là một chút quà của bà với bên họ mẹ. Bà cũng biết tính chồng lắm. Ông ấy là người trọng nghĩa. Nhưng cũng là một người sống mẫu mực, nghiêm chính. Mấy năm ăn ở với nhau, bà còn lạ gì tính chồng. Ông chúa ghét bọn tham nhũng. Hạng người này ông ấy coi ngang với bọn lưu manh, trộm cắp. Cũng may, nhờ có nghiêm từ nhà nghiêm đi. Nghiêm từ trên nghiêm xuống, nên xã hội đã khôi phục lại được nền nếp, kỷ cương. Người dân đã được an cư lạc nghiệp. Bà Thiên cực cứ phiêu bồng hết ý nọ sang ý kia như một kẻ mộng du. Bỗng có tiếng trống điểm canh phía cổng dinh, một lát sau thị nữ Trịnh Huyền vào bẩm:

- Trình đức bà. Đức bà có người em bên quê ngoại ra thăm, đang chờ lệnh bà cho phép. Thiên cực công chúa gật đầu. Trịnh Huyền dẫn vào một bà nhà quê. Vừa trông thấy Thiên cực phu nhân, bà ta đã tru tréo lên:

- Ới cô ơi là cô, cô thương cháu mà suýt nữa cháu cô bỏ mạng rồi cô ơi.

Bà ta cứ hô hoán lên, vừa khóc vừa nói, khiến phu nhân phát hoảng. Không biết bà ta là ai, ở đâu đến. Bà
ta la hét oán vọng cái gì mới được cơ chứ. Càng nghe bà ta nói, phu nhân càng không hiểu đầu đuôi sự thể ra sao nữa.

Phu nhân tỏ vẻ bực mình, truyền cho thị nữ hỏi cho ra nhẽ. Bọn thị nữ dỗ dành mãi, bà ta mới hét toáng lên:

- Thế ra cô vẫn không nhận ra tôi à? Bố tôi với mẹ cô là hai anh em ruột. Mới có một đời thôi mà đã quên hết cả họ nội, họ ngoại rồi sao?

Phu nhân vừa nhìn ngắm bà, vừa ngẫm nghĩ lời bà ta nói: “Bố tôi với mẹ cô là hai anh em ruột”. Chả lẽ đây
chính là chị ta sao? Đúng rồi, chị ấy có nốt ruồi đen ngang đầu con mắt. Hồi mình còn sống ở làng Ngừ, chị ấy thường sang sông cắt cỏ trâu. Hai chị em đánh chuyền với nhau mãi không chán. Vẫn cái thói bô lô ba la, chưa thấy người đã thấy tiếng. Từ tính nết đến lời ăn tiếng nói vẫn y hệt thời con gái. Chỉ có khác là chị ấy thay đổi nhiều quá. Chị già quá, tóc bạc gần hết rồi.

Trong khi phu nhân còn đang hồi tưởng về những ngày thơ âu của hai chị em thì bà ta la lên:

- Thế ra cô vẫn không nhận ra tôi thật à, cô Dung?

Đám thị nữ xanh mắt nhìn nhau. Thị Huyền vội chạy lại bịt miệng bà khách. - Bà ăn nói gì lại không biết giữ
mồm giữ miệng. Ai cho bà réo tên tục của phu nhân ra mà gọi.

Bà khách đấu dịu:

- Thế tôi phải gọi cô cháu bằng gì?

- Gọi là gì thì tuỳ bà. Hay bà cứ gọi là “Thiên cực công chúa”, hoặc “phu nhân” không thôi cũng được.

Chợt phu nhân sốc áo đứng dậy đi về phía người khách lạ. Phu nhân vái dài khách rồi nói:

- Chị Gái phải không? Bỏ lỗi cho tôi. Hơn mười năm không được về quê. Hơn hai chục năm chị em mình
không gặp nhau. Bao nhiêu biến đổi tang thương đã xảy ra trên đất quê mình. Chị lên thăm tôi, quí hoá
quá. Nhưng vừa rồi chị kể lể cái gì tôi nghe khiếp sợ quá. Cái gì sống sống chết chết hả chị?

- Giời ơi, chính vì cái việc sống chết ấy mà tôi phải lặn lội lên đây tìm cô. Cô biết đấy. Từ cái thuở cô được tiến kinh, cô trở thành hoàng hậu, thì bên nội cô được nhờ vả thế nào không biết. Chứ bên ngoại, tịnh không có ai cầu cạnh xin xỏ phiền quấy gì cô. Có đúng thế không? - Bà Gái vừa nói vừa gạn hỏi, khiến phu nhân phải gật xác nhận.

Phu nhân hai tay nâng khay trầu mời:

- Chị hãy cứ nhai một khẩu trầu đi đã. Suốt mấy chục năm chị em không gặp nhau. Chị trách, tôi chịu.
Nhưng chị hãy bình tâm. Tôi có lỗi nhiều với quê họ mẹ. Chị biết đấy, tiếng rằng được về kinh, nhưng tính mạng tôi, lúc nào cũng như cá nằm trên thớt ấy, sung sướng gì đâu. Bà mẹ chồng, tức bà thái hậu, luôn rình rập bỏ thuốc độc vào thức ăn thức uống của tôi. Nếu Huệ tôn không tận lòng thương, chắc là tôi không còn sống đến ngày nay để nghe chị trách móc. Cực lắm chị ơi, nay nhóm này, mai phe khác, loạn lạc khắp nơi, triều đình chạy như vịt. May có ông thái sư tài hơn thiên hạ, nên đất nước mới được yên bình mấy năm. Dào ôi, cứ nghĩ lại những năm tháng đã qua mà sởn gai ốc.

Phu nhân đổ một hơi thở dài, như vừa trút đi cơn ác mộng.

Bà khách ở quê ra nhón một khẩu trầu. Cầm miếng trầu têm cánh phượng rất khéo, bà ngắm nghía rồi mở
ra. Vừa mở miếng trầu bà vừa nói:

“Ăn trầu phải mở trầu ra

Một là thuốc độc hai là mặn vôi”.

Xong bà ốp cả ba miếng trầu, cau, vỏ đút thỏm vào mồm nhai bỏm bẻm, nuốt nước miếng ừng ực. Bà lấy
hai ngón tay tém từ hai khoé miệng đến vành môi, nhả miếng trầu ra cầm tay, lại nói:

- Ấy đấy, những chuyện cô nói chúng tôi bỏ ngoài tai hết. Cứ là ăn no vác nặng, tối lên giường đánh một
giấc đẫy. Mặc cho ai tranh mồi phú quí, bả vinh hoa. Thời thế đổi thay như chong chóng, ai mà biết trước được. Đấy, mới hôm trước nhà Lý, hôm sau lại Trần, rồi còn cái gỉ cái gì nữa, ai mà lường hết. Mất mạng như chơi. Cánh nông phu chúng tôi không dính. Cô ngẫm xem, cô vinh hiển thế, nhưng tịnh không có một ai trong họ nhà tôi cậy nhờ cô điều gì. Có đúng không?
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #46 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2010, 09:08:28 pm »

- Quả có như vậy. Phu nhân buồn rầu xác nhận. - À, nhưng sao chị vẫn chưa nói cho tôi hay cái điều gì “sống chết”, mà chị la trời la đất lúc vừa trông thấy tôi ấy.

- Ừ, cũng chỉ có mỗi cái việc ấy, tôi mới phải cất công lên đây, nói với cô, rằng từ nay, cô đừng có ban ân ban phước gì cho bên ngoại nữa nhé. Thằng con tôi suýt mất mạng vì chuyện cô xin cho nó làm câu đương đấy.

- Chị nói gì lạ thế chị Gái? Ông thái sư nói là đi xét định hộ khẩu, tuyển câu đương. Tôi hỏi có về vùng mình không. Ông ấy bảo “có”. Nhân tiện tôi dặn ông ấy tên tuổi làng xã thằng con chị, để ông ấy cất nhắc cháu. Tôi có ác ý gì mà chị bảo tôi giết cháu?

- Thôi được rồi, cô để tôi nói rõ ngọn ngành cho cô chừa cái thói làm ơn, làm phúc ấy đi. Bà khách nhà quê bỗng nghiêm mặt lại. Bà vứt toạch miếng bã trầu ra thềm điện, tay bà vẫn sờ sờ vào hông chiếc ống nhổ bằng đồng mắt cua mát lạnh.

- Nó là như vầy cô ạ. Đúng là ông thái sư nhà cô có về xã tôi. Ông chìa mảnh giấy ra hỏi ông xã trưởng: “Làng này có tên mỗ này không? Tìm nó cho ta”. Thằng cả nhà tôi được xã trưởng cho người đến gọi ra hầu thái sư, mừng quá. Nó dặn vợ con: “Ta là dòng tôn thất ngoại tộc. Phen này ắt thái sư đưa ta tiến triều”. Nó hăm hở đóng khăn đóng áo đi gặp ông thái sư nhà cô. Bước ra khỏi ngõ, nó còn quay lại giơ nắm đấm doạ vợ con: “Phen này ông mà được vào triều, mẹ con mày biết tay ông. Còn coi thường ông nữa không nào”. Nói xong nó cắm cổ chạy. Đúng là nó chạy cô ạ. Chẳng biết đầu cua tai ốc ra sao, thế là tôi cũng chạy theo nó ra đình.

Vừa đến nơi, tôi đã thấy nó phủ phục lạy ông thái sư nhà cô.

Ông ấy liền hỏi thằng con tôi:

- Có phải mày tên mỗ, tên mỗ…?

- Dạ, bẩm thái sư, đúng tên con đấy ạ. - Thằng cả giả nhời ông chú dõng dạc lắm.

- Mày có họ hàng gì với công chúa?

- Dạ bẩm, con là cháu gọi công chúa bằng cô đấy ạ. Dạ là về bên ngoại. Ông ngoại con và bà thân sinh ra
công chúa là chỗ con cô con cậu ruột.

- Tuy là ngoại, nhưng vẫn là họ gần. Công chúa thương, xin cho mày làm câu đương, mày có nhận không?
Ông thái sư nhà cô vừa dứt lời, thằng con tôi như một đứa động rồ. Lập tức nó nhảy cẩng lên, rồi cúi rạp mình xuống:

- Lạy thái sư, con thích lắm ạ, con đội ơn thái sư.

Ông ấy liền nghiêm mặt, lạnh như tiền, nói dõng dạc:

- Ngươi vì có công chúa xin cho mới được làm câu đương, không ví như người câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt với người khác.

Thằng con tôi sợ quá cô ơi. Mặt nó tái mét như con gà vừa mới cắt tiết, run lập cập, quỳ mọp trước ông thái sư nhà cô, xin được tha cho, không phải làm câu đương. Mãi ông ấy mới chịu. Về nhà, nó như thằng mất hồn.

Tôi sợ quá. Sau khi ông ấy sang xã khác, thế là tôi tốc táo lên gặp cô ngay. Sợ để lâu, cô không biết, lại xin cho cháu thăng thưởng lên chức gì đấy nữa, chắc là con tôi mất mạng!

Phu nhân chết lặng người đi. Bà không ngờ Trần Thủ Độ lại xử tệ với bà như thế.

=============================

1. Sau khi thượng hoàng Trần Thừa mất, Thái tôn phong cho anh ruột là Trần Liễu chức quan thái uý phụ chính. Đây là một chức quan đầu triều đứng trong hàng tam công.

2. Câu đương: Một chức quan đứng đầu hàng xã, tương đương với xã trưởng, đình trưởng hồi xưa, hoặc lý trưởng thời Pháp thuộc, chủ tịch xã bây giờ.

3. Long Hưng: Vùng đất huyện Hưng Hà- Thái Bình, quê hương bà Trần Thị Dung.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #47 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2010, 09:09:25 pm »

CHƯƠNG 17

Cuộc tuần thú của đức vua từ Thăng Long ra An Bang xuất phát từ một chiếc lâu thuyền. Đó là một chiếc thuyền rồng lớn có tên Phi Long. Sức chứa tới vài ba trăm người với khoảng vài ba chục con ngựa. Nhưng trên thuyền, ngoài bọn thuỷ thủ ra, chỉ có một đội lính cận vệ ba chục tên với vài cỗ kiệu, dăm bảy con ngựa. Tháp tùng đức vua còn có quan thừa chỉ và một vài nội nhân(1) theo hầu.

Chiếc lâu thuyền từ hồ thuỷ quân đi ra bên Đông bộ đầu, đã làm cho dân kinh thành phải xôn xao. Người ta nườm nượp kéo nhau đi xem lâu thuyền, như trẩy hội. Chiếc thuyền thon dài, cao lênh khênh, hai tầng. Hai bên mạn thuyền trạm nổi hai con rồng vươn đầu lên, như sắp bay vút vào không gian. Hai con rồng sơn màu đỏ. Mạn thuyền sơn màu vàng. Con thuyền trang trí lộng lẫy từ những chiếc rèm cửa sổ, đến các hàng con tiện. Từ những cây cột buồm, đến các mái chèo, đều được kén chọn vải tốt, gỗ quí, soi, tiện, sơn quét thật là ngoạn mục.

Từ mờ sáng, cả kinh thành còn đang ngái ngủ, vua Thái tôn cùng đoàn tuỳ tùng, đoàn hộ giá đã xuống thuyền.

Thái tôn vốn trọng nhân cách quan thừa chỉ, nhưng chưa có dịp thù tiếp. Nhà vua muốn nhân cuộc tuần thú này để dò biết ý tứ quan thừa chỉ, và cũng là ý tứ của các bậc trọng thần.

Thắm thoắt, Trần Cảnh được Chiêu Hoàng nhường ngôi đã gần chục năm. Bằng ấy năm ở ngôi, Trần Cảnh tự xét các công việc triều chính đều dựa vào một tay Trần Thủ Độ. Ông chú rất mực trung thành với đế nghiệp họ Trần. Song ông chú cũng là một người chuyên chế. Dần dần Trần Cảnh cũng ý thức được ngôi vị của mình, nên trong từng việc, nhà vua đã tự mình xướng xuất. Gần đây sau khi thượng hoàng mất, Trần Cảnh lấy thái uý Trần Liễu là anh ruột làm phụ chính, sách phong Hiển hoàng. Cùng lúc định phong cho anh ruột Trần Thủ Độ là An Quốc làm đại tướng. Thái sư nói: “An Quốc là anh thần, nếu là người hiền thì thần xin nghỉ việc, nếu cho thần là hiền hơn An Quốc, thì không nên cử An Quốc. Nếu anh em cùng là tướng thì việc trong triều đình sẽ ra sao?”. Các quan đều cho ý của Trần Thủ Độ là phải. Vua bèn thôi.

Phải nói, nhà vua là người kiên tâm học hành lại chịu khó tham bác ý kiến các bậc quốc sĩ, các vị trọng thần, và thường là biết nghe lời khuyên can của người trên, kẻ dưới. Chính việc không cố chấp ấy đã khiến cho nhiều người muốn gần gũi nhà vua.

Việc quan thừa chỉ chủ mưu chuyện cần vương hồi sinh thời Lý Huệ tôn, nhà vua cũng được Trần Thủ Độ cho biết. Nhưng thái sư lại căn dặn nhà vua phải trọng dụng quan thừa chỉ, vì ông ta là người hiền.
Con thuyền đi giữa đôi bờ san sát những lúa ngô. Thỉnh thoảng một cánh rừng ăn xuống tận mép sông. Nhìn quang cảnh đất trời lồng lộng, không khí yên ả thanh bình, lúa, ngô xanh tốt bời bời, nhà vua lấy làm đẹp ý, tự nhiên muốn thổ lộ tâm tình. Đúng lúc có tên lính trạo nhi(2) đi qua, nhà vua sai vào trong khoang
mời quan thừa chỉ lên lầu đàm đạo.

Quan thừa chỉ là một người nhỏ nhắn, đôi mắt sáng, vầng trán cao, tiếng nói đanh như tiếng chuông. Ông có uy khác thường. Nếu ai làm điều gì trái ý, ông chỉ đưa mắt nhìn, kẻ ấy phải thôi ngay.

Quan thừa chỉ sớm nay mặc áo thụng tía, quấn khăn chữ nhân bằng vóc tím trùm lên cả búi tó phía sau đầu. Nhìn từ phía lưng, đầu ông tựa hình một chiếc mui thuyền. Ông vái nhà vua hai vái, rồi nói:

- Tâu bệ hạ. Non sông Đại Việt ta quả là gấm vóc, trù phú, nhìn mãi không chán mắt. Đối cảnh sinh tình, thần vừa tức sự được một bài tứ tuyệt. Dâng bệ hạ ngự lãm. Vừa nói, ông vừa móc trong tay áo thụng ra một tờ giấy hoa tiên, nét mực đen ánh như chưa kịp khô.

Thái tôn đọc chăm chú. Nét mặt nhà vua mỗi lúc một thêm tươi nhuần. Đọc đi đọc lại tới cả chục lần. Nhà vua như đang tìm kiếm điều gì phía sau các con chữ. Hết nhìn vào bài thơ, Thái tôn lại ngẩng nhìn trời nhìn dòng sông, và dường như dừng rất lâu lại phía đôi bờ trù mật. Cuối cùng nhà vua nhìn thẳng vào quan thừa chỉ. Trả lại cho ông bài thơ, Thái tôn nói:

- Ông dùng chữ như thần. Ta chưa từng biết có bài thơ tức sự nào hay hơn thế.

Để tỏ lòng biết ơn, quan thừa chỉ vái nhà vua hai vái. Vẻ cung kính, ông nói:

- Bệ hạ quá khen. Nếu có tứ nào lọt được vào mắt xanh của bệ hạ, ấy là do thần được thụ hưởng khí
thiêng sông núi do hồng phúc của bệ hạ tạo nên, chứ thần có tài cán gì đâu.

- Ông khiêm nhường quá. Ta mong trong cuộc tuần sát này được ông chỉ bảo cho đôi điều hữu ích. Ông đừng thủ lễ một cách thái quá. Hãy coi ta như một người bạn vong niên. Được thế, ta thật quí vô cùng.
Đúng là Thái tôn thiếu người để thổ lộ tâm can. Trong lớp lứa với ông, chỉ có Chiêu Thánh hoàng hậu.
Nhưng không thể đàm đạo thế sự với đàn bà. Vả lại, hậu có hiểu biết gì mấy mà trò chuyện. Duy có thượng hoàng, đôi khi nhà vua còn tỏ lộ được nỗi lòng. Khốn nỗi, thượng hoàng đã sớm lìa bỏ nhà vua để về với tiên tổ. Ngay cả đến thái uý Trần Liễu, nhà vua cũng không bầy tỏ được điều gì. “Hình như huynh trưởng vẫn có ý coi thường ta thì phải”. Trần Cảnh biết thế, nhưng nhà vua là người hiếu đễ, nên dằn lòng chịu đựng chứ không phản bác. Đối với quốc mẫu, tức phu nhân Trần Thủ Độ, nhà vua vẫn một lòng tôn kính. Bà là người đảm lược, khéo léo thu xếp mọi việc trong hoàng gia và hoàng tộc. Ít ai có thể chê trách được bà.

Trong nhà đã vậy, ngoài triều chính lại chỉ có bàn bạc việc công với những ông già khú đế, không còn sức sống, nhưng lại bài xích lớp trẻ, không muốn để cho ai thay thế mình, ngoài con cháu họ. Nhà vua luôn luôn có mặc cảm cô đơn. Nhiều khi cũng muốn gặp gỡ, để hỏi han hoặc bàn bạc cho ra lẽ với thái sư thống quốc. Nhưng Trần Thủ Độ là một người nghiêm khắc, và chỉ áp đặt chứ ít khi chịu bàn bạc. Có việc nhà vua đã quyết hẳn hoi trước bá quan, mà Thủ Độ vẫn không tuân, ví như việc cử ông trị nhậm Thanh Hoá. Ông chỉ nhận kiêm thêm, rồi giao cho một viên phó của ông nhiệm sở. Còn ông không bao giờ chịu rời bỏ quân đội.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #48 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2010, 09:10:18 pm »

Tự biết mình vì đâu được ngồi trên thiên hạ. Thái tôn thấy có bổn phận phải thờ chú như cha. Cho nên cái gì dù ông đã quyết mà Thủ Độ phản bác, ông tìm cách bãi bỏ cho êm chuyện. Nhà vua cũng biết không thể dựa mãi vào lực của người khác được. Mai đây thái sư già, rồi khuất núi. Mọi việc sẽ đến tay mình. Nếu không tu chính học vấn từ bây giờ, sau này biết được điều phải quấy ra đâu mà chăn dắt trăm họ. Bởi thế nhà vua đã học một cách ẩn nhẫn, có thể nói, đức vua đã nhún mình thờ các bậc quốc sĩ, trọng dụng những người hiền đức, ngõ hầu đem lại sự an dân hưng quốc.

Sực nhớ đang tiếp chuyện quan thừa chỉ, và đang nói về bài thơ tức sự của ông, Thái tôn hỏi:

- Hẳn là ông đã viết được nhiều rồi?

Quan thừa chỉ mỉm cười cung kính:

- Tâu hoàng thượng, thần vốn đầu óc quê kệch, chớ đâu có tâm hồn siêu viễn như các bậc thi nhân.
Nhưng trước cảnh đẹp của đất nước, trước nỗi vui buồn, yêu ghét của đám lê dân và của chính hạ thần, không biết thổ lộ cùng ai, đành phải cầm bút viết. Những cảnh, những tình như thế, thần ghi lại được từ thuở mười lăm mười sáu tuổi cho tới nay đã ngoài sáu chục tuổi, kể có vài ngàn bài.

Thái tôn chau mày, vẻ khiếp phục:

- Vậy chớ ông còn lưu giữ được cả chứ. Ông có thể cho ta coi được chăng?

- Dạ, tâu hoàng thượng. Phần mỗi khi đọc lại, có những bài không còn thấy thích nữa, thần đốt đi. Phần do
những năm biến loạn, vật đổi sao dời, chẳng biết ra sao, lại mang hoạ vào thân, thần đã đốt gần hết. Dạ muôn tâu, thơ là để nói lên trước hết cái tâm chất của mình rung động trước vẻ đẹp thiên nhiên, và cảnh ngộ của con người. Sau nữa là nói lên cái chí của mình. Thứ đến là nói tới những cái mình thật yêu hoặc thật ghét

- Tiếc quá! Tiếc quá! Tại sao ông không viết khác đi một chút, hoặc thác lời vào cái này cái nọ để có thể lưu giữ được cho đời sau ?

Quan thừa chỉ cười thầm: đức vua của ta còn thơ ngây quá, trắng trong quá. Chưa hiểu được cuộc đời cùng thế sự. Ước gì mãi mãi ông ta giữ được sự thanh khiết của tâm hồn, để đem vào việc trị nước an dân.
Chợt nhớ nhà vua vừa bảo “viết khác đi một chút” quan thừa chỉ tiếp :

- Tâu bệ hạ, không thể được. Viết khác đi một chút, nó không phải là mình. Và vì thế nó cũng không còn là thơ nữa. Người có nhân cách không bao giờ tự dối mình, cũng như thà chết chớ không bao giờ dối người. Vả lại, nếu có viết khác đi môt chút thì, tâu bệ hạ, nó có đáng gì để được lưu giữ. Còn như ý bệ hạ là “thác lời vào cái này cái nọ” để nói lên cái vi ý của mình, thì chính đức Khổng Tử đã làm. Ngài sống trong Thời Chiến quốc: đời suy, đạo mờ, nhân luân nát mục, tài năng của kẻ sĩ không được đem dùng, cái tàn bạo ở ngôi, cái thiện đức bị chôn vùi, nên ngài soạn kinh Xuân Thu, là cốt để cho các đấng bậc chăn dân soi vào đó mà hành hóa. Bệ hạ chắc đã đọc kinh Xuân Thu ?

Thái tôn gật đầu :

- Ta có đọc đôi ba lần. Mỗi lần đọc, lại mỗi lần sáng tỏ thêm. Thế mới biết văn chương của Khổng Tử thật
là thâm viễn, thật là uẩn ảo. Đấy là cách lấy sử làm văn. Người tục, tâm phàm, chẳng viết nổi một chữ có hồn, còn nói gì đến văn chương. Vậy chớ hiện thời gom góp lại, ông còn được độ bao nhiêu bài thơ?

- Dạ, tâu hoàng thượng, rải rác còn giữ lại được khoảng non một trăm bài, thần đã lựa và đôn vào thành hai tập. Tập thượng, gồm những bài viết trong độ tuổi thiếu niên, có tựa đề “Tú thanh”. Tập hạ, gồm các bài viết trong độ tuổi trưởng thành, mang tựa đề “Lạc nhạn”. Trong dăm năm gần đây, hiện tình xã hội có chiều ổn cố, tâm hồn đã có phần thư tĩnh, thần có viết thêm được non trăm bài. Cũng định tuyển lại, rồi cho vào tập để đọc di dưỡng lúc tuổi già. Dạ, tâu bệ hạ, nếu Người có lòng, để rồi thần dâng bệ hạ đọc, và xin bệ hạ châu phê cho vài lời làm tựa sách.

Thái tôn cười khiêm tốn :

- Nếu bỏ cái ngôi quân trưởng ra, ta chưa đủ văn chất để thẩm định thơ ông.

- Dạ, bệ hạ quá khiêm nhường.

Cuộc nhàn đàm về thi phú làm đã làm cho vua tôi nhích lại gần nhau. Về phía nhà vua, qua trò chuyện
cũng mở thêm được cái nhãn giới vốn hạn hẹp của mình. Vì nhà vua vừa ít học, ít đi, ít thấy. Cho nên đức vua lấy làm mãn nguyện về những cuộc viễn du, thù tiếp như thế này lắm.

Phần mình, quan thừa chỉ cũng có phần cảm thông với nỗi niềm cô đơn của ông vua nhỏ. Nhưng quan ông còn quí trọng nơi đức vua, có được cái bổn tâm chí thiện. Chính vì thế mà ông mừng. Ấy là nói về sự mừng cho trăm họ, đỡ phải sống trong cảnh lầm than, ngột ngạt của một triều đại chuyên chế.

Nhìn những trà ngô trổ hoa trắng trời, những trà lúa mơn mởn xanh chạy tít tắp từ xa tới bên mép sông, và nghe những giọng hát ánh ỏi từ các cánh đồng hai bên bờ vọng lại, cả vua tôi đều im lặng. Có lẽ cả hai người cùng đang cảm thụ cái đẹp của đất trời và của cư dân Đại Việt. Bầu trời xanh thẳm, cao vời vợi, mấy cánh cò trắng dập dờn trong sóng nắng, gợi mở một cái gì vừa trong trẻo thanh bình, lại vừa cao khiết nơi con người. Phía xa kia hiện ra một dãy núi xanh mờ. Đỉnh núi mây trắng đùn lên ngùn ngụt. Thái tôn sực hỏi quan thừa chỉ:

- Ông đã có lên chơi ngọn núi kia lần nào chưa?

- Tâu bệ hạ, thần chưa có may mắn được lên chơi Yên Tử. Nghe nói Phù Vân quốc sư hiện đang trụ trì
trên đó?

- Đúng vậy. Thuở nhỏ ta thường gặp ông hay lui tới Thăng Long, và cũng đã có giao thiệp với nhau. Nhưng những năm đất nước rối loạn, quốc sư không về triều nữa. Đã có đôi lần ta cho người lên vời, song Phù Vân không chịu xuống núi.

Thuyền xuôi gió, lại được những tay chèo khoẻ, cứ rẽ nước đi phăng phăng. Chợt nhà vua nhìn thấy cảnh
dân chúng đắp đê đen nghịt, Thái tôn lấy làm hài lòng nói với quan thừa chỉ:

- Mấy năm qua, triều đình tha bớt tô thuế để dân có sức đắp đê. Ông thường có dịp đi kinh lý, chẳng hay lòng dân thế nào ?

- Tâu bệ hạ, việc bệ hạ khoan giảm tô thuế, khuyến khích cấy trồng, khẩn hoang, lập ấp trong mấy năm qua, ơn mưa móc ấy đã xuống đến từng nhà. Nay bệ hạ lại nối tiếp sự nghiệp trị thủy của nhà Lý. Nhà Lý chỉ đắp đê khoanh vùng chống lụt cho thành Đại La và một vài nơi khác, việc trị thủy còn lỏi. Nhiều nơi mùa nuớc lũ, dân còn bị trôi hết cả cửa nhà, gia sản đồng ruộng bị mất trắng tới mấy mùa vụ liền, dân đói khát phiêu bạt, xiết bao cơ cực. Nay bệ hạ cho đắp đê từ nguồn xuống tận biển. Ấy là việc thủy từ gốc, đem lại không biết bao nhiêu lợi lộc cho cả nước. Lại không sợ cái họa nước lớn đe dọa liền năm. Tâu bệ hạ, đây là một việc làm chưa từng thấy trong công cuộc mở mang nền nông nghiệp nước nhà. Đối sánh với lịch sử, nó sẽ là một công tích vô tiền khoáng hậu.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #49 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2010, 09:11:15 pm »

Gió đem theo điệu hò hoành tráng của đám người đắp đe, cùng với hơi mát của dòng sông phả vào đầy ắp lâu thuyền. Nhà vua khoan khoái hít căng lồng ngực bầu không khí trong làn, và mỉm cười hiền hậu. Nom nhà vua đẹp như một ông tiên đồng. Đôi mắt sóng sánh như hai viên ngọc minh châu. Cặp lông mi dài rậm, hơi xếch. Vầng trán cao rộng, phẳng phiu. Hai gò má đầy đặn. Mũi thẳng, màu sắc hồng hào, cánh mũi dầy dặn, kín đáo. Đẹp hơn cả vẫn là cái miệng của nhà vua. Với cặp môi hồng mọng, chiếc cằm vuông vức nở nang mà người ta thường gọi là hàm én. Hai hàm răng đều tăm tắp, trắng phau. Mỗi khi nhà vua mỉm cười, thì cả khuôn mặt bừng sáng lên như một viên ngọc lớn gặp ánh nắng trời tỏ chiếu.

Lòng tràn đầy hương sắc thiên nhiên, với vẻ khoái hoạt, Thái tôn quay hỏi quan thừa chỉ:

- Có một điều từ bấy lâu nay ta hằng day dứt. Vì Sao ta là một đứa trẻ mà lại được ở ngôi quân trưởng.
Ngồi trên cả cha, anh cùng các bậc lão thần, quốc sỹ, lòng ta lúc nào cũng run sợ như ngồi trên ngọn lửa? Khanh có thể chỉ giùm ta lẽ phải quấy trong chuyện này.

- Tâu bệ hạ. Việc nắm giữ ngôi trời không phải ai muốn cũng được. Mà trời chỉ dành cho người có đức tốt.
Trước hết, phải là người có đức lớn, rồi mới kể đến tài. Dạ muôn tâu, người tài giỏi thì có nhiều, nhưng người có đức lớn trùm thiên hạ, không phải đời nào cũng có. Tại sao chuyển tiếp từ nhà Lý sang nhà Trần lại cứ phải là bệ hạ, mới là người được quyền tiếp nối? Đây thật sự là một việc uẩn ảo khôn lường, phi các bậc tài trí như thái sư Trần Thủ Độ, không ai có thể dẫn dắt được mọi việc đâu vào đấy, cứ như là có bàn tay của hóa công xen vào sắp đặt. Có nhẽ mai đây, khi bệ hạ đã dạn dày trên trường chính trị, chắc bệ hạ hiểu được vì cớ gì mà thái sư chỉ lựa chọn bệ hạ chứ không phải là thượng hoàng, hoặc vương huynh Trầøn Liễu. Và mặc dù thừa uy lực nắm giữ ngôi trời, thái sư Trần Thủ Độ vẫn không bao giờ màng tới.

Dạ muôn tâu, đây là một thế cờ cực hiểm. Nhầm lẫn hoặc kém cạnh là tiêu vong. Quan thái sư sắp đặt việc này, nếu không xuất phát từ nghĩa lớn, không làm nổi. May thay, mọi việc đều thành tựu trót lọt. Mà thành tực lớn nhất ít ai nhắc đến hoặc biết đến, là tránh được một cuộc nội chiến cốt nhục tương tàn. Bệ hạ thử hình dung xem, ba thế lực lớn nhất kình chống nhau thời ấy là Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn và thái sư Trần Thủ Độ, nếu không khéo thu xếp mà xảy ra huyết chiến thì cuộc tương tàn huynh đệ ấy, biết bao giờ mới chấm dứt được? Đành rằng trong việc đánh bại đối thủ, thái sư cũng có nhiều hành vi tàn bạo.

- Tâu bệ hạ, giết Huệ tôn mới chỉ là một trong nhiều điều tàn bạo. Song le, thái sư bị đẩy vào một tình thế bất khả kháng. Nếu lúc ấy thái sư cứ khư khư giữ lấy điều thiện nhỏ, chắc chắn ông sẽ phạm vào tội ác lớn. Một đằng là hại một người để cứu lấy muôn người. Đây là sự lựa chọn dứt khoát. Thái sư đã chọn con đường cứu muôn người. Việc làm đó là đại nhân, đại nghĩa. Thành thử cái sự giết người kia lại trở thành có công chứ không phải là có tội, nếu ta xét nó trong hoàn cảnh đất nước năm bè bảy mối.

Ngừng một lát như để suy xét về những điều mình đã nói và những điều sắp phải nói ra, quan thừa chỉ thoáng nhìn qua gương mặt đức vua; ông như đọc được niềm xúc động chân thành của Thái tôn. Có nhẽ nhà vua đã cảm nhận được tất cả. Quan thừa chỉ lại tiếp:

- Tâu bệ hạ, xin bệ hạ tha thứ cho những điều thần sắp nói sau đây. Thái tôn lẩm nhẩm một điều gì đấy với vẻ xúc động, nhà vua gật đầu.

Quan thừa chỉ nói:

- Vào những năm cuối của triều Lý Huệ tôn, tình cảnh xã hội ta lúc ấy thật là thảm hại. Tiếc thay bệ hạ không được chứng kiến. Từ triều đình tới xóm ấp, không còn tồn tại một trật tự kỷ cương nào hết. Người ta không cần biết đến kỷ cương luật pháp. Bộ máy quan liêu của nhà nước, phải nói đó là những bầy quỷ dữ. Bởi chúng chỉ lo hút máu dân lành và hút lẫn máu của nhau. Chúng lừa trên, chẹt dưới, bạo hành, với các mưu mô thủ đoạn mập mờ chấp chới như một lũ ma trơi. Còn dân chúng thì sao? Tâu bệ hạ, ngoại trừ mội số ít giữ được cái tâm thiền thiện, hầu hết là những đồ trí trá, tham tàn, trộm cướp. Thật là một thời đại dã man chưa từng thấy. Tâu bệ hạ, lúc đầu thần đâu nhận ra điều đó. Nếu không có thái sư độ lượng, có dễ thần đã chết theo đám ngu trung chứ làm sao mà thức tỉnh được. Tâu bệ hạ, thời đại ấy, nếu không bị diệt vong thì có nghĩa là dân tộc ta phải diệt chủng. May thay!

Thái tôn bùi ngùi. Một lúc sau nhà vua mới lại lên tiếng:

- Ta tin những điều ông nói. Ghê rợn quá! Ghê rợn quá! Nhà vua nhắc lại tới hai lần – Thật tình ta không hình dung nổi. Ngay cả trong mơ, cũng không vẽ ra được một bộ mặt xã hội ghê rợn đến thế. Cho nên, ta nghĩ: những người có trọng trách trong bộ máy quốc gia, nếu không nghĩ đến dân mà chỉ nghĩ đến thân, trước sau gì rồi cũng sụp đổ. Dù sao thì họa lớn cũng đã qua. Nhưng nó còn để lại không ít những tàn dư nhức nhối. Ta muốn ông – một người đã chứng kiến cảnh đau lòng đó, ông phán xét như thế nào về vụ tàn sát tháng tám năm Nhâm thìn (1232)? Hồi đó ta lờ mờ rằng có một mưu đồ khởi nghĩa ở Hoa Lâm(3).
- Trình bệ hạ, việc này thần biết rõ. Đó là vụ phản loạn chứ không phải một cuộc khởi nghĩa. Ngày ấy mới thống nhất thiên hạ được vài năm. Bản triều ta đang gồng sức lên cùng với trăm họ, hàn gắn lại những gì bị tàn phá, sau nhiều năm biến loạn. Công cuộc phục hưng đang nhen nhóm, thì có một bọn người lôi cuốn nhau hợp thành bè đảng, chống lại triều đình. Mượn cớ làm lễ tế các vua nhà Lý. Đầu đảng từ các nơi đổ về, rủ rê một số người trong tôn thất; dựng cờ “Phù Lý diệt Trần”, kéo nhau nhóm họp tại hương Hoa Lâm huyện Đông Ngàn, là đất quê của Lý Thái tổ. Thái sư phát giác ra mưu đồ đó, nên lập kế giết đi.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM