Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:53:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Truyện ngắn - Tạp chí Sông Hương  (Đọc 75359 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #90 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 02:04:34 pm »

Những chuyến đi vào rừng sâu gặp nhau của Tư và Hiền không lọt qua mắt ông Xu. Đến lần thứ ba Hiền mang gạo muối ra tiếp tế cho Tư đã bị ông phát hiện. Một cuộc họp chi bộ khẩn cấp được triệu tập ngay trong đêm, kèm theo hai quyết định. Quyết định thứ nhất Hiền bị kỷ luật khai trừ lưu đảng một năm và đưa lên trại sản xuất của tỉnh tại Làng Tà trồng rau sắn. Quyết định thứ hai, anh lính bộ binh Tư phải quay trở lại giáp ranh ngay để đơn vị kiểm điểm về hành vi “phi đạo đức”. Cho dù Tư đã cố khẳng định họ đến với nhau vì tình yêu, sẽ chờ đợi nhau… vân vân và vân vân. Nhưng theo ông Xu, mọi lý lẽ đưa ra chỉ là ngụy biện cho hành động “tha hoá về mặt đạo đức của người chiến sĩ cách mạng trong lúc cuộc chiến đấu đang nước sôi lửa bỏng” (!). Đó là kết luận cuối cùng được ghi trong biên bản của cuộc họp chi bộ trạm xá.

Tư và Hiền ra đi không còn có cả cơ hội chia tay nhau nữa… Tư tần ngần nhìn chiếc cối xay lúa anh đã dành vào đấy công sức hơn một tháng trời. Chiếc cối xay giúp các chị phục vụ thay cho việc giã gạo bằng chiếc mũ sắt của Mỹ. Chiếc cối xay mới chỉ kịp khoan, dùi lửa thủng một bên tai cối. Một tai cối còn lại chưa kịp hoàn thành. Cậu hoạ sĩ khi vẽ lại cái cối xay bằng tranh sơn dầu đã gặng hỏi chủ nhân. Anh Tư, chị Hiền nhìn nhau cười. Chị Hiền bảo: “Thời chiến tranh, người ta làm cối chỉ có vậy!”.

Ba năm hai tháng mười bốn ngày sau, Tư mới có dịp trở lại cánh rừng ở bên bờ Khe Trăng tìm vợ. Lúc ấy, chiến tranh đã chấm dứt. Anh không còn phải leo dốc, cuốc bộ mà ngược dòng sông Bồ bằng con thuyền máy cao tốc, lấy được của thuỷ quân ngụy ở bến Đông Ba. Hai người gặp nhau nước mắt dàn dụa. Ai cũng tưởng người mình yêu đã chết. Tư cõng vợ xuống thuyền và nhờ mấy người lính khiêng chiếc cối xay lúa để về Huế ra mắt cha mẹ vợ.

Buổi sáng ấy biển động. Lất phất vài hạt mưa. Quán cà phê cây sứ vắng khách hơn mọi ngày. Dãy bàn ghế nhựa nằm tênh hênh dưới các gốc cây trứng cá được che thêm bằng những chiếc ô lớn của hãng bia Heniken. Đã quá nửa giờ vẫn chỉ có một mình ông giáo sư ngồi nhâm nhi chén cà phê đen đánh cờ một mình. Anh Tư phóng xe máy đi lấy cây đá về cho vợ, bật cười trêu vị giáo sư: “Ai thắng, ai thua thưa giáo sư?”. “Thằng tay phải thua thằng tay trái. Ngu quá đi mất”. Chị Hiền nhìn ông giáo sư cười ngất.

Quãng gần nửa giờ sau, cậu hoạ sĩ trẻ mặc độc cái quần soóc lửng, áo phông ngắn tay nhoe nhoét màu sơn cưỡi trên chiếc xe honda sáu bảy lao tới quán. Chưa kịp gạt cần chống xe, cậu hoạ sĩ trẻ nói ngay: “Hai bác biết tin gì chưa? Cậu hoạ sĩ trợn tròn đôi mắt - Đêm qua, ông dân biểu chết rồi!”. Anh Tư như không tin vào đôi tai mình hỏi lại: “Cậu nói ông Xu á?”. “Thì ổng chớ ai nữa. Chết vì treo cổ hay uống thuốc ngủ quá liều, đại loại như vậy… Mới bảnh mắt, công an thành phố đến đầy nhà, khám nghiệm tử thi ngay tại hiện trường. Khám xong họ đưa ổng vào nhà xác rồi”. “Sao cậu biết rành rẽ vậy?”. Vị giáo sư hai tay cầm hai quân cờ, không biết tay nào sẽ xơi tay nào, gương mục kỉnh lên hỏi cậu hoạ sĩ: “Cháu ở tầng năm, ổng ở tầng sáu. Cháu với mấy gia đình phải lên làm chứng ký vào biên bản”. Anh Tư thẫn thờ: “Vậy cô vợ trẻ của ổng đâu?”. Cậu hoạ sĩ giơ tay lên trời: “Nói tới cổ làm gì… Cổ theo thằng bồ bỏ đi Sài Gòn đã cả tuần nay rồi còn gì”.

Ba gã đàn ông, ngồi ba góc như ba ông đầu ra không nói năng chi. Ba ly cà phê nguội ngắt. Như thể họ nghe rõ tiếng rít gào của một ông già đã ngấp nghé tuổi 70 trong cái lần cách nay không lâu, ông bắt gặp cô vợ trẻ đi chơi với tay bồ ngoài bãi biển... “Ông thì ông giết! Lành làm gáo, vỡ làm muôi…”.

Hỡi ôi! Ông Xu đã chết. Lấy ai để mà giết cô vợ trẻ hư đốn, mê lão chỉ vì căn nhà biệt thự đã hoá giá ước tính bán được cả vài trăm cây vàng… Lão chết, lấy ai để vài tháng một lần lên trại tù thăm nuôi thằng con trai duy nhất không chịu học hành, mải ăn chơi đua đòi đi theo mấy đứa đâm thuê chém mướn, gây rối ở nhà hàng đánh người ta trọng thương.

Ông giáo sư là người đầu tiên phá vỡ không khí im lặng: “Làm một ván chăng?”. Cậu hoạ sĩ trẻ lắc đầu quầy quậy: “Cháu thua… Cháu xin thua bác. Cháu chẳng còn tâm trí nào để đánh cờ”. Ông giáo sư thủng thẳng đứng dậy: “Tuỳ… Để cậu tự do suy nghĩ về cái tiêu đề cho cuộc triển lãm tranh nay mai”.
Đâu đó, sấm động ngoài biển. Cả ông giáo sư và cậu hoạ sĩ trẻ không hề biết anh Tư vào nhà từ lúc nào. Anh đứng bên chiếc cối xay, châm lửa hút thuốc và ngồi vào phía bên tai cối chưa bị đục thủng, lặng lẽ nhìn ra biển. Mưa giăng giăng ngoài xa. Đứng từ gác hai, anh thấy thương những con thuyền của ngư dân xóm Bóng vẫn lầm lũi ra khơi như những pháo đài di động trên mặt nước.

                                   
Hà Nội 9/2007
                               Đ.K.C
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #91 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 02:20:35 pm »

Ngôi mộ có hai hài cốt

XUÂN ĐÀI


Làng Tân Mỹ Đông nằm dưới chân núi Tịnh Hồng, trước năm 1975 là vùng của quốc gia, nói cho ngay ban ngày quốc gia điều khiển về hành chính, ban đêm “việt cộng” kiểm soát mọi mặt. Trong làng nhiều người đi lính hai phía, phía nào cũng có sĩ quan cấp tá, cấp úy và binh nhất, binh nhì…

Khi đất nước thu về một mối, các ông sĩ quan cộng hòa đi học tập cải tạo ở các trại ngoài Bắc. Các ông sĩ quan giải phóng, ít lâu sau người về hưu, người phục viên. Các ông sĩ quan Việt cộng hòa dần dần được ra trại, phần lớn ra nước ngoài định cư, người ở lại quê làm ăn không nhiều. Làng Tân Mỹ Đông chỉ có hai dòng họ, họ Huỳnh và họ Phan. Tình làng nước, tình họ hàng, gắn bó với nhau đã hơn ba trăm năm nay, việc phải cầm súng đánh nhau đó là chuyện của một thời, chuyện của quá khứ dù quá khứ chưa xa. Hòa bình rồi, chính quyền địa phương, lúc này lúc nọ có phân biệt đối xử, còn nhân dân thì không, cư xử với nhau, bao bọc, che chở, thương mến bằng tình làng nước, tình họ hàng. Núi Tịnh Hồng cách làng không xa đã từng là chiến địa khốc liệt…

Một hôm hai thằng nhỏ, một là Cu Dứa, một là Cu Teng, vác hai khẩu súng đã mục nát từ sườn núi về nộp cho ủy ban xã, chúng cho biết nhặt được hai khẩu súng khi vỡ đất khai hoang. Mấy ông cựu sĩ quan trong làng, liếc qua là phân biệt được liền, một khẩu là R16, một là AK47. Đây là súng của lính ở hai chiến tuyến khác nhau. Sao lạ vậy cà? Dân làng bàn tán xôn xao. Anh Ba Râu trước là trung sĩ Việt cộng hòa, tợp một ly rượu rồi phán:

- Chuyện này tôi rành sáu câu.

Những người lớn tuổi trong làng không ai lạ gì tiểu đoàn 7 dù của Ba Râu đã từng quần đảo với quân giải phóng ở trên các cao điểm núi Tịnh Hồng. Ngay ngày hôm đó, hai thằng nhỏ đi cùng mấy anh xã đội và Ba Râu đến chỗ nhặt được hai khẩu súng. Hai đứa cho biết chúng lượm súng khi đào xới dưới độ sâu hơn nửa mét. Ba Râu nhận định, vậy thì quanh đây sẽ có hai hài cốt của hai người lính ở hai phía.

Anh xã đội trưởng gật gù, thấy Ba Râu nói có lý.

Chính quyền xã liền huy động dân quân ra hiện trường đào xới, nơi nhặt được hai khẩu súng. Dân làng nhiều người mang theo cuốc, xẻng, phụ giúp với đám trẻ. Đào xới toát mồ hôi hột chẳng tìm thấy gì ngoài những hòn đá nhỏ, hòn đá to. Nhiều người đã nản lòng, nghi ngờ nhận định của Ba Râu. Không chịu thua, Ba Râu lý giải: Đây là lưng chừng núi - Ba Râu ngước mắt lên đỉnh núi nói tiếp - trên đó Việt Nam cộng hòa đặt là cao điểm 115, còn phía giải phóng gọi là gì tôi không rành. Ông lão Huỳnh Đệ, hai hàm răng đã đi sơ tán hết, cười móm mém, nói đùa: giải phóng đặt là Đồi xương tan.

Ở làng Tân Mỹ Đông, ngoài Ba Râu còn có Bảy Bùi là thượng sĩ quân giải phóng, từng tham chiến các trận đánh ở núi Tịnh Hồng. Thời niên thiếu hai anh cùng giăng câu bắt cá, mò cua bắt ốc với nhau, lớn lên cầm súng ở hai phía, trở thành kẻ thù của nhau. Bây giờ lại là bạn thân mở lò làm bánh tráng. Theo Bảy Bùi và Ba Râu, câu chuyện về hai khẩu súng có thể kể gọn lại thế này. Cao điểm 115 trước đây lính Việt Nam cộng hòa chiếm giữ để bảo vệ chi khu Nước Trong và khống chế hoạt động của du kích làng Tân Mỹ Đông và những làng kế cận. Năm bảy hai, quân giải phóng tập kích đánh chiếm được cao điểm. Một tiểu đoàn quân giải phóng, súng ống đầy đủ, quyết giữ cho được điểm cao có tầm chiến lược này. Mỹ và quân lực Việt cộng hòa uất ức, quyết giành lại ngọn đồi bị mất. Chuyện đó xảy ra, chỉ sau mười ngày quân giải phóng chiếm giữ. Máy bay phản lực Mỹ, hết tốp này đến tốp khác, dội bom cao điểm. Quân giải phóng tổn thất khá nặng. Tiểu đoàn trưởng hy sinh. Chính trị viên và tiểu đoàn phó hội ý chớp nhoáng, lệnh cho các chiến sĩ rút xuống lưng chừng núi, sẵn sàng chặn đánh bộ binh của đối phương. Đối phương từ chân núi hò reo tiến lên. Khi quân lính của họ chỉ còn cách chưa đầy mười mét, quân giải phóng núp sau các hốc đá, gốc cây, bắt đầu nổ súng. Và đối phương bắn trả quyết liệt. Trận đánh giáp lá cà xảy ra ngay tức khắc…

Hai khẩu súng của quân đội hai bên vừa tìm thấy là sao đây? Bảy Bùi và Ba Râu đều có chung một nhận định, hai người lính, hết đạn, quẳng súng và đánh nhau bằng tay không. Chính quyền và nhân dân tin vào nhận định này nên đã đào xới xung quanh hai khẩu súng, nhất là phía dưới chân núi. Bảy Bùi phán một câu nghe có lý: hai anh lính này “chơi” nhau bằng tay, cả bằng răng nữa, không phân thắng bại, rồi ôm ghì lấy nhau cùng lăn xuống. Đá tai mèo nhọn hoắt, gốc cây bị bom đạn phạt ngang nhọn như chông thì thân xác nào chịu cho thấu. Hai thi thể của hai người lính còn nằm lẩn khuất đâu đây trong một cái hố, có thể là hố bom… Do bão lụt trong nhiều năm đã lấp vùi họ.

Ba Râu lạnh lùng nói thêm:

- Hai đứa chết mà không buông nhau ra, tôi tin là như vậy.

Nhắm theo đường thẳng của hai khẩu súng vừa tìm được, dân làng đào xới ở nơi thấp nhất thì tìm được xương cốt nằm ngổn ngang trong một đống, nguyên vẹn hai hộp sọ, xương sườn, xương ống tám chi của hai người. Bất ngờ nhất là nhặt được một lọ péniciline đóng nút thật chặt. Trong lọ có mảnh giấy ghi họ tên, năm sinh và số nhà ở Hà Nội. Bảy Bùi reo lên, đây là thằng lính giải phóng nhỏ hơn tôi bốn tuổi. Trong lúc lau chùi bùn đất ở các chi, bà con lại phát hiện ra một cái lắc bằng nhôm khắc tên họ, số lính và lại có địa chỉ ở một đường phố Sài Gòn.

Bảy Bùi cười cười nói với Ba Râu: Thằng này là chiến hữu của mày đó cha nội. Ông xã đội trưởng nghiêm mặt: Thôi đi Bảy Bùi, đừng đùa cợt vô duyên trước linh hồn người đã khuất.

Hai người lính khi trở về với đất có thể đều ở tuổi hai mươi, sinh cách nhau mấy ngày, nói chính xác, anh lính Sài Gòn hơn anh lính Hà Nội tám ngày và cả hai có một đức tính giống nhau, cẩn thận, linh cảm mình có thể chết bất cứ lúc nào nên mới để lại địa chỉ rõ ràng như vậy. Bà con làng Tân Mỹ Đông, không ai nói ra, song đều thầm cám ơn hai người lính trẻ đã để lại địa chỉ cho họ tìm kiếm hai gia đình đến nhận hài cốt con mình…
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #92 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 02:24:48 pm »

Hài cốt hai anh được đưa về làng, dùng rượu đế Gò đen rửa sạch từ hộp sọ cho đến từng đốt xương. Nhiều người ngồi quanh hài cốt khóc xụt xịt. Má Tám Gừng nức lên, nghẹn ngào như khóc hai thằng con trai, một giải phóng, một cộng hòa đều tử trận năm Mậu Thân, 1968, đến bây giờ vẫn chưa tìm được hài cốt. Má lau nước mắt, hỏi: tụi bây tính sao để phân biệt xương cốt mà tách hai thằng ra hai bộ.

- Việc này dễ ợt - Anh Phó Chủ tịch xã nói - đưa ra Hà Nội thử ADN là phân biệt được liền, có điều hơi tốn kém.

Khác với mọi lần, Ba Râu nói nhẹ nhàng:

- Việc liên hệ với hai gia đình ở Hà Nội và Sài Gòn để tui và thằng Bảy Bùi lo. Cứ nhắc điện thoại lên hỏi bưu điện là tìm được số phôn của thân nhân cả hai.

Mọi người lại bàn tán xôn xao. Người thì bảo nên thử ADN để phân biệt hài cốt nào là của anh lính giải phóng Hà Nội để đưa vào nghĩa trang liệt sĩ, hài cốt nào là của anh lính cộng hòa Sài Gòn để báo cho thân nhân họ đến nhận thi hài con mình về chôn cất. Ý kiến của má Tám Gừng là hai đứa đã ôm nhau, ngủ vùi hơn 30 năm nay, đã trở thành anh em, bạn bè không còn thù hận nhau nữa, nói cho ngay lúc sống sẵn khẩu súng trong tay thì cứ bắn đại, chứ thực lòng chúng nó chẳng thù hận nhau. Theo tui là cứ để vậy chôn chung vào một mồ, vườn nhà tui rộng, cho hai đứa về nằm đó, hàng ngày tui lo nhang khói, hoa kiểng và cây trái về cúng hai đứa, cầu mong tụi nó phù hộ cho bà con xã mình, bà con cả nước làm ăn thịnh vượng.

Dân làng Tân Mỹ Đông đứng vòng quanh hai thanh niên vắn số, lặng đi một lúc trước ý kiến đột ngột, không ai ngờ tới của má Tám Gừng. Một lúc sau, anh Phó Chủ tịch xã, phụ trách văn xã, giọng trầm trầm nói vừa đủ cho mọi người nghe.

- Đem thử ADN, tốn kém bao nhiêu đi nữa, dân làng mình cũng thừa sức đóng góp, chuyện nhỏ mà, nhưng tôi thấy việc sắp đặt của má Tám Gừng vừa có lý, vừa nhân ái, hợp lòng dân, cứ vậy mà làm, ai không đồng ý ý kiến má Tám thì giơ tay.

Chỉ có nước mắt chảy ròng trên những khuôn mặt già nua, trên những khuôn mặt bầu bĩnh của các cô gái, trên những khuôn mặt thanh tú của các chàng trai, tuyệt nhiên không có ai giơ tay phản đối đề nghị của má Tám cả. Anh Phó Chủ tịch kết luận, vậy là chúng ta đều đồng lòng chôn chung hai người vào một mộ và mai táng tạm thời ở vườn nhà Ba Râu, nhà Bảy Bùi, hoặc nhà má Tám Gừng, việc đó tính sau. Mai mốt hai gia đình Hà Nội và Sài Gòn đến nhận hài cốt hai con mình, nếu họ không bằng lòng chôn chung thì chúng ta sẽ làm theo ý họ.

Nhờ sự kiên nhẫn của Bảy Bùi và Ba Râu, bưu điện Hà Nội đã cho biết số điện thoại của gia đình anh lính Hà Nội, Nguyễn Văn Thà. Theo Bảy Bùi, bà mẹ anh Thà đã gần 80 tuổi vừa trò chuyện, vừa khóc nức nở trong điện thoại, do vậy, Bảy Bùi phải gọi nhiều lần, ráp nối lại mới hiểu được ý của bà già anh Thà. Mẹ anh Thà đã báo cho các anh chị của Thà và bà con trong dòng họ, ai cũng mừng mừng tủi tủi và cho biết gia đình sẽ kéo một đoàn về quê chúng ta vào một ngày gần đây, dân làng mình chuẩn bị đón tiếp ngay từ bây giờ là vừa.

Còn Ba Râu được “phân công” liên lạc qua bưu điện Sài Gòn để tìm thân nhân anh lính cộng hòa Phan Nhật Thanh, thì không suôn sẻ lắm. Gọi tới nhà anh Thanh, chủ nhà nói giọng thân tình, vui vẻ, nhưng lại cho biết ông là chủ ngôi nhà này nhưng mới mua lại chủ cũ hơn một năm nay. Chủ cũ là một ông cán bộ cấp cao của Trung ương đã nghỉ hưu, bán lại cho ông với giá hơn tám nghìn lượng vàng. Còn chủ thật sự của ngôi nhà sinh sống trước năm bảy lăm, hiện ở đâu ông không rõ, nhưng theo bà con khu phố thì gia đình này đã vượt biên từ sau giải phóng ít lâu. Tôi phải gọi điện thoại nhiều lần, lúc gặp người này, lúc gặp người nọ trong gia đình. Anh con trai nói chuyện với tui nhiều lần, phần lớn là anh chủ động gọi, anh cười cười bảo để cho tui đỡ tốn tiền. Sao lại có người tốt bụng vậy! Qua cách nói chuyện của ông chủ nhà, của anh con trai và những thành viên trong gia đình, tui nhận ra họ là dân sinh sống ở Sài Gòn lâu năm. Họ cho biết, sẽ tìm thân nhân gia đình anh Phan Nhật Thanh qua phương pháp lên mạng internet, họ bảo sẽ vào các oep, oep, lóc, lóc (1) với gì đó, tui đâu có rành. Anh con trai, lớn tuổi hơn tui là cái chắc, còn nói sẽ tìm qua các báo tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp… trên toàn thế giới. Cách tìm tin tức người thân trên báo, họ không nói rõ mà dù có nói, Ba Râu tui cũng không hình dung nổi. Cả gia đình khi nói điện thoại với tui đều nhấn mạnh một điều, chắc như đinh đóng cột: nhất định sẽ tìm được thân nhân Phan Nhật Thanh. Và tui cũng xin thưa với bà con là gia đình trong Sài Gòn vô cùng cảm động trước tấm lòng của nhân dân xã mình, và họ khen quyết định chôn chung hai người vào một mộ ở vườn má Tám Gừng là quyết định đúng đắn, rất hợp với đạo lý người Việt Nam.

Nam Bộ đã vào mùa mưa, ông trời cứ sụt sịt suốt ngày, chắc động lòng thương cảm hai người lính chết lúc còn quá trẻ trong cuộc chiến tranh đã lùi xa. Dân làng Tân Mỹ Đông ngày ngày trông ngóng thân nhân gia đình Nguyễn Văn Thà ngoài Hà Nội vào. Và ngày ngày trông ngóng tin tức của gia đình xa lạ ở Sài Gòn cho biết kết quả việc tìm kiếm gia đình Phan Nhật Thanh đang sống ở phương trời xa ngái nào đó.

Câu chuyện tạm dừng ở đây vì không có gì để nói thêm. Tôi sẽ kể tiếp khi có tin tức của hai gia đình Hà Nội và Sài Gòn, họ có đồng ý chôn chung như cách làm của dân làng Tân Mỹ Đông hay sẽ thử ADN để tách riêng ra, con ai nhà ấy mang về thờ phụng. Không hiểu sao, linh tính mách bảo tôi, dân làng Tân Mỹ Đông nhất định tìm được thân nhân của Phan Nhật Thanh, dù họ có ở xa nửa vòng trái đất. Trời phật sẽ phù hộ những người có tấm lòng. Xin bạn đọc vui lòng chờ đợi một thời gian. Và tôi, tác giả truyện ngắn này xin giữ lời hứa sẽ viết tiếp nếu như dự cảm không phản bội tôi.

Sài Gòn mùa mưa 2007
                          X.Đ


------------------------------------------------------
(1) Ý Ba Râu muốn nói Website và Blog
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #93 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 02:58:51 pm »

Hướng thiện

QUỐC THÀNH


Năm ấy lên cao nguyên thăm anh bạn, biết tôi lần đầu đến anh dẫn ra trung tâm xã coi cho biết, cũng là lúc dân đi rẫy về. Ngược chiều chúng tôi là một ông già, mắt nhìn xuống miệng cứ lẩm bẩm: "Muộn rồi, Muộn rồi". Tôi nghĩ ông vội đi đâu đó, chắc nóng lòng lắm.


Hôm sau tôi gặp ông vẫn dáng đi ấy vẫn câu nói ấy, tôi nghĩ rằng chắc ông bị tâm thần. Trong bữa rượu, nâng ly lên môi tôi chợt nhớ về con người lạ lùng đó. Không cưỡng được tôi hỏi bạn; anh kể rằng:
"Không biết lão từ đâu đến, có vợ con hay không, nghe giọng trọ trẹ họ đoán lão từ miền Trung lên. Trước khi lão lên, có mấy anh trên huyện, trên tỉnh về làm việc với ủy ban nhân dân xã. Hôm sau ủy ban huy động thanh niên kẻ tấm tranh người thanh gỗ dựng nên một cái nhà. Gọi nhà cho oai chứ chẳng hơn chòi canh rẫy bao nhiêu. Đúng thôi, ở đây đất vàng đất bạc, lấy đâu đất rộng làm nhà khang trang cho lão, khi mảnh đất đó vừa mặt tiền vừa gần trung tâm xã. Lão làm thuê cho các chủ vườn, rất cần cù lại có kỹ thuật nên ai cũng thích. Cứ nhìn vườn nhà lão mà coi, quanh năm rau quả tươi tốt. Lão dậy sớm, lúc trời chưa tỏ, nhóm bếp lên là ra vườn cuốc đất, dựng rào, tưới đậm nước mới vào ăn đi làm. Thương lão côi cút, thanh toán tiền công rồi chủ vườn thường cho thêm cái áo quần cũ hay gói đường...Có lẽ ngoài tiền công là lão đem về nhà, còn lại đều rơi rớt trên đường. Gặp người bán cream lão cho cái áo, gặp trẻ con lão cho gói đường. Người ta cảm ơn lão lại lẩm bẩm "muộn rồi"..! Không biết lão muốn kết giao với ai không, còn dân tình không muốn. Không phải họ ghét lão vì lão ăn ở chả mất lòng ai, nhưng nhìn cái mặt đen sì nổi những u cục, con mắt vằn những tia máu của lão nên họ không thích. Thế thôi. Sau này có người miệt dưới lên, nhận ra lão..."

Cậu bé Thê họ Lê sinh ở làng Trù Phú, dưới chân núi Ngự. Nhà cậu không tấc đất cặm dùi. Mẹ Thê mất sớm, cha làm nghề đào huyệt trên núi Ngự. Không biết vì thương con hay vì gái góa làng chê mà cha Thê ở vậy. Lũ trẻ làng cùng tuổi Thê đã đeo guốc mộc, tóc để chỏm cắp sách đến trường học dăm ba chữ, còn cậu vẫn lẽo đẽo theo cha lên núi. Cha Thê đào huyệt đẹp, đúng yêu cầu nên nhiều khách. Hơn nữa, cha Thê đã đào không bao gìơ có kiện tụng. Đừng tưởng núi Ngự mênh mông, muốn đào đâu cũng được. Nhiều người ngắm mạch ưng ý, hỏi dò biết đất chưa có chủ, bèn cho người đào. Huyệt đào dang dở có kẻ tới bắt lấp, còn dẫn về xã ăn vạ. Cũng đám đất ấy hôm sau cha Thê đào thì không sao. Người ta bảo cha Thê đi lại với ông xã. Chỉ tội huyệt đào một buổi, cha Thê kéo dài tới mấy bữa, ai cần phải thêm thù lao.
Mỗi lần cuốc xong một lớp đất, cha Thê lên hố, để Thê lúi húi với chiếc xẻng, vớ chai tu một hớp rượu, khà một tiếng rõ to, đưa tay quệt mép giảng giải cho cậu con. " Nghĩa tử là nghĩa tuyệt". Đó là bài học đầu tiên mang tính giáo lý mà Thê học được ở cuộc đời. Khoảng 12 tuổi Thê có một đam mê kỳ quái. Hắn bắt những con nhái bẻ hai chân cho chúng kêu chí chóe đầy thích thú. Một bận cha Thê lên muộn, nách cắp chai rượu nhìn thằng con chơi trò man rợ, mắng:

- Răng mi ác rứa?

- Chưa bằng nghĩa tử là nghĩa tuyệt!

Hắn ngước cái mặt đen nhìn cha, cười khênh khệch. Cha Thê tối sầm mặt,quay đi lau nước mắt...

Thời gian trôi như nước chảy chân cầu. Cậu bé ngày nào trở thành anh chàng Thê lực lưỡng. Trên khuôn mặt đã lún phún hàng ria quanh mép. Những đêm trăng sáng trai gái làng Trù Phú rủ nhau ra chiếc cầu cong đầu làng hát đối. Nhìn cảnh ấy, Thê muốn xông vô nhưng không dám, bởi trong ấy không có ai là bạn bè. Thê một mìmh cô độc, hết lủi thủi lên núi lại ra đồng mò cua bắt ốc. Đêm nọ vầng trăng mười sáu lên cao vằng vặc, từng tốp trai gái cất tiếng hát. Lời hát bay lên quấn lấy ngọn tre lan tỏa khắp không trung. Thê nghe lòng mình rạo rực như lửa cháy trong lồng ngực. Không dằn được, hắn len lén đến ngồi cùng tốp trai làng. Đám hát đang vui bỗng chững lại, tản ra. Còn lại một mình, Thê ức lắm, hắn thề phải trả thù, nhưng bằng cách nào thì hắn chưa biết.

Chiều mùa thu gió biển lên rời rợi. Từ núi về, Thê thơ thẩn trước cổng làng. Từ xa một làn bụi đỏ bay lên, chiếc xe Zepp phóng tới phanh lại bên kia cầu. Một chàng tóc hai mái cao lớn với khẩu col tòng tong trước háng đi vào nhà ông xã trưởng. Những đôi mắt trẻ con cùng lũ con gái nhìn theo, ao ước. Thê nghĩ, muốn oai phong lẫm liệt thì phải đi lính. Nhưng Thê không bằng cấp có đi lính cũng chỉ binh nhì, nhận ra thê, hắn buồn lắm...

Cũng là lúc chính quyền ngụy ra sức cũng cố. Chúng muốn tách cách mạng ra khỏi nhân dân nên rào ấp chiến lược và lập ra dân vệ. Dân vệ là một đội quân ô hợp, kẻ không sức khỏe không bằng cấp, người trốn quân dịch. Đội quân này dưới sự cai quản của một sĩ quan chính qui biệt phái. Mỗi tuần hai buổi kéo nhau đi tập bắn. Tất cả những gì ngắm được chúng đều bắn từ tấm bia mộ trên núi, con cò trắng đang tìm mồi dưới ruộng hay chùm hoa gạo đỏ trên cây.

Nhìn cậu con đã lớn không chữ, không đồng vốn giắt lưng, cha Thê buồn lắm. Thấy tụi dân vệ đi ngoài ngõ, ông chợt nghĩ, cho Thê đi dân vệ may ra đổi đời chăng? Cơm nước xong ông bảo Thê:

- Mày vô dân vệ đi!

- Dân vệ vác súng dài ngoằng - Thê trả lời.

- Mày đòi súng ngắn à? Vào dân vệ, có vài đồng, lúc rãnh rỗi lại giúp tao, không hơn hai người làm một việc?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #94 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 03:00:58 pm »

Vào dân vệ, Thê rất mẫn cán. Hắn luôn được đội trưởng khen ngợi trước hàng quân và không hiểu sao ông ta lại biết hắn mê cô Hiền con ông Hòa cùng xóm. Cô Hiền đẹp người, đẹp nết. Gia đình ông Hòa sống có nề nếp nên được dân làng kính trọng. Mẹ cô Hiền mất sớm, nhiều cô gái vẫn lăm le về làm mẹ kế cô Hiền, dẫu không hơn tuổi cô là mấy. Có mấy đám dạm hỏi nhưng ông Hòa tự để cô Hiền quyết định, nghe đâu người cô Hiền yêu đã lên xanh.

Buổi chiều tập xong đội trưởng dân vệ gọi Thê lại:

- Anh Thê mê cô Hiền?

- Dạ.

- Có muốn tôi bày cách không?

- Dạ. Được thế còn gì bằng ạ. Thê mừng rơn như vớ được của. Tên đại đội trưởng cúi đầu nói nhỏ. Thê gật đầu lia lịa. Vài ngày sau nhà ông Hòa bị tụi dân vệ khám xét. "Cây ngay không sợ chết đứng", ông Hòa ung dung ngồi hút thuốc, mặc kệ tụi dân vệ. Thật bất ngờ, ông choáng váng mặt mày, trời đất xoay tròn, khi thấy Thê đắc thắng lấy từ mái tranh xuống một tập truyền đơn cách mạng.

Ông Hòa bị bắt về đồn núi Ngự. Tụi dân vệ thay nhau đánh đập ông hết sức tàn nhẫn. Cô Hiền chạy khắp nơi tìm người cứu cha. Thân cô thế cô, tiền không có nên ông Hòa bị giam cả tuần, lúc đó tên đội trưởng mới ló mặt.

- Ông cứ nhận mình làm cơ sở cho Việt cộng, bọn lính thôi đánh ông rồi thằng Thê bảo lãnh cho ông về.

- Đổi lại tôi phải làm gì? Ông Hòa quắc mắt hỏi.

- Ông gả con Hiền cho thằng Thê!

Ông Hòa hiểu ra mưu mô của bọn chúng. Đêm đó ông xé áo bện thành dây tự vẫn...

Nhờ thu được tài liệu, bắt được Việt cộng nên tên đội trưởng được khen thưởng điều lên huyện. Thê được lên làm tiểu đội trưởng dân vệ chòm. Bài học thứ hai này hẳn hay hơn bài học đầu tiên mà cha Thê đã dạy.
Nhờ thêm mấy đồng lương dân vệ, cha Thê lại có sức nên thời gian qua cha con Thê đã sửa được mái nhà. Đột nhiên cha Thê qụy bệnh. Việc đào huyệt đã có kẻ thế chân. Tiền thuốc thang cho cha đã ngốn sạch đồng lương dân vệ của Thê, kinh tế gia đình Thê lại túng bấn. Thê thương cha lắm nhưng bất lực. Gà gáy sáng, nghe cha rên, Thê nóng ruột, hắn dậy lần về ngôi nhà cuối xóm, nơi hôm trước hắn thấy có đàn gà. Cả đời chưa bắt gà nên mới thò tay vào đã kêu quang quác. Hãi quá hắn chụp đại một con rồi bỏ chạy. Càng chạy gà càng kêu, hắn càng hãi, đành vặn cổ vứt vào bụi, về nhà nằm thở. Sáng ra, với danh nghĩa tiểu đội trưởng dân vệ, Thê trơ lại nhặt con gà, hắn không tin vào mắt mình. Dấu vết hắn chạy in lồ lộ, cỏ nằm rạp xuống, trên lá cỏ lớp sương mờ đã mất...

Thê càng lao vào làm dân vệ, hắn làm để quên đi túng quẫn. Mỗi lần về nhà thấy cha nằm lăn lóc, hắn lại ra đầu làng uống ruợu, khật khưởng về nhà lăn ra ngủ. Với kinh nghiệm tìm hầm bí mật học được bữa bắt trộm gà, cứ sáng sớm hắn lảng vảng vào vườn những nhà hắn nghi có quan hệ với cách mạng. Hắn luôn lập công và được khen thưởng, từ tiểu đội trưởng lên trung đội trưởng. Cấp hắn càng cao, dân làng càng oán hận hắn. Trong trung đội của Thê có Trần Hùng, học dở tú tài trốn quân dịch phải vô dân vệ. Một buổi nhìn bàn nhậu, Trần Hùng phân bua:

- Tay tao nhúng chàm rồi bay tao sợ lắm!

- Chàm là chi?

Thê đang gặm dở miếng xương ngước lên hỏi. Bọn dân vệ nhìn Thê cười rộ. Hắn biết bọn đàn em cười mình dốt, ức lắm, lăm lăm tìm dịp trả thù.

Mùa hè miền Trung gió Lào thổi rạt cây cối úa vàng cháy sém, sông suối cạn trơ đá sỏi. Trung đội dân vệ được lệnh tháp tùng cùng quân chính qui lên vùng sông Hai Nhánh, nơi nghi có bộ đội Bắc Việt cùng bộ đội địa phương đang hoạt động. Ngày hành quân, đêm dựng bạt giữa vùng đồi núi khô khốc. Đã mệt mỏi lại không dám ngủ vì sợ cách mạng tấn công nên thằng nào cũng phờ phạc, chán nản. Sang ngày thứ ba, trước khi có lệnh rút quân vài tiếng, tụi dân vệ bắt được một thanh niên quần áo tả tơi, hốc hác đang men theo dãy sắn. Hỏi gì người này cũng ú ớ không chịu trả lời. Thê cho trói người thanh niên lại, dẫn về trụ sở, bắt dân làng đến coi mặt cộng sản Bắc Việt. Dù không muốn, dân làng cũng phải tới. Họ không dám nhìn cho rõ, chỉ thấy người thanh niên mặt mày sưng vù, tím bầm, tóc bết thành mảng cúi gục thê thảm bên chiếc cọc. Chiều dân làng về hết, Thê bảo Trần Hùng đi mua rượu rồi hào phóng cho mọi người về, hắn dặn tối phải tới canh. Khi mọi người đến đông đủ, Thê cầm lên chai rượu màu đỏ rót cho mỗi người một ly.

- Nào, các chiến hữu, chúng ta mừng chiến thắng!

Nói xong câu nói văn hoa ấy, hắn gườm gườm nhìn mọi người ực hết ly. Bất đắc dĩ mọi người phải uống theo, chỉ có Trần Hùng cầm ly rượu tần ngần vì nghe mùi tanh tanh.

- Mi không uống hả Hùng?

Thê cắm phặp con dao xuống bàn, chai rượu nảy lên nghiêng xuống chảy ộc, bốc mùi tanh nồng nặc. Khiếp đảm trước thái độ của Thê, mọi người nhắm mắt...

- Anh em biết không? Thê lại lừ lừ nhìn mọi người. Đó là máu cộng sản!

Tất cả ngơ ngác nhìn nhau như nghe nhầm. Trần Hùng bụm miệng chạy chưa ra cửa đa nôn tung tóe đầy trụ sở. Mọi người cầm đèn ra sân. Người thanh niên đã hồn lìa khỏi xác, ngã gục xuống chân cột, mồm ngậm đầy giẻ, nơi cổ trái dòng máu đang ri rỉ, dưới sân một vũng máu đỏ thắm đang chuyển màu xỉn dần. Sáng ra cả làng đều biết tụi dân vệ uống máu người. Trần Hùng không dám đến trụ sở, nơi xác người thanh niên xấu số đang phơi nắng. Xế chiều có bà mẹ tới tìm con. Bà ôm xác người thanh niên khóc lóc, giọng đầy ai oán. Thê lên mặt ra oai:

- Nó làm cộng sản, không được chôn.

Vừa nói bà mẹ vừa túm ngực Thê đẩy dúi dụi, rồi thả Thê ra bà chỉ mặt:

- Răng mi ác rứa, ác rứa trời tru đất diệt thôi - Bà lại ôm con khóc, quay lại phía bà con phân trần - Con tôi biết làm cộng sản thì phúc nhà tôi lớn lắm bà con ơi! Hắn câm điếc thì biết chi. Hôm trước đi cày, thả bò cho ăn, bò đi mất. Hai ngày nay không thấy hắn về, Nghe bà con trên Hai Nhánh bảo dân vệ đây bắt, tôi về xin. - Bà ôm xác con gào lên - Mẹ về muộn, con chết oan, chết uổng con rồi con ơi!...

Dân làng nghe lòng ái ngại, tụi dân vệ tái mặt. Riêng Thê bản mặt hắn đen sì, không biểu cảm gì.

Việc giết người oan sau cũng được dàn xếp. Huyện mua quan tài, lo một ít tiền ma chay, còn Thê được lên làm đại đội trưởng, cai quản cả một vùng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #95 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 03:03:23 pm »

Gần ba mươi, Thê vẫn chưa có một ai làm bạn. Cha Thê ngày càng lâm bệnh nặng không ai săn sóc và hơn nữa, lão sắp chết mà chưa thấy người nối dõi, lão buồn lắm, bảo Thê:

- Mày lấy vợ đi.

- Tui lấy ai, ai lấy tui?

- Mày lấy con Thúi ấy!

- Con Thúi chồng chết, nó bốn con, lại hơn tui chục tuổi!

- Hơn mày chục tuổi thì sao? Thứ mày đòi lấy gái tơ? Nghe tao đi.

Tối hôm sau cha con Thê sang nhà mụ Thúi. Mụ Thúi trước đây có lẽ không đến nỗi tệ lắm, nhưng từ ngày chồng chết ngoài mặt trận đường 9, một nách bốn đứa con vất vả, già nua teo tóp đi nhanh trước tuổi. Tiền tuất chỉ vài ngàn, mụ phải cuốc thuê gặt mướn chạy gạo chưa đủ cho lũ con, gái lớn mới lên mười, con nhỏ chưa đầy bốn tuổi, lúc nào cũng thò lò mũi. Đi làm ở làng bên về muộn, rửa ráy qua loa mụ Thúi giục con lớn dọn cơm ra mẹt, vừa ngồi xuống đã nghe đằng hắng ngoài sân. Dưới ngọn đèn dầu vàng nhợt cháy từ vỏ chai hắt ra, mụ thấy cha Thê lom khom bước vào, Thê theo sau cắp chai rượu cùng gói lá chuối. Mụ vội buông bát vồn vã:

- Ông với bác có việc gì phải sang nhà con ạ?

Cha Thê dừng lại, nhìn mọi người, nhìn mẹt cơm hấp đầy sắn, dĩa muối rang cùng bát mắm rồi lão nhìn Thê.

- Mi đặt lên đi.

Ngó thấy nhà chật, chỉ có chiếc bàn ba chân mặt tre đang xiêu vẹo, Thê lúng túng.

- Đặt lên đó.

Lão chỉ tay lên bàn tre, đợi Thê đặt đồ lễ xong, lão thủng thẳng:

- Hôm nay tao thấy ngày tốt, có con gà chai rượu sang hỏi vợ.

Mụ nhìn cha Thê không hiểu lão nói gì. Lão già quặt quẹo, đau ốm sắp xuống lỗ còn đi hỏi vợ. Hỏi ai chứ, chẳng lẽ hỏi mình?

Mụ Thúi nhìn cha Thê ngây dại, tay cầm đũa. Mấy đứa con mụ sững sờ không kém, chúng há hốc mồm nhìn lão để cơm sắn trắng đầy cả miệng. Đến lúc này cha Thê hiểu mình nói chưa trọn ý, để cả nhà ngơ ngác. Lão ho một hồi, quay mặt nhổ bã đờm xuống nền nhà, thủng thẳng:

- Là tao hỏi vợ cho thằng Thê.

- Con gái tui đang nhỏ mà.

- Là tao hỏi mày Thúi ạ. Tao hỏi mày cho thằng Thê.

Không đợi mụ Thúi nói thêm, lão sai con bé lấy dao thớt. Lũ trẻ hau háu nhìn tay lão bốc thịt gà vào tô nhựa. Nhà không có đàn ông nên chẳng có ly tách gì, lão vớ cái bát sứt eo gối lại chùi vào quần, giơ lên thổi phù phù, đặng trịnh trọng cầm chai rượu rót ra. Cũng rất trịnh trọng lão lên tiếng.

- Tao chúc bay đầu bạc răng long, con đàn cháu đống!

Lão ngửa cổ làm hai ực hết bát rượu. Đẩy tô thịt gà ra giữa mẹt.

- Ăn đi mày!

Lão hất hàm về phía Thê. Lúc này mụ Thúi mới biết thiếu bát vội lon ton xuống bếp. Thế là Thê có mụ Thúi làm vợ, dân làng chẳng bàn tán gì, cứ như chưa có chuyện gì xảy ra. Hơn năm sau mụ Thúi đẻ cho Thê thằng con trai, da đen thui nhưng hiền từ ngộ nghĩnh. Cha Thê toại nguyện lắm. Thằng con trai mới biết đi thì cha Thê mất. Trước lúc về thế giới bên kia lão cầm tay Thê thều thào: "mi phải tu"... Câu nói chưa trọn lão đã nhắm mắt. Thê cho tụi dân vệ lên núi đào huyệt. Đêm tối, đồi đầy sỏi, lại sợ cách mạng về nên chúng đào chẳng ra gì, cái huyệt nông choèn...

Mỗi lần đi càn về, Thê đưa cho vợ chiếc nhẫn hay sợi dây chuyền vàng. Rồi hắn xâu vào lạt một gói lá treo lên bếp. Nhờ Thê mụ Thúi cũng đỡ teo tóp vất vả hơn, có điều mỗi lần ân ái, chiều chuộng hắn mụ thấy ghê. Từ hơi thở tanh nồng nơi mồm mũi, đến làn da nhờn nhờn trên cơ thể Thê. Chịu không nổi mụ nói:

- Tui đẻ cho anh thằng con rồi, giờ tôi không ham của nớ, anh có muốn thì anh lên phố!

Mụ Thúi nói cũng thừa, Thê ít dám về nhà, hắn đã bị cách mạng tuyên án tử hình. Sợ bị giết, mỗi đêm Thê phải thay đổi chỗ ngủ đến mấy lần, khi ở đồn, khi ở bót gác. Nhìn ai hắn cũng nghi ngờ là người của cách mạng gài vào giết hắn. Càng sợ chết, hắn càng hung dữ, cứ sáng sớm hắn đã dẫn tụi dân vệ lùng sục các khu vườn, thấy đám cỏ nào mất sương là xua dân vệ lần theo...

Sáng nay Thê cho Trần Hùng ở lại giữ đồn, anh mừng lắm. Thoát được lúc nào lương tâm đỡ cán rứt lúc ấy, anh nghĩ vậy. Có điều anh không biết Thê dẫn lính đi tới nhà ông Đình, chú họ anh. Cha ông Đình còn là ân nhân của cha Thê. Trước đây cha Thê không biết ở đâu dạt về làng Trù Phú, Cha ông Đình cho cha Thê ở trong nhà, lớn lên cho mảnh đất dựng lều lấy vợ. Đã bị mìn nhiều lần nên đám dân vệ đùn đẩy nhau lên trước, Thê đi sau, khẩu col lăm lăm. Khi chiếc hầm bí mật dưới gốc tre cuối vườn bị lật, bất ngờ một thanh niên cao lớn nhảy vọt lên, nách kẹp AK nhả đạn thẳng về phía Thê. Nghe tiếng súng đanh giòn, tụi dân vệ nằm rạp xuống. Thê nghe cánh tay mình mát lạnh, giơ súng lên bắn theo người thanh niên chạy băng ra cánh đồng, nhưng không trúng. Nhìn xuống, hắn thấy cánh tay mình đầy máu. Tức vì bị thương, bị vồ hụt con mồi, Thê trói ông Đình lại dẫn về đồn. Bị đánh đập tàn nhẫn ông Đình vẫn không hé răng nửa lời. Chiều tối Thê cho tất cả dân vệ về nhà chỉ giữ lại ba tên canh phía ngoài. Trần Hùng đau đớn, cố tìm cách cứu chú Đình. Anh tự trách mình mấy lần không hành động để giờ một mình đơn độc giữa bầy sói. Đợi trời tối mịt trở lại đồn anh không thấy chú Đình đâu, anh nghĩ thằng Thê đã giam chú vào Conet, anh định lén đưa cho chú nắm cơm nhưng Thê gọi lại. Hắn hả hê thông báo, có con bò làng dưới say sắn, hắn bưng lên một tô gan xào với hành tây, rau mùi thơm nức mời. Mọi người thấy mồi ngon, rượu ngon, xúm lại. Đã no bụng nên Trần Hùng không thích, hơn nữa anh cũng chẳng còn lòng dạ nào để ngồi uống rượu. Cuộc ồn ào chả mấy chốc, trong đĩa còn vài miếng. Thê đem đến cho Trần Hùng:

- Ăn đi! Hắn quát lên.

Nhìn vẻ mặt sát khí của Thê, Hùng biết nếu mình khhông ăn mình sẽ trở thành Việt Cộng. Trần Hùng chưa kịp nuốt đã nghe giọng Thê cười vang:

- Thế nhé ta cùng chúng mày uống máu, ăn gan cộng sản. Giờ tay thằng nào cũng đã nhúng chàm rồi nhé!

Trần Hùng bàng hoàng ngơ ngác nhìn lên. Anh uất hận căm thù thằng Thê, căm thù tụi dân vệ, căm thù chính thể này và căm thù ngay cả bản thân mình. Ba ngày sau, không ai thấy anh ở làng nữa. Ai hỏi, ba anh bảo: Nó lên phố kiếm việc làm...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #96 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 03:13:33 pm »

Nhân kỷ niệm ngày độc lập của chế độ cộng hòa, tổng thống mở lễ hội mừng công tại phủ Đầu Rồng. Về dự gồm đại diện các binh chủng, tướng tá và cá nhân các thành tích chống cộng. Cầm tờ giấy gọi trên tay, Thê mừng lắm. Thê về nhà lấy xâu lá khô quàng vào cổ, xúng xính trong bộ đồ cứt ngựa lên xe nhà binh. Cả đời chỉ thấy tổng thống trên báo, giờ tổng thống cầm ly cùng đồ đệ đi từng bàn chuốc rượu. Hết đám tướng tá, tổng thống tới hai bàn dân vệ và chiêu hồi. Tổng thống đi chậm, vừa đi vừa nghe thành tích chống cộng của từng người. Thê lom khom bắt tay tổng thống, mặt ngây ra không nói được câu nào, hắn giật mình khi tổng thống chỉ vòng lá nơi cổ, hỏi.

- Dạ! Bẩm, quà cho tổng thống.

- Quà, quà cho tôi? anh mở ra xem nào!

Tổng thống lùi lại, đám cận vệ xấn lên. Thê xé từng chiếc lá, lớp bụi nhờ nhờ bay lên giữa chiều Sài Gòn oi bức, từng miếng thịt cong queo lộ ra.

- Cái gì đó?

- Bẩm tổng thống, tai người ạ. Tai cộng sản hong khô, tôi để dành chục năm nay.

Thê vừa nói vừa khom lưng, hai tay dâng lên...

Cái gì đến phải đến. Mùa xuân 75 về, cờ hoa phất phới sắp phố phường, làng mạc. Lính ngụy vứt mũ lớn tháo chạy trên đường I, dưới cửa Thuận rồi lần lượt chen nhau ra trình diện ủy ban cách mạng.Thê trốn lên núi Ngự, tìm đường sang bên kia đất Quảng, nhưng phương tiện không có. Một tuần lang thang ẩn nấp, phải ăn khoai sắn sống, bụng hắn đau anh ách đành mò về nhà tính kế. Đêm tối, qua mỗi ngõ chó sủa vang làm hắn bủn rủn chân tay, vừa đi vừa ngó trước trông sau. Đến nhà hắn không gõ cửa, lách rèm chui vô, con chó giật mình sủa vang. Nghe tiếng suỵt, nó nhận ra tiếng chủ ve vẫy đuôi ủ ử. mụ Thúi dậy châm đóm, hắn ngăn lại thì thầm:

- Còn gì ăn không?

- Còn cơm nguội, để tui đi lấy.

Không đợi dọn ra, Thê leo xuống bếp, vừa ăn vừa nấc cụt. Mụ Thúi thì thào:

- Cha mi định sao?

- Trốn.

- Đừng trốn. Mụ thì thào. Cha mi trốn sẽ bị giết, cứ ra ủy ban trình diện may ra được sống.

Nghe lời vợ đợi mặt trời lên cao Thê mới dám đến ủy ban. Hai anh bộ đội giải phóng tiếp hắn. Anh già hơn chưa đến ba mươi, anh còn lại trẻ măng chắc vừa mới rời ghế nhà trường. Đối diện với anh có ba người lính ngụy đang viết bảng tường trình. Thấy Thê vào, anh bộ đội già hơn đứng dậy, bắt tay:

- Chào anh. Anh đến có việc gì?

- Dạ! Tôi đến trình diện cách mạng.

- Mời anh ngồi. Anh bộ đội chỉ bàn và mang giấy ra tiếp.

- Anh tên gì? Anh bộ đội nhắc lại.

- Dạ Lê Thê ạ!

- Anh ấy tên Thê, họ Lê - Một người lính ngụy đang viết tờ khai, ngước lên nói.

- Trời đất ơi! Tên với họ. Sao anh khéo đặt tên thế? Anh bộ đội cười phì:

- Bây giờ anh viết bảng tường trình, nhớ ghi rõ năm tháng tham gia chế độ ngụy cùng những tội ác chống phá cách mạng.

Thê cầm giấy bút, hắn lay hoay cầm lên bỏ xuống. Chắc anh ta đang cố nhớ lại những việc làm của mình, anh bộ đội nghĩ vậy rồi lơ đãng nhìn qua cửa sổ. Xế trưa hai người lính ngụy lên nộp tường trình ra về, còn lại một người viết nốt rồi nộp. Anh lính ngụy nhìn Lê Thê rồi nói nhỏ với hai anh giải phóng:

- Hắn không biết chữ đâu các anh ơi.

- Anh ta làm gì?

- Dạ hắn làm dân vệ.

- Thôi, ta cho anh ấy về, chiều làm tiếp thủ trưởng nhỉ? Anh bộ đội trẻ hơn lên tiếng.

- Ấy. Các anh cho hắn về sẽ bị dân làng giết chết hắn, còn kiện các anh nữa đấy.

- Sao vậy? Thứ dân vệ có gì ghê gớm lắm đâu?

 Vẫn anh bộ đội trẻ nói tiếp.

- Đúng vậy! Người lính ngụy nói. Nhưng thằng này khác, nó ác lắm.

- Được rồi, anh ở lại giúp chúng tôi nhé, anh viết khách quan hơn!

Không ngờ bản tường trình của Lê Thê dài thế, mãi đến ba giờ chiều mới kết thúc. Cầm tập giấy trên tay hai anh lính giải phóng không thể tin được. Cái gì, ăn gan, uống máu còn vòng hoa quái gở gì thế này? Lê Thê ngồi đó, vẫn con mắt, cái mũi, nói tiếng người nhưng nhất định hắn không phải con người...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #97 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2011, 03:15:36 pm »

Lê Thê được tập trung cải tạo tại trại Đất Bằng. Trại được hình thành sau ngày giải phóng nên thật đơn sơ. Mấy dãy nhà tranh, vách thủng tranh chống mưa gió. Ngăn cách trại viên với bên ngoài là hàng rào bằng tre đơn giản. Ở đây, trại viên lấy tinh thần tự giác, lòng ăn năn hối cải từ bản thân là chính. Họ tích cực học tập đường lối cách mạng chính sách cách mạng, tham gia lao động để sớm hưởng khoan hồng của cách mạng mà về sum họp với gia đình. Trên những ngọn đồi chất độc da cam phát quang, đầy tranh và cỏ dại giờ khoai sắn tươi tốt. Dọc theo những triền đồi đổ xuống là ao cá, ruộng lúa và rau xanh. Công việc hối hả quay trong guồng quay cuộc sống, mặc dầu từ trại viên đến cán bộ đều ăn mặc kham khổ,thiếu thốn, phải tằn tiện chi ly.

Thượng sĩ công an Trần Hùng cầm danh sách trại viên đến nhập sáng nay, anh ngồi vào bàn sổ. Mấy hôm anh nhớ nhà quay quắt. Từ trại về nhà chỉ hơn một giờ xe đạp, thế mà giải phóng được mấy tháng rồi anh chưa một lần ghé được. Nhiều khi anh tặc lưỡi an ủi, cha mẹ biết mình vẫn còn sống mạnh khỏe là được. Tập hồ sơ trên tay anh rung lên, khi đọc đến tên Lê Thê. Sao? Hắn vẫn chưa chịu chết à? Xếp hồ sơ vào tủ, anh vội xuống nơi nhận người, anh muốn nhìn lại mặt Lê Thê. Hai chục người xếp hai hàng, mặc áo sọc, kẻ đầu đội mũ, người đội nón cúi xuống dưới trời nắng. Đánh dấu Lê Thê lại, anh đọc tên từng người. Khi trại viên lần lượt vào trại, chỉ còn Lê Thê, Trần Hùng hỏi:

- Anh Thê, anh nhận ra tôi không?

- Dạ! Thưa ông, có ạ!

- Anh hãy gọi tôi là cán bộ Hùng. Hồ sơ anh khai đầy đủ chưa? Sáng mai anh lên tôi gặp nhé!

Đêm về trằn trọc, Trần Hùng không sao ngủ được. Anh muốn giết Thê để trả thù cho chú Đình, cho bà con làng Trù Phú. Mình dẫn Lê Thê qua trại bên, đến khe suối nổ súng, về báo Thê chạy trốn. Thế thôi rất khớp. Cũng chẳng ai đi tìm nguyên nhân chết của một tên ác ôn, khi xã hội đang bận bịu với bao nhiêu công việc cấp bách hơn. Song anh thấy lòng mình ray rứt.

Về phần Thê đêm ấy hắn cũng không sao ngủ được. Hắn không ngờ gặp Trần Hùng ở đây. Trên cương vị mới đầy quyền lực, Hùng là người nắm sinh mạng hắn. Hắn lạnh người nghĩ ngày mai phải gặp Trần Hùng. Hắn chợt nghĩ ra rằng hội trường gần trại, gần cán bộ giám thị, như thế tính mạng mình còn treo lơ lửng. Khi trời gần sáng, hắn yên tâm thiếp đi. Ngủ dậy người Thê phờ phạc, làm vệ sinh cá nhân rồi hắn cầm ca men tới nhận phần cơm ít ỏi của một ngày mới trong trại. Trại viên cũ mới đều ít nhiều quen biết trước đây, giờ gặp lại họ hỏi thăm nhau về sức khỏe, tình hình gia đình cùng địa phương sau ngay giải phóng. Riêng Thê không ai hỏi, hắn chào họ không trả lời, cứ như trước đây chưa một lần gặp mặt. Họ tránh ra cho Thê lấy cơm, kiên nhẫn đợi Thê ra họ mới vào, làm như Thê mang trong mình mầm dịch hạch.
Nhìn mặt Thê hốc hác, Trần Hùng cũng động lòng trắc ẩn, anh lấy giấy bút cho Lê Thê:

- Anh viết lại bản tường trình, khai rõ từng tội ác. À còn vòng tai các chiến sĩ cách mạng anh để ở đâu?

Thê cúi mặt, trước mắt hắn lại hiện lên chai rượu màu đỏ tanh nồng, đĩa gan người tái ngắt. Hắn biết trong tủ hồ sơ kia có súng và dao găm, vật bất ly thân của người lính. Hắn cứ mân mê tờ giấy, mặt hắn đã đen giờ càng đen thêm.

Trần Hùng chợt nhớ Thê không biết chữ, anh ra sân gọi người trại viên chăm vườn hoa:

- Anh ra xin phép cán bộ vào đây tôi nhờ, nhớ bảo tôi cần anh suốt buổi sáng này nhé!

Cất tập hồ sơ vào tủ, Trần Hùng để Lê Thê tự về trại. Anh biết hắn không dám trốn, hắn trình diện cách mạng để khỏi chết thôi. Anh thẫn thờ ngồi xuống bàn, ước muốn trả thù lại trỗi dậy thôi thúc anh. Từ ngày Thê vào trại đến giờ Hùng luôn mất ngủ, anh tự hỏi: "Nếu Thê không ác anh có dám tham gia cách mạng không? Có lẽ không! ước mơ tuổi trẻ của anh là làm bác sĩ, kỹ sư hay ông giáo gì đó chứ bản thân anh không thích súng đạn và máu đổ. Anh biết trong dòng họ anh có nhiều người tham gia kháng chiến chống Pháp, Mỹ, người tập kết ra Bắc, người ở lại xây dựng phong trào cách mạng, có người tự về quê hương cầm súng nhưng anh còn non nớt và chưa nghĩ tới. Nếu cuộc đời anh không gặp phải Thê thì cha anh chưa bố trí anh lên rừng...

Bàn giao vòng tai người cho nhà chứng tích tội ác giặc, trở về lòng Hùng càng ray rứt, đăm chiêu và hốc hac đi trông thấy. Buổi chiều, cơm nước xong, giám thị trưởng gọi anh lên. Anh băn khoăn không biết có chuyện gì, sao chiều nay họp thủ trưởng không nói. Nhìn thủ trưởng với mái tóc bạc, ông pha nước rồi lấy bao thuốc ra mời, Trần Hùng càng băn khoăn hơn. Ông kể cho anh nghe gia đình ông bị cường hào ác bá áp bức, nỗi khổ của người mẹ phải nuôi mấy anh em ông, về người cha bị giặc Pháp giam cầm ở Côn đảo và nhiều chuyện khác. Cuối cùng ông kết luận: "Người chiến sĩ cách mạng không thể mang lòng hằn thù cá nhân, phải biết đặt lòng hận thù đế quốc xâm lược, giai cấp thống trị độc ác lên trên hết." Trần Hùng hiểu, anh ra về lòng thấy vui như trút được tảng đá nặng bấy lâu nay đè lên ngực.

Lê Thê làm công việc chăn nuôi. Đàn gà heo do Thê nuôi mau lớn, đẻ dày, năng suất nhất trại. Ngoài thời gian rãnh rỗi Thê luôn giúp đỡ các trại viên khác yếu hơn. Thê gánh phân đến vườn tiêu, lấy lá cho cá ăn, không việc gì là hắn không làm. Hắn luôn được trại biểu dương và khen thưởng. Có điều Thê không vào đội nào được, hắn bị các trại viên tẩy chay, đành một mình lủi thủi cùng đàn gà chuồng heo.

Từng trại viên lần lượt trở về sum họp gia đình. Đối tượng dân vê, ấp trưởng, hạ sĩ quan chỉ vài tháng, thậm chí chỉ vài tuần tập trung học tập đường lối chính sách của nhà nước. Lê Thê đằng đẵng gần mười năm, từ một trai tráng trung niên giờ sắp lên lão. Trên khuôn mặt già đen sì nổi lên những u cục to bằng đầu ngón tay, đôi mắt vằn những tia đỏ đến khiếp. Trại viên đồn nhau đó là ác báo.

Không phải Thê không được ban giám thị trại quan tâm xét duyệt cho về, mà do phản hồi từ địa phương. Đã mấy lần Trần Hùng cùng giám thị trưởng mời dân làng lại, giải thích đường lối chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người có tội, song dân làng một mực từ chối. Chủ tịch xã, con ông Đình em họ Hùng thẳng thắn:"Địa phương tiếp nhận Lê Thê, song về phương diện an ninh không đảm bảo." Trên xe về trại, Hùng nhìn thủ trưởng dò xét:

- Hay mình tìm cho Lê Thê vùng đất mới?

Giám thị trưởng cười vui, rung rung mái tóc bạc:

- Hay lắm, ý cậu là... Ông chợt bật cười... Đúng!

Lần này trở lại cao nguyên, đi qua ngôi nhà nhỏ thấy lạnh lẽo, tôi ái ngại hỏi bạn. Không trả lời ngay, anh khuấy cho ly cà phê tan đường, hớp một hớp.

- Lão chết rồi. Trước lúc chết, lão khổ sở lắm. Đau lên đau xuống ba năm. Cũng nhờ bà con hớp nước bát cháo. Lão nhìn trân trân vào tay người bưng, từ đôi mắt đục mờ ứa ra hai dòng nước trong veo, miệng lẩm bẩm: "Muộn rồi! Muộn rồi!". Chính quyền xã tới thăm, hỏi lão yêu cầu gì, lão thều thào xin gặp vợ con. Người vợ già yếu không đi được, thằng con lên săn sóc lão được vài tháng trước khi lão mất. Thằng con lão cũng đen nhưng hiền lắm, không mấy khi mở miệng. Hôm đưa đám dân làng đi cũng đông. Họ khiêng quan tài đốt vang mã, đánh tha la. Họ chôn lão trong nghĩa địa của làng. Chôn lão xong, thằng con qùy trước làng, hai dòng nước mắt chảy dài, chắp tay vái lạy như tế sao...

Anh bạn tôi không biết nghĩ gì đó, búng tàn thuốc lá ra xa, buông lỏng: "Hết một đời người!.."

Đầu Ngọn, tháng 1-2002
Q.T
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #98 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2011, 08:26:05 am »

Con ngựa trong hầm bí mật

LÊ NGUYÊN NGỮ


Trong bối cảnh rạt rào gió bấc và nắng trải vàng như mật bên ngoài báo hiệu Tết sắp vê, con ngựa cũng đứng dạng bốn chân như lắng nghe câu chuyện đầy hoài niệm mà Tư Gồng bắt đầu kể tôi nghe. Giản dị vì đây là câu chuyện về chính nó, Tư Gồng trước kia đã lần khân hẹn khất với tôi chờ đến Tết Con Ngựa. Mà lúc này thì đã là cuối tháng chạp rồi.

... Bây giờ thì tôi xin bắt đầu và cũng xin phép hơi dài dòng một chút. Tư Gồng ngồi nghiêm chỉnh lại, đặng hắng và nói.

Bỏ bớt râu ria cho gần hơn, tới tháng ba năm bảy lăm, khi tin vừa có một đơn vị quân Giải phóng kéo ngang xóm Đàn Bà Giá thì đại đội tôi được điều về lập lại cái đồn ở đó, cách xóm không xa.

Chẳng biết liên quan gì với con ngựa mà tôi gặp này không, chớ trước đó nó có tên là xóm Xe Ngựa. Sau vì thứ xe thổ mộ ấy ngày một lỗi thời, bị cạnh tranh gay gắt bởi các xe lam nên những xà ích dần dà "gác càng xe", giải nghệ cả. Phần khác chiến tranh ngày một leo thang, nên họ lớp theo phía Cách mạng lớp đăng vào lính Sài Gòn lúc ấy đang đôn quân ráo riết. Đã chiến tranh là có chết chóc, những đàn ông, trai tráng trong xóm Xe Ngựa theo bên này hay bên kia, ngày "leo lên bàn thờ " một nhiều. Nhiều đến nỗi chỉ còn lại rặt đàn bà góa trong xóm để rồi khi chết tên thành địa danh như thoạt đầu tôi kể. Khổ nỗi địa danh này lại trở thành tên luôn cho cái đồn mà đơn vị tôi đóng mới chết. Đồn "Đàn Bà Giá"! Cái tên nghe vừa yếu xìu vừa có vẻ hơi dê dê. Nói theo cách hồi đó là rất... "phản tâm lý chiến". Chẳng biết có phải ảnh hưởng bởi cái tên hay không nhưng khi về đây đồn trú, tôi nghiệm thấy rằng thằng nào cũng có "máu" ấy cả. Từ đồn trưởng tới... trung sĩ quèn như tôi. Anh nghĩ làm sao khỏi, trên trăm thằng "ngựa đực" đang hồi sung sức nhất lại ở sát nách với xóm có cả "một rừng" đàn bà toàn trong tình trạng "không mấy dễ chịu" như vậy! Lỗi là tại cấp trên cho đóng đồn cạnh một nơi như thế.

Tôi hồi ấy tuy không bảnh trai lắm nhưng trông tướng tá cũng khá "bạo liệt". Tên tui là Tư Gồng mà! Trong những lần vo ve vào xóm này tôi cũng có quen, gọi là trên mức "tình cảm", một cô khá đẹp. Cô này tên Hòa, tính tình hơi lẳng lơ và cũng hơi... đanh đá cá cầy. Hòa nghe đâu có chồng theo Cách mạng và đã hy sinh. Thường những người có thân nhân theo Cách mạng đôi khi cũng hay phao lên như thế, để khỏi bị nghi ngờ và sống cho yên ổn. Nhưng mình quan tâm gì việc ấy. Chỉ là chuyện bồ bịch qua đường, miễn họ "chịu đèn" thì thôi. Sau khi quen được một thời gian, tôi nghe phong thanh đại úy đồn trưởng cũng đang tìm cách tán tỉnh Hòa. Cha đại úy này nguyên từ ngành tâm lý chiến pát-xê sang nên rất độc. Kỳ đơn vị ở đồn Cây Táo, xóm ấy có một bà nghe nói là vợ của ông nào tập kết về giữ chức vụ gì to lắm bên phía Giải phóng. Dù chẳng quen biết gì bà này nhưng có mấy hôm mới mờ sáng, hắn đã đến mặc quần đùi, áo may-ô, ngồi súc miệng, rửa mặt nơi giàn nước ăn sau nhà bà. Chẳng biết tác dụng sau đó ra sao, nhưng cái chiêu "nỗi oan Thị Kính" này tuy dễ làm nhưng... rất độc! Lần này thì trưởng đồn "ra chiêu" hay hắn định "tòm tem" thật? Và nếu hắn tòm tem thật thì không những bất lợi mà còn nguy hiểm cho tôi quá. Loạng quạng hắn mà tống một phát, mình bay lên Tây Nguyên, sẽ mất chỗ đội nón như chơi. Trên ấy nghe đâu các ông Giải phóng đang đánh lớn.

Tôi ở bên quân báo nên có điều kiện la cà ngoài xóm ban đêm. Một đêm trăng nhờ nhờ và cũng hơi khuya, tôi lại nhà Hòa định tìm cách tán tỉnh. Đèn nhà Hòa còn sáng. Cô này là thợ may nên hay thức làm việc rất khuya. Tôi ra sau nhà, tìm cách nhón người nhìn vào, thấy cô đang ngồi khuy nút gì đó nơi chiếc đi-văng. Dáng ngồi của cô rất đẹp và quyến rũ. Người phụ nữ ngồi làm những việc ấy thường dễ tạo xúc động cho cánh đàn ông. Huống chi đó là Hòa. Nhìn trộm như thế rất thích mắt. Lúc tôi còn đang say sưa ngắm cô thì bỗng phía trước nhà có tiếng gọi kêu mở cửa. Và khốn nạn cho tôi, tiếng kêu ấy lại là của thằng cha đại úy đồn trưởng! Trong lúc Hòa mở cửa, tôi biết thân phận mình nên vội vàng chuồn êm. Nhưng không êm. Cái đòn gỗ tôi vừa rời, bỗng lăn một vòng dưới chân gây ra tiếng động khá lớn. Thằng cáo già đồn trưởng tức tốc vòng ra sau. Nhác thấy dáng hắn, tôi vội thục mạng chạy. Và đã không còn kịp nữa. Theo đằng sau lưng tôi là tiếng lên đạn súng côn và tiếng quát "Đứng lại, không tau bắn!" của tên đại úy. Chắc hắn tưởng tôi là người cách mạng về. Mặc hắn dọa, tôi vẫn vắt giò lên cổ mà chạy, tôi biết cái tài súng của hắn nên dù có bắn thật cũng chẳng hề gì. Cái tội giờ này còn trốn khỏi đồn, lại vào nhà gái là lớn lắm. Đấy là chưa nói đến máu ghen của hắn. Nhưng nếu hắn cứ rượt mãi tới sáng thì sao? Chẳng lẽ lại chạy về đồn? Tôi vừa chạy vừa bấn loạn nghĩ. Phía sau hắn vẫn tiếp tục rượt, quát "Đứng lại... Đứng lại...!" và bắn theo mấy phát nữa. Vừa quẹo qua một ngã đường, trong lúc bí cùng không biết làm thế nào thì bỗng một cánh tay phụ nữ kéo ngay tôi vào nhà, lôi tuốt vào buồng và ấn vô nơi treo quần áo đàn bà cũ. Tôi vội rúc vào đó thì hóa ra trong ấy là một ngăn vách hầm bí mật. Liền theo bên ngoài nghe vọng vào lúc một xa dần tiếng chân rượt đuổi của tên đại úy đồn trưởng. Thật là hú vía! Bây giờ tôi mới hoàn hồn nhìn lại nơi che giấu mình. Đây đúng là một vách đôi làm hầm bí mật, tuy đơn sơ nhưng rất kín đáo và chắc chắn. Cuối nơi góc hầm có để một đôi dép cao su, tôi cầm lên xem thấy đã cũ và một con ngựa... gỗ! Nó chính là con ngựa này đây.

Lúc bấy giờ tôi mới nhớ đến tình cảnh của mình. Thật đúng là dở khóc dở cười! Thằng đồn trưởng máu gái đã đẩy "một trung sĩ quân báo lính Quốc gia lại được che giấu trong hầm bí mật bởi một cơ sở Việt Cộng". Cơ sở này là một bà già, tôi chỉ kịp nhìn như thế. Chắc bà ấy thấy rượt đuổi gắt gao, tưởng tôi người của bên Giải phóng thật mới ra tay che chở. Nghĩ đến đấy mình mẩy tôi tháo mồ hôi hột. Bình thường biết nhà nào có hầm thế này là tôi báo bắt ngay. Phải thoát nhanh ra khỏi nơi đây rồi hạ hồi phân giải. Chẳng hiểu sao, có lẽ nghĩ để làm bằng cớ hầu chứng minh sau này, tôi quơ theo luôn cả con ngựa và đôi dép cao su đã vẹt gót. Bà già biến đi đằng nào không rõ. Có lẽ là để an toàn cho tôi và cho cả chính bà. Đêm ấy với con ngựa và đôi dép cao su, tôi len lỏi đi một mạch tới khuya thì về đến nhà mình. Vợ con tôi đang ngủ. Tôi cất hai thứ ấy, tắm và thay đồ sạch sẽ rồi trở ngay lại đồn.

Trong quán cà phê đầu xóm, cái tin đại úy trưởng đồn "một mình một ngựa" đi phục và rượt nhau với Việt Cộng ngoài xóm Đàn Bà Giá nghe râm ran trong lính, trong dân. Khi ngang nhà Hòa, thấy cô trước ngõ, tôi vội giả bộ hỏi thăm về sự kiện này.

- Em không biết! - rồi Hòa tiếp giọng đầy nghi ngờ - Có khi giành gái rượt nhau rồi đổ thừa, chớ gần đồn vầy Việt Cộng nào dám về.

Tôi nghe mà chột dạ. Về đến đồn, tên đại úy xác nhận tin đó là đúng và khiển trách tôi:

- Việt Cộng xuất hiện ngoài xóm, còn trung sĩ quân báo lại chém vè, về ôm đít vợ thì. .. cũng nên kỷ luật!

Tôi vội bịa ra hoàn cảnh đột xuất nhà mình để y thông cảm bỏ qua, rồi hỏi gặp được Việt Cộng ở đâu?

- Cuối xóm! Đang đi tuần tra, bất chợt phát hiện ra hắn đi ngược lại. Trực nhìn thấy hắn vội bỏ chạy, tôi bèn rượt luôn! - Rồi y tiếp, giọng pha chút khâm phục - Cũng phải công nhận là thằng Việt Cộng ấy chạy giỏi thật. Mới đó mà mất bay mất biến!

Chẳng biết hắn có nghi ngờ gì mình không. Tôi ra vẻ phán đoán:

- Đại úy đừng loại trừ khả năng là... có thể có một cái hầm bí mật nào đó trong xóm.

Nghe vậy y ngẩn ra rồi gật gù:

- À... ừ... Ông đúng là dân quân báo! Có thể như thế lắm. Một cái hầm bí mật đâu đó trong xóm!?

Đã đến lúc tôi phải bắt bà già! Bắt để phần nào chứng minh người tối đó hắn rượt chính là Việt Cộng và kết quả những đêm tôi la cà ngoài xóm Đàn Bà Giá làm... công tác chứ không phải chuyện gái. Bà già này tên là Thà. Lê Thị Thà. Bây giờ thì tôi biết, bà có ông chồng tập kết và đứa con trai theo về phía bên kia.
Muốn bắt bà, phải về đem đôi dép cao su và con ngựa lên để làm chứng lý. Tôi bèn nói thác, xin tên đồn trưởng hăm bốn giờ về thu xếp việc nhà và nhân thể, mượn tài liệu nói về hầm bí mật để tham khảo. Y đồng ý ngay, giục tôi về và nhớ lên đúng phép.

Khi về đến nơi thì... trớ trêu thay trên nền nhà, đứa con gái bốn tuổi của tôi đang cưỡi trên lưng con ngựa gỗ! Mái tóc vàng tơ của nó bay bay ra sau theo trớn phi lui phi tới của ngựa. Tôi sững sờ ngồi xuống bên nó. Thấy tôi, nó nhoẻn miệng cười sung sướng và phi càng mau hơn. Bỗng Thuần - vợ tôi sau lưng sà xuống bá lấy cổ tôi.

- Anh, đêm về hồi nào? Lại nhớ hôm nay là sinh nhật bé Chi mà mua ngựa gỗ cho nó nữa!

Hóa ra hôm nay sinh nhật con gái tôi? Vợ tôi là người rất quan tâm đến những ngày kỷ niệm trong gia đình và luôn lấy đó làm thước đo hạnh phúc.

Tôi vội nói:

- Ừ... ừ... anh về khi đêm và... lại vội đi có chút việc.

Thuần âu yếm nói với con trong khi vẫn không rời cổ tôi.

- Bé Chi có thích quà sinh nhật của bố mua cho không nào?

Bé Chi sung sướng gật đầu liên tiếp:

- Thích, thích... mẹ ạ. Con ngựa này là ngựa... gái phải hông bố?

Thuần bảo khi cô lôi ra quà sinh nhật này, bé Chi quả quyết nó là ngựa gái và cứ nằng nặc đòi lấy đầu tóc của con búp bê hỏng gắn vào. Quả thật trên đầu ngựa bấy giờ đang có chỏm tóc vàng như râu bắp đang bay phất phơ theo gió.

Trưa đó nhân ngày vui của bé Chi và nhất là lần đầu tiên từ ngày nó chào đời, vợ tôi thấy chồng quan tâm mua quà sinh nhật cho con, đã làm một bữa cơm khá ngon. Có con ngựa đứng bên mâm ăn, không khí gia đình tôi bỗng khác đi. Đầm ấm và hạnh phúc hẳn lên. Và cũng suốt bữa cơm cùng với đứa con bốn tuổi của mình, tôi cứ nhìn con ngựa đến quên cả ăn. Cả vợ tôi cũng vậy. Tất nhiên là cái nhìn của tôi khác với vợ con. Cái nhìn đầy những xao động, bần thần! Anh bộ đội Giải phóng nào đã mua con ngựa này hẳn là một người cha tốt, hết lòng yêu vợ thương con! Chẳng biết anh ta người Bắc hay ? Anh đã mua hay có được con ngựa này trong trường hợp chắc đặc biệt và cảm động lắm! Con của anh bao lớn, gái hay trai? Chắc vì vướng bận hành quân, di chuyển nên đã phải gửi lại con ngựa vào hầm nhà bà Thà... Rồi với suy luận của một lính quân báo, qua trường hợp anh sở hữu con ngựa, tôi biết người bộ đội Giải phóng này tin tưởng ở chiến thắng gần kề, chắc chắn đến như thế nào và ngày về gặp lại vợ con sẽ không xa ra sao... Với người cha nhân hậu, yêu thương con như thế, tin tưởng vào chiến thắng của mình như thế, quyết không phải là một người lầm đường. Sự lầm lạc chỉ có thể rơi vào những người cha như tôi, theo về cái phía như tôi. ..! Việc định bắt bà già, người vừa can đảm cứu mạng sống mình cũng đủ cho thấy sự mờ tối của lương tri. Suốt một buổi chiều cùng với con ngựa, tôi luôn loay hoay với những nhận định, giác ngộ như thế. Và, đến khi tìm cách dán lại mớ tóc vàng cho chắc chắn vào đầu ngựa tôi quyết định đào ngũ, không trở về đơn vị nữa.

Thật may cho tôi, ngay đêm sau, tức là đêm đầu tiên tôi đào ngũ, đồn Đàn Bà Giá đã bị phía Cách mạng về "làm cỏ" sạch sành sanh! Tên đại úy trưởng đồn bị Hòa cùng Cách mạng bắt sống ngay nơi nhà cô, cũng trong đêm đó.

Con ngựa này không những đã giác ngộ mà còn cứu cả mạng tôi!

Sau đó là giải phóng hoàn toàn Miền . Do tôi đã đào ngũ và lại tích cực tham gia vào việc giữ gìn an ninh trật tự địa phương lúc mới tiếp quản, nên được giảm thời gian cải tạo. Mấy năm sau, tôi mới có dịp mang theo con ngựa này, tìm về xóm Đàn Bà Giá thăm lại bà Thà. Bà khi ấy đã già lắm. Tôi phải gợi, nhắc lại nhiều lần bà mới nhớ.

- À... con ngựa thì tôi nhớ! Thấy mất con ngựa, hồi ấy tui cứ đinh ninh đồng chí của người bộ đội gửi con ngựa về lấy rồi bị rượt, hóa ra là anh!

Rồi bà bồi hồi cho biết tiếp. "Sau giải phóng, có đồng chí bộ đội cùng đơn vị với cậu người Bắc gửi con ngựa, lại thăm cho hay cậu ấy đã hy sinh ở Xuân Lộc rồi. Thôi, anh đem con ngựa về, gọi là để tưởng nhớ cậu ấy, da ngựa bọc thây! Chính thằng con trai tui cũng... đâu có trở về. Đã vậy còn... lạc mồ, thất mả!". Bà nói và khóc.

Hơn một phần tư thế kỷ rồi. Đó là những lý do khiến con ngựa này luôn luôn được trình bày ở vị trí trang trọng bên bàn thờ nhà tôi như anh từng thắc mắc...

Tư Gồng vừa kể xong, một đợt gió chợt lồng trốt vào nhà. Con ngựa gỗ đang đứng im lìm bỗng bắt đầu nhấp nhổm vào nước kiệu tới, lui. Tôi hoảng hồn dụi mắt. Hóa ra là tại cơn gió bấc vô tình thổi làm trớn cho nó. Cận Tết quá rồi còn gì.

Cận Tết Con Ngựa 2002
L.N.N
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #99 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2011, 01:57:32 pm »

Hoài giang

NGUYÊN QUÂN


Gió từ đại dương lồng lộng thổi qua cửa sông, qua bãi cát trắng xoá rồi vỗ đập vào những tàu lá dài ngoằng của loài dừa nước, oà vỡ những thanh âm xạc xào.

Hùng cúi khom lưng trần che chắn từng ngọn gió, cố nhen nhúm cái bếp dã chiến. Ngọn lửa mong manh cứ nháng lên rồi tắt ngúm. “Gió lớn quá” tôi lẩm bẩm và dịch người tránh luồng khói cay xé mắt cứ chực tạt vào mặt.

- Anh thấy chưa, rồi nó cũng phải chịu thua mình thôi.

Hùng hả hê nói khi ngọn lửa dần bốc cao và những ngọn gió bây giờ lại trở thành tác nhân giúp lửa cháy to hơn.

- Ông nầy kiên nhẫn thật, gặp tôi thì thà ăn sống chú vịt còn hơn phải xì xụp lạy lục ông táo như thế.

Dụi đôi mắt ngộp khói tôi trả lời rất vô duyên. Hà - tay trạm trưởng y tế xã - một ông bạn tôi mới làm quen được trong chuyến rong chơi đầy ngẫu hứng này, vỗ nhẹ vai tôi cười:

- Chẳng kiên trì thế làm sao nó có được cô vợ đảm đang xinh đẹp như bây giờ phải không Hoài Giang?

Câu nói của Hà khiến những người đang ngồi quanh bếp lửa phá lên cười tán thưởng. Hùng lúng túng cúi gầm mặt, đôi tay ngượng nghịu chẳng biết giấu vào đâu nên cứ day qua trở về cái soong nước mới bắc lên mấy viên gạch kê tạm làm bếp.

Tiếng cười quá lớn đủ để đánh thức bầy vịt ngủ trong chuồng, chúng đồng thanh kêu toáng loạn. Hoài Giang đang giúp chồng nhóm lửa, vội vã đứng dậy bước nhanh về phía cái chuồng che chắn hơi sơ sài bằng lá dừa nước. Tôi nhìn theo cái dáng thon gầy với mái tóc xõa dài đột hiện giữa nền trời sáng loáng vầng trăng hạ tuần mới nhú. “Đẹp tuyệt”, tôi buột miệng khen. Từ tuyệt đẹp vừa thốt lên tôi chỉ có ý tán tụng khoảnh khắc thơ mộng bất chợt bắt gặp. Có lẽ mới quen nên Hà chưa hiểu hết ý tôi, anh ta vội tán theo:

- Chưa đẹp bằng chuyện tình và thân thế của nàng đâu. Hấp dẫn ly kỳ hơn tiểu thuyết phải thế không chú Hùng?

Hùng gật đầu và ném thêm vào bếp những nhánh lá khô. Tôi hơi bị bất ngờ trước thái độ mặc nhiên công nhận của Hùng, nó bắt tôi phải nổi tính hiếu kỳ tra gạn Hùng về cái gật đầu xác nhận đầy kiêu hãnh ấy...
Hà ví von thật đúng, cái khoảng khắc tôi cho là tuyệt đẹp vừa bắt gặp chẳng nghĩa lý gì so với câu chuyện Hà kể về thân thế Hoài Giang, về Hùng và mối tình của đôi vợ chồng chủ nhân cái cồn cát mà chúng tôi ngẫu nhiên ghé lại trong chuyến thả thuyền rong chơi dọc sông Hoài. Thật sự cái tên Hoài Giang là tôi mượn tên để gọi người đàn bà trẻ có dáng dấp thon gầy mảnh mai và bờ tóc mềm mại xõa dài như dòng sông hiện hữu trước mặt.

Chị Hảo nén tiếng nấc trong lồng ngực để đẩy mạnh, chiếc thuyền thúng chòng chành theo từng vòng sóng nước, con bé mấy tháng tuổi no căng sữa mẹ được gia thêm vài giọt thuốc ngủ nên vẫn say sưa giấc. Chiếc thuyền thúng nhỏ xíu dật dờ trôi giữa dòng sông mù mờ ánh trăng hạ tuần. Chị Hảo thầm đọc những lời cầu nguyện rồi xốc lại cây súng, quay lưng bước nhanh về phía cánh đồng tranh lách um tùm trải dài đến tận rừng già. Chị không đủ can đảm để nán lại, nhìn theo đứa con rứt ruột sinh thành mà giờ đây số phận nó lại phải gởi gắm vào sự định đoạt của dòng sông. Nhưng chị  có một linh giác rằng con nước hiền hoà thân thuộc gắn bó suốt cả một thời thơ ấu của chị sẽ cưu mang, bảo vệ đứa con gái của chị trong hành trình xuôi dòng qua cái thị trấn, qua gầm cầu ken đầy lính gác để đến được bến bờ bình yên, một làng chài ở hạ lưu con sông.

Vợ chồng chị đều ở trong đội du kích hoạt động bí mật giữa vùng địch chiếm, một đội viên bị lộ và bị bắt đã không giữ vững tinh thần trước những đòn tra tấn nên đã cung khai. Sự phản bội của y làm đa số du kích trong làng bị lùng sục bắt bớ, theo chỉ thị của Huyện đội, vợ chồng chị phải rút lên cứ ở thượng nguồn sông, đúng thời điểm chị đang mang thai. Hai tháng sau đứa bé chào đời. Chiến tranh đang ở thời kỳ bộc phát dữ dội, quân đội Sài Gòn liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân cấp sư đoàn, quyết tâm san bằng cứ địa của quân du kích. Đứa bé mới sinh trở thành gánh nặng cho vợ chồng chị, cho đồng đội trong những trận chống càn, những trận oanh kích mang tính huỷ diệt. Cái khó là làm sao đưa được đứa bé an toàn vượt qua vùng chiến tuyến đầy lửa đạn, đầy những đồn bót chốt trạm của nhiều đơn vị lính Sài Gòn tăng cường, ngăn chặn các ngả đường tiếp tế của dân lên chiến khu.

Cùng tất biến, chị Hảo chợt nghĩ tới dòng sông. Dưới hạ nguồn, cách nơi chị đang chiến đấu chỉ một đêm nước ròng, có biết bao dân làng, biết bao bà con nội ngoại thân yêu của anh chị sẵn sàng nuôi nấng, chở che cho con chị. Qua một đường dây chưa bị lộ, chị liên lạc được với hội phụ nữ kháng chiến còn hoạt động trong làng để bố trí ngày giờ đón cháu bé. Vợ chồng chị tranh thủ từng giây từng phút tạm yên sau những đợt đánh phá để chặt tre, đan thuyền. Anh chị em ở huyện đội cũng chia phiên đi thu gom từng lớp nhựa ứa ra trên những thân cây chò cổ thụ bị miếng bom mảnh đạn băm vằm. Mỗi ngày, hình như chị mỗi có cảm giác yên tâm với quyết định của mình. Đứa con gái bé bỏng của vợ chồng chị sẽ được bình an xuôi dòng trong chiếc thuyền thúng tuy thô kệch bé nhỏ nhưng rất vững chãi bởi niềm tin và nghĩa tình...

“Cũng một đêm có trăng như thế nầy…” Người du kích nhỏ tuổi nhất của huyện đội năm ấy sửa lại thế cho chiếc chân gỗ, thở dài rồi dốc cạn ly rượu, nghếch mặt ra phía dòng sông đang giăng kín những ngọn đèn của người đi dũi tôm, lưới cá, nghề sinh sống của đa số cư dân vùng cửa biển. Tôi hiểu Hà muốn nói vào một đêm trăng xa xăm thời chiến tranh, chính những ngọn đèn dầu tù mù, chập chờn theo triều sương, sóng nước ấy đã vớt được đứa bé chưa tròn một năm tuổi, một bé gái mềm mại, duyên dáng  nhuần thấm đạo lý bồi, lở và nhân hậu trong xanh của một dòng sông. Như sự tính toán tỉ mỉ và những lời cầu nguyện đầy nước mắt của người mẹ...

Hoài Giang trấn áp xong hàng trăm chú vịt đã lên tiếng phản đối bọn người vãng lai không dưng phá vỡ giấc ngủ của chúng bằng tiếng cụng chén côm cốp, bằng tiếng cười ngợp ngụa hơi men.

- Ngày mai mà thất thu trứng là em bắt đền mấy anh đó.

Hoài Giang vừa cười vừa nói khi bỏ thêm vào nồi nước sôi sùng sục mấy quả trứng vịt nhặt được trong chuồng, nụ cười của người thiếu phụ mà tôi đoán chừng chỉ nhỉnh hơn tuổi hai mươi lăm một chút, thật hiền và quyến rũ, Hùng cũng trạc bằng tuổi ấy, chẳng hiểu bản lĩnh nào giúp hai vợ chồng còn rất trẻ có thể chịu đựng được cuộc sống gần như biệt lập, tẻ nhạt trên cái đảo cát không tên gọi, không mấy khi có bóng người. Gọi là đảo chứ thực chất nó chỉ là một cái bãi bồi khá lớn nằm giữa hai nhánh sông chạy dài ra phía biển và chỉ độc một loài cây dừa nước tồn tại được. Chúng mọc từng đôi một, như muốn nương tựa nhau để chống đỡ những phong ba bão táp của đại dương. Cơ ngơi của vợ chồng Hùng là căn chòi, khu chuồng trại từ mái lợp đến phên vách đều làm bằng những tàu lá dừa nhưng trông rất ấm áp vững chắc.

Đêm đã vào sâu, ngoài dòng sông vắng dần những đốm lửa chài, con trăng mười tám muộn màng chếch ngã hẳn về phía nguồn núi bỏ lại chút  ánh sáng mông mênh kỳ ảo phản quang từ cát, từ ngàn vạn ngọn sóng lăn tăn tìm đường về biển cả. Cái đẹp nguyên sơ hoang vắng thêm chút ngây ngây của men rượu như cũng khiến con người cởi mở cõi lòng hơn, giọng Hùng buồn buồn: “Bố em mắc nợ dân làng nhiều lắm anh ạ, không nhà nào không có người hy sinh, vùng đất này là vùng cách mạng truyền thống mà anh...”
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM