Những mảng tối trong chiến tranh
lehuychieu1959:
Hồi ký chiến trường K (tiếp theo)
Ban chỉ huy C5 rất nhiệt tình ủng hộ chúng tôi khi cử hẵn năm đồng chí trinh sát của đại đội dẫn đường, đỡ hẵn được khâu cắt góc phương vị. Buổi sáng toàn đội dậy sớm hơn thường lệ. Sau khi ăn sáng xong mỗi người nhận thêm hai vắt cơm cùng mắm kem, thịt hộp, kèm theo hai ngày lương khô. Gọi lương khô cho oai thôi chứ vẫn là gạo sấy mắm kem và... thịt hộp. Đội hình hành quân gồm Trinh sát Pháo binh 18 người, trinh sát C5 có 5 đồng chí, như vậy tổng quân số 23 nhân mạng, tất cả mang vũ khí nhẹ M79, M72 và AK47.
Đội hình trinh sát đi theo hàng dọc. Năm đồng chí trinh sát C5 dẫn đầu, tiếp theo là anh Trung B trưởng, kế đến là tôi, anh Vượng đi giữa. Rừng cỏ tranh trải rộng ngút tầm mắt, do đã mùa khô nên cỏ đã ngã mầu vàng, loại này chỉ cần một que diêm là cháy cả tháng. Các đơn vị bạn ngoài việc tuần tra biên giới và phục kích ra thì còn lo việc chống hỏa, họ phát quang cây cối, dọn dẹp cỏ lá cách hàng rào cả trăm mét thế mà vẫn lo nơm nớp. Bài học này nhiều đơn vị tởn đến già. Nhìn lên biên giới Thái dẫy Đăng rêch đứng sừng sững như một bức tường thành. Đỉnh núi cao nhất khu vực này là cao điểm 702, nó nằm chênh chếch về phía Thái Lan. Phía Cam pu chia vách núi dựng đứng toàn đá tai mèo lởm chởm. Thằng Trung lính 78 người Nghĩa Bình le te chạy lên trước hàng quân, chả hiểu nó định làm gì, vừa vượt qua anh Trung thì vấp phải nhánh cây ngã sóng xoài, nó lồm cồm bò dậy và đi ngay trước anh Trung, sau mấy đồng chí trinh sát C5. Vụ này sau đó anh Vượng đã xạc cho nó một trận, vào chiến trường không phải cứ đi trước là tốt, quan trọng nhất là giữ kỷ luật, chấp hành nghiêm điều lệnh chiến đấu.
Nắng chiếu xiên khoai vào gáy thật khó chịu, mỗi người chỉ mang 20-25kg mà mồ hôi cứ vã ra. Sau khoảng hai giờ toàn đội đã đến chân núi. Chúng tôi ngồi nghỉ dưới tán một vạt rừng nguyên sinh. Tán rừng này có lẽ chưa chịu ảnh hưởng mấy của mùa khô khắc nghiệt nên tán của nó còn xanh, mầu xanh của cây rừng thật là mát mắt. Trên triền núi thỉnh thoảng có vài cây đang đổi mầu lá từ xanh sang đỏ thẫm để chuẩn bị cho một mùa thay lá mới. Cảnh rừng núi hoang vu nhưng cũng thật hùng vĩ. Ngoài bộ đội Việt Nam ra thì có lẽ người dân Cam pu chia chưa hề bước chân vào khu vực này, rừng núi vô cùng hoang dã. Tiếng mang tác, tiếng vượn hú, tiếng chim hót trên các tán rừng cùng tiếng nước suối chảy, tiếng gió hú ào ào tạo ra một bản nhạc của rừng xanh làm mê mẩn những người lính xa nhà. Dấu chân mang nai chi chít, thỉnh thoảng phát hiện dấu chân voi. May mắn khu vực này không có vắt, vắt là kẻ thù truyền kiếp của lính, nếu gặp vắt thì ôi thôi, chỉ nghĩ đến đã phát khiếp. Có lẽ do gần núi nên nước từ trên cao ngấm xuống tạo thành các khe nước nhỏ, chúng len lỏi qua các gềnh đá, đủ để chúng tôi lấy vào bình đông và nghịch ngợm sau chặng đường hành quân dưới bầu trời nóng bỏng. Toàn đội ngồi hứng ngọn gió mát mà quên đi những mệt nhọc, quên đi đây đang là chiến trường, quên đi phía trước là quân Pôn Pốt, quân Sê rê ca. Bọn chúng đang chờ để lấy mạng sống của những người lính Việt Nam chúng tôi. Vài thằng lang thang tìm dâu gia đất, loại cây có quả khi chín chua chua ngòn ngọt, loại quả này khi hành quân giải khát rất tốt. Giai đoạn này quân địch chưa được viện trợ mìn nên việc đi lại của bộ đội khá thoải mái. Khoảng giữa năm 1980 trở đi mìn do Trung Quốc sản xuất được rải nhiều như đá cuội ngoài suối, và chúng đã gây ra nhiều cái chết thương tâm cho bộ đội Việt Nam. Ký ức kinh hoàng đó còn mãi ám ảnh người lính kể cả sau khi giải ngũ về quê hương.
Cuôc hành quân tiếp theo mới là sự thử thách những người lính. Dẫy Đăng rêch nhìn xa trông cũng không cao lắm, ngọn núi cao nhất cũng chỉ khoảng 700m, còn lại sàn sàn trên dưới 600m. Đến khi lừng lững trước mặt mới thấy nó thật là hùng vĩ, vách núi dựng đứng, lởm chởm sắc nhọn. Những thân cây giống như cây đa của ta bám vào vách núi thả bộ rễ dài cả hàng vài chục mét. Toàn đội súng đeo trên lưng và bắt đầu trèo, nhìn xa chắc không khác lũ khỉ là mấy. Trong lúc đang bám cành cây để đu người lên khẩu AK của anh Trung vướng vào một bụi le làm anh tuột tay, khẩu súng rớt xuống còn anh may mắn ôm được cái rễ cây nhô ra ngoài, nếu không cùng rơi xuống như khẩu súng thì anh đã tan xác pháo. Tôi cùng hai thằng nữa và một đồng chí trinh sát bạn tình nguyện leo xuống nhặt súng. Đoạn trèo lên tuy chưa cao lắm mà trèo xuống đã thấy quá vất vả. Hì hục hơn một giờ đồng hồ mới đem khẩu súng lên cho anh Trung. Sau cú ngã hụt anh có vẻ lo lắng, nhà anh ở huyện miền núi nhưng là dân Kinh di cư nên việc leo trèo có vẻ không thạo lắm. Một đồng chí trinh sát bạn rơi quả US may không nổ. Khu vực núi Đăng rếch rừng còn khá hoang sơ, nhiều cây cao cả vài chục mét trở lên, nhiều cây to cỡ vài ba người ôm không xuể. Trên các tán cây khỉ nhiều vô kể, thấy chúng tôi trèo lên chúng gọi nhau cheng chéc, chuyền từ cây nọ sang cây kia nhanh như chảo chớp. Thằng Vân đưa khẩu AK lên định tỉa thì anh Vượng đã kịp thời ngăn lại. Cái thằng ngu thật, đã ngay trên đất Thái rồi mà còn mất cảnh giác đến thế là cùng. Khi chúng tôi đã leo lên đến đỉnh thì cũng đồng nghĩa với việc đang xâm phạm lãnh thổ nước khác, nên từ đây mọi hoạt động của cả đội phải hết sức thận trọng. Sơ xẩy Việt Nam có thể bị tố ra Liên hợp quốc chứ chẳng chơi. Bây giờ ngoài việc chạm trán với quân Pôn Pốt, quân Sê rê ca còn có cả lính biên phòng Thái Lan. Sau khi nghiên cứu giữa bản đồ và địa hình thực tế chúng tôi tiếp tục trèo lên điểm cao 655 nằm sâu trong đất Thái khoảng gần một ki lô mét. Trên đỉnh cao điểm tầm nhìn không hạn chế, tại đây có thể quan sát sâu vào trong đất Thái.
Cả đội đi theo hàng dọc, năm trinh sát C5 vẫn dẫn đầu đội hình. Tư thế luôn sẵn sàng chiến đấu cao, tuy nhiên đội lấy hoàn thành nhiệm vụ là chính, chỉ nổ súng khi điều kiện bắt buộc. Rừng Thái Lan rậm rạp khác hẵn rừng Cam pu chia, rừng Thái có nhiều cây to tán cây rộng, cây dây leo chằng chịt, đồi núi mấp mô. Ngược lại rừng Cam pu chia bằng phẳng, rừng chủ yếu là cây khộp thưa thớt xen kẽ cây gỗ dầu lá to như cái nón lá của Việt Nam.
Đang đi đồng chí trinh sát C5 (các đồng chí này tôi đã quên hết tên, cũng không nhớ là người tỉnh nào nữa) ra dấu hiệu dừng lại, tôi và anh Trung B trưởng vội lách lên. Một cảnh tượng hiếm thấy đang diễn ra giữa cánh rừng đại ngàn của tỉnh Ubon Ratchathani. Hai con công trống đang mãi mê múa may phô diễn bộ cánh sặc sỡ trước một con công mái. Hai con công trống có hai bộ đuôi xòe rộng óng ánh trong nằng. Con nào cũng cố khoe mẽ trước bạn gái. Con công mái thì có vẻ như không quan tâm lắm, hoặc làm ra vẻ vậy thôi với hai chàng, nó nghênh đầu nhìn bên nọ dòm bên kia rồi thong thả mổ hạt cây rừng. Có lẽ nó đang chờ bên nào thắng cuộc sẽ kết duyên cùng. Anh Vượng đã lên đến nơi, sau khi quan sát một lúc anh phẩy tay ra hiệu đi tiếp. Ba con công hoảng sợ bỏ ngay màn khiêu vũ luồn vào bụi cây chạy mất đất.
lehuychieu1959:
Hồi ký chiến trường K (tiếp theo)
Một lần nữa đội hình bị khựng lại, trinh sát C5 ra hiệu lùi về phía sau. Mọi người lui vài bước rồi ngồi thụp xuống. Biết có chuyện chẳng lành, tôi và anh Trung B trưởng bò lên đầu đội hình. Từ trong lùm cây nhìn ra chúng tôi phát hiện có một con đường mòn, cách một đoạn có tiếng người nói lao xao. Một tốp khoảng năm sáu tên mặc quần áo đen, ba tên đeo súng AK, hai tên còn lại mang B41, một tên đi không tay cầm một con dao, giống dao quắm của đồng bào dân tộc Tây nguyên. Chúng vừa đi vừa nói chuyện ồn ã, vừa hút thuốc rê, mùi thuốc khét lẹt xông vào tận chỗ chúng tôi ngồi. Không biết bọn này thuộc quân của Pôn Pốt hay Sê rê ca mà nói, bởi trang phục đều mầu đen giống nhau. Có lẽ chúng không ngờ có trinh sát Việt nam lên tận đây nên chúng đi rất tự tin và thoải mái và cũng chẳng phát hiện ra chúng tôi.
Lên đến đỉnh núi nơi lập đài quan sát thì trời đã đứng bóng, bụng ai nấy đều đói cồn cào. Mọi người tạm nghỉ giở cơm nắm ra ăn. Gọi là đỉnh núi nhưng cây cối rậm rạp nên cũng chưa nhìn thấy gì. Giữa trưa tiếng cu rừng cuc cu đây đó gợi nhớ những buổi trưa hè ở quê hương. Rừng ở đường biên Thái Lan na ná rừng Tây Nguyên ở Việt Nam. Những cây gỗ dầu cao khoảng 20-25m, thân thẳng gỗ của nó vô cùng tốt, gỗ lim Việt Nam còn thua xa. Cống thủy lợi, cửa điều tiết ở các đập hồ chứa nước của Campuchia đều được làm bằng loại gỗ này, mối mọt không làm gì được bởi gỗ của nó cứng như sắt. Lá cây rụng xuống tạo thành một lớp thảm dầy êm ái. Rừng ở đây xanh mát quanh năm nên không có nạn cháy như bên đất Cam pu chia. Đất Cam pu chia cách đây hàng triệu năm có lẽ là đáy biển, dù cách xa biển hàng ngàn kilomet nhưng vỏ ốc, vỏ sò thì nhiều vô kể. Nếu không phải là đáy biển thì không lẽ ốc sò tự nhiên chạy đến.
Do rừng cây khá rậm rạp, tôi bảo anh Vượng có lẽ phải trèo lên cây mà quan sát thôi. Thằng Chắn, thằng Pét dân huyện miền núi Quan Hóa xung phong đầu tiên. Thằng Chắn ở xã Tén Tằn giáp Lào, thằng Pét ở Tam Trung hay Quang Chiểu gì đó, hai thằng này quen đi rừng nên thoắt cái đã trèo lên tận ngọn của một cây cao chót vót. Sau một hồi ngó nghiêng, kể cả dùng ống nhòm quan sát. Cả hai thằng đều không phát hiện ra được gì. Tôi muốn rèo lên đó nhưng cái cây vừa to vừa trơn nên chả thể làm gì được. Anh Vượng định vào sâu hơn nhưng theo các đồng chí trinh sát C5 nên tạm dừng tại đây vì muốn đi tiếp phải có lệnh của Sư đoàn hay ít nhất là của Trung đoàn, lính biên phòng Thái mà phát hiện ra thì lôi thôi to.
Sau khi bàn bạc cả đội thống nhất đi dọc theo biên giới về hướng Đông vòng về đất Lào thuộc tỉnh Chămpasăck. Vẫn năm đồng chí trinh sát C5 dẫn đầu, tiếp đến là thằng Quân A trưởng, anh Trung B trưởng, kế nữa là tôi. Thằng Trung Nghĩa Bình không hiểu thế nào lại đi sau chót, anh Vượng cũng chẳng nói gì. Đường rừng rậm rạp không có một lối mòn nhỏ, có ai ngờ cuối năm 1980 tại khu vực này lại là nơi đứng chân của Sư đoàn 801 và Sư đoàn 802 của Pôn Pốt do chính Tà Mốc chỉ huy, hắn nguyên là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Cam pu chia dân chủ. Tội ác của Tà Mốc không kém Pôn Pốt hay Iêng xa ry là mấy. Chiến dịch Ngã ba biên cuối năm 1981 bản thân tôi lại được dịp dùng ngay kết quả đo đạc hôm nay để chỉ huy bắn pháo vào căn cứ của địch.
Sau khi đi được khoảng 7km thì chúng tôi bắt đầu xuống núi, trời lúc này đã về chiều nên toàn đội phải xuống thật nhanh nếu không sẽ không kịp. Như tôi đã nói, lúc lên đã khó khi xuống còn khó hơn. Đứng trên núi nhìn xuống cứ sâu thăm thẳm khiến nhiều thằng rùng mình. Cả đội lại như một đàn khỉ bám đá, bám dây mà trèo xuống. May mắn lần xuống này diễn ra an toàn, không thằng nào để rơi vũ khí hặc tự đánh rơi mình từ độ cao bốn năm trăm mét. Xuống đến chân núi thì trời đã nhá nhem nhưng anh em C5 bảo gắng đi thêm vài cây số nữa để dùng màn đêm xóa dấu vết, sợ rằng có Pôn Pốt phát hiện bám theo.
Khi toàn đội dừng lại thì tời đã tối, trăng hạ tuần như chiếc võng treo chênh chếch trên đầu. Sau khi chia tổ và hướng cảnh giới ngoài thằng thực hiện ca gác đầu ra thì số còn lại lo tìm chỗ mắc võng và ăn tối. Suất cơm tối vẫn là nắm cơm vắt mang theo từ sáng ăn với mắm kem cùng bình tông nước suối. Vắt cơm khô không khốc, vừa cứng vừa hơi hơi... có mùi. Do tuổi còn trẻ, đang sức ăn no vác nặng nên chuyện sinh hoạt này không gây khó được cho đám lính chúng tôi. Ăn vừa xong thì anh Vượng lại ghé ngồi vào võng tôi, anh bảo đêm nay chú cứ ngủ việc kiểm tra gác anh sẽ lo. Có lẽ anh ấy thương tôi nên nói vậy, vốn dĩ tôi thể lực không đươc tốt bằng anh em khác, cao 1,63m nhưng cân nặng chỉ có 48kg. Cùng hành quân nhưng tôi lúc nào cũng phải hết sức cố gắng. Tôi và anh Vượng mới ở với nhau 6 tháng trong lớp tập huấn kỹ thuật, anh là B trưởng, tôi B phó mới cùng tham gia đánh dăm trận nhưng anh rất hiểu tâm ý của tôi. Tuy sức không bằng ai nhưng tôi vốn năng nổ, đặc biệt dẫn bộ đội đi tác chiến thì không ai bằng tôi. Sự dũng cảm đến gan lì của tôi khiến ai cũng phải nể phục. Trước khi về C13 tham gia khóa tập huấn anh Vượng là trung úy, trợ lý tác chiến của trung đoàn, nên anh rất quý những thằng như tôi.
Đêm ngã ba biên giữa rừng sâu thẳm, một nhúm con người không đèn đóm, không củi lửa, lặng lẽ đi vào giấc ngủ say sau một ngày vất vả trèo lên trèo xuống trên vách đá tai mèo, dây leo dựng đứng. Trăng hạ tuần đã khuất sau rặng núi, bầu trời đêm chìm vào bóng tối. Tiếng mang tác, tiếng côn trùng kêu rỉ rả, tiếng gió xạc xào, tiếng một con chim đi ăn đêm kêu keng kéc giữa trời. Suy nghĩ vẫn vơ tôi không sao ngủ được, muốn viết nhật ký nhưng không dám, một tý ánh sáng bây giờ có thể để lại hậu quả khôn lường. Muỗi ở đây nhiều vô kể, lúc chập tối là lúc nó hành động mạnh mẽ nhất, nó kêu ong ong như một đàn ong vỡ tổ. Lọ thuốc chống muỗi tôi xoa hết sạch phải sang xin thằng Pét. Cái thằng được cái dễ ngủ, vừa mới thấy thì thầm to nhỏ với ai đó mà khi tôi sang nó đã ngủ say phải vỗ mãi mới thức dậy. Cầm lọ thuốc chưa về tới võng đã thấy nó ngáy khò khò.
Về khuya gió từ Thái Lan thổi sang se se lạnh. Cái xứ xở này thật lạ kỳ, đầu mùa khô ban ngày nóng như đổ lửa mà về đêm vẫn se lạnh. Có lẽ tại sức tôi yếu chứ anh em ai cũng ăn cũng ngủ tốt. Khi còn ở nhà đi học do là con út nên ít phải lao động nặng, việc đống áng đã có mẹ, tôi chỉ lo mỗi việc nấu cơm rửa bát quét nhà. Đông vụ chí kỳ tôi cũng tham gia đánh cỏ lúa, đập kẹp tại sân kho Hợp tác xã, làm thủy lợi và cũng không nhiều. Võng bên thằng Quân đang ú ớ, chắc nó lại mơ thấy cái gì đó. Và rồi tôi cũng chìm vào giấc ngủ.
Cả đội bị đánh thức bởi hai loạt AK phía dẫy Đăng rếch, mọi người bừng tỉnh ôm súng sẵn sàng chiến đấu. Tôi lao ra vọng gác, đang phiên đồng chí trinh sát C5, anh bảo chưa phát hiện được gì ngoài tiếng nổ phía chân núi. Màn đêm yên tĩnh trở lại, anh Vượng cho anh em quay vào ngủ tiếp.
lehuychieu1959:
Hồi ký chiến trường K (tiếp theo)
Sau một đêm căng thẳng. Buổi sáng dậy khó khăn đầu tiên đến với toàn đội là nước uống, mỗi thằng một bình tông nước suối, đêm qua đã hết sạch. Lương khô là gạo sấy mà không có nước đành chịu nhịn đói mà hành quân. Thằng nọ nhìn thằng kia và rồi cũng phải xốc ba lô mà lên đường. Trinh sát C5 vẫn dẫn đầu, đây là địa bàn của E20 nên họ thông thuộc hơn. Hôm nay đội sẽ đi vòng sâu sang Lào khoảng dăm cây số tiếp tục xuôi về phía đông nam theo đường biên giới rồi cắt về lại Campuchia. Sau khi chỉnh đốn đội hình chuẩn bị hành quân thì bất chợt thằng Vân kêu lên thằng Trung đâu. Ai nấy dớn dác dòm kỹ thì thấy thiếu mất thằng Trung thật. Kiểm tra quân số lại lần nữa thì vẫn thấy thiếu thằng Trung, vậy tối qua nó đi đâu, nó ngủ ở đâu, liệu cọp có vồ nó không, hay Pôn Pốt đã bắt nó rồi. Bao nhiêu câu hỏi đặt ra. Sự lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt của anh Vượng. Hôm qua khi dừng chân thì trời đã tối nên ai nấy cũng chủ quan không kiểm quân số. Cái thằng chó này lại làm khổ anh em, ai bảo nó le te đi cuối đội hình làm chi. Người khác đi cuối thì không sao, đến nó đi cuối thì lại dính chưởng. Hai loạt AK đêm qua chắc chắn là của nó rồi, chả biết có bị làm sao không nữa.
Quyết định toàn đội quay lại tìm thằng Trung. Lần này chúng tôi chia làm hai tổ, anh Vượng một tổ tôi một tổ thẳng hướng Đăng rếch, ám hiệu vẫn là bắn AK cộng bằng 5. Gần hai giờ đồng hồ nhóm của tôi đã đến chân núi, nơi chiều qua vừa tụt xuống, vừa đi vừa quan sát xem có dấu vết gì khác lạ không. Cả buổi sáng quần nát khu vực dưới chân núi không phát hiện được gì. Vừa mệt, vừa đói nên khi được nghỉ giải lao không thằng nào muốn đứng dậy nữa. Hướng anh Vượng cũng không thấy động tĩnh gì. Tôi bảo thằng Quốc bắn súng gọi, nó đứng dậy bắn liền ba phát. Một lát sau nghe hai phát gọi lại của nhóm anh Vượng cự ly có vẻ rất gần. Đột nhiên hướng bên Lào có ba phát AK dội lại, tôi bật dậy hướng súng về đó bắn liền hai phát. Chờ nhóm anh Vượng tới chúng tôi cùng xuất phát về hướng biên giới Lào.
Khi gặp được thằng Trung thì nằng đã ở trên đỉnh đầu. Lúc này anh em trong đội mệt, khát và đói thật sự. Mọi người như lả đi, duy có tôi và anh Vượng thì cái vui đã làm chúng tôi quên đi cái mệt mỏi và đói khát. Nếu gặp địch choảng nhau thất lạc đã đành, đằng này chỉ là hành quân bình thường, lại là lính trinh sát pháo binh, thật xấu hổ với các đồng chí C5.
Theo lời thằng Trung kể thì sau khi xuống núi, nó bị trượt chân đánh ống quyển vào hòn đá ven suối cạn. Đau quá nó ngồi nghỉ, vì nó đi sau nên không ai biết việc này. Thấy đội hình đi xa, thằng Trung định gọi nhưng nghĩ mình là trinh sát giỏi không sợ lạc vả lại nó cũng sợ anh Vượng chửi cho nên tự mình chịu trận. Đến lúc một mình trong rừng, trời lại tối om không biết lối nào mà lần thằng Trung mới bắn hai loạt AK ngắn để báo cho toàn đội biết. Nó bảo bắn để báo cho đội biết vậy thôi chứ nó dư sức trở về đơn vị cho dù không tìm thấy đội. Ban đêm nó không dám mắc võng mà ôm súng ngồi dựa vào gốc cây bằng lăng mà ngủ. Giấc ngủ chập chờn, thỉnh thoảng thú rừng loạt soạt chạy qua, một con lợn rừng dẫn đàn con đi qua làm nó không dám cựa quậy, nó bảo biết là đàn lợn vì đàn con kêu ẹc ẹc, con lợn mẹ với đôi răng nanh dài mà thúc vào người thì chỉ có chết. Do không ngủ nên chưa sáng hẵn nó đã lọ mọ cắt rừng sang Lào, đó cũng là lý do toàn đội đi tìm mà không thấy.
Mất đứt một buổi sáng chẳng được việc gì, anh em lại đang trong cơn đói khát nhưng anh Vượng chẳng nói gì bởi lúc này nước mới là điều quan trọng nhất. Thằng Trung được dịp đoái công chuộc tội khi thông báo rằng nó phát hiện ra một vũng nước nhỏ nằm cách đường biên giới Thái khoảng 3km. Nghe nói có nước anh em phấn chấn hẵn lên và hăng hái lên đường. Trinh sát C5 quán triệt đây vẫn là khu vực không an toàn, quân Pôn Pôt và Sê rê ca thường xuyên qua lại hoạt động, mà bội đội biên phòng Lào lại không thấy tuần tra, yêu cầu toàn đội nâng cao cảnh giác.
Cái vũng nước mà thằng Trung nói hóa ra là một cái lạch suối cạn, lạch suối này nằm dọc theo đường phân cách biên giới giữa Lào và Campuchia mà sau này lính đặt tên cho là suối Lào. Dòng suối khô khốc trơ toàn đá, tuy nhiên sau một gộp đá là vũng nước nhỏ trong vắt xen lẫn các gộp đá khác. Vũng nước rộng khoảng vài mét vuông, sâu vài chục phân cũng đủ cho toàn đội lấy nước. Anh em tranh thủ đong nước vào bình tông, san nước vào các túi gạo sấy. Một chút nước đọng nhưng đã cứu toàn đội tránh khỏi phải thảm họa (tuy nhiên không ngờ sau này khát nước lại là thảm cảnh thực sự của sư đoàn 307-Đặc biệt tại chiến dịch X2-83 đầu năm 1983 hay còn gọi là chiến dịch 547 lần thứ 2)
Chờ cho gạo sấy trương nở, mà cái giống gạo sấy khi dùng nước lạnh thì nó rất lâu nở và ăn xong thì trời đã sang chiều. Thấy anh em ai cũng mệt mỏi, khả năng hành quân tiếp không đạt hiệu quả nên tôi liền quân sư quạt mo cho anh Vượng nghỉ tại đây mai sáng ta đi một vòng bên Lào rồi về hậu cứ C5 là vừa. Sau khi đắn đo một lúc rồi anh cũng đồng ý với phương án này. Vẫn chia ba tổ vừa cảnh giới vừa nghỉ ngơi. Tối hôm ấy anh Trung lên cơn sốt rét, chiếc võng anh nằm cứ rung lên bần bật, chúng tôi dồn mấy cái màn để đắp mà anh vẫn cứ rên hừ hừ. Thuốc mang theo ngoài mấy viên phòng ba, mấy cuộn băng gạc cá nhân ra thì chả còn gì. Uống thuốc rồi mà anh Trung không đỡ, cả đêm sốt hầm hập.
Sáng sớm đành phải trích bốn thằng và một trinh sát C5 đưa anh Trung về cứ. Đội còn chưa đến hai chục thằng kể cả bốn trinh sát C5. Theo phương án đã thống nhất trinh sát C5 sẽ dẫn đi vào đất Lào khoảng chừng dăm cây số, rồi xuôi theo đường biên khoảng 10km sau đó cắt về lại hậu cứ C5. Đội hình vẫn như cũ, trinh sát C5 rồi đến trinh sát 576. Thằng Trung Nghĩa Bình thế chỗ anh Trung B trưởng, thằng Quân, tôi rồi đến anh Vượng. Hôm nay anh Vượng không đi giữa đội hình nữa mà dâng lên sát chỗ tôi. Thằng Thuật B trưởng đi đoạn hậu. Nhiệm vụ hôm nay của đội là thăm dò bên đất Lào xem có động tĩnh gì không, nếu gặp địch phải giấu kín đội hình lấy hoàn thành nhiệm vụ là chính, trường hợp bị lộ mới được nổ súng. Trường hợp này phải tìm hiểu kỹ xem địch từ đâu tới, chúng đang đi đâu và sẽ tập kết ở đâu, số lượng bao nhiêu và quan trọng hơn cả là nắm bắt ý đồ của chúng. Nếu gặp bộ đội biên phòng Lào thì hai bên trao đổi và lên lịch để lên lạc với nhau, hỗ trợ cho nhau khi cần thiết. Sau khi quán triệt nhiệm vụ xong toàn đội lên đường.
Gọi là biên giới cho oai chứ thực ra đường biên chạy dọc theo một con suối nhỏ mà sau này lính ta đặt tên cho là suối Lào. Chỉ cách nhau một con suối thôi mà rừng hai nước có vẻ cũng khác nhau. Bên Campuchia là rừng khộp, cỏ tranh và bằng phẳng, bên Lào nhiều le và xen kẽ là cây gỗ dầu, đất không bằng nữa mà có nhiều đồi thấp. Thật may đi trong rừng le vào mùa khô nên không khó khăn lắm chứ nếu gặp mùa mưa thì nhục hết chỗ nói. Lính tráng có câu (Ranh ngôn) là Nắng trưa rừng khộp, mưa dầy rừng le để miêu tả nỗi thống khổ của lính khi hành quân trong rừng vào những mùa như thế. Một cái may nữa dịp này Pôn Pốt chưa kịp gài mìn, có lẽ chúng còn bận rộn thu quân, chỉnh đốn đội hình nên chúng tôi hành quân không phải lo lắng lắm. Kể từ giữa năm 1980 thì mìn do địch gài đúng là một cơn ác mộng và là thảm họa với bộ đội Việt Nam.
lehuychieu1959:
Hồi ký chiến trường K (tiếp theo)
Đang cắm mặt đi thì bỗng qua...qua...qua, phạch...phạch...phạch...một đàn quạ đen chừng dăm chục con bất chợt ở đâu đó bay lên cất tiếng kêu rầm rĩ. Lũ quạ này chắc vớ được một cái xác thối nào đó đang đánh chén bị chúng tôi đánh động nên giật mình bay lên. Hồi đầu năm đi chiến dịch xác địch chết nhiều nên lũ quạ tập trung với số lượng vô cùng đông đảo, mỗi đàn hàng trăm con. Tôi chúa ghét lũ quạ, có lẽ bởi ám ảnh khi thấy chúng ăn xác chết quá nhiều. Cứ tưởng tượng đàn quạ đang rỉa thịt, moi gan, móc mắt người là tôi cảm thấy buồn nôn không chịu được. Thực tế quạ là nhân viên vệ sinh hoàn hảo nhất, nếu không có lũ này thì xác địch nhiều thế làm sao phân hủy nhanh cho được. Bệnh tật phát sinh là điều không tránh khỏi, bản tính xấu ăn của quạ cũng không phải là điều gì xấu xa cho lắm, nó là động vật hoang dã mà. Khí hậu Nam Lào và Đông Bắc Campuchia na ná như nhau, bây giờ cũng đang là mùa khô, không khí nóng và khô đúng như tên gọi, ngày dài hơn đêm.
Đã vào sâu trong đất Lào chừng dăm sáu km nhưng không phát hiện được gì, rừng núi mênh mông. Trên bản đồ cũng không có ký hiệu làng bản gì cả. Không ai ngờ rằng tại chính nơi đây cuối năm 1980-1981 quân Pôn Pốt đã thiết lập căn cứ liên tục quấy nhiễu hai đơn vị mà chúng tôi vừa đi qua đó là C5 và C6 thuộc Tiểu đoàn 216, E20 CAVT. Mức độ khốc liệt đến độ cả hai đơn vị này để tồn tại phải làm nhà hầm, ăn uống ngủ nghỉ đều diễn ra trong hầm. Số lượng thương tử tăng lên hàng ngày hàng giờ, E20 từng tổ chức tấn công nhiều lần mà không làm gì được. Cuối năm 1981 sư đoàn phải điều E94 và hai tiểu đoàn còn lại của E20 là d208 và d210 do ông Quang Tư lệnh phó Mặt trận (hay Quân khu gì đó mà tôi không còn nhớ ) làm tư lệnh và Ngô Đức Tấn Trung đoàn trưởng 94 làm phó, tấn công giải phóng khu vực ngã ba biên này. Trận này E576 cử C2, D10 tham chiến với 4 khẩu 105mm. Trung đoàn lệnh cho anh Tỉnh D phó D10 và tôi vào trực tiếp chỉ huy C2. Không hiểu vì lý do gì nhưng anh Tỉnh cùng anh Tô C phó C2 tự lập Chỉ huy sở ngay tại trận địa và phái tôi lên tiền duyên ngay sát Sở chỉ huy chiến dịch, anh Hòa C trưởng C2 đi đài Tiền tiến cùng bộ binh. Trận này tôi đã trực tiếp chỉ huy bắn hơn 200 quả đạn pháo và được anh em bộ binh E94 công nhận bắn trúng đội hình tiêu diệt nhiều sinh lực địch.
Và cũng không ai ngờ rằng cũng chính nơi đây năm 1983-1984 trong lúc toàn Sư đoàn đang tập trung trong hai chiến dịch tấn công vào căn cứ địch tại điểm cao 547 thì hai Sư đoàn địch là F801 và F802 đã nhanh chóng thiết lập lại căn cứ, mở rộng vùng kiểm soát đến mức độ E20 phải dịch chuyển nơi đóng quân xuống tận Rô bênh cách đó mấy chục cây số. Năm 1985 Quân khu 5 phải điều động F2 từ An Khê và F315 từ Ban lung cộng với E95 của F307 (các đơn vị còn lại là E29, E94, E20 và E576 đang có nhiệm vụ tổ chức phòng ngự tại căn cứ 547 nên không tham chiến) và đặc công Quân khu tập trung mới dứt điểm được toàn bộ khu vực này. Như vậy giai đoạn này đội trinh sát E576 với 5 trinh sát C5, một nhúm quân dám xông pha vào đây mà không gặp chuyện gì thì đó là sự vô cùng may mắn cho chúng tôi.
Gần chiều thì toàn đội đã cắt về đến suối Lào, từ đây về đến C5 còn khoảng 7-8km gì đó và cũng khá an toàn. Đây là địa hình quen thuộc của anh em C5 nên chúng tôi đi chậm lại và không căng thẳng như khi còn bên đất bạn. Sang bên đất Campuchia là trở lại rừng cỏ tranh bạt ngàn, tất cả đã khô héo một mầu vàng ệch. Vào giữa mùa khô những cánh rừng Campuchia bốc cháy dữ dội trơ lại mặt đất đen xì một lớp tro dầy.
Rời khỏi C5 về C6 toàn đội lại bắt tay vào nhiệm vụ đo đạc, hướng tuyến lần này nhằm thẳng Rô bênh. Rô bênh, trên bản đồ UTM 1/50.000 là một phum nhỏ có dăm chấm đen. Tuy nhiên trên thực tế căn cứ vào số lượng nhà bị cháy và cây cối thì đây là một phum khá sầm uất. Các căn nhà bị cháy dở dang, nhưng những hàng cột chưa cháy hết rất to và trước kia chắc chắn là những ngôi nhà rất đẹp. Cây cối trong phum um tùm tỏa bóng mát rượi, xoài là loại cây khá phổ biến, hồng xiêm, dừa và có cả đào lộn hột.
Cây đào lộn hột, miền Nam gọi là cây điều. Theo Wikipedia đào lộn hột là một loại cây công nghiệp dài ngày thuộc họ Xoài. Cây này có nguồn gốc từ đông bắc Brasil. Ngày nay nó được trồng khắp các khu vực khí hậu nhiệt đới để lấy nhân hạt chế biến làm thực phẩm.
Cây cao từ khoảng 4-5m. Quả khô, không tự mở, hình thận, dài 2–3 cm, vỏ ngoài cứng, mặt hõm vào, cuống quả phình to thành hình trái lê hay đào, màu đỏ, vàng hay trắng. Do vậy người ta thường có cảm tưởng phần cuống quả phình ra là quả, còn quả thật đính vào là hạt, do dó mà có tên đào lộn hột. Nhiều người thường nhầm đào lộn hột là thực vật hạt trần, nhưng đào lộn hột chính xác là thực vật hạt kín. Hạt hình thận, có chứa dầu béo. Đám lính Thanh Hóa chúng tôi ban đầu thấy quả chín tưởng ăn được nên vặt nhai cả quả sau bỏng hết miệng, thằng nào thằng nấy kêu oai oái hơn cha chết làm mấy thằng Nghĩa Bình ôm bụng mà cười lăn cười lộn. Sau này chúng tôi mới biết muốn ăn được thì phải nướng hoặc rang chín hạt và ăn rất ngon.
Chúng tôi ở Rô bênh ba ngày, lính chia nhau đi hái rau rừng và hoa quả sẵn có ở trong phum. Ban đêm vẫn chia làm ba tổ gác sách cẩn thận. Dạo này Pôn Pốt chưa nống ra nhiều và cũng chưa rải mìn như năm 1980 nên đội vẫn được an toàn, duy chỉ thỉnh thoảng có vài thằng lên cơn sốt rét. Tại phum Rô Bênh này năm 1980-1981 là nơi đứng chân của D210 và cuối năm 1982 là nơi đứng chân của E bộ E20 CAVT. Như vậy đội đã hoàn thành được hai phần ba chặng đường, hướng tuyến lần này trực chỉ cầu 216 (sau này khi E bộ E20 đứng chân thì tại đây gọi là ngầm E20), tức là quay về điểm xuất phát. Nói thêm một chút về cái ngầm này, khi tôi ngồi viết hồi ký tháng 11/2016 (tròn 37 năm) thì ngầm đã được nước bạn cho xây cầu bê tông vĩnh cửu, phía trên cầu khoảng vài chục mét là một con đập nhỏ chắn nước, có lẽ giữ nước sinh hoạt cho khu dân cư bên cạnh là chính chứ không phải canh tác lúa má gì cả. Số dân ở đây có lẽ phải trên 200 hộ.
lehuychieu1959:
Hồi ký chiến trường K (tiếp theo và hết)
Mới đó mà đã hai tháng trôi qua, quân nhu, lương thực của đội đã cạn. Trung đoàn cho xe đưa gạo và nhu yếu phẩm vào đến D bộ D216, lệnh cho chúng tôi ra gùi vào. Quân số toàn đội có 21 thằng kể cả chỉ huy trong đó có ba thằng sốt rét chưa lại sức. Lại phải chia đôi, anh Vượng vẫn giành phần khó khăn nhất chỉ huy 15 thằng ra D216 gùi gạo. Tôi chỉ huy 6 thằng còn lại bảo vệ hậu cứ. Tôi đòi đi gùi gạo nhưng anh Vượng không cho đi, có lẽ do tôi là trụ cột của toàn đội nên anh bắt tôi phải ở lại.
Khi ở Rô Bênh thằng Vân tìm ra được một món rau mới lạ, đó là mầm non của ngọn cây dừa mà ta thường ăn quả. Từ nhỏ đến lớn tôi chưa từng ăn ngọn cây này. Nhà tôi ở quê có khoảng bảy tám cây dừa trồng ven bờ ao nhưng là để lấy quả ăn chứ chưa từng chặt ra để lấy ngọn, vì mỗi cây chỉ có một ngọn nếu chặt thì coi như vứt luôn. Đầu phum có một cây dừa xiêm thấp lè tè, quả của nó đã bị chúng tôi vặt hết. Thằng Vân chặt trụi lá rồi chẻ ngọn lấy ra một cục nõn dừa trắng phau, thấy nó cắn ăn chúng tôi cũng làm mỗi thằng một miếng ăn thử. Hóa ra phần non của ngọn cây dừa ăn được mà ngon không kém cùi dừa. Thế là đồng loạt ba bốn cây bị đốn hạ không thương tiếc, anh Vượng xót xa ra lệnh đình chỉ cấm chặt thêm, nhưng rồi vẫn thêm hai cây nữa bị khai tử. Món này anh nuôi thái mỏng xào với mỡ hóa học, lạ miệng nên lính ta đánh bay cả xoong to cơm.
Đoạn đường về D bộ D216 theo hướng này ít có cây to, rừng cơ bản là cây khộp tái sinh đường kính khoảng hai ba mươi phân, gỗ mềm không giống như cây dầu, nên rất khó chọn cây làm mốc tọa độ. Hai cái thước dây vải thì đã hỏng mất một cái, còn một cái dùng tạm, hai cái thước dây sắt tuy lành nhưng mòn vẹt và mờ hết chữ số, thành thử đo rất chậm. Anh Trung B trưởng loay hoay cải tiến cách đo thước dây sao cho vừa nhanh vừa chính xác nhưng mọi việc vẫn dậm chân tại chỗ. Sau tôi triển khai cách đo nếu đoạn dài thì đo nằng dây sắt và đo nguyên dây bằng 50m, đoạn ngắn thì đo bằng dây vải cho dễ đọc, công việc khả dĩ tốt lên được một chút.
Khi còn cách ngầm 216 khoảng 4 km thì có một chuyện làm tôi nhớ mãi. Tổ tiền trạm kiêm anh nuôi khi đang nấu cơm chiều thì phát hiện tiếng động lạ, giống như có người vội báo ngay cho thằng Hưng cọc chuẩn đi đầu. Anh Vượng, tôi, thằng Vân, thằng Thuật và năm chiến sỹ nữa vội vàng cơ động lên. Anh Trung và nhóm còn lại giữ nguyên vị trí chờ lệnh. Khi được dẫn vào khu vực khả nghi thì quả có nhiều tiếng động lạ. Anh Vượng ra hiệu chia ba nhóm tiếp cận địch. Lúc đã đến gần và tiếp cận được khe suối thì một cảnh tượng lạ lùng diễn ra trước mắt chúng tôi. Một con trăn dài chừng ba bốn mét đang tát nước bắt cá. Cái đầu con trăn quấn vào một thân cây và cái đuôi quấn vào thân cây khác bên kia suối, nó đu đưa đánh võng vào vũng nước còn sót lại, cá mắc cạn nhảy tung tóe lên bờ và con trăn ung dung chén từng con một. Từ nhỏ cho đến lớn tôi mới được chứng kiến cảnh trăn bắt cá hài hước như thế này. Thằng Vân gương súng găm ba viên AK vào đầu con trăn, tôi vội ngăn mà không kịp. Con trăn trúng đạn lăn lộn trong bùn đất, anh Vượng bảo thằng Quả anh nuôi xách về làm thịt.
Khoảng ba bốn mươi phút gì đó thì tổ Trinh sát D216 cũng có mặt. Họ bảo nghe tiếng AK nên Tiểu đoàn triển khai đi nắm tình hình. Thằng Vân thuận miệng kể lại chuyện con trăn, họ nghe xong chào chúng tôi rồi ra về. Chuyện nhỏ có thế mà cuối cùng lại thành to tát. Chả biết D216 báo cáo lên E thế nào mà E20 lại báo cáo về Sư đoàn cứ như chúng tôi là địch không bằng. Kết thúc đợt công tác anh Vượng bị Trung đoàn xạc cho một trận rồi điều về làm trợ lý tác chiến E chứ không cho về làm C trưởng C3 nữa, thay vào đó là anh Thịnh quê Tĩnh Gia Thanh Hóa trên ban Quân lương trung đoàn chuyển xuống. Vì chuyện này mà anh Vượng ấm ức đến tận bây giờ.
Con trăn khá to, chỗ bụng lớn nhất của nó có lẽ bằng bụng chân người lớn. Bọn anh nuôi không biết xử lý sao, chúng nó lột da con trăn chặt thành từng khúc rồi đem luộc. Khi chín bóc thịt ra xào với mỡ hóa học còn xương và da thì vứt hết. Thịt con trăn ngai ngái tin tỉn khó nuốt.
Điểm mốc cuối cùng cũng đến được cầu 216. Anh Vượng cho toàn đội nghỉ tại chỗ bên ngoài D216. Tôi tranh thủ tính toán và hiệu chỉnh số liệu. Rất mừng khi tọa độ cuối cùng và tọa độ ban đầu tại điểm cầu 216 chênh nhau không đáng kể, chỉ vài ba chục phân. Đây là chênh từ Rô Bênh về cầu 216. Như vậy hệ thống mốc tọa độ đã hoàn thành và chính xác cao, vượt qua cả tiêu chuẩn của Liên Xô mà chúng tôi từng được học.
Sau ba tháng ròng rã kết thúc đợt công tác đi đo đạc, toàn đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, duy chỉ có chuyện con trăn kể trên. Chúng tôi được lệnh trở về Trung đoàn, tại đây trung đoàn đã làm riêng cho đội một căn lán bốn gian bên cạnh ban Tham mưu. Sau một tuần thì đội chính thức giải tán, anh em cũng chính thức trở về đơn vị của mình để chuẩn bị đón tết Canh Thân 1980, cái tết thứ 2 trên đất Campuchia.
Navigation
[0] Message Index
[#] Next page
[*] Previous page