Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:45:56 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Huyền Trân Công chúa  (Đọc 41947 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #50 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 10:04:46 pm »

Chương 17

- Trình thượng phụ thái sư, đầu óc cháu muốn vỡ tung ra đây này. Công chúa nói đúng lúc Tá thánh thái sư Trần Nhật Duật vừa ló đầu vào nhà học đường.

Thái sư mỉm cười rồi vuốt chòm râu bạc dài tới ngực, ông dịu dàng hỏi Huyền Trân:

- Cháu thấy việc học hành khó lắm sao?.

Giọng nũng nịu, công chúa thỏ thẻ nói với thái sư:

- Cháu có nói việc học hành khó đâu. Cháu chỉ muốn nói cái tiếng Chàm ấy, sao mà nó kỳ cục, nó trủng trẳng rất khó nghe. Người mình chỉ nói một tiếng họ phải nói mấy tiếng. Ví như nói về các con vật. Ta bảo: ngựa. Họ nói: a theh (a thé). Dê: pa pề. Lợn: pa pùi. Gà trống: mơ nụ kho. Gà mái: mơ nụ pì nài. Đến các chữ của họ mới buồn cười. Chữ gì mà ngoằn ngoèo cứ như là con giun uốn khúc, hoặc như các đường dế dũi. Nhưng làm thế nào, thượng phụ bầy cho cháu cách học để mau biết nhất, có được không?.
Thái sư cười rung cả chòm râu trước ngực, nom ông hiền từ như một vị tiên. Ông nói:

- Hồi mới học tiếng các nước, ta cũng học như cháu. Cũng lăn lên lộn xuống mãi chẳng nói, chẳng viết được. Ta đã định bỏ không học. Nhưng mỗi lần tiếp sứ nước ngoài như người Tống, người Mông Cổ, người Chà-và, người Lão Qua, khổ về cái việc tìm thông dịch. Nếu không, lại phải bút đàm. Mà bút đàm thì thông qua chữ Hán. Có phải người nước ngoài nào cũng biết chữ Hán cả đâu. Bút đàm chậm lắm. Viết cả buổi không hết một ý mình muốn nói. Ta chỉ nghĩ đến lợi ích của quốc gia nên ta phải học. Cứ học thật tinh tường một thứ tiếng ngoại quốc, khi đó học sang một thứ tiếng khác rất nhanh, cháu ạ. Cháu bảo ta chỉ cho cháu con đường nào nhanh nhất hả? Trong học vấn không có đường tắt. Nhưng con đường dài ngắn là ở nơi cháu. Không ai học thay cháu được. Vậy là nếu ta dậy cháu một giờ, cháu phải học bốn, năm giờ. Phải biến được sự hiểu biết của ta thành hiểu biết của cháu. Cháu phải tận tâm tận lực học như người xưa nói:  "Học như trác như ma, như thiết như tha, như…". Học vất vả khổ sở là thế, nhưng lại không được nóng vội. Phải dần dã như một đứa trẻ tập nói. Cháu phải tâm niệm một điều rằng, cháu không thể không biết tiếng Chàm trước khi về xứ Chàm. Cứ chịu khó học đi một vài tuần nữa, ta sẽ đưa ít người Chàm về đây hầu hạ cháu. Hàng ngày chung sống với họ, cháu sẽ tập nói mau hơn. Rồi cháu sẽ thấy tiếng Chàm, và cả ngôn ngữ lẫn văn tự, chẳng khó lắm đâu.

- Ôi nếu quả như lời thượng phụ dạy bảo thì cháu sung sướng quá. Nhưng phụ hoàng cháu lại bảo, cháu còn phải học nhiều thứ lắm.

- Đúng như phụ hoàng cháu dạy bảo. Cháu không phải là một người con gái thôn dã đi lấy chồng dị tộc, mà
là bậc cao sang quyền quý của một quốc gia có nền văn hiến cao. Vậy trong những dịp tết lễ của Chiêm quốc, người ta trình diễn âm nhạc, ca vũ cung đình, ca vũ dân gian, cháu không biết thưởng thức thì làm thế nào? Muốn thưởng thức được thì phải hiểu biết. Muốn hiểu biết thì phải học. Lại tới những dịp tết, lễ của Đại Việt ta, có khi cháu cũng phải lo thết khách trong triều ngoài nội. Thế là cháu phải biết ca, vũ, nhạc của Đại Việt ta nữa. Phải có một ban hát với những vũ nữ, nhạc công, nhạc khí của dân tộc mình, và chính cháu phải đứng ra điều hành chứ. Thành thử cháu cũng phải hiểu biết tường tận về âm luật và vũ đạo dân tộc. Lại cả những món ăn cao quý, những trò dân dã của Đại Việt ta, cháu cũng phải am tường. Với người con gái khác, chỉ cần biết một, riêng với cháu, cái gì cũng phải biết hai, ba mà phải biết tới mức thông thạo. Khó đấy cháu ạ. Học tập rèn dũa cho tường tận bằng ấy thứ, có đầu óc thông tuệ, sức lực dồi dào, cũng phải mất vài ba năm. Ta chỉ ngại, chưa lo cho cháu được đến nơi đến chốn, mà bên Chiêm đã vội sang cầu hôn thì lỡ hết.

Huyền Trân cảm thấy nỗi băn khoăn của thái sư có phần hơi quá. Nàng hỏi luôn:

- Lạy thái sư thượng phụ, người lo cho cháu nhiều thứ quá. Với đầu óc quê mùa thế này, cháu làm sao mà thâu nhận hết được!.

Thái sư nói với giọng nghiêm trang có pha phần lo lắng:

- Ta nói rồi. Cháu không phải là một thôn nữ đi lấy chồng làng. Cháu về Chiêm là mang theo cả quốc hồn,
quốc túy và quốc thể nữa. Bởi thế bắt buộc cháu phải thông tuệ như một bậc trí giả. Riêng về phần thi, thư, lễ, nghĩa, cháu học, hiểu như thế là được, ta tạm yên tâm. Còn về các mặt khác, nhất định ta đòi cháu phải tận dụng mọi thời gian và cơ hội để mà học. Chẳng hay ý cháu ra sao?.

- Bẩm thượng phụ, cháu xin một lòng một dạ nghe theo lời dạy của thượng phụ.

Từ sau bữa Tá thánh thái sư Trần Nhật Duật giáo huấn cặn kẽ, công chúa để tâm học hành cẩn tắc lắm. Mới có ba tháng tròn mà nàng đã hội thoại tiếng Chàm được với thái sư. Nàng có giọng nói uyển chuyển, lại có khuôn mặt hơi tròn, mũi thẳng, nom nàng cũng có vẻ hao hao giống các Chiêm nữ, được tạc thành hình vũ nữ dưới chân các bệ đá thờ tượng thần Shiva. Công chúa Huyền Trân là một người thông tuệ. Về mặt thi, thư, lễ, nghĩa nàng xướng họa, giao tiếp với bất cứ lứa lớp nào cũng không sợ đuối kém. Nhưng còn các mặt ca, vũ, nhạc nàng thật sự chưa am tường lắm.

Việc dạy dỗ công chúa, thượng hoàng giao hẳn cho thái sư lo liệu. thái sư cũng vừa đưa một vũ nữ đã luống tuổi, cùng một bầy Chiêm nữ từ thôn Bà Già bên Kinh Bắc về, để giúp rập thêm vào với việc học tiếng Chàm, và học nghệ thuật ca, vũ, nhạc của công chúa. Ngay từ phút đầu, công chúa đã làm bà vũ nữ già kinh ngạc. Trông thấy Huyền Trân lộng lẫy trong bộ y phục Chàm, lại chào hỏi bằng thứ tiếng Chàm gốc mà từ mấy chục năm nay, bà mới được nghe lại. Bà có cảm giác như những kỷ niệm quê hương thời thơ trẻ vừa được thức dậy trong lòng. Bà thấy cả vị mặn chát của nước biển quê hương, và nắng trải vàng như mật rải khắp cả một miền quê bao la, quanh năm ấm, sáng. Bà sụp xuống ôm lấy chân công chúa, gạt hai hàng nước mắt, ngửng nhìn nàng và khe khẽ hỏi bằng một thứ tiếng mẹ đẻ, không hề có chút pha tạp một chất giọng nào khác, mặc dù bà đã ở mấy chục năm ròng trên đất Đại Việt.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #51 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 10:05:47 pm »

- Có phải công nương được đưa sang triều cống cho Đại Việt? Dám xin công nương cho già này biết được cội nguồn của công nương bên Chiêm quốc, họa may ta nhận được ra nhau. Xin công nương đại xá cho kẻ bé mọn này có hơi tò mò - Chẳng hay phẩm cấp của công nương, khi về làm dâu Đại Việt thuộc hàng thứ thế nào?. Trong lời nói, nhất là trong cử chỉ và ánh mắt bà Chiêm vũ già, bộc bạch hết nỗi cảm thông của mình với số phận của vị công nương mà dưới con mắt bà, được xem như đang ở vào tình huống bất hạnh. Dường như trong sâu thẳm của hồn bà, còn bộc lộ cả nỗi xót đau cho số phận của đất nước và giống nòi Chiêm quốc.

Huyền Trân là một người nhạy cảm. Nàng hiểu được tâm trạng của bà vũ nữ già, với tất cả nỗi niềm đau xót chân thực mà bà chia sớt - "Thật oái oăm, Huyền Trân tự nghĩ. Mình chỉ muốn tập nói vài tiếng Chiêm mà thái sư thượng phụ dạy bảo cho từ mấy tháng nay. Ai ngờ, bà ta lại tưởng mình cũng là một Chiêm nữ - một vật triều cống. Khá khen thay, bà già là một người yêu quê hương, yêu dòng giống dân tộc bà đến tận cùng xương tủy". Công chúa tự hỏi: "Chẳng hay khi về Chiêm, ta có còn giữ được tấc lòng son với cố quốc Đại Việt như lão bà này?". Nàng lại thầm trả lời: - "Ôi, nếu không giữ được tấc lòng son với nước non nòi giống, thì thà mục nát với cỏ cây chứ còn đeo đẳng làm chi một kiếp sống thừa…". Trong giây lát, nàng miên man với những ý nghĩ chợt đến, dường như nàng quên biến mất bà lão Chiêm đang trò chuyện với nàng.

Bà lão vẫn ngước cặp mắt nhòe lệ, môi mấp máy như đang chờ đón điều gì nơi công nương - người mà bà hy vọng là kẻ đồng tông. Huyền Trân ý thức được điều đó. Và trong lòng nàng cũng đang có sự đắn đo lưỡng lự. Nàng không thể tự lừa dối mình, càng không thể dối lừa một bà lão hiền thục dường kia. Nàng lấy sự thực để giải bày. Vì chân thực là điểm bắt đầu của một tâm hồn trong sáng.

Sau khi được công chúa kể cho nghe hết đầu đuôi câu chuyện, lão bà càng muôn phần kính phục người mà nay mai sẽ trở thành một bậc mẫu nghi Chiêm quốc. Bà cũng không thể ngờ một công nương mặt hoa da phấn, suốt đời ở chốn cung cấm mà lại đủ can đảm đi làm dâu xứ người. Ngạc nhiên hơn nữa, công chúa là con yêu của quốc vương một nước hùng mạnh như Đại Việt, lại ưng thuận làm thứ phi của nước Chiêm Thành bé nhỏ. Lão bà thật sự không hiểu được những điều mà bà thấy và nghe được trong khoảnh khắc mới đây. Nhưng bà tự nhủ lòng, sẽ làm tất cả những gì có thể làm được một khi công chúa có lời sai bảo. Và nếu như được nàng cho phép, bà sẽ theo hầu hạ nàng trở về Chiêm. Tự nhiên bà lại thấy rộn lên một nỗi nhớ quê. Vậy mà đã mấy chục lần các sứ đoàn Chiêm quốc qua thăm, được Đại Việt cho phép hồi hương, bà lại từ chối không về. Bà nhớ cách đây hơn bốn chục năm. Vào khoảng năm Nhâm tí (1252), trước cuộc xâm lấn của người Thát vào Đại Việt chừng năm sáu năm gì đấy. Ngày ấy, bà là vũ công chính trong đội vũ nữ cung đình, dưới triều vua Bố-la-đa. Bố-la-đa là một ông vua của các vua nghệ thuật. Ông yêu ca vũ nhạc đến mức gần như bệnh hoạn. Nghĩa là suốt ngày đêm, ông có thể không ăn uống chỉ ngồi nghe âm nhạc và xem nhảy múa. Bản thân nhà vua cũng là một nhạc công nổi tiếng. Bà nhớ trong ban nhạc của cung đình, hễ có nhạc công nào ốm, là nhà vua lại đích thân kế vào chân đó. Lúc ông đánh đàn kaping(đàn một dây của Chàm) khi ông thổi kèn saranay(kèn bằng gỗ có ba phần: ống loe, thân gỗ, có 6 lỗ thoát hơi cũng là 6 cung bậc, và bộ phận thổi có lưỡi gà) , và chơi cả đàn campi(đàn 36 dây) . Nhạc cụ nào nhà vua cũng chơi rất điêu luyện. Và chính bà đã cùng nhà vua nhảy vũ khúc tamane hrung(Vũ khúc hoan ca) . Hồi ấy bà còn là một thiếu nữ xinh đẹp trong đám vũ nữ của triều đình. Bà cũng còn là người hầu thân cận của hoàng hậu. Cho tới cuộc chinh phạt của Đại Việt tràn vào kinh đô Chà Bàn hồi giữa mùa xuân, đức vua đích thân chỉ huy chiến thuyền, bị thua bỏ chạy.

Quân Đại Việt vào hoàng cung bắt được hoàng hậu và cả đám vũ nữ tì thiếp đưa về Thăng Long. Nghe nói đích thân Trần Thánh tông cầm đầu cuộc thảo phạt này, cốt để người Chiêm không được quấy nhiễu vùng bờ biển giáp ranh và miền đất hai châu Bố Chánh, Ma Linh. Nhưng khi hoàng hậu Bố-đa-la về tới Thăng Long liền tự vẫn. Giận mình là kẻ hầu thân cận của hoàng hậu mà không giữ cho bà được tròn tính mệnh, tới khi bà chết, lại không được theo bà, nên người vũ nữ được cả cung đình sủng ái ấy thẹn với lương tâm, mà từ chối cả việc trở lại quê hương. Gần như cả tuổi trẻ của bà trôi đi chầm chậm với dòng nước sông Thương êm ả. Tuy chầm chậm, nhưng năm tháng đã lấy đi của bà dường như tất cả những gì mà tuổi xuân chắt chiu vun quén. Bà và những người đồng tông, sống trong một ấp trại, được sắp xếp y hệt một ngôi làng của người Chàm bên chính quốc. Tất cả các phong tục tập quán đều giữ nguyên lệ. Ví như nhà ở vẫn làm theo hướng tây. Người chết được thiêu xác. Con cái theo họ mẹ, và quyền biến trong nhà do người mẹ định đoạt. Tất cả những thứ đó, bà vũ nữ già cũng thấy là việc bình thường, khi sống chung lẫn trong một cộng đồng với người đồng tông. Song điều mà bà thích thú nhất là cái cộng đồng bé nhỏ của bà trên đất Đại Việt này, đã sáng tạo ra được một lối hát từa tựa như lối hát múa trong vũ khúc tamane hrung. Theo lối hát này, nam nữ chia thành bè riêng biệt, hát đối đáp nhau. Đêm đêm người Chiêm trong thôn ấp thường ra bờ sông hát. Giọng hát cũng êm êm dìu dịu như dòng nước sông Thương trôi chầm chậm. Mọi người hát về nỗi nhớ nhà, nhờ dòng sông chở tiếng hát ra biển. Biển sẽ đem tiếng hát của những người người con xa quê, để bồi đắp cho xứ sở thêm thịnh vượng.

Dứt dòng hồi ức, bà vũ nữ Chiêm ngước nhìn Huyền Trân, cặp mắt bà như cầu khẩn, như nài nỉ một ân huệ gì đó. Xúc động, công chúa đỡ bà dậy và nói:

- Tôi có nhiều việc cần đến sự dạy bảo, sự trợ giúp của bà, trước khi tôi về Chiêm quốc.

Người vũ nữ già gật nhẹ, mắt bà anh ánh niềm vui.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #52 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 10:06:26 pm »

Chương 18

Không chỉ riêng có Huyền Trân công chúa học tiếng Chàm và Chàm ngữ, mà cả những người sau này sẽ theo hầu nàng về Chiêm như Bích Huệ, Thúy Quỳnh và cả hòa thượng Minh Thái cũng học.

Học ngôn từ và chữ nghĩa chỉ có Huyền Trân là sáng dạ. Nhưng về khẩu ngữ thì Bích Huệ vẫn dẫn đầu cả nhóm. Tuy nhiên về mặt chữ nghĩa thì Bích Huệ coi như mù tịt. Trao cho Bích Huệ cây bút để viết chữ Chàm, lập tức cô vẽ các chữ đó thành những con đường giun đùn, dế dũi. Thái sư không chê trách gì Bích Huệ mà còn khuyến khích cho cô phát triển mau lẹ, điều mà cô sở trường. Thái sư cũng không ép buộc Huệ phải học chữ.

Song từ dạo thái sư đưa nhóm Chiêm nữ từ Kinh Bắc về sống chung lẫn, và người cấm không cho nói tiếng Việt trong giờ học và cả lúc giao tiếp với người Chàm, thì khẩu ngữ của mọi người hoạt bát hẳn lên. Công chúa và hòa thượng đã đọc lõm bõm được các sách kinh Phật bằng chữ Phạn của Tây Trúc. Hiện thời Huyền Trân vừa học tiếng vừa học chữ, vừa khảo sát về âm nhạc và một vài điệu múa Chàm. Về âm luật, thái sư tự mình dạy cho công chúa sau giờ học chữ mỗi ngày. Ngoài ra, phải nhờ đến một số người Chàm hướng dẫn. Riêng học múa đã có bà Trà Hoa Tuyết, mọi người thường tôn bà là vũ sư.

Vào một đêm đã được chuẩn bị trước, bà vũ sư xin phép công chúa tổ chức vũ hội của dân tộc mình. Đúng dịp thượng hoàng có việc về kinh, Huyền Trân bèn mời vua cha đến dự. Công chúa còn cho mời Trần Khắc Chung. Trần Khắc Chung vừa mới được thăng nhập nội đại hành khiển. Mời quan Tư nghiệp quốc tử giám, và cả Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn và những sinh đồ nổi tiếng khắp Thăng Long, sắp vào dự thi đình trong năm tới.

Mở đầu dạ vũ là vũ khúc tamane hrung. Ngoại trừ những người đồng bào cùng trong một thôn xóm, không ai nhận ra vũ nữ trẻ măng đang trình diễn kia lại chính là lão bà Trà Hoa Tuyết. Chiếc mũ Chiêm chóp nhọn lấp lánh ánh vàng ôm gọn lấy mái đầu có vành tóc đen nhức. Khuôn mặt tròn đầy đặn, chiếc mũi thẳng với nước da hơi ngăm ngăm đen pha hồng, điểm thêm một nốt ruồi son giữa trán. Chuỗi hoa tai kim cương nạm vàng chảy xuống hai bờ vai trần, nom như hai bông tuyết phát ra những luồng ánh sáng bảy sắc lung linh, làm rạng rỡ thêm khuôn mặt đẹp và chiếc cổ thon duyên dáng. Chiếc áo con che đỡ vừa vặn hai bầu vú, may bằng thổ cẩm thêu chỉ bằng vàng. Hai cánh tay tròn lẳn, nơi hai cổ tay được ốp một loại vòng hình cánh sen bằng vàng, có đính thêm những chiếc nhạc nhỏ xíu như hạt cườm dát ngọc lấp lánh. Bụng vũ nữ để trần. Tấm váy xary, nhất là chiếc cạp váy là cả một công trình nghệ thuật may thêu, cực kỳ tinh xảo. Cùng múa với vũ nữ là một chàng trai có nước da ngăm đen, thân hình chắc lẳn. Đầu chàng đội một thứ mũ trụ bằng vàng, mình trần đóng khố. Chiếc khố thêu, dát tinh xảo bằng những thứ vàng, bạc, đá ngọc đủ màu. Trông chàng khỏe mạnh, đanh chắc, toát ra một vẻ kiên nghị hấp dẫn lạ thường.

Ban nhạc vừa nổi lên giữa tiếng trống pa-ra-nưng, tiếng kèn saranay, tiếng nhị kami và tiếng đàn campi. Những âm thanh dìu dặt, du dương đưa ta vào cõi mộng. Bỗng nhiên, vũ nữ lắc mình như một vị thần đang làm phép hoá thân. Sau cái lắc mình, vũ nữ ngồi xuống, chiếc xary xòe trên sàn diễn. Tiếp theo là những động tác múa dẻo. Đôi bàn tay, nhất là cổ tay và cánh tay của vũ nữ uốn lượn, làm cho mọi người không còn tin ở mắt mình nữa. Như là một thứ ma thuật, rõ ràng vũ nữ uốn được cả những ống xương tay cũng mềm mại như phần cơ bắp. Trong khi vũ nữ rạp người múa trên sàn diễn thì chàng trai nhảy quanh nàng theo tiếng nhạc đưa. Những động tác giao đãi giữa hai vũ công, là cả một sự kết hợp hài hòa giữa nhạc và múa. Đôi cánh tay họ giang ra như chào đón, chân bước nhịp nhàng theo tiếng nhạc rung, mặt tươi cười như chất chứa niềm vui. Vũ khúc tamane hrung biểu hiện một phong tục cổ truyền của Chiêm quốc. Khi chào đón khách quí, tổ chức cuộc vui hoặc hoan ca mừng chiến thắng.

Điệu múa kết thúc, người xem còn sững sờ. Khi vũ nữ Trà Hoa Tuyết lui vào sau sàn diễn thay thường phục ra vái chào quan khách, thì mọi người kinh ngạc cho rằng vũ nữ hóa trang thành bà già, và người ta chờ đón một vai diễn gì sẽ kế tiếp.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #53 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 10:07:01 pm »

Chương trình còn được tiếp tục với nhiều tiết mục đặc sắc, như múa quạt là điệu múa dân tộc cổ truyền được nhiều người hâm mộ. Rồi hát đối ca và hòa tấu trống. Người ta vừa vỗ trống bằng tay vừa hát, những bài hát ca ngợi quê hương, ca ngợi các chiến công và những anh hùng.

Buổi trình diễn hát, múa, nhạc cung đình xen lẫn với những tiết mục dân gian, truyền thống của người Chàm, đã để lại trong lòng người xem một ấn tượng không bao giờ phai nhạt và một sự cảm thông, cũng như cảm phục sâu xa một dân tộc có nền nghệ thuật múa, nhạc khá cao.

Xem xong buổi biểu diễn trở về, hầu như suốt đêm công chúa không ngủ được. Nàng vừa đắm say, vừa thán phục nền nghệ thuật dân tộc độc đáo của đất nước mà mai đây nàng sẽ là con dâu của xứ đó. Bản thân nền nghệ thuật cao ấy lại được các nghệ sỹ cung đình và dân gian trình diễn với một tài nghệ phi thường. Nhưng sao xem xong đêm diễn, công chúa thấy phảng phất một nỗi buồn, một nỗi cô đơn trống trải cứ gậm nhấm tâm hồn. Huyền Trân nhớ lại khi dàn nhạc hòa tấu, nàng vẫn nghe rất rõ bè trầm của trống paranưng như một lời nỉ non than khóc. Còn tiếng kèn saranay đi bè cao như là một tiếng thét kêu đau đớn. Lạ quá, ngay trong điệu vũ tamane hrung là loại vũ hoan ca mừng chiến thắng, nhạc cũng đánh theo một giai điệu buồn. Không có một căn cứ gì có thể nói lại cho người khác hiểu được, nhưng bằng tâm cảm, công chúa mơ hồ nhận thấy qua nền nghệ thuật ca-vũ-nhạc này một tiếng vọng đau thương, chất đầy uất hận. Chẳng lẽ đây lại là điềm báo trước cho một tai họa khủng khiếp của cả một dân tộc?
Hôm sau, thượng hoàng Trần Nhân tôn lại cho mời những người đã được xem các nghệ sỹ Chàm trình diễn nghệ thuật đêm hôm trước, tới chầu tại điện Càn đức, để ngài hỏi ý kiến. Khi mọi người đã tề tựu, thượng hoàng bèn lên tiếng:

- Năm trước qua thăm Chiêm Thành, hòa thượng Du Già có đứng ra làm mai công chúa Huyền Trân - con gái út của ta cho quốc vương của họ. Qua tiếp kiến và hội kiến, cũng như đi chu du khắp đất nước của Chế Mân, ta thấy ông này là một người hiền đức. Một người có kiến văn rộng rãi, trọng nghĩa, thương dân, chuộng sự hòa hiếu, biết giữ đạo lân bang. Vì vậy ta đã nhận lời. Chỉ ngày một ngày hai là họ sang ta để cầu hôn. So với Trung Quốc, ta là một nước nhỏ. Nhưng so với Chiêm Thành, ta lại là một nước lớn. Vả lại ta có nền văn hiến cao, không thể để công chúa về Chiêm như một người dân thường. Theo ý của Tá thành thái sư, công chúa trước hết phải học tiếng Chiêm, học chữ Chiêm. Rồi học âm nhạc và hát, múa Chiêm nữa. Để sao cho khi vào đất Chiêm, con ta không còn bỡ ngỡ như một kẻ quê mùa. Vậy theo ý các khanh nên như thế nào?

Công chúa ngồi nép ở mép chiếu phía chân ngai của thượng hoàng. Nàng để ý, không thấy Mạc Đĩnh Chi và Nguyễn Trung Ngạn có mặt trong buổi chầu này. Huyền Trân day dứt hoài, rằng sao những người học thức rộng như vậy, mà không được dự bàn công việc. Mãi lâu sau nàng mới tìm ra được lời đáp. Là bởi các bậc nho sinh kia chưa phải là các bậc đại khoa, chưa có chân trong triều chính, nên không được tham dự. Trong số những "bọn mặt trắng" - nói theo lối nói miệt thị của mấy vị đại khoa bất tài nhưng hách dịch, thường gọi đám nho sinh xuất chúng kia là bọn "bạch diện thư sinh", thì chỉ có Đoàn Nhữ Hài là người được quan gia đặc cách sai khiến. Tức là được vua cất nhắc, bổ dụng, chưa qua các kỳ thi tuyển - "Thảo nào đêm qua, sau khi xem xong, ta có nhìn thấy Mạc Đĩnh Chi, trong lúc chàng cũng đang nhìn ta và có ý như muốn nói điều gì. Ta bèn hỏi ý chàng về buổi diễn. Chàng nói rất nhanh, như là không cần suy nghĩ, hoặc là chàng đã nghĩ kỹ từ trước”. Chàng nói: - "Trình Công nương. Đây là một nền nghệ thuật cao, đáng khâm phục. Công chúa cần biết, chứ không cần học. Tôi nghe nói công chúa đang học đàn và học múa theo lối của người Chiêm. Nhưng theo tôi nghĩ, công chúa nên học kỹ các lối đàn, nhạc, ca, vũ hiện đang được lưu truyền trong dân gian của ta là hay hơn cả. Vì không còn nhiều thời gian nữa, công chúa chớ có tham lam học nhiều thứ quá. Nhất là lối hát, nhạc và múa của mấy người thường diễn trong cung đình, công chúa chớ nên học. Cái đó lố lăng lắm". Đĩnh Chi nói xong cáo từ đi liền, nàng không kịp hỏi thêm chàng một lời nào. Chính những điều Mạc Đĩnh Chi nói, đã làm Huyền Trân trăn trở suốt đêm. Và công chúa bật ra lối nhận xét bằng trực cảm của mình về nền nghệ thuật Chàm, cũng bắt đầu từ sự mất ngủ.

Từ lúc thượng hoàng ban ý, không khí trong điện vẫn im phăng phắc. Huyền Trân nghe rất rõ hơi thở của mấy vị quan ngồi gần. Nàng cảm thấy sốt ruột, tay chân động cựa, đã toan nói. Chợt có tiếng ậm è dọn giọng. Nhìn xem ai, hóa ra quan Tư nghiệp quốc tử giám. Ông sửa lại chiếc mũ bình thiên cho ngay ngắn. Rồi rờ lại hàng khuy và chiếc đai áo có thêu đôi chim phượng hoàng thắt hờ trước bụng. Đoạn ông nói:

- Muôn tâu thượng hoàng. Bây giờ không phải lúc bàn nên hay không nên gả công chúa cho phiên vương Chế Mân. Việc đó đã có thượng hoàng và quan gia cùng triều đình quyết đoán. Mà bàn đưa công chúa sang Chiêm quốc như thế nào. Tá thánh thái sư là một người thông kim bác cổ hơn đời, lại hiểu được tiếng nói, phong tục, lễ nhạc của các phiên quốc, nên ngài có chú ý như vậy rất nên theo. Nhưng theo ngu ý của thần, lễ nhạc của nước nào, chính là cái hồn của nước ấy kết tinh lại. Nay mai công chúa vào Chiêm, tức là đem cái hồn của Đại Việt qua Chiêm quốc. Vậy thời cái cần học trong lúc này đối với công chúa là nền lễ, nhạc của Đại Việt chớ không phải là học lễ nhạc của Chiêm quốc. Còn cái phương tiện để biểu cảm nền lễ nhạc của Đại Việt ta, lại chính là tiếng Chiêm và chữ Chiêm. Cái đó công chúa cần phải học.
Nói xong, quan Tư nghiệp vái thượng hoàng ba vái rồi ngồi ngay ngắn như là quan đã ngồi đó từ lâu lắm.
Thượng hoàng đưa mắt nhìn khắp cử tọa rồi dừng lại ở chỗ Trần Khắc Chung, Đoàn Nhữ Hài.
Khắc Chung hiểu ý thượng hoàng, bèn cung kính nói:

- Trình thượng hoàng, người đã vào Chiêm, đã xem xét tường tận phong tục, lễ nhạc của nước đó. Vậy cần như thế nào, người cứ ban thánh chỉ, chúng thần sẽ ráng sức lo liệu. Riêng thần, rất tâm đắc với cao ý của quan Tư nghiệp quốc tử giám, về việc lo cho công chúa có cái vốn của nền lễ nhạc Đại Việt. Nếu thượng hoàng không cho là thần càn rỡ, thì xin thượng hoàng cho lập một dội vũ nữ và nhạc công để theo hầu công chúa vào Chiêm. Đại Việt là một nước văn hiến, không thể không dùng lễ nhạc của mình để cải hóa tâm tính hay tráo trở của người Chiêm.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #54 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 10:07:34 pm »

Quan hành khiển vừa dứt lời, thì quan tham tri chính sự, tức quan ngự sử trung tán vừa được thăng chức sau chuyến đi sứ sang Chiêm mới đây, bèn lên tiếng:

- Trình thượng hoàng, Chiêm quốc là một xứ mê đạo cũng như mê nhạc đến mụ mẫm, mù quáng. Cho nên nắm được nghệ thuật âm nhạc, tức là đã nắm được cái chìa khóa đi vào cõi tâm linh của người Chiêm. Bởi vậy không thể không trù liệu kỹ lưỡng cái vốn âm nhạc và hát múa cho công chúa trước khi vào Chiêm.
Thượng hoàng gật gù tỏ vẻ hài lòng về lời nói và sự hiểu biết của quan tham tri chính sự. Nhà vua nói:

- Đoàn Nhữ Hài còn trẻ mà kiến thức đã uyên bác. Ngươi nói rất hợp ý ta. Nhân đây ta nói thêm một đôi điều để các khanh, nhất là công chúa cần biết mà nhớ lấy.

Nói xong nhà vua co hai chân lên ngồi theo tư thế thiền, đôi mắt ngài khép hờ im lặng. Có người đã nghĩ
rằng nhà vua già, sức yếu nên thức ngủ bất thường.

Bỗng ngài cất tiếng nói, giọng vang ấm áp:

- Phần đông người Chàm theo Ấn giáo, tức là giáo phái Bà-la-môn. Hết thảy nền văn hóa của Chàm kể từ kiến trúc, đến âm nhạc đều toa rập theo cung cách Ấn. Bởi vậy ở nước này âm nhạc được coi là một nghệ thuật thiêng liêng. Phần nhiều âm nhạc được dùng trong tế, lễ và các cuộc tiếp rước long trọng. Về thứ bậc, loại nghệ thuật này được xếp trên nghệ thuật kiến trúc, hội họa hoặc sân khấu. Thần Brahma, thần Vishnou và thần Shiva, tức là ba ngôi bất tử của thượng đế chí tôn, đều là những vị nhạc sĩ đầu tiên. Theo thần thoại Ấn Độ mà người Chàm thường kể lại, thần Shiva biểu hiện vị vũ công thiêng liêng với những vũ điệu thần bí, miêu tả những giá trị sáng tạo, bảo trì và phá tán của vũ trụ. Còn thần Brahma bắt nhịp theo âm điệu của những chũm chọe khua vang. Thần Vishnou thì đánh trống mridangan. Thần Krishna một hậu thân của thần Vishnou luôn luôn được biểu hiện bằng một ống sáo với những âm điệu du dương, làm lay động những linh hồn còn đang mải miết trong rừng mơ ảo vọng… Với dân tộc này, qua âm nhạc thần linh biết được nguyện vọng tha thiết của cộng đồng. Cũng qua âm nhạc cộng đồng biết được ý muốn của thần linh, mà người trung gian truyền đạt sẽ là các vị tư tế nắm giữ quyền hành trong các đền tháp. Bởi vậy với người Chàm, âm nhạc được coi như là một thứ ngôn ngữ của thần thánh. Cho nên các khanh dự liệu cho công chúa cái vốn âm nhạc để về Chàm là thượng sách.

Huyền Trân nghe vua cha và các vị đại thần nói, lòng bừng sáng. Nhưng sao lời nói của Mạc Đĩnh Chi vẫn có gì như là một sự mách bảo của thần linh mà công chúa không thể bỏ qua. Nàng mạnh dạn dứt bỏ mọi sự e lệ thường tình, khẽ nói từ phía sau vua cha:

- Xin phụ hoàng cho phép con được nói đôi điều với các vị đại thần.

Vua Nhân tôn ngoảnh lại và cổ súy con gái bằng ánh mắt độ lượng.

Huyền Trân dịu dàng nói:

- Tâu phụ hoàng, trình các chư liệt vị đại thần. Các vị thượng phụ và phụ huynh ban cho những lời vàng
ngọc, tiểu sinh vô cùng cảm kích. Chỉ tiếc rằng tấm thân liễu yếu, với đầu óc trì độn, sợ không mang nổi
trọng trách quốc gia, xin các bậc tiền bối chỉ giáo cặn kẽ cho kẻ hậu sinh này. Theo như ngu ý của tiểu sinh, chỉ nên học qua âm luật của Chiêm quốc để phân biệt được các loại nhạc tế lễ, cúng thờ với nhạc vui, chớ tiểu sinh không thể luyện để trở thành một vũ nữ hoặc nhạc nữ Chàm được. Cứ xem như tài nghệ của bà Trà Hoa Tuyết thì tiểu sinh dù có chuyên tâm khổ luyện với tấm lòng say mê tha thiết, cũng không thể thành đạt được, với tầm mức như bà ta dưới mười năm. Bởi nhẽ, tiểu sinh sao có được cái hồn của người Chàm để mà dồn vào tiếng hát, điệu múa. Thành thử cái nên học lại chính là nghệ thuật của Đại Việt ta. Tiểu sinh chỉ xin được học một số bài nhạc, một vài điệu múa đang được lưu giữ trong dân gian từ Thăng Long tới các vùng Kinh Bắc, châu Ái, châu Hoan, thế là đủ.

Ngừng một lát như để đắn đo, suy ngẫm, công chúa lại nói:

- Theo lời dẫn giải của phụ hoàng và lời chỉ giáo của quan tham tri, tiểu sinh xin triều đình cho được làm theo ý của đại quan hành khiển, tức là lập một đội vũ nữ và nhạc công, để đem nền văn hiến của ta vào Chàm, ngõ hầu cho hai dân tộc hiểu biết và tôn kính lẫn nhau; cho sự hòa hiếu thêm phần khích lệ.

Nghe lời bạch của công chúa, thượng hoàng muôn phần vui vẻ. Người bước ra khỏi ngai, tươi cười phán:

- Ta y lời tâu của công chúa. Vua Nhân tôn quay về phía Tá thành thái sư Trần Nhật Duật thong thả nói:- Dự liệu việc này thế nào, xin thái sư lo giùm.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #55 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2010, 11:39:01 am »

Chương 19

Thoắt đã gần hai năm kể từ ngày Huyền Trân học tiếng Chàm. Tới nay công chúa với đoàn tùy tùng đã thông thạo cách nói và cách viết của người Chàm. Không những thế công chúa còn am hiểu được cả nghệ thuật âm nhạc và hát, múa của người Chàm. Những phong tục tập quán Chàm có điều gì cần ghi nhớ, bà Trà Hoa Tuyết đều chỉ dẫn cặn kẽ. Những ngày lễ tết hoặc kiêng kỵ công chúa đã thuộc nằm lòng. Không những thế, tới các ngày lễ hội công chúa còn đích thân đến làng Chàm cùng dự lễ với chúng dân và xem họ tổ chức các trò chơi, trò diễn và nấu các món ăn cổ truyền.

Trở lại với cội nguồn dân tộc mình, Huyền Trân trước hết đã học được cách làm các loai bánh, vào những dịp lễ tết khác nhau.Ví như bánh chưng, bánh dầy làm vào mùa nào. Bánh trôi, bánh chay, bánh cốm, bánh chè lam, làm vào những tháng nào trong năm. Rồi các ngày lễ như lễ Thường tân (lễ cúng cơm mới vào 10 tháng 10 âm lịch) thì sửa soạn hương hoa cỗ bàn, bày biện cúng dâng ra sao. Lễ Thanh minh làm gì. Tết Đoan ngọ , tết Nguyên tiêu  bày biện cúng vái trước sau, lớp lang đều phải thuộc biết cả. Dạy cho công chúa biết các ngày lễ tết và làm các loại bánh trái, cỗ bàn để cúng dâng, không ai khác, ngoài nhũ mẫu. Phải nói nhũ mẫu là người mẹ thứ hai của công chúa.

Có lúc nhũ mẫu rên lên vì thương xót. Bà chưa nghĩ được những điều cao xa như các bậc thượng tri, các bậc túc nho, suy nghĩ về dân tộc, về đất nước. Bà chỉ nghĩ một cách đơn giản như các cụ ta thường răn dạy:

"Hoài con mà gả chồng xa

Trước là mất giỗ sau là mất con".

Hồi bà còn con gái ở quê, bà thấy người ta ít lấy chồng khác làng. Dù làng đó ở sát cạnh làng mình, cô gái vẫn mang tiếng là lấy chồng thiên hạ". Vì thế người xưa mới khuyên:

"Có con mà gả chồng gần

Có bát canh cần nó cũng đem cho".

Vậy nên trong tâm tưởng, bà ý thức rằng công chúa đi lấy chồng lần này, coi như là mất hẳn. Người thiệt thòi mất mát nhiều nhất lại chính là bà. Vì bà không còn một chỗ dựa tinh thần, tình cảm nào khác, ngoài công chúa, mà đã từ lâu nay không có quyền, nhưng bà vẫn mang máng coi như con bà. Nhũ mẫu không hình dung được, dù người ta nói bằng lời hay vẽ ra giấy, cái xứ sở mà công chúa sẽ phải đem tấm thân ngàn vàng tới nương nhờ họ. Không dám nói ra miệng, nhưng trong lòng bà hận lắm. Cắn răng, thắt ruột bà mới giữ được miệng, được môi để khỏi bật ra những lời khinh bỉ một lũ một lĩ cái bọn đàn ông, chân mang hia, đầu đội mũ, đi đâu cũng tán vàng tán tía, quân hầu đầy tớ oai phong lẫm liệt, ấy thế mà lại phải nhờ vào sức một đứa con gái mới lớn, để cầu hòa với một nước nhỏ yếu hơn. Muốn nói gì thì nói, bà không thể tin ở nhân cách của cái bọn người, mà trọng trách quốc gia dân tộc lại đổ lên đầu một đứa con gái. Đứa con gái bà nuôi nấng, ẵm bế nó từ lúc mới oe oe tiếng khóc chào đời. Nó cũng ốm đau, cũng quấy khóc, cũng hờn dỗi như tất cả những đứa trẻ khác bà thường thấy chứ chẳng có nét gì khác biệt, thần thánh. Ấy thế mà giờ đây người ta gán cho nó đủ thứ đức hạnh, tài năng siêu phàm, cứ như nó là người nhà trời sai phái xuống không bằng. Nên chi bà nghĩ về các vị đại thần này, giá trị không hơn gì những khúc gỗ đã được đẽo gọt thành hình nhân, rồi người ta bôi son trát nhũ vào, và đặt cho mỗi khúc gỗ ấy một cái tên thật là sang quý, thiêng liêng để cho mọi người cúi đầu vái lạy. Mũ mãng cân đai, hia hốt mà làm gì cho phí chỉ uổng vàng, tốn công nhọc sức của đám thợ thêu? Nhũ mẫu không dám đi đến cùng cái ý nghĩ phạm thượng, mà thỉnh thoảng nó cứ như một con rắn trườn rất êm trong suy tưởng thường ngáy của bà, về các đấng bậc bề trên.

Cái cảm giác sẽ mất công chúa vào bất cứ lúc nào người ta đến đón đi, càng làm cho nhũ mẫu trở nên cay đắng. Bà cảm nhận như chết nửa cõi lòng. Bà trở nên lầm lì khó tính. Có lúc bà chăm bẵm, săn sóc công chúa thật là chu đáo, tinh tế. Bà xót thương cho số phận công chúa như sự bất hạnh của đời bà. Bà sẵn sàng bảo vệ công chúa như một con chó sói giữ gìn con nó. Có lúc bà lại thờ ơ, dường như bà còn có ý trách công chúa tại sao nàng không cưỡng lại, không hợp lực với bà, mà nàng lại sẵn sàng chấp thuận như là một sự về hùa với họ. Vì vậy, bà càng thấy trống trải, cô đơn. Và bà muốn nàng đi cho khuất mắt. Cũng có lúc đầu óc sáng tỏ, bà ý thức được thân phận bà trước sau cũng chỉ là một kẻ hầu hạ. Hầu hạ đến trọn đời. Vậy có ai còn đoái tưởng gì đến một kẻ tôi đòi mà phách lối cho lố lăng. Ngay đến lão Dương, công lao dường ấy mà thân nô bộc vẫn hoàn nô bộc. Nghĩ tới lão Dương, nhũ mẫu thấy lòng dịu lại, bà tự nhủ: kệ cha đời!

Người đứng ra coi sóc đám nhạc công và vũ nữ không ai khác, ngoài hòa thượng Minh Thái.

Không ai nghĩ, một chân tu như hòa thượng Minh Thái lại am hiểu nhiều lĩnh vực đến thế. Được thái sư ủy quyền cho ông chọn lựa nhạc công và vũ nữ cung đình. Nhưng ông từ chối, lấy cớ rằng những người ấy đã quen diễn cho quan gia xem, nay không vì một việc nhỏ để ảnh hưởng đến niềm vui thường ngày của nhà vua. Kỳ thực, ông cho bọn này chỉ là những hình nộm, đã được huấn luyện rất kỹ trong một vài tiết mục diễn đi diễn lại tới nhàm chán, cũng khô. Vì vậy ông rời kinh thành đi về các làng xóm. Cứ nghe ở đâu có trống hội làng, ông bèn dừng ngựa ghé xem. Ông đưa về Thăng Long những cô hát soan, hát ghẹo mà ông chọn lọc ra từ các đám hát rước trong vùng đất Phong Châu. Những cô hát đúm vùng Kinh Bắc, hát Phường vải vùng châu Hoan, Những tay đàn phách nổi tiếng trong các hội làng cũng được ông tha về. Họ là những bông hoa nghệ thuật hồn nhiên trong dân dã. Nhưng ghép họ với nhau để thành một ban hát, thì chưa mấy ai đã dám chắc sự thành công.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #56 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2010, 11:39:46 am »

Hòa thượng tự mình dàn dựng sắp xếp lấy các tiết mục để gắn bó nhau thành một chương trình. Ông hứa sẽ có một đêm ra mắt trước nhà vua và triều đình. Và sau đó, nhất định ông sẽ kéo cả đoàn đi diễn khắp các phố phường trong kinh kỳ và lưu diễn tại các vùng thôn ấp xa xôi. Nhưng ngày đó còn chưa biết được. Theo ông, mỗi người trong đoàn đều có tài riêng, tới mức chỉ hai đến ba người hợp lại cũng thành một đêm diễn. Nhưng trước hết, phải tuân theo một chương trình chặt chẽ, và mọi người phải tự khép mình vào khuôn khổ mới thành công. Ông dựng một điệu múa đèn chỉ có bảy người, hình thù dựa theo chòm sao Thần nông. Công chúa tham gia điệu múa này và đóng vai chính. Tức là đóng ngôi sao sáng nhất trong chòm sao. Nghĩa là nàng phải đội cây tọa đăng trên đầu. Còn các vai khác chỉ đội các đĩa dầu thắp bấc.
Khá khen công chúa là một người kiên nhẫn, suốt trong ba ngày liền, hòa thượng chỉ luyện cho nàng sao cho đội được cây đèn không chao đảo. Chỉ riêng đội đựoc cây tọa đăng ở dáng đứng hoặc ngồi cũng là việc cực khó. Đến ngày thứ tư thì cổ công chúa đau nhừ, tới mức khó cử động. Nhưng nàng không hề tỏ ý thoái lui. Chính công chúa đã nêu gương tốt cho cả đoàn.

Sau hai mươi mốt ngày tập luyện, chiếc đèn như dính chặt trên đầu công chúa bằng một chất keo. Nàng có thể đội đèn đi vung tay, nhún nhảy. Có thể vừa múa vừa quay, vừa chuyển đội hình, thậm chí nằm ra sàn diễn mà cây đèn vẫn đứng chong chong tỏa sáng ở trên đầu.

Ban hát của hòa thượng đang ráo riết tập luyện thì có tin nhà vua cho mở khoa thi đình. Nghe nói khoa này đích thân vua chấm để chọn tam khôi .

Mới cuối tháng hai mà kinh thành đã nườm nượp sĩ tử. Các phường Bích Câu, Bạch Mai, Tràng An, Bảo Khánh… nhà nào nhà nấy chật ních khách trọ. Đúng là gần ba chục năm, kể từ khoa  Ất hợi (1275) tới nay triều đình mới lại mở khoa thi kén người tài đức trong thiên hạ. Từ sau khoa Ất hợi, Thăng Long trải hai lần quân Nguyên vào tàn phá, nay mới được tu bổ kiến thiết lại. Diện mạo kinh thành xem đã có phần tráng lệ. Mấy năm liền được mùa. Nạn đói đã bớt, trộm cắp cũng ít hẳn. Sắc mặt người dân đã có phần tươi nhuận. Bốn phương sĩ tử đua sức đua tài. Cuộc thi hương mấy năm trước, các trấn, các lộ báo về, có tới hàng chục vạn thí sinh. Thi hội năm ngoái cũng đông chưa từng thấy. Tiếp đến cuộc thi đình năm nay, sĩ tử muôn phần hào hứng. Người từ các lộ, các trấn vẫn ùn ùn kéo về kinh thành. Một người đi thi phải ba, bốn người đi theo phục dịch. Nào người gánh quần áo, sách vở, bút mực, nào người gánh gạo, người gánh lều, chõng. Thành thử kinh thành vốn đã đông, nay càng đông gấp bội. Đêm đêm khắp các ngả đường, đèn lồng giăng mắc, lính tuần tra nườm nượp. Các cửa Đông môn, Nam môn, Long môn, các điện Vạn Thọ, điện Chí Kính, điện Phụng Tiên và nhà Quốc tử giám đèn giăng mắc lung linh, cứ như cả kinh thành vào hội hoa đăng. Các nhà dân, nhà nào có máu mặt một tí cũng chăng đèn kết hoa, đón khách.

Vào những ngày đầu của thượng tuần tháng ba, cả kinh thành Thăng Long im ắng như nín thở để theo dõi cuộc đua tài của hơn năm ngàn sĩ tử, nhằm chiếm một chỗ đề tên trên bảng vàng.

Trong khi sĩ tử đang giam mình căng thẳng trong cảnh lều chõng ở trường thi, thì đám gia nhân ở ngoài lại nhởn nhơ dạo khắp phố phường, họ kết bạn hoặc vui đùa chọc ghẹo lẫn nhau. Cả kinh thành, đâu đâu cũng vang lên tiếng hát, tiếng cười. Nhiều gánh hát từ các lộ các trấn cũng kéo nhau về trình diễn. Không biết có ngụ ý gì trong dự liệu Huyền Trân về Chàm, mà có ban hát diễn cả vở “Chiêu quân cống Hồ”.

Tới ngày kéo bảng đề danh, thì cả Thăng Long như chìm đắm trong các đại dương người chen lấn, xô đẩy, Ai cũng chỉ mong xem hồng phũc nhà mình đạt tới mức nào, âm đức thịnh suy, tài năng xuất chúng tới đâu để có cơ hội báo đáp ơn vua, đền công cha mẹ. Rủi lại trượt thì không biết đến bao giờ mới lại có được một khoa thi. Công chúa Huyền Trân là người theo dõi sát sao mọi diễn biến của kỳ thi đình. Bởi lẽ ngoài tính hiếu kỳ của tâm lý thiếu nữ ra, công chúa còn muốn biết những người nàng đã từng gặp trong các buổi bình văn ở Quốc tử giám, nay vào cuộc đọ tài, số phận sẽ định đoạt ra sao. Từ mấy ngày trước, công chúa đã xin với thượng phụ thái sư Trần Nhật Duật, cho theo vào dự dạ yến trong vườn thượng uyển. Đó là bữa tiệc nhà vua ban cho các bậc đại khoa. Công chúa muốn nhìn tận mắt các tài năng của đất nước. Nhưng công chúa cũng biết vương huynh là người nghiêm khắc, nếu đi một mình e không được tham dự, nên nàng muốn nấp bóng thái sư. Thái sư tuy là bậc thượng phụ của nhà vua, nhưng không bao giờ ông tự tiện làm trái lễ. Vì chiều lòng cháu gái sắp phải xa nước xa nhà, nên ông đã xin với nhà vua gia ân. Trước khi vào dạ yến, công chúa muốn biết kỳ thi này những ai đã chiếm tam khôi. Nàng dùng kiệu xăm xăm hướng nẻo Tràng Thi. Kiệu nàng vừa tới nơi thì nghe vang vang tiếng quan đề điệu xướng danh qua tiếng loa truyền:

- Mạc Đĩnh Chi, trạng nguyên!

- Bùi Mộ, bảng nhãn!

- Trương Phóng, thám hoa lang!

- Nguyễn Trung Ngạn, hoàng giáp!
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #57 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2010, 11:40:35 am »

Nghe qua tên bốn người đó rồi, tai công chúa như ù đặc vì tiếng tim đập gấp. Nàng hết đỗi vui mừng vì những anh tài nổi tiếng đều đứng đầu bảng. Hầuhết những đám người này, nàng đã từng quen biết, có đôi lần xướng họa thi thư. Như Mạc Đĩnh Chi, vốn người Bàng Hà, Nguyễn Trung Ngạn, người Thiên Thi năm nay mới mười sáu tuổi, cả hai người ấy đều thuộc lộ Hải Đông, một vùng đất có truyền thống khoa bảng. Bảng nhãn Bùi Mộ, người Tả Thanh Oai, ngay kề Thăng Long, công chúa cũng có giao du. Nhưng còn Trương Phóng, vị thám hoa lang này quê quán ở đâu, nàng chưa được tường lắm. Nghĩ đến tân khoa thám hoa lang, nàng mỉm cười. Vì nàng chưa thể hình dung thấy con người mặt ngọc đó ra sao? Bởi lẽ theo quy ước, người muốn được trúng tuyển thám hoa lang, ngoài các điểm thi xứng đáng đứng hàng thứ ba trong bảng tam khôi, còn phải là người điển trai. Cũng vì thế mà có những khoa thi không có thám hoa lang, là do không chọn được người đẹp xứng đáng. Nên chi công chúa cũng tò mò muốn biết xem mặt các chàng tân khoa. Nàng hy vọng trong dạ yến đêm nay sẽ được biết tất cả. Vườn ngự uyển như có hàng ngàn sao từ trên thiên hà sa xuống làm đèn soi sáng, để chào đón các vị tân khoa của kinh thành Đại Việt. Chao ôi, những bàn tay hoa man cực kỳ khéo đã trổ, cắt hàng trăm chiếc đèn lồng, đèn xếp, đèn cá, đèn sao đủ các kiểu loại, đủ các sắc màu, giăng mắc khắp các nẻo của ngự viên. Các loài hoa thơm quả quí ngào ngạt, hoa nhài thi thoảng, hoa hồng ngan ngát. Rồi hoa ngọc bút, ngọc trâm trắng phau như tuyết, hương thơm nhè nhẹ. Các loài hoa nở sớm đã kết trái sum suê như đào, mai, quất. Và nữa các loài tùng, bách, trắc, quế tỏa hương ngào ngạt. Công chúa vào vườn ngự đêm nay là một biệt lệ. Nàng chỉ được đem theo một tì nữ, ấy là Bích Huệ. Bữa nay công chúa ăn vận thật là giản dị. Đầu cài trâm ngọc, có sức nước trầm. Áo thụng màu thiên thanh. Chân giận hài cườm. Lưng thắt đai ngọc. Những trang phục giản dị ấy như tôn thêm dáng người và khuôn mặt thiên thần của công chúa, khiến không ai không cảm mến nàng. Công chúa cùng với Bích Huệ, hai thầy trò đi tha thẩn trong vườn ngự, như không để ý đến ai. Thực tình nàng để ý tìm một người, nhưng chưa thấy, đó là thám hoa lang Trương Phóng. Vui chân hai thầy trò ngó lại một đám đông, thấy mọi người vây quanh quan Quốc tử giám tư nghiệp, là phó chủ khảo kỳ thi này. Nhìn kỹ, thấy có cả quan tham tri chính sự Đoàn Nhữ Hài, Văn túc vương Trần Đạo Tái. Tá thánh thái sư Trần Nhật Duật ngồi hơi khuất. Bỗng có người hỏi:

- Bẩm quan phó chủ khảo, chúng tôi nghe nói đầu đề văn sách kỳ này chính đức vua ra, chẳng biết có phải không ạ?.

- Dạ, thưa các đồng liệt, đúng như thế đấy. Quan gia tự ra đề văn sách.

Qua phó chủ khảo xác nhận. Ông còn nói thêm:

- Cái đề cực khó. Đây là chuyện xuất và xử của kẻ sĩ trong thiên hạ.Đạo Nho ta lấy chữ trung, tức trung
quân - trung với vua làm đầu. Thứ đến là chữ hiếu. Thế mà quan gia ra đề về chuyện Văn Vương - Võ Vương hai cha con, người thờ Trụ, người diệt Trụ để dựng nghiệp nhà Chu. Nhiều người không lý giải được. Nhưng cũng nhiều người lý giải rất hay. Riêng Mạc Đĩnh Chi tài năng xuất chúng, tôi đã thầm nghĩ phải có thần trợ giúp mới kiến giải được như vậy. Sau đem bài văn trình quan gia. Người phê “Thần bút”.

Mọi người đang lắng nghe chuyện về Mạc Đĩnh Chi thì có tiếng quân thét. Thì ra đã đến giờ nhà vua vào
thiết yến cho các đại khoa. Theo điển lệ, trước khi vào dạ yến, quan chủ khảo phải dẫn các người đậu tam khôi vào lạy vua.

Đi đầu là trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, tiếp đến bảng nhãn Bùi Mộ, sau rốt là thám hoa lang Trương Phóng.
Vua Anh tôn chợt nhìn thấy tân khoa trạng nguyên bèn chau mày lại. Vì Mạc Đĩnh Chi người hơi di dạng: thấp, nhỏ, mặt choắt như mặt hầu, chân tay ngắn, da ngâm đen. Bỗng nhà vua hất tay cho cả ba vị tam khôi lui. Công chúa thất kinh, nàng cho rằng có lẽ vương huynh nàng không chấp nhận cho một quan trạng - người đứng đầu kẻ sĩ trong nước lại có hình thù xấu xí thế kia. Mặt nhà vua đăm chiêu. Trong tình thế khó xử này, công chúa ao ước có phụ hoàng ở đây,nàng sẽ nói hộ cho chàng, ắt xong. Nhưng với vương huynh, việc này cực khó. Nàng đã toan tìm thái sư. Giữa lúc mọi sự đang rối bời, công chúa chưa biết xử trí thế nào, nhưng vẫn thấy Mạc Đĩnh Chi bình thản đi lui ra phía vòm cây. Chàng thong thả rút ống quyển ra lấy giấy bút viết. Huyền Trân bèn đi về phía chàng. Dưới tán cây, bóng sáng lờ mờ, nhưng từ đôi mắt chàng, hai luồng ánh sáng chiếu rọi trên mặt giấy cho chàng viết. Công chúa thốt lên khe khẽ: “Thần nhãn!”. Viết xong, chàng chạy lại trước đức vua, quì xuống, hai tay dâng sớ.

Vua Anh tôn miễn cưỡng cầm lấy tờ giấy đọc. đọc đến đâu, gương mặt nhà vua tươi tỉnh dần lên tới đó. Và khi đọc hết, nhà vua bèn vời Mạc Đĩnh Chi tới gần và tự tay rót một chén rượu bồ đào ban cho.

Dạ yến bắt đầu. Huyền Trân thở phào, như chính nàng vừa leo qua một chiếc cầu vồng bằng khói.

Về sau, người ta được biết bài biểu Mạc Đĩnh Chi dâng Trần Anh tôn đó, chính là bài “Ngọc tỉnh liên phú”. Tức bài phú “Sen giếng ngọc”. Bài đó nói lên khí chất cao diệu của loài sen, cũng chính là khí chất của
quan trạng. Quả nhiên Mạc Đĩnh Chi sau này trở nên một tay kiệt liệt trong đời.

Suýt nữa Anh tôn đánh mất một viên ngọc quí. Mới hay: Vua chúa còn có khi nhầm…
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #58 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2010, 11:41:50 am »

Chương 20

Chế Bố Đài là quan chủ sự về lễ nghi của Chiêm Thành, cầm đầu một phái bộ hơn trăm người đã tới Thăng Long. Họ đệ trình lên triều đình Đại Việt tờ điệp xin cầu hôn. Và một bản thống kê dài dằng dặc những thứ quí, lạ như vàng, bạc, trầm hương, ngọc trai, vải bạch bố cùng lụa là, gấm vóc… để làm sính lễ.

Kể từ khi chính thức nhận được thông điệp cầu hôn, vua Anh tôn mới đưa ra bàn trong triều đình. Sự thể thật là gay cấn, triều đình đã bàn nát nước tới ba buổi thiết triều, vẫn chưa đi tới một kết cục nào.
Hầu hết các đại thần đều muốn cất quân đòi lại miền đất hai châu Ô, Lý chứ không muốn gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân, để kết tình hòa hiếu.

Quan tả bộc xạ hết lời mạt sát người Chiêm. Ông phẫn nộ nói:

- Ngày xưa Hung-nô thường quấy phá biên ải Trung Quốc, nên Hán Cao hoàng đem con gái nhà dân giả làm công chúa gả cho Thiên Vu để yên bề can qua. Đấy là một thời. Lại một thời vua Hung-nô là Hồ Hàn Da đến chầu xin làm rể. Nhà Hán đem Vương Chiêu quân gả cho, âu cũng là cái cớ, và tình thế nhà Hán buộc phải chấp nhận như thế. Còn như nước ta tự nhiên đem công chúa - một trang quốc sắc để gả cho chúa Chiêm thì thật là vô lối. Nếu như năm trước, thượng hoàng qua Chiêm mà nhận lời mai mối có hứa gả, thì nay quan gia đổi mệnh ấy đi cũng có sao đâu. Vì rằng vua đang giữ ngôi báu mà Thượng hoàng đã xuất gia. Tôi chưa từng nghe con vua của một nước lớn, lại vô cớ đem gả cho nước phiên thuộc. Việc này nếu không bãi bỏ, sử sách đời sau sẽ xem như là một việc làm trái đạo.

Trong khi các quan tại triều rầm rầm phản đối, thì các quan ở các trấn, các lộ cũng gửi sớ về can gián nhà vua. Các văn thần, nho sĩ trong triều, ngoài nội, nhiều người làm thơ đả kích. Nhiều người còn mượn điển tích nhà Hán gả Chiêu quân cho Hung-nô làm thơ chế giễu. Có giáo phường lấy cả tích Chiêu quân đem công diễn ngay tại kinh kỳ.

Nhân đó quan tả giai đạo lục cũng ra mặt phản bác. Ngài nói:

- Rường mối của quốc gia là kỷ cương lễ luật. Vừa nói được một câu, quan tả giai như sực nhớ việc gì, quan bèn dừng lại, nhả miếng bã trầu ra đút vào túi áo. Quan sửa hai chiếc dải mũ cuốn vào nhau rủ về phía ngực, nhưng gỡ mãi không được, đâm lúng túng.

(Tả giai đạo lục: viên quan coi giữ về đạo giáo. Chức quan này chuyên việc cai quản tăng đạo trong nước, bắt phải giữ kỷ luật thanh giới)

Vua Anh tôn nhìn viên đại thần không khỏi nực cười, nhà vua bèn phán:

- Khanh hãy bình thân. Đội lại mũ. Mũ của khanh đội ngược.

Lúc ấy cả triều thần mới quay nhìn quan tả giai, ai nấy đều bưng miệng cười khùng khục.

Quan tả giai mặt đỏ như gấc. Sau khi đội lại mũ, sửa lại đai áo, ngài nói tiếp:

- Muôn tâu bệ hạ, Chiêm quốc là một nước man di, chưa biết lễ, nghĩa. Người Chiêm là một giống vô đạo, tráo trở. Thần trộm nghĩ, con chim có tổ, người có tông, cây có cội, nước có nguồn. Vậy mà người Chiêm lại không thờ cúng tổ tiên. Cha mẹ nuôi con công lao tầy núi, thế nhưng lúc chết, con cái lại đem xác cha mẹ thiêu đốt đi. Cho nên một nước có văn hiến như nước ta, không thể giao hảo với một nước di, địch như thế được. Còn như nói, vì trước kia thượng hoàng đã có lời hứa với chúa Chiêm, nay phải giữ chữ tín. Thần xin nói, chữ tín cũng có ba bảy đường. Người quân tử giữ chữ tín với người quân tử, chứ chưa bao giờ người quân tử phải giữ chữ tín với hạng tiểu nhân. Xin bệ hạ cứ đổi mệnh đi cho hợp với chính lệ. Và cũng là để giữ uy tín cho nước lớn.

Chưa bao giờ nhà vua thấy phân vân như lúc này. Nghe các quan đại thần hay nghe thượng hoàng? Vua tự nghĩ: “Ta tự ý quyết cũng không khó. Nhưng ta chưa ép triều đình như thế bao giờ. Phải nhận rằng trong việc này ta cô đơn. Làm thế nào cho mọi người hiểu được cao ý của thượng hoàng”.

Nhà vua tỏ ra mệt mỏi, không muốn gặng hỏi các đại thần thêm nữa. Bỗng nghe Văn Túc vương Đạo Tái xin được nói. Đạo Tái nguyên là con của cố thượng tướng thái sư Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải. Đạo Tái là một người đức hạnh, thư văn nổi tiếng, được thượng hoàng Trần Nhân tôn kính nể. Trước khi thượng hoàng xuất gia, có mời Đạo Tái vào viện Dưỡng Đức ở cung Thánh từ, ăn đồ hải vị và có làm thơ tặng. Đạo Tái nói:

- Không phải thượng hoàng xuất gia rồi mà còn nhiễu sự để vào Chiêm. Cho nên việc vào Chiêm của thượng hoàng là có chủ ý. Cũng không phải thượng hoàng sợ hãi gì Chiêm Thành, mà phải đem con cống nạp như Hán Chiêu quân. Việc đến như thế, các ông còn không rõ sao? Lại phải hiểu thêm rằng, không tình nào sâu sắc như tình cha con cốt nhục. Vậy chớ các ông thương công chúa sao bằng thượng hoàng thương công chúa? Việc hứa gả công chúa cho quốc vương Chiêm Thành, thượng hoàng có cân nhắc kỹ lưỡng trên cả hai phương diện nước và nhà. Các ông thiển cận, hiểu sao được cái ý cao sâu của hoàng thượng. Đã không hiểu được lại xui quan gia đổi mệnh. Tức là xui con chống lại cha. Các ông là rường cột của quốc gia, nắm lễ luật, nắm đạo pháp lại đi xui vua làm điều vô lễ, vô đạo. Chẳng lẽ làm điều vô đạo ấy, lại giữ được uy tín cho nước hay sao? Tôi chắc là quan Tả giai hiểu nhầm cái nghĩa của uy tín. Nếu có uy mà không có tín, uy rồi cũng mất. Nhưng nếu có tín, tất có uy. Hãy xem gương nước Nguyên - Mông kia, biết bao lần dùng uy với Đại Việt ta, nhưng có mảy may tín nghĩa gì với chúng ta. Ba lần dùng uy, là ba lần đại bại!Cho nên, tôi thấy chỉ có nghe lời thượng hoàng, gả công chúa Huyền Trân cho quốc vương Chiêm Thành là thuận lòng người, hợp đạo trời.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #59 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2010, 11:42:33 am »

Như dồn hết cả sự khinh ghét của mình đối với những kẻ ngu dốt giữ trọng trách trong bộ máy triều đình, Văn Túc vương nhìn thẳng vào từng người và văng vào mặt họ những lời không kiêng nể. Nói xong, lưng áo ông đen sẫm lại vì mồ hôi ra ướt đẫm.

Không khí triều hội căng thẳng. Hầu hết các quan mặt tái đi. Không hiểu vì giận Văn Túc vương, hay các quan tự cảm thấy kém hèn. Trái lại, nhà vua thì tươi nhuần hẳn ra. Ông thầm biết ơn người chú của mình. Và Anh tôn tự nhủ: “Đây là một người thông tuệ hơn đời, một người vừa trung vừa dũng, phải được cất nhắc vào các cương vị xứng đáng”.

Bầu không khí vẫn im lặng kéo dài. Chính nhà vua cũng muốn những lời nói của Đạo Tái được ngấm sâu vào tim, vào óc của từng người, để họ thấm thía cái đạo vua tôi và cái nhẽ ở đời.

Một lát lâu sau, quan nhập nội đại hành khiển Trần Khắc Chung mới lên tiếng, ông nói:

- Cầu hôn là đạo thường trong thiên hạ xưa nay. Thuận thì gả, không thuận thì thôi. Vậy mà các ông lăng mạ dân tộc người ta một cách quá đáng. Mỗi nước có một phong tục tập quán riêng, có tín ngưỡng riêng. Hà cớ gì, người ta không giống mình lại gọi người ta là man di. Tôi thấy các ông thuần nói theo cái giọng điệu của bọn nhà Tống, nhà Nguyên đối với nước ta để gán cho nước Chàm. Chúng ta là một nước có văn hiến, nên ta khinh bỉ bọn người gọi ta là man di, là “địch” quốc. Chữ “man” có bộ “trùng”, chữ “địch” có bộ “khuyển”, tức là nó coi chúng ta như loài sâu bọ, chó má. Vậy là ta đã đánh cho chúng bao phen thất điên bát đảo, mảnh giáp không còn.

Chiêm Thành là một quốc gia độc lập, có nền văn hiến cao. Hãy cứ xem đền tháp, tượng thần, tượng Phật của họ tinh xảo, mỹ lệ đến chừng nào. Chỉ vài ba trăm người thất tán sang đây, trình diễn vũ, nhạc cũng làm chúng ta rung động, cảm phục. Ai dám bảo Chiêm Thành là một nước không có lễ, không có đạo?
Đừng thấy người ta không thờ cúng ông bà mà coi nước người ta không có đạo. Chẳng qua chúng ta theo tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, nên ta thờ cúng tổ tiên, để nhớ lại cội nguồn của mình. Đạo Phật ta theo, người Chàm cũng theo. Người Chàm còn có đạo lớn thứ hai, được xem là quốc đạo. Tức đạo Bà-la-môn. Đạo ấy qui ước người chết thì thiêu xác để linh hồn chóng được lên cõi thượng giới. Vậy người ta cũng có cái lý của người ta, sao lại bảo là vô đạo, là bất hiếu. Cái gì tồn tại được là đều có nguyên cớ. Cái gì ta chưa biết được thì đừng cho là nó bậy, đừng có báng bổ.

Nay vua Chàm đích thân cầu hôn. Việc này thượng hoàng với nhà vua Chế Mân đã có bàn kỹ. Mục đích là gây tình hòa hiếu cốt nhục, để cùng nhau chống cái họa phương bắc. Hai nước dựa vào nhau làm thế ỷ dốc để cùng nhau trường tồn. Thế là cả hai bên cùng có lợi. Nay người ta dẫn lễ đủ các thứ của quí vật lạ, lại kèm cả vùng đất hai châu làm sính lễ. Vừa gây được tình hòa hiếu lâu dài, vừa không mất mũi tên nào cũng thu phục được đất đai… Kế sách của thượng hoàng như thế còn gì cao kiến hơn, tỏ sáng hơn. Sao các ông còn muốn chống lại cái lợi sờ sờ trước mắt, để chuốc lấy cái hại lâu dài cho trăm họ. Việc đã đến như thế, xin bệ hạ cứ quyết theo ý của ngài.

Nhờ có chính kiến của Văn Túc vương và nhập nội đại hành khiển, nên ý của nhà vua đã tám chín phần muốn quyết. Nhưng để cho việc nhà, việc nước trọn cả hai, vua Anh tôn bèn lui vào hậu điện xin ý chỉ của
Tuyên từ kế mẫu. Bà Tuyên từ là một người ý thức được về các việc làm của Nhân tôn, bà nói:

- Nếu việc này thượng hoàng đã có chủ ý, thì con cứ thế mà làm, không phải hỏi ta nữa.

Nhà vua lại triệu em gái tới triều kiến. Trước bá quan văn võ, vua nói:

- Việc gả công chúa cho quốc vương Chiêm Thành là do chủ ý của thượng hoàng. Nay nước Chiêm cử
người sang cầu hôn, triều đình đã bàn tính lợi hại, kẻ nói nên, người nói không nên. Vậy ý công chúa thế nào. Nếu công chúa ưng thuận, việc sẽ thành. Nếu công chúa khước từ, triều đình sẽ tìm cớ thoái thác với người Chiêm.

Trần Huyền Trân không ngờ sự thể lại xảy ra gay cấn đến thế. Bữa trước Trần Khắc Chung có gặp riêng công chúa, nói rằng việc thượng hoàng quyết cho công chúa về Chiêm, ý của các đại thần không thuận lắm. Huyền Trân cũng cho đấy chỉ là câu chuyện làm quà, ai ngờ họ dám chống lại một quyết định sáng suốt của thượng hoàng.

“Rõ là một lũ ngu”, nàng thầm nghĩ. Và nàng cũng trách luôn cả vương huynh: “Trong việc này vương huynh ta lại không có chính kiến sao? Vua chúa gì mà cứ như đàn bà, việc đến không dám quyết”.

Trần Huyền Trân lòng đầy tức giận, mặt đỏ gay, nàng nói:

- Lấy chồng là việc riêng của một người con gái. Gả chồng cho con là quyền ở cha mẹ. Duyên phận của tôi như thế nào là thượng hoàng định đoạt. Song le việc định đoạt của thượng hoàng tới nay đã ngoài khuôn khổ gia đình, mà là quan hệ giữa hai quốc gia. Phận gái, tôi không muốn đem thân tới xứ lạ để thờ người khác giống. Song vì thượng hoàng thương đám lê dân cả hai nước, vô cớ lại cứ phải dính vào chuyện can qua. Người muốn thu hồi miền đất hai châu, muốn bắc một cây cầu hòa hiếu cốt nhục lâu bền giữa hai nước, để tránh cái họa tranh chiến ở phương nam, cùng nhau rảnh tay đối phó với mặt bắc. Cảm thông tấm lòng nhân ái như trời bể của thượng hoàng, là một đứa con hiếu thuận, tôi đã vâng lời. Việc này không còn gì nữa mà triều đình phải bàn.

Công chúa nói xong đi liền. Ra tới kiệu rồi mà lòng tức giận vẫn chưa nguôi. Nàng biết rằng, nếu nàng từ chối thì gần như cả triều đình đứng về phía nàng. Huyền Trân tự biết, thế là từ phút này trọng trách quốc gia đã đặt lên vai nàng.

Công chúa tự nhủ: “Đây là việc ta tự nguyện gánh lấy, chứ phụ vương và vương huynh ta không ép. Khốn thay cả triều đình mù quáng, chỉ có vài người hiểu được cao kiến của phụ vương. Ta quyết vì phụ vương, vì nền hòa bình trường cửu của Đại Việt và Chiêm Thành mà làm tất cả những gì cần thiết”.

Công chúa đi rồi, triều đình mới quyết việc nhận lời cầu hôn của sứ đoàn Chiêm quốc, và chọn ngày lành để đưa công chúa về Chiêm.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM