hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 01:39:07 pm » |
|
GIẢI PHÁP NÀO NGĂN CHẶN NGUY CƠ PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN?
Ngày 25-5-2009, CHDCND Triều Tiên chính thức thông báo đã tiến hành thành công vụ thử hạt nhân trong lòng đất, và cho biết, vụ thử lần này là “một phần của các biện pháp nhằm hỗ trợ chính sách ngăn chặn hạt nhân để tự vệ”. Đây là vụ thử hạt nhân lần thứ hai của CHDCND Triều Tiên, sau vụ thử hồi tháng 10-2006. Diễn biến tiếp theo của vụ thử hạt nhân này thật đáng lo ngại. Chỉ một ngày sau đó, ngày 26-5-2009, Hàn Quốc quyết định tham gia Sáng kiến chống phổ biến vũ khí hạt nhân (PSI) do Mỹ đề xuất. Là thành viên tham gia PSI, Hàn Quốc sẽ cùng các quốc gia - thành viên khác tiến hành bắt giữ và khám xét tàu thuyền của các nước bị nghi là vận chuyển các loại nguyên vật liệu liên quan đến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đáp lại, CHDCND Triều Tiên coi hành động này của Hàn Quốc là “lời tuyên chiến”; đồng thời tuyên bố, Bình Nhưỡng rút khỏi Hiệp định đình chiến mà họ đã từng ký hết với Xơ-un năm 1953 và sẵn sàng đáp trả mạnh mẽ bằng sức mạnh quân sự đối với bất kỳ hành động nào của phía Hàn Quốc bắt giữ hoặc khám xét tàu thuyền của CHDCND Triều Tiên. Tình hình căng thẳng leo thang trên bán đảo Triều Tiên trong những ngày cuối tháng 5 này đang là tâm điểm thu hút sự quan tâm của dư luận thế giới. Các nước đã lên tiếng phản đối vụ thử này và bày tỏ thái độ của mình ủng hộ một bán đảo Triều Tiên phi hạt nhân, đồng thời kêu gọi CHDCND Triều Tiên quay trở lại đàm phán 6 bên. Đại sứ năm nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an (HĐBA) Liên hợp quốc, cùng Hàn Quốc và Nhật Bản đã họp thảo luận về nội dung dự thảo nghị quyết của HÐBA đối với CHDCND Triều Tiên, do Nhật Bản và Mỹ đề xuất, nhưng chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng. Tuy nhiên, điều dư luận quan ngại hơn cả là biện pháp trừng phạt Triều Tiên cần như thế nào để vừa hạ nhiệt được “nồi nước đang sôi” này vừa ngăn chặn được các nước chưa có vũ khí hạt nhân cố tìm cách để có, và, các nước đã có sử dụng nó như một thế mạnh đàm phán, một công cụ răn đe để đạt mục tiêu chính trị trong quan hệ quốc tế. Nỗi lo ngại đó không phải không có cơ sở, bởi trong lịch sử, quá trình phổ biến vũ khí hạt nhân luôn chịu tác động của hai nhóm yếu tố có tác dụng đối ngược nhau: nhóm ngăn chặn và nhóm kích thích. Nhóm ngăn chặn, gồm có Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) có hiệu lực từ năm 1970, trong đó có nội dung quan trọng nhất là cho phép các quốc gia ký kết sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hòa bình, các quốc gia chưa sở hữu vũ khí hạt nhân cam kết sẽ không nghiên cứu phát triển và mua sắm loại vũ khí này với điều kiện các quốc gia đã từng sở hữu vũ khí hạt nhân phải huỷ bỏ hoàn toàn. Sau gần 40 năm, chế độ không phổ biến vũ khí hạt nhân đang gặp phải những khó khăn nghiêm trọng. I-ran đã gần kề khả năng chế tạo bom hạt nhân, CHDCND Triều Tiên rút khỏi Hiệp ước NPT và đã hai lần thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Mỹ từ bỏ các cam kết về cấm thử vũ khí hạt nhân, rút khỏi Hiệp ước về phòng chống tên lửa và tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhân mới. Ngoài NPT, còn có nhiều hiệp ước quốc tế cấm thử nghiệm và sử dụng vũ khí hạt nhân dưới nước, dưới lòng đất, trên không và trong vũ trụ, hướng tới xây dựng các khu vực phi hạt nhân hoá. Các tác nhân trong nhóm ngăn chặn đã có tác dụng tích cực, nên đến nay, số các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân không nhiều. Tuy nhiên, có thể thấy rất rõ rằng, cơ chế cấm phổ biến vũ khí hạt nhân hiện có còn kém hiệu lực, chưa đủ sức thuyết phục các nước trong vấn đề phát triển công nghệ hạt nhân. Thí dụ, tại hội nghị bàn về NPT năm 2005, Mỹ và một số nước đồng minh đề nghị đưa ra một điều khoản mới trong Hiệp ước NPT là cấm hoàn toàn việc chuyển giao công nghệ làm giàu hạt nhân. Đây là một “sáng kiến” bất công đối với các quốc gia đang thực sự có nhu cầu phát triển năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình. Nhóm kích thích có nhiều yếu tố, trong đó đáng chú ý nhất là việc cộng đồng thế giới chuyển sang thế hệ chiến tranh mới từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước -chiến tranh công nghệ cao. Nhiều nước đã trang bị các loại vũ khí điều khiển chính xác cao được điều khiển từ mặt đất, từ biển, từ trên không và từ vũ trụ, có tầm tiến công rất xa, có thể tiến công tàn phá các mục tiêu trọng điểm của bất kỳ quốc gia nào mà không cần xâm phạm lãnh thổ của họ, thậm chí có sức huỷ diệt tương đương vũ khí hạt nhân chiến thuật. Loại vũ khí này đã tạo ra phương thức tiến hành chiến tranh hoàn toàn mới, gọi là tiến công không tiếp xúc, từ xa và đã từng được Mỹ thử nghiệm trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991), chiến tranh Cô-xô-vô (1999), chiến tranh Ap-ga-ni-xtan (2001) và chiến tranh I-rắc (2003). Một số quốc gia đứng trước nguy cơ chiến tranh xâm lược đã quyết định nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân để lấy đó làm công cụ ngăn chặn chiến tranh. Giới nghiên cứu trên thế giới giả thiết rằng nếu như Nam Tư, Ap-ga-ni-xtan hoặc I-rắc có trong tay vũ khí hạt nhân thì họ đã không rơi vào vòng xoáy chiến tranh xâm lược. Đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều nước quyết tâm sở hữu vũ khí hạt nhân, hoặc tiến tới ngưỡng chế tạo vũ khí hạt nhân. Điều đáng tiếc là kể từ năm 1945 sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản đến nay, nhóm yếu tố kích thích vẫn có tác dụng mạnh hơn nhóm yếu tố ngăn chặn. Vậy nên, nếu trước những năm 90 của thế kỷ XX, quá trình phổ biến vũ khí hạt nhân còn mang tính chất bí mật, thì sau khi kết thúc “chiến tranh lạnh”, sự phổ biến vũ khí hạt nhân dường như trở nên công khai hơn, thậm chí các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân có ý định sớm công khai thành quả của họ để ngăn đe hành động chiến tranh từ các nước khác. Trong thế giới toàn cầu hoá như hiện nay, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng chặt chẽ cả về kinh tế, chính trị và an ninh quốc gia. Do đó, để giải quyết vấn đề vũ khí hạt nhân của CHDCND Triều Tiên nói riêng và vấn đề phi hạt nhân hoá trên bán đảo Triều Tiên nói chung, chỉ có thể dùng cơ chế đàm phán 6 bên, không có con đường nào khác vì vấn đề này liên quan đến cả nhiều quốc gia bên ngoài bán đảo Triều Tiên. Giải pháp cơ bản và lâu dài để ngăn chặn nguy cơ chiến tranh hạt nhân là Liên hợp quốc cần xây dựng Chiến lược hạt nhân toàn cầu. Trên cơ sở đó, các quốc gia xây dựng chiến lược hạt nhân của riêng mình, tạo ra sự phối hợp hành động chung nhằm loại bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân, sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục đích hoà bình./
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 07:22:58 pm » |
|
BRIC VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THẾ GIỚI Trong 2 ngày 16-6 và 17-6-2009, Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của nhóm các nước BRIC, gồm Bra-xin, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, vừa được tổ chức thành công ở thành phố Ê-ca-tê-ren-bua (Nga), đánh dấu sự ra mắt chính thức của nhóm BRIC trên trường quốc tế. Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép gọi đây là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử. Ngay từ khi BRIC mới ra đời, nhiều chuyên gia phân tích chính trị quốc tế đã dự đóan rằng, tổ chức này tiềm ẩn những ảnh hưởng rất lớn tới thế giới. BRIC đang ở đâu trong thế giới hôm nay? Xét về quy mô, khó có thể nói là BRIC nhỏ bởi nhóm 4 nước này chiếm 25,9% bề mặt Trái Đất, 40% dân số thế giới (2,7 tỉ người), sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ, tiềm lực công nghiệp hùng hậu, có các nền văn hoá đa dạng phong phú và giàu bản sắc, là những quốc gia đứng đầu khu vực. Xét về tiềm năng phát triển, trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính - kinh tế thế giới cuối năm 2008, các quốc gia trong BRIC có mức tăng trưởng trung bình 7-10% hàng năm và được xếp vào nhóm 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Hiện nay, GDP của BRIC chiếm tới 15% tổng GDP và gần 25% sức mua của toàn thế giới. Nguồn dự trữ ngoại tệ quy ra vàng của BRIC chiếm 40% dự trữ ngoại tệ của toàn thế thế giới, trong đó Trung Quốc đứng vị trí số 1, Nga đứng vị trí số 3. Tổng khối lượng thương mại hai chiều của cả bốn nước BRIC trong năm 2008 là 260 tỉ USD. Xét về trình độ phát triển, so với Mỹ và EU, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng công nghệ của BRIC còn hạn chế, và cũng đang đứng trước nhiều thách thức của nhu cầu hiện đại hoá. Tổng khối lượng thương mại giữa các nước BRIC thấp hơn quan hệ thương mại giữa họ với các nước phương Tây. Tuy nhiên, dự báo về tương lai có vẻ ủng hộ các nước BRIC. Trong báo cáo gần đây mang tựa đề “Xu hướng toàn cầu hướng tới năm 2025 - thế giới sẽ đổi thay” của Hội đồng tình báo Mỹ, có đưa ra nhận định: thế giới sẽ hướng tới trật tự đa cực, trong đó, Trung Quốc và Ấn Độ sẽ cùng với Mỹ hình thành ba nền kinh tế lớn nhất thế giới, còn Nga và Bra-xin sẽ mạnh lên trông thấy nếu họ đứng vững được trên con đường hiện đại hoá. Đến năm 2040, tổng GDP của BRIC sẽ lớn hơn của nhóm các nước G-7. BRIC với những khác biệt và tương đồng Các thành viên của BRIC có nhiều nét tương đồng nhưng cũng có rất nhiều điểm khác biệt, và điều đó đã tạo nên tính đặc thù khá thú vị của nhóm nước này. Nói về sự tương đồng, thứ nhất, cả bốn nước đều chủ trương tuân thủ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cũng không can thiệp vào công việc của các nước khác. Họ tiếp nhận các đối tác như nó vốn có. Thứ hai, cả bốn cường quốc này, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chưa bao giờ gia nhập hoặc hoàn toàn gia nhập các tổ chức của các nước phương Tây bởi không muốn chịu vị thế là “vai phụ” trong các tổ chức đó. Thứ ba, các thành viên của BRIC đều chủ trương dân chủ hoá các quan hệ quốc tế, chống bá quyền và phản đối chính sách sử dụng sức mạnh, chủ trương xây dựng một trật tự thế giới đa dạng, xây dựng nền an ninh toàn cầu và an ninh khu vực, trong đó các quốc gia phải tính đến lợi ích của nhau và tuân thủ nguyên tắc an ninh công bằng đối với mọi quốc gia. Họ cho rằng, các cuộc tranh chấp quốc tế cần được giải quyết thông qua đối thoại, dựa trên cơ sở nguyên tắc tin cậy lẫn nhau, phát huy lợi thế của nhau và hợp tác. Họ có cùng chung quan điểm về các nguyên tắc giải quyết tình hình ở Trung Đông, ở I-rắc, ở Ap-ga-ni-xtan, về việc hoá giải chương trình hạt nhân của I-ran. Nguyên tắc có giá trị nhất của BRIC là tôn trọng luật pháp quốc tế, quyền bình đẳng và chủ quyền của các quốc gia. Thứ tư, cả bốn nước BRIC đều có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của khu vực, là trung tâm liên kết khu vực và có đóng góp quan trọng trong việc bình ổn tình hình kinh tế thế giới trong bối cảnh khủng hoảng tài chính hiện nay. Các nước BRIC ngày càng thống nhất nhận thức cho rằng, họ sẽ cùng phối hợp nỗ lực để xây dựng một cấu trúc kinh tế và chính trị thế giới mới thay thế cấu trúc hiện tại đang ngày càng bộc lộ nhiều khiếm khuyết, hạn chế. Với cách nhìn nhận đó, BRIC đang hành động hướng tới một trật tự thế giới đa cực thực sự. Còn những điểm khác biệt, đó là, các thành viên của BRIC có các thế chế chính trị, kinh tế khác nhau, vậy nên, cần phải mất nhiều thời gian để thống nhất với nhau cách tiếp cận đối với nhiều vấn đề của thế giới. Hai là, các nước BRIC chịu thiệt hại ở những mức độ khác nhau do khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế và vượt qua khủng hoảng cũng với các phương thức khác nhau, vì thế, có lẽ sẽ xảy ra nhiều sự khác biệt. Ba là, sự khác biệt về vị trí địa lý và lịch sử buộc các nước BRIC phải có các chính sách địa - chính trị khác nhau, và do đó, các nhu cầu an ninh của mỗi thành viên cũng khác nhau. Tuy nhiên, nhiều khi những đặc điểm phát triển kinh tế riêng, thế mạnh riêng của mỗi nước thành viên có thể bổ sung cho nhau trong nhiều lĩnh vực để tạo sự phát triển cho cả khối. Hội nghị thượng đỉnh Ê-ca-tê-ren-bua của BRIC bàn định những gì? Hội nghị thượng đỉnh Ê-ca-tê-ren-bua của BRIC đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới truyền thông phương Tây bởi các chủ đề thảo luận đều tập trung vào những vấn đề đang “nóng” của thế giới như: tình hình kinh tế thế giới hiện nay; hệ thống tài chính quốc tế; cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu; hợp tác năng lượng và bảo vệ môi trường. Nguyên thủ bốn nước trong BRIC còn xem xét việc thực hiện những thỏa thuận của Hội nghị cấp cao G-20, trong đó có sự tham gia của bốn nước BRIC, diễn ra đầu tháng 4-2009 tại Luân-đôn (Anh). Vì BRIC là bốn trong số những nền kinh tế đang phát triển nhanh nhất trên thế giới, nên vấn đề kinh tế và tài chính là chủ đề hàng đầu trong chương trình nghị sự lần này của BRIC. Nhóm BRIC cho rằng, chế độ bảo hộ mậu dịch trong nước mà Mỹ và một số nước phương Tây đang áp dụng không phải là giải pháp đối phó cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay. Thứ trưởng Ngoại giao Bra-xin Rô-bec-tô Gia-goa-ri-be (Roberto Jaguaribe) nhận xét, cuộc họp cấp cao lần này của BRIC dọn đường cho sự ra đời của một cơ cấu tương tác xuyên quốc gia mới. BRIC hướng tới tương lai nào? Tại Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên vừa qua, nguyên thủ các quốc gia trong nhóm BRIC đã đạt được đồng thuận về những gì BRIC phải tránh. Cụ thể là, thứ nhất, không “nhân bản” mô hình phát triển kinh tế và chính trị sang bất kỳ quốc gia nào, và cho rằng, việc lựa chọn mô hình là chủ quyền của nhân dân ở các quốc gia đó. Thứ hai, các nước BRIC không có tham vọng lãnh đạo thế giới, không muốn trở thành “nhạc trưởng” cầm cây gậy chỉ huy toàn thế giới, mà tìm kiếm phương thức xây dựng hệ thống quan hệ quốc tế mới dựa trên các giá trị tự do, bình đẳng và công bằng. Thứ ba, BRIC không có ý định thay thế các tổ chức quốc tế hiện hành, không có ý định thay thế G-8 hoặc G-20, mà chỉ là góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động của các tổ chức quốc tế khác mà họ là thành viên. Thứ tư, BRIC không phải là một khối chính trị - quân sự, không phải là tổ chức an ninh tập thể, không phải là một nhóm liên kết, càng không phải là liên minh hải quan hoặc vùng kinh tế tự do. Bốn quốc gia thành viên của BRIC nhất trí cho rằng, họ liên kết với nhau thì sẽ tốt hơn đối với họ và cả thế giới. BRIC không phải là một cực của thế giới, mà chỉ là trung tâm phối hợp lợi ích của các quốc gia đủ lớn và đủ mạnh để hình thành khu vực lợi ích riêng đôi khi khác biệt với lợi ích của các trung tâm ảnh hưởng khác. BRIC sẽ giống như một câu lạc bộ, trong đó xây dựng cơ chế tham vấn bốn bên về các vấn đề tài chính - tiền tệ ở cấp bộ trưởng, giám đốc các ngân hàng nhằm hoạch định chính sách vĩ mô. Với thực tế hiện nay, BRIC không phải là một không gian đối đầu với phương Tây, tuy nhiên, sự lớn mạnh và tầm ảnh hưởng của BRIC trong thế giới hiện nay làm cho người ta có cảm giác rằng, dường như BRIC đang là một khối liên minh tách khỏi “quỹ đạo” của phương Tây. Báo “The Times” của Anh nhận định, BRIC từ chỗ là “câu lạc bộ kinh tế” sẽ từng bước có tầm ảnh hưởng chính trị tới các quan hệ quốc tế. Cùng với nhiều động thái đang diễn ra trong thế giới đương đại, sự hình thành một tổ chức gồm các thành viên của các nước thuộc các châu lục khác nhau phản ánh một thực tế khách quan và nhu cầu hình thành một trật tự thế giới mới, với hy vọng rằng trật tự đó sẽ công bằng hơn, tạo ra cơ hội phát triển tốt đẹp hơn cho các quốc gia trên thế giới./.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 07:25:28 pm » |
|
G-8, G-14, G-20, HAY LỚN HƠN NỮA? Trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh G-8 vừa qua, đã diễn ra Diễn đàn các nền kinh tế lớn (MEF) gồm G-8 và 5 nền kinh tế lớn khác là Trung Quốc, Ấn Ðộ, Bra-xin, Mê-hi-cô và Nam Phi (Diễn đàn G-8 +5); Diễn đàn về an ninh lương thực trong khuôn khổ mở rộng với sự tham gia của đại diện các nước châu Phi, Liên minh châu Phi và nhiều tổ chức quốc tế khác; cuộc gặp giữa thành viên các nước G-8 với nguyên thủ các nước tham gia G-8 +6. Chủ đề tại các cuộc thảo luận của Nhóm G-8 và G-8 mở rộng là đánh giá để đi tới nhận thức chung về nhiều vấn đề: từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến an ninh lượng thực và trợ cấp nông nghiệp cho các nước nghèo; từ việc tái khởi động các cuộc đàm phán về thương mại tự do toàn cầu đến vấn đề giảm mức độ khí thải gây hiệu ứng nhà kính; từ tiến trình hoà bình Trung Đông đến chương trình hạt nhân của của CHDCND Triều Tiên và I-ran. Lĩnh vực đạt được kết quả nhiều nhất tại Hội nghị lần này là vấn đề thương mại. Tuyên bố chung của Nhóm G-14 ở hội nghị lần này nhằm hoàn tất vòng đàm phán tự do thương mại Đô-ha vào năm 2010. Ngoài ra, các nước cũng thảo luận về đề xuất của Mỹ rằng, các nước giàu cần hỗ trợ 15 tỉ USD trong một vài năm cho việc phát triển nông nghiệp ở những nước nghèo để đảm bảo vấn đề an ninh lương thực. Tuy nhiên, vấn đề chống biến đổi khí hậu vốn là một chủ đề chính của hội nghị và từng rất được kỳ vọng, đã không có được những cam kết lớn về cắt giảm khí thải. Nguyên thủ các nước G-8 đề ra nhiệm vụ cắt giảm khối lượng khí thải ít nhất là 50% tới năm 2050. Nhưng Trung Quốc từ chối ký vào tuyên bố của G-8 về biến đổi khí hậu với lý do: để cắt giảm lượng khí thải cần tính đến các cách tiếp cận khác nhau trong việc giải quyết vấn đề này của các nước phát triển và các nước đang phát triển. Vì thế, Tuyên bố chung không đề cập cam kết cụ thể nào trong lĩnh vực này, mà chỉ đưa ra sự nhất trí về việc cần thiết phải hạn chế mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu xuống 2 0C kể từ thời tiền công nghiệp. Sở dĩ G-14 bất đồng trong vấn đề này vì các thành viên của G-8 đã không đưa ra được kiến nghị khả dĩ nhằm xoá đói, giảm nghèo cho hơn một nửa nhân loại đang thiếu ăn và thiếu mặc. Thủ tướng Ấn Độ đã có ý kiến rất xác đáng rằng, việc cắt giảm lượng khí thải phải đi đôi với biện pháp xoá đói, giảm nghèo. Rõ ràng là, từ những vấn đề đạt được thỏa thuận, những vấn đề bỏ ngỏ, hay còn bất đồng ý kiến tại Hội nghị lần này cho thấy: thế giới đã đổi thay, và, G-8 đã đến lúc cần phải thay đổi. Sở dĩ như vậy là vì, thứ nhất, G8 không phải là một tổ chức quốc tế, không đưa ra và cũng không ký kết các hiệp ước quốc tế, không có điều lệ và ban thư ký riêng. Quyết định của G-8 không có tính ràng buộc. Thông thường, các hội nghị của G-8, kể cả Hội nghị thượng đỉnh, chỉ có tác dụng ghi nhận ý tưởng của các bên cùng thực hiện một chính sách hoặc đưa ra lời khuyến cáo hoặc kiến nghị cho các thành viên khác trong cộng đồng quốc tế áp dụng các cách tiếp cận khả dĩ để giải quyết các vấn đề phát sinh. Trong hơn một thập kỷ gần đây, nhiều nền kinh tế mới nổi lên, nhiều khối liên kết đang ngày càng khẳng định vị thế và tầm ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế như Trung Quốc, Ấn Độ, Bra-xin, Nga, Nam Phi, Ai-cập, A-rập Xê-út, nhóm các nước BRIC, Tổ chức SCO... Thứ hai, tuy vẫn mang tên gọi là Hội nghị G-8, nhưng trên thực tế, Hội nghị G-8 hiện nay đã mang một ý nghĩa và phạm vi rộng lớn hơn trước đây rất nhiều. Trong những năm gần đây, tham gia Hội nghị thượng đỉnh G8 còn có lãnh đạo của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Bra-xin, Mê-hi-cô; đại diện của nhiều nước và tổ chức quốc tế. Hội nghị thượng đỉnh G-8 lần này được mở rộng thành Diễn đàn các nền kinh tế lớn (MEF) với sự tham dự của 5 nền kinh tế mới nổi (gồm Bra-xin, Trung Quốc, Ấn Độ, Mê-hi-cô và Nam Phi) cùng với Ai-cập (đại diện cho Trung Đông) và một số nước châu Phi nữa. Trong cuộc họp ngày 9-7-2009 thảo luận về các vấn đề kinh tế có sự tham gia của 6 nước khác là Trung Quốc, Ấn Độ, Bra-xin, Mê-hi-cô, Nam Phi và Ai Cập. Sau đó là sự tham gia của Ôt-xtrây-li-a, In-đô-nê-xi-a và Hàn Quốc. Ngoài những nước nêu trên còn có đại diện của Tây Ban Nha, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ, nhiều nước châu Phi, đại diện của Liên hợp quốc, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới, Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển. Lần đầu tiên trong Hội nghị G-8 có sự tham gia của đại diện gần 40 nước và tổ chức quốc tế, bởi vì không thể thảo luận về những vấn đề của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới mà không có sự tham gia của Trung Quốc, Ấn Độ; không thể thảo luận về các biện pháp giải quyết hòa bình ở Trung Đông mà lại thiếu sự tham gia của Ai Cập - quốc gia lớn nhất và có ảnh hưởng nhiều nhất trong thế giới A-rập; không thể thảo luận về chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên mà lại thiếu sự tham gia của Hàn Quốc; khó có thể bàn về vấn đề tan băng ở Bắc Cực mà lại không có sự hiện diện của Đan Mạch. Trong thế giới ngày nay, hơn bao giờ hết, kinh tế gắn bó chặt chẽ với các vấn đề chính trị mà ở đó các tổ chức tài chính thế giới đóng vai trò rất quan trọng. Chính những tổ chức này đang cấp vốn để giải quyết các hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới ở những nước đang phát triển. Không thể thảo luận về tương lai thế giới trong thời kỳ khủng hoảng mà lại thiếu sự tham gia của các tổ chức đó. Rõ ràng, G-8 vốn chỉ đại diện cho một số nền kinh tế lớn nhất thế giới trước đây, nay đã tỏ ra không còn khả năng đưa ra các kiến nghị khả dĩ cho toàn thế giới. Thứ ba, quá trình toàn cầu hóa làm cho tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng, trong khi đó, lợi ích của các nước, các nhóm, các tổ chức không giống nhau làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế và chính trị rất cần tiếng nói đồng thuận, sự tham gia, phối hợp của nhiều quốc gia bên ngoài G-8 mới có thể hy vọng tìm ra cách giải quyết thỏa đáng. Thứ tư, trong thời điểm nền kinh tế thế giới đang lâm vào tình trạng suy thoái, nhiều vấn đề toàn cầu đang trở nên bức xúc mà việc giải quyết nó cần sự đồng tâm hiệp lực của cả thế giới, chứ không chỉ một quốc gia, hay một nhóm các nước riêng lẻ nào, nếu không mở rộng G-8 sẽ khó có thể giải quyết được vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu, khó hóa giải được các “điểm nóng chính trị và an ninh” trên thế giới; cũng như không thể giải quyết được vấn đề an ninh lương thực và xoá đói, giảm nghèo. Theo Ngân hàng thế giới, hơn một tỉ người trên toàn thế giới đang lâm vào cảnh đói ăn thường xuyên. Năng suất nông nghiệp èo uột, giá lương thực leo thang và thu nhập tụt giảm, đặc biệt ở châu Phi và khu vực Nam Á, đang gây ra những bất bình đẳng cả về kinh tế, chính trị và xã hội, tạo nguy cơ đưa thế giới tiến sát tới những xung đột, bạo lực, bất ổn. Việc ngăn chặn một “viễn cảnh” như vậy cần trở thành vấn đề hàng đầu trong chương trình nghị sự toàn cầu. Nhu cầu mở rộng phạm vi G-8 thực ra đã được nguyên thủ quốc gia nhiều nước đề cập tới trong những năm gần đây, tuy nhiên, sau Hội nghị G-8 ở I-ta-li-a lần này, yêu cầu mở rộng G-8 trở nên bức thiết hơn và hiện thực hơn. Trong Hội nghị G-8 +5, lãnh đạo các nước châu Phi đề nghị mở rộng G-8 thành G-14 và được nhiều nước châu Âu tán thành. Thủ tướng Đức An-ge-la Mec-ken là người tích cực ủng hộ đề nghị mở rộng thành phần G-8 để giải quyết nhiều nhiệm vụ khác, ngoài nhiệm vụ kinh tế. Thủ tướng Đức, đại diện của Nga và một số nước khác tin tưởng rằng, đã đến lúc G-8 không thể đủ sức giải quyết được các nhiệm vụ đề ra. Trong năm 2010, thành phần tham gia diễn đàn này sẽ thay đổi và, rất có thể, từ thời điểm đó, cái tên G-8 sẽ không còn tồn tại trong các khái niệm kinh tế - chính trị toàn cầu. Xuất xứ đầu tiên của của G-8 là Nhóm G-6 gồm các nước tư bản công nghiệp Pháp, Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản, Anh, Mỹ, được hình thành năm 1975, nhằm giải quyết hậu quả của cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và tác động làm suy thoái kinh tế toàn cầu tiếp sau đó. Tới năm 1976, với sự tham gia của Ca-na-đa, G-6 trở thành G-7.
Sau “chiến tranh lạnh”, vào năm 1991, Liên Xô và sau đó là Nga gia nhập G-7. Tại Hội nghị lần thứ 20 của G-7 tổ chức tại Na-plơ, với sự tham gia của Nga, G-7 trở thành Nhóm G-7+1. Năm 2006, Nga được G-7 chấp nhận là thành viên đầy đủ, từ đó G-7 chính thức trở thành G-8.
Nội dung hoạt động chủ yếu của G-7 trước đây và G-8 hiện nay là hội nghị thượng đỉnh về kinh tế và chính trị, được tổ chức hàng năm với sự tham dự của những người đứng đầu nhà nước, có sự tham gia của các quan chức quốc tế.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 07:27:28 pm » |
|
PHẢN ỨNG DÂY CHUYỀN TỪ OA-SINH-TƠN ĐẾN TÔ-KY-Ô Ngày 30-8-2009, cuộc bầu cử Hạ viện ở Nhật Bản đã trở thành “cơn động đất chính trị”: Đảng Dân chủ Tự do (LDP) đã thất bại trước Đảng Dân chủ (DPJ) sau nửa thế kỷ nắm quyền. Sự kiện này có thể được ví như phản ứng dây chuyền từ cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vào cuối năm 2008, bởi nguyên nhân sâu xa chỉ có một: các cử tri Mỹ và các cử tri Nhật Bản đều có chung một khát vọng, đó là “thay đổi”. Cũng giống như người dân Mỹ trong cuộc bầu cử tổng thống cuối năm 2008, các cử tri Nhật Bản mong muốn cuộc tổng tuyển cử lần này đem đến một sự thay đổi toàn diện nhằm vượt qua sự trì trệ trong xã hội Nhật Bản đã tới mức báo động. Chỉ có điều khác là ở Mỹ, Đảng Cộng hoà chịu thất bại trước Đảng Dân chủ chỉ vẻn vẹn sau hai nhiệm kỳ cầm quyền của Tổng thống G.Bu-sơ, còn Đảng LDP chịu thua cuộc sau nửa thế kỷ chèo lái con thuyền kinh tế và chính trị Nhật Bản vượt qua nhiều sóng gió. Có thể thấy, nếu như Thượng nghị sĩ Ba-rắc Ô-ba-ma đưa ra chủ trương “thay đổi” làm khẩu hiệu tranh cử trong lần bầu cử vào đầu năm 2000, chắc chắn ông sẽ thất bại, bởi vào thời điểm đó, trong nhiều thập niên, các cử tri Mỹ đã từng quen với ý nghĩ phàm những gì thuộc về Mỹ đều là “number one”, “các giá trị Mỹ” là bất biến. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc vào đầu những năm 1990, trong đó người Mỹ cho rằng, họ là “người chiến thắng”; và dường như suy nghĩ đó ngày càng được củng cố vững chắc hơn bao giờ hết. Nhưng rồi hai nhiệm kỳ cầm quyền của Tổng thống G.Bu-sơ đã đưa nước Mỹ sa lầy và thất bại trong hai cuộc chiến tranh ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc, nền kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng, uy tín của nước Mỹ trước bạn bè và đồng minh sa sút, các “giá trị Mỹ” bị thách thức, thậm chí cả mô hình phát triển kiểu Mỹ đang được nhiều nước áp dụng cũng bị đặt dấu hỏi nghi vấn. Chính vào thời điểm đó, trên chính trường Mỹ xuất hiện Thượng nghị sĩ Ba-rắc Ô-ba-ma với chủ trương thay đổi nước Mỹ và thế giới. Ngay lập tức, các cử tri Mỹ như bị thôi miên trước cương lĩnh tranh cử “Thay đổi” của Thượng nghị sĩ Ba-rắc Ô-ba-ma và chính nó đã góp phần quan trọng đưa ông bước vào Nhà Trắng một cách ngoạn mục, một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ, bởi ông là người da màu. Ở Nhật Bản lần này, tình hình cũng diễn ra tương tự, giống như hiệu ứng của một phản ứng dây chuyền, lan tỏa từ cuộc bầu cử tổng thống Mỹ cuối năm 2008. Có thể thấy, cú huých dẫn tới “cơn động đất chính trị” ở Nhật Bản lần này cũng là khát vọng của người Nhật hướng tới sự thay đổi: thay đổi vị thế của “đất nước Mặt trời mọc” không chỉ trong trong nền kinh tế toàn cầu mà cả trong nền chính trị và an ninh của thế giới và khu vực; thay đổi một số tập quán văn hoá đã từng ăn sâu vào truyền thống của người Nhật nhưng hoàn toàn không thích hợp với một thế giới đang toàn cầu hoá mạnh mẽ. Nhật Bản là đất nước vốn nổi tiếng bởi sự tôn trọng truyền thống, luôn cho rằng chiến lược kinh tế của LDP đã từng tạo ra một đất nước Nhật Bản thịnh vượng trong nhiều năm, sẽ tiếp tục đưa nước này vượt qua sự trì trệ và tiếp tục tăng trưởng. Trong một thời gian dài, chiến lược của LDP đã có tác dụng tạo nên sự phát triển kinh tế ngoạn mục, đưa Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau nền kinh tế Mỹ. Chiến lược đó dựa trên hai đòn bẩy có sức mạnh rất lớn: một là, thúc đẩy sản xuất bằng chính sách công nghiệp lấy xuất khẩu là trọng tâm và là hướng chủ đạo; và hai là, phân bổ đồng đều tiền của do ngành sản xuất mang lại cho khắp cả nước. Trên thực tế, ở Nhật Bản đã diễn ra sự dịch chuyển các khoản tiền lớn từ các khu đô thị, vương quốc của các công ty và tập đoàn sản xuất lớn, tới các vùng nông thôn hẻo lánh, làm thay đổi căn bản hình ảnh đất nước. Trong thời gian đầu, chiến lược này đã từng nhanh chóng biến Nhật Bản thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Đã có lúc, người ta nói tới khả năng “nước Nhật có thể mua cả thế giới”. Tuy nhiên, từ đầu những năm 1990, “cơn bão toàn cầu hoá” đã đưa dòng thác sản xuất và thương mại ào ạt tràn qua các lục địa, làm lung lay “toà tháp kinh tế” của nước Nhật. Chiến lược công nghiệp hướng vào xuất khẩu của LDP đã từng gây ra sự bất cân bằng thương mại với các nước và vấp phải sự phản đối gay gắt từ phía Mỹ - đồng minh chiến lược của Nhật Bản, cũng như nhiều nước ở châu Âu. Trong tình hình khủng hoảng kinh tế hiện nay, chiến lược hướng về các vùng nông thôn đã khiến ngân sách bị thâm hụt, đẩy Nhật Bản vào tình trạng suy giảm tài chính tồi tệ nhất trong số các nước công nghiệp phát triển. Một số nhà lãnh đạo LDP đã nhận ra cuộc khủng hoảng chiến lược của Đảng và thực thi nhiều chương trình cải cách nhằm khắc phục tình hình nhưng chưa thể thay đổi nền tảng cơ bản của chiến lược. Cựu Thủ tướng Giu-ni-chi-rô Kôi-du-mi (Junichiro Koizumi) trong những năm 2001-2006 đã từng thực thi một số thay đổi trong chiến lược của LDP, nhưng trên thực tế, ông chỉ mới thực hiện được những giải pháp mang tính chiến thuật là điều chỉnh lại sự cân bằng giữa hai yếu tố của chiến lược truyền thống. Đó là, tạo ra một động lực mới cho ngành sản xuất, đồng thời giảm bớt sự giúp đỡ tài chính cho các vùng nông thôn. Những thay đổi đó dường như đã đem lại kết quả nhất định: trong những năm 2002-2006, tỷ lệ tăng trưởng GDP hằng năm của Nhật Bản đạt trên 2%, một con số có tính thuyết phục. Nhưng rồi những tác động tiêu cực của những thay đổi đó bắt đầu lộ diện và dư luận Nhật Bản tỏ ra thất vọng, bởi chương trình đó đã tạo ra sự gián cách ngày càng lớn về kinh tế giữa thành thị và nông thôn, làm lung lay triết lý bình quân đã từng ngự trị trong truyền thống văn hoá của Nhật Bản. Đúng lúc đó, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm trầm trọng thêm những khó khăn xuất phát từ chiến lược đổi mới của LDP dưới thời cầm quyền của cựu Thủ tướng Giu-ni-chi-rô Kôi-du-mi. Cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu đã làm rõ một câu chuyện: hoá ra, sự hồi phục kinh tế trong thời gian gần đây của Nhật Bản không phải xuất phát từ chiến lược cải cách dưới thời cựu Thủ tướng Giu-ni-chi-rô Kôi-du-mi mà là từ “bong bóng tiêu dùng” ở Mỹ và trên thế giới. Trên thực tế, ông Giu-ni-chi-rô Kôi-du-mi vẫn duy trì chiến lược truyền thống của LDP và chưa tạo ra sự chuyển biến lớn nhằm lấy lại đà tăng trưởng kinh tế cho Nhật Bản. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã khiến “xứ sở Mặt trời mọc” bừng tỉnh. Nhiều người dân Nhật Bản bắt đầu nghĩ tới chuyện phải cải tổ nền kinh tế quốc gia để thoát khỏi sự trì trệ. Các chuyên gia phân tích trên thế giới đã từng cảnh báo rằng, Nhật Bản đang rơi vào tình trạng trì trệ trong hơn hai thập niên qua và sẽ tiếp tục trượt dốc nếu như chính quyền ở Tô-ky-ô không tiến hành những cải cách căn bản trong nền kinh tế của nước này. Cùng với những mong muốn thay đổi chiến lược kinh tế, Nhật Bản còn đứng trước nhiều nhu cầu thay đổi trong các lĩnh vực khác, như quan hệ với các nước trong khu vực, trong đó quan trọng nhất là quan hệ Nhật Bản - Mỹ; hiện tượng “già hóa dân tộc Nhật Bản” đã tới mức báo động; khó khăn của thanh niên Nhật Bản trong lập nghiệp và lập gia đình. Ma-xa-ru Ta-ma-mô-tô (Masaru Tamamoto), nhà nghiên cứu cao cấp của Viện Chính sách thế giới ở Niu Oóc (Mỹ), đã từng đưa ra luận thuyết cho rằng, sự trì trệ trong xã hội Nhật Bản có gốc rễ sâu xa ở khía cạnh văn hóa. Trong những nhu cầu thay đổi đó, gần đây những cải cách trong lĩnh vực quân sự trở thành chủ đề “nóng” trên chính trường Nhật Bản. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản không được phép thành lập bộ quốc phòng và quân đội riêng, mà chỉ được phép thành lập Cục phòng vệ. Trong hơn 50 năm qua, cùng với sự thay đổi không ngừng môi trường chiến lược trong và ngoài nước, Cục phòng vệ Nhật Bản đã từng bước phát triển và trở thành lực lượng quân sự đáng kể, góp phần quan trọng tăng cường vị thế của cường quốc kinh tế Nhật Bản, nhưng những thay đổi đó chưa thể tương xứng với vị thế của Nhật Bản là nền kinh tế chiếm vị trí số 2 trên thế giới. Ở châu Á - Thái Bình Dương và Đông Á, người Nhật cũng đang muốn có một vị thế khác, lớn hơn. Trong bối cảnh nước Nhật đang khát khao thay đổi, ông Y-u-ki-ô Ha-tô-y-a-ma (Yukio Hatoyama), thủ lĩnh Đảng DPJ, đưa ra chiến lược tranh cử nhằm hướng tới những thay đổi mà xã hội Nhật Bản đang mong muốn, cũng giống như Thượng nghị sĩ Ba-rắc Ô-ba-ma đưa ra chủ trương thay đổi nước Mỹ và thế giới. Khâu đột phá cơ bản trong chủ trương thay đổi của DPJ nhằm đổi mới nước Nhật Bản là cải cách hành chính. Đây thực sự là một cuộc cách mạng với một đất nước mà ở đó bộ máy công quyền khá cồng kềnh. Ông Y-u-ki-ô Ha-tô-y-a-ma cam kết sẽ xóa bỏ những thể chế được gọi là “amakudari” (tiếng Nhật có nghĩa là “trời ban”) đã từng tạo ra những đặc quyền đặc lợi cho một bộ phận quan chức nhà nước và tư nhân. Đảng DPJ còn đưa ra cam kết sẽ hoá giải các bất ổn xã hội bằng các biện pháp trợ cấp cho trẻ em, cắt giảm thuế giao thông và thuế đối với doanh nghiệp nhỏ, nâng cao trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ thu nhập của nông dân và cải cách hệ thống lương hưu vốn không theo kịp với tốc độ lão hóa dân số rất nhanh ở nước này. Để làm được những điều này, sẽ cần tới 3,5% GDP của Nhật Bản, và DPJ cho rằng họ có được 95 tỉ USD từ việc tiết kiệm các công trình xây dựng công cộng và các khoản chi tiêu lãng phí khác. Trong quan hệ với các nước, DPJ từng đưa ra tín hiệu rằng, họ sẽ tìm cách thay đổi vị thế của Nhật Bản trong quan hệ với Mỹ, theo đó, Tô-ky-ô sẽ độc lập hơn trong quan hệ với Oa-sinh-tơn. Trận chiến Trân Châu Cảng là một trong những thất bại lớn nhất của Mỹ trước quân Nhật trong chiến tranh thế giới thứ hai và để lại một trang đen tối trong quan hệ giữa hai nước. Tuy nhiên, trong thời kỳ hậu chiến, Mỹ đã thiết lập mối quan hệ ngày càng gắn bó và thân thiện với các chính quyền kế tiếp trên chính trường Nhật Bản, dưới sự lãnh đạo của LDP trong suốt hơn 50 năm qua. Ông Y-u-ki-ô Ha-tô-y-a-ma từng tuyên bố, nếu DPJ thắng cử, Nhật Bản sẽ xem xét lại vai trò của lực lượng quân đội Mỹ tại nước này. Còn ông Mai-cơn Ao-xlin (Michael Auslin), Viện Doanh nghiệp Mỹ nhận xét: “Nhật Bản sẽ độc lập hơn và sẽ không dựa dẫm vào Mỹ. Chắc chắn sẽ có một số liên minh mới và đối tác mới, có thể xích lại gần Trung Quốc và Liên hợp quốc”. Trong quan hệ với các nước trong khu vực, DPJ chủ trương sẽ có thái độ hòa giải hơn khi nhìn nhận về quá khứ - thời chiến tranh thế giới thứ hai, và sẽ cải thiện quan hệ với các láng giềng ở châu Á - Thái Bình Dương. Bà Min-đi Cốt-lơ (Mindy Kotler) thuộc Tổ chức Quan điểm về các chính sách châu Á nhận xét: “Các vấn đề lịch sử là rất quan trọng nếu Nhật Bản muốn giữ vai trò lớn hơn trong khu vực và Nhật Bản không thể có ảnh hưởng về kinh tế và chính trị lớn hơn tại đây nếu các vấn đề đó không được dàn xếp ổn thoả”. Ông Y-u-ki-ô Ha-tô-y-a-ma chủ trương thực hiện học thuyết chính trị dựa trên tình bằng hữu trong chiến lược phát triển nước Nhật. Ông hy vọng có thể gạt lại đằng sau chủ nghĩa dân tộc hạn hẹp và chủ nghĩa sô vanh hiếu chiến nhằm xây dựng cộng đồng Đông Á thành một “EU của châu Á”. Ngoài ra, Ông Y-u-ki-ô Ha-tô-y-a-ma còn chủ trương thúc đẩy đồng tiền châu Á chung, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trong khu vực. Tới lúc này, chưa thể thấy rõ toàn bộ chiến lược phát triển nước Nhật Bản dưới bàn tay chèo lái của chính phủ mới do ông Y-u-ki-ô Ha-tô-y-a-ma đứng đầu, nhưng việc DPJ giành chiến thắng chứng tỏ các cử tri Nhật Bản muốn đoạn tuyệt với chiến lược truyền thống của LDP. Cũng giống như cuộc bầu cử ở Mỹ cuối năm 2008: các cử tri Mỹ dành lá phiếu cho Thượng nghị sĩ Ba-rắc Ô-ba-ma là bởi họ cần có một sự thay đổi trong tâm trạng đã không còn tiếp tục chấp nhận tình hình hiện tại./.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 07:29:30 pm » |
|
TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI NHÌN TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH HIỆN NAY Ở MỸ Trong những ngày gần đây, cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ không chỉ làm mất ăn mất ngủ các tỷ phú ở Phố Uôn và các chính khách ngụ tại Nhà Trắng trên Đồi Ca-pi-tôn, chiếm trọn ý nghĩ và nỗi lo âu của hàng trăm triệu người dân Mỹ, mà còn làm rung chuyển toàn bộ nền kinh tế thế giới. Điều mà nhiều người lo ngại là, liệu cuộc khủng hoảng tài chính này có trở thành cơn bão cấp 12 tràn qua các lục địa, đưa thế giới tới cuộc đại suy thoái có tầm toàn cầu? Ngày 4-9-2008, Hạ viện Mỹ sau hai lần cân nhắc thận trọng, rút cuộc đã nhất trí thông qua Kế hoạch giải cứu trị giá 700 tỉ USD do Chính quyền Mỹ đề xuất. Ngay sau đó, Tổng thống G.Bu-sơ đã ký sắc lệnh giao cho Bộ Tài chính Mỹ tổ chức thực thi kế hoạch này. Trên thực tế, như chính Tổng thống G.Bu-sơ đã tuyên bố với giới báo chí, Kế hoạch giải cứu này không chỉ nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng tài chính xuất phát từ Phố Uôn mà là cứu nguy cho nước Mỹ. Phát biểu trước các nhà báo, Tổng thống G.Bu-sơ nói: “Cuộc khủng hoảng hiện tại đã vượt ra khỏi khuôn khổ của Phố Uôn và thành phố Niu Oóc. Gói 700 tỉ USD này sẽ ổn định cả nền kinh tế Mỹ chứ không đơn thuần chỉ là giải cứu Phố Uôn như nhiều người dân Mỹ vẫn đang nghĩ”. Như vậy, cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ hiện nay đã vượt ra khỏi khuôn khổ “làm ăn” của những “thầy phù thủy” ở Phố Uôn! Góp thêm một cách nhìn về cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ Trong những ngày gần đây đã có rất nhiều bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng của các nhà nghiên cứu, phân tích, bình luận quốc tế về nguyên nhân khủng hoảng tài chính ở Mỹ. Góp thêm một cách nhìn về nguồn căn của sự kiện gây chấn động này, giáo sư Cuốc-man Ác-me-tốp trong bài “Cuộc khủng hoảng tài chính đang sải bước khắp hành tinh” đăng trên Báo “Tự do ngôn luận” (Ca-dắc-xtan), số ra ngày 25-9-2008 cho rằng, cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay ở Mỹ là khủng hoảng mang tính cơ cấu. Chúng ta đang chứng kiến không phải là một cuộc khủng hoảng thuần tuý tài chính mà là cuộc khủng hoảng cơ cấu của nền kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng ở Phố Uôn xuất phát trước hết từ khu vực tài chính Mỹ, do nền kinh tế ảo thoát ly quá xa khỏi nền kinh tế thực. Khu vực tài chính Mỹ đã trở thành ngành kinh tế có lợi nhuận cao nhất thế giới. Lĩnh vực sản xuất thực đã không đem lại lợi nhuận cao bằng việc mua và bán lại các cổ phiếu. Kể từ năm 1980, các luồng tiền và trao đổi ngoại tệ đã tăng lên gấp 5 lần. Ngày nay, mỗi ngày trên thế giới có khoảng 1500-1700 tỉ USD được bơm vào thị trường. Trong đó, có tới 90% số tiền này là của các vụ kinh doanh, các luồng vốn đầu cơ, được chuyển từ nước này sang nước khác trong một giờ, một ngày, một tuần, rồi lại bắt đầu vòng quay của mình. Vốn đầu cơ ngày nay đã vượt gấp 50 lần giá trị của toàn bộ thương mại quốc tế. Tiền ở phương Tây bắt đầu được làm ra chủ yếu không phải từ sản xuất sản phẩm vật chất, mà từ “không khí”, bởi lẽ, các nước phát triển phương Tây đã qua giai đoạn công nghiệp hóa, các ngành sản xuất không còn mang lại lợi nhuận cao, nên chúng được chuyển giao sang cho các nước có lao động rẻ hơn như Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á, Mỹ La-tinh v.v.. thực hiện. Phương Tây nhập hàng hóa chủ yếu từ các nước “thế giới thứ ba”. USD được in ra chỉ ở Mỹ nhưng lại theo nhu cầu tiêu dùng trên khắp thế giới. Tại Mỹ và phương Tây nói chung, các nguồn tài chính chủ yếu đã chuyển thành các cổ phiếu và tín dụng cầm cố. Khi các thị trường tài chính chao đảo, các ngân hàng và các công ty phá sản; các chứng khoán trở nên không đáng tin tưởng, thì mọi người không còn muốn đầu tư vào “mặt hàng” này nữa. Trong bối cảnh đó không có biện pháp nào của chính sách tiền tệ - tín dụng có thể giải quyết được. Cuộc khủng hoảng được sinh ra từ chính sự mất cân đối về cơ cấu của nền kinh tế Mỹ và thế giới dưới tác động của quá trình “Mỹ hoá”. Đó là lý do khiến nhiều chuyên gia phân tích cho rằng, Kế hoạch giải cứu 700 tỉ USD chỉ là “liều thuốc an thần”, chứ không cứu vãn được nền kinh tế Mỹ đang trên đà suy thoái. Bộ trưởng Tài chính Đức Xtây-brúc (Steinbrueck) cho rằng, đây là cuộc “khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từ nhiều thập kỷ nay”. Khủng hoảng tài chính - đồng USD mất dần vị trí thống soái Từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II đến nay, đồng USD đóng vai trò là đồng tiền duy nhất dùng chung ở các nước. Điều này đã tạo cho người Mỹ vị thế thuận lợi nhất trên thế giới. Nội tệ của nước Mỹ được các ngân hàng quốc gia trên thế giới đánh giá cao. Hầu hết các nước đều dự trữ đồng USD. Thanh toán quốc tế cũng được tính bằng USD. Sức mạnh của loại giấy bạc này cùng với sức mạnh của nền kinh tế Mỹ là nền tảng vững chắc củng cố quyền bá chủ toàn cầu của Mỹ trên chính trường cũng như trong nhiều lĩnh vực khác. Những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2002, thời thế đã có dấu hiệu thay đổi. Sức mạnh của đồng USD và của nền kinh tế Mỹ trên thế giới đang suy giảm. Trước năm 2002, 1 đồng euro đổi được 0,86 USD. Đến năm 2007, 1 euro đổi được 1,460 USD. Ngoài ra, so sánh với 6 đơn vị tiền tệ thương mại quan trọng khác, giá trị đồng USD đạt mức thấp nhất trong 35 năm trở lại đây (tính đến cuối năm 2007). Theo nghiên cứu của McKinsey Global, thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ tăng từ 5% lên 6%, rồi 9% GDP, tương đương với 1,6 nghìn tỉ USD đến năm 2012. Hệ quả là nợ nước ngoài của Mỹ sẽ lớn, chiếm tới 46% GDP. Theo công bố của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), Mỹ đang là con nợ lớn của các ngân hàng nước ngoài. Do chi phí lớn cho cuộc chiến tranh I-rắc và thiệt hại nặng nề do thiên tai, Bộ Tài chính Mỹ và các cơ quan chính phủ Mỹ đã phải bán ra một số lượng lớn trái phiếu kho bạc và cổ phiếu trên thị trường quốc tế. Chỉ trong tuần vừa qua, các ngân hàng Trung ương nước ngoài đã mua tới 6.599 triệu USD trái phiếu và cổ phiếu của Mỹ. Theo số liệu của FED, tổng số trái phiếu kho bạc và các cổ phiếu của Bộ Tài chính và các cơ quan chính phủ Mỹ nằm ở các ngân hàng Trung ương nước ngoài tính đến ngày 28-9-2008 đã lên tới 1.467 tỉ USD. Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chính sách và kinh tế tại Oa-sinh-tơn, ông Đin Bác-cơ nhận xét: “Ngành ngân hàng Mỹ đang trong giai đoạn khủng hoảng và sẽ có ít quốc gia đến Niu Oóc để làm ăn hơn trước đây. Trong thời gian tới, Mỹ sẽ khó có thể thúc đẩy hoạt động thương mại tự do như Mỹ từng ủng hộ trong hơn vài thập niên qua. Trong trường hợp xảy ra một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng ở nước ngoài, Mỹ cũng khó trở thành nước cho vay cuối cùng như đã từng làm trong cuộc khủng hoảng tiền tệ tại châu Á năm 1997-1998, bởi hiện Mỹ đang phải đối mặt rất nhiều khó khăn ở trong nước”. Tương tự, Quốc hội Mỹ cũng đang tính toán giảm bớt mức thâm hụt ngân sách quốc gia tăng vọt thông qua cắt giảm các chương trình truyền thống như trợ giúp nước ngoài - một công cụ được Oa-sinh-tơn sử dụng như một “đòn bẩy” ảnh hưởng đến cách thức ứng xử của các quốc gia bên ngoài Mỹ. Kết quả cuộc thăm dò do Trung tâm nghiên cứu PEW mới công bố cho thấy, có sự sụt giảm mạnh về tỷ lệ ủng hộ chính sách đối ngoại của Mỹ so với 4 năm trước đây. Theo đó, 45% số người được hỏi cho rằng, giảm bớt các cam kết quân sự của Mỹ ở nước ngoài là cần thiết đối với chính quyền mới (tăng 10% so với mức 35% trong năm 2004). Phát biểu tại diễn đàn phát triển Nga - Đức ở Xanh Pê-téc-bua, Tổng thống Nga Đ.Met-vê-đép nói: “Kỷ nguyên thống trị kinh tế toàn cầu của Mỹ đã chấm dứt và ngày nay thế giới cần một hệ thống tài chính mới công bằng hơn. Thời gian thống trị của một nền kinh tế và một đồng tiền đã lùi vào dĩ vãng. Chúng ta cần hợp tác để tiến tới xây dựng một hệ thống kinh tế - tài chính mới công bằng hơn trên thế giới dựa trên những nguyên tắc đa cực, luật pháp và có tính đến các lợi ích chung”. Khủng hoảng tài chính - thêm một yếu tố khẳng định cần một trật tự thế giới mới công bằng, dân chủ hơn Bộ trưởng Tài chính Đức Xtây-brúc cho rằng, thế giới hôm nay sẽ không còn giống thế giới trước cuộc khủng hoảng; Phố Uôn vốn là trung tâm của cuộc khủng hoảng cũng sẽ không còn như trước kia nữa; và Hoa kỳ đang mấtvị trí siêu cường duy nhất trong hệ thống tài chính thế giới. Trong hệ thống tài chính mới sắp tới, các ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương mại của châu Á, Trung Đông, và một phần ngân hàng châu Âu sẽ giữ một vai trò nhất định. Dư luận báo chí Đức cho rằng, hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính này ở Mỹ còn lớn hơn nhiều so với vụ tấn công tòa tháp đôi ở Mỹ ngày 11-9-2001, vì cuộc tấn công lần này không phải do các thế lực bên ngoài tiến hành, mà chính từ trong lòng nước Mỹ, từ sâu thẳm của hệ thống chính trị và tài chính Mỹ. Chủ nghĩa tư bản Mỹ không chịu sự kiểm soát của nhà nước, đã tự sản sinh ra những kẻ “đánh bom liều chết” vào chính hệ thống đó. Không chỉ riêng ở nước Mỹ mà cả thế giới đang đứng trước một “tầng trệt” là Phố Uôn. Trong lúc nền kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảnh tài chính, trên thế giới đang xuất hiện ngày càng nhiều các nền kinh tế đầy triển vọng, trong đó đáng lưu ý nhất là Trung Quốc, Ấn độ, Nga và Bra-xin. Trung Quốc chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển nhanh trong 2 thập niên tới và sẽ trở thành siêu cường về kinh tế theo cách riêng của mình. Trong khi đó, Đông Á đang trong qua trình phát triển thành một khối kinh tế và rất có thể sẽ hình thành khu vực mậu dịch tự do và một Quỹ tiền tệ châu Á. Khối kinh tế sau khi được hình thành có thể sẽ chiếm 1/5 nền kinh tế thế giới, 20% thương mại toàn cầu và có dự trữ tiền tệ 1.500 tỉ USD, vượt xa dự trữ ngoại tệ của Mỹ. Nhóm các nước Đông Á có thể sẽ là siêu cường thứ ba trên thế giới. Còn Nga, trong chiến lược phát triển đến năm 2020, Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép tuyên bố, sẽ xây dựng nước Nga thành một trong những trung tâm tài chính và kinh tế lớn của thế giới. EU với 25 thành viên có tổng sản lượng hàng hoá lớn hơn của Mỹ và trở thành khối thương mại lớn nhất thế giới. Đồng euro đã trở thành đồng tiền mạnh, có sức cạnh tranh “ngang ngửa” với đồng USD. Tuy hiện tại châu Âu chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra các quyết định và các vấn đề đối ngoại khác, nhưng chắc chắn rằng, cùng với thời gian họ sẽ làm được các việc đó. Những nền kinh tế mới nổi lên này xứng đáng trở thành các đối thủ cạnh tranh tầm cỡ thế giới trong nhiều lĩnh vực. Các đối thủ cạnh tranh mới này thể hiện họ là những thị trường hấp dẫn cho các hàng hoá xuất khẩu và các nguồn đầu tư của Mỹ. Họ còn là các nhà cung cấp sản phẩm chất lượng cao với giá rẻ. Khi tham gia vào nền kinh tế thế giới một cách thích hợp, các nền kinh tế này sẽ đạt được thành công, đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế thế giới. Các trung tâm và các nền kinh tế mới nổi lên có thể biến trật tự kinh tế đơn cực trong hơn nửa thế kỷ qua thành trật tự đa cực và thách thức vị thế của Mỹ. Trong tình thế đó, Mỹ sẽ phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ vững chắc với cả châu Âu và châu Á vừa để phát huy lợi thế của bản thân, vừa để củng cố vị trí của Mỹ như là một nhân tố không thể thiếu trong trật tự kinh tế thế giới đa phương mới. Trật tự kinh tế thế giới mới, trong đó vai trò và vị thế kinh tế siêu cường duy nhất của Mỹ ngày càng suy giảm, sẽ tác động mạnh mẽ tới quá trình hình thành trật tự thế giới mới đa cực, trong đó Mỹ không thể đơn phương hành động về chính trị và quân sự. Giới phân tích cảnh báo, cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay có thể sẽ đẩy nhanh quá trình suy giảm sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ ở nước ngoài. Theo giới phân tích, cùng với mức thâm hụt ngân sách lớn chưa từng có, đặc biệt với khoản chi 15 tỉ USD/tháng trong thời gian tới cho cuộc chiến tại I-rắc và Áp-ga-ni-xtan, cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay sẽ ảnh hưởng lớn đến sức mạnh của Mỹ, kể cả sức mạnh “cứng” và sức mạnh “mềm”. Không phải ngẫu nhiên khi cách đây 2 tuần, Phó giám đốc Cục Tình báo quốc gia Mỹ Thô-mát Phinh-gơ đã cảnh báo, Oa-sinh-tơn tuy sẽ vẫn tạm thời duy trì vị thế cường quốc số một đến năm 2025, nhưng sự thống trị của Mỹ sẽ suy giảm mạnh. Sự sụt giảm này thể hiện trên mọi khía cạnh từ chính trị, kinh tế và văn hoá. Nhiều chuyên gia phân tích cho rằng, nếu cách đây gần 20 năm, khi Liên Xô sụp đổ, người ta cho rằng nước Mỹ không có đối thủ, nước Mỹ sẽ giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”, nước Mỹ “sẽ kiểm soát thế giới”, thì lúc này lại là thời điểm thích hợp nhất để các đối thủ của Mỹ làm điều đó, bởi Oa-sinh-tơn đang trong tình trạng dễ bị tổn thương nhất. Tuy nhiên, không ai có ý định làm điều đó với Mỹ, bởi thế giới hôm nay là một chỉnh thể của các quốc gia sống tùy thuộc vào nhau. An ninh của từng quốc gia cũng là an ninh chung của toàn thế giới và của mọi quốc gia. Đó là tư duy mới về một trật tự thế giới mà cựu Tổng thống Nga V.Pu-tin đã từng tuyên bố trong bài phát biểu gây nhiều ấn tượng của ông tại Hội nghị an ninh quốc tế ở Mu-nich hồi tháng 5-2007. Như vậy, cùng với cuộc xung đột giữa một bên là Gru-di-a được Mỹ hậu thuẫn tích cực và bên kia là Nga đã lấy lại được vị thế cường quốc với kết cục là Gru-di-a phải gánh chịu thất bại, cuộc khủng hoảnh tài chính hiện nay ở Mỹ đã góp thêm một tiếng nói có trọng lượng để khẳng định rằng, trật tự thế giới đơn cực đang đặt dấu chấm hết, và một trật tự thế giới mới công bằng, dân chủ, bình đẳng hơn, trong đó, các quốc gia sẽ có được tiếng nói của mình và có quyền hưởng lợi ích chính đáng của mình, đang hình thành./.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 07:33:59 pm » |
|
CẠNH TRANH VÀ XUNG ĐỘT ĐỊA - CHÍNH TRỊ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI SAU CHIẾN TRANH LẠNH Cách đây vừa tròn 20 năm, vào đêm ngày 9, rạng sáng ngày 10-11-1989, bức tường Béc-lin sụp đổ, biểu tượng chấm dứt kỷ nguyên Chiến tranh lạnh với nội dung chủ yếu là cuộc đối đầu giữa hai hệ thống chính trị quốc tế và mở ra một kỷ nguyên mới. Nhưng kỷ nguyên mới này sẽ ra sao là chủ đề được giới nghiên cứu chính trị quốc tế đặc biệt quan tâm. Những sự kiện “kinh thiên động địa” trong hơn một thập niên qua chứng tỏ loài người đang trải qua kỷ nguyên cạnh tranh và xung đột mới, tuy bề ngoài không quyết liệt như kỷ nguyên đối đầu thời Chiến tranh lạnh, nhưng không vì thế mà ít nguy cơ và bớt cam go hơn trước. Bài viết này đề cập đến một trong hai cuộc cạnh tranh và xung đột lớn nhất trong kỷ nguyên mới: đó là cạnh tranh và xung đột địa - chính trị. Kết thúc Chiến tranh lạnh, mở đầu kỷ nguyên “hòa bình nóng” Theo lối tư duy thông thường, đã nói tới “chiến tranh”, thì kết cục dĩ nhiên phải có bên thắng, bên thua và vì thế Chiến tranh lạnh cũng không là ngoại lệ. Theo lối tư duy này, Mỹ và phương Tây đã giành “chiến thắng”còn Liên Xô trước đây là bên “chiến bại” trong cuộc chiến đó và nước Nga ngày nay “được” kế thừa di sản đó. Đồng thời, Mỹ và phương Tây cho rằng “chiến thắng” của họ trong Chiến tranh lạnh chứng tỏ “các giá trị” và “mô hình phát triển” của Mỹ và phương Tây tỏ ra “có ưu thế tuyệt đối”, từ đó họ bắt đầu cuộc “thập tự chinh” nhằm phát triển “các giá trị” và “mô hình phát triển” ấy ra khắp thế giới bằng tất cả các biện pháp, kể cả sử dụng sức mạnh quân sự. Tình hình đó đã châm ngòi bùng phát hàng loạt cuộc chiến tranh và xung đột mới sau Chiến tranh lạnh, hình thành nên kỷ nguyên “hòa bình nóng”. Thắng lợi quá dễ dàng trong hai cuộc chiến tranh Vùng Vịnh Péc-xích (1990 - 1991) và Cô-xô-vô (1999) càng củng cố niềm tin của một số giới lãnh đạo chính trị - quân sự ở Mỹ vào sức mạnh quân sự “không có đối thủ” của họ. Niềm tin đó được phản ánh trong Học thuyết Clin-tơn đưa ra sau khi Liên Xô sụp đổ và được dùng làm “cơ sở luận chứng” để Mỹ thiết lập trật tự thế giới đơn cực sau Chiến tranh lạnh, trong đó có hai nội dung quan trọng liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ. Một là, không một quốc gia nào trên thế giới có quyền sử dụng sức mạnh trong các cuộc xung đột nội bộ hoặc các cuộc xung đột khu vực nếu không được sự chấp nhận của Mỹ. Hai là, nếu quốc gia nào không được phép của Oa-sinh-tơn mà vẫn “ngoan cố” sử dụng sức mạnh quân sự để dàn xếp các cuộc xung đột nội bộ hoặc khu vực thì Mỹ có quyền can thiệp để ngăn chặn hoặc dập tắt “thảm họa nhân đạo”. Từ đó, Mỹ chủ trương “can thiệp nhân đạo” dựa trên quan niệm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”. Điều này có nghĩa là, Mỹ có khả năng và có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác trong trường hợp các nước đó sử dụng sức mạnh quân sự đe dọa đến lợi ích của Mỹ. Sau Tổng thống B.Clin-tơn, Tổng thống G.W.Bu-sơ còn đi xa hơn nữa với chủ trương sẵn sàng đơn phương sử dụng sức mạnh quân sự khi thấy cần thiết mà không cần được phép của Liên hợp quốc. Để thực hiện học thuyết này, Bộ trưởng Quốc phòng Đô-nan Răm-xphen đã “phát minh” ra một công thức chiến tranh nổi tiếng mang tên “Công thức 10-30-30”, theo đó, sau khi Oa-sinh-tơn đưa ra quyết định chính trị sử dụng sức mạnh quân sự, các lực lượng vũ trang Mỹ trong vòng 10 ngày có thể chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao và được điều động tới bất kỳ khu vực nào trên thế giới. Trong vòng 30 ngày sau đó, các lực lượng vũ trang Mỹ cần phải đánh bại đối phương, phá hủy tiềm lực của họ đến mức không thể phục hồi khả năng chống trả lại Mỹ. Trong vòng 30 ngày tiếp theo, quân đội Mỹ được tổ chức lại, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ chiến lược mới và triển khai tới một khu vực khác trên thế giới. Theo “Công thức 10-30-30”, chỉ cần 2 tháng và 10 ngày để tiến hành một cuộc chiến tranh, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ có khả năng tiến hành ít nhất 5 cuộc chiến tranh trong 1 năm (!). Chính Bộ trưởng Quốc phòng Đ. Răm-xphen đã gạt phăng ý kiến của các mưu sĩ trước khi khởi chiến ở Áp-ga-ni-xtan rằng, Mỹ nên tăng thêm quân để giải quyết dứt điểm “câu chuyện Ta-li-ban”, bởi ngần ấy quân là đủ để hóa giải nguy cơ! Cuộc chiến tranh Áp-ga-ni-xtan và chiến tranh I-rắc với khẩu hiệu “xúc tiến dân chủ” bùng phát đưa thế giới tới một kỷ nguyên mới không phải là hòa bình như nhiều người mong đợi sau Chiến tranh lạnh, mà là kỷ nguyên đơn phương dùng sức mạnh quân sự để áp đặt “các giá trị” và “mô hình phát triển” trên khắp thế giới. Thực chất, đằng sau khẩu hiệu đó là những động thái cảnh báo về kỷ nguyên cạnh tranh và xung đột mới về địa - chính trị và mô hình phát triển, nhìn bề ngoài không quyết liệt như kỷ nguyên đối đầu thời Chiến tranh lạnh, nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ hơn có thể dẫn đến chiến tranh. Cuộc chiến tranh năm ngày ở Nam Ô-xê-ti-a (tháng 8-2008) đã bộc lộ tất cả những gì lâu nay ẩn giấu dưới những khẩu hiệu “đối tác”, “định ước”, “cùng hợp tác trong cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố”, “chiến tranh lạnh đã chấm dứt”, “NATO và Nga không còn là kẻ thù của nhau” v.v.. Cuộc chiến năm ngày còn chứng tỏ, đối với Mỹ và NATO, Chiến tranh lạnh chưa bao giờ kết thúc mà chỉ thay hình đổi dạng sang hình thức khác khó nhận biết hơn trong một thế giới không còn đối đầu ý thức hệ giữa hai hệ thống chính trị quốc tế. Kỷ nguyên cạnh tranh và xung đột về địa - chính trị Trên bản đồ thế giới, có thể dễ dàng nhận thấy các khu vực, nơi đang diễn ra cạnh tranh và xung đột địa - chính trị giữa các nước lớn, ngày một nhiều thêm và không ngừng mở rộng về phạm vi và gia tăng mức độ căng thẳng. Đó là các khu vực Trung Đông (tâm điểm là I-rắc và I-ran), Trung Á (tâm điểm là Áp-ga-ni-xtan và các nước cộng hòa Xô-viết trước đây), Ban-căng (tâm điểm là Cô-xô-vô), biển Ca-xpi (tâm điểm là Gru-di-a), Bắc Cực, châu Phi, Đông Bắc Á, Đông Nam Á v.v.. Trong đó, “nóng” nhất vẫn là các khu vực Trung Đông, Ban-căng, Trung Á, biển Ca-xpi, châu Phi và Bắc Cực. Cạnh tranh và xung đột địa - chính trị thể hiện trong hai cuộc chiến tranh ở Vùng Vịnh. Chiến tranh Vùng Vịnh (1991) và chiến tranh I-rắc (2003) thực chất là hai cuộc chiến tranh xuất phát từ những toan tính về địa - chính trị. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, mượn cớ chống Liên Xô - đối thủ mạnh nhất có ảnh hưởng toàn cầu, Oa-sinh-tơn đã tập hợp được các lực lượng ở phương Tây và Nhật Bản dưới ô bảo trợ của Mỹ, hình thành một cực làm đối trọng với Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa. Sau khi Liên Xô sụp đổ, xuất hiện các mầm mống ly khai khỏi quỹ đạo của Mỹ ngay trong các đồng minh của Mỹ ở châu Âu và Nhật Bản. Trước tình hình đó, Mỹ cần tạo dựng đối thủ mới, dùng ô sức mạnh quân sự để tập hợp lực lượng xung quanh mình và Oa-sinh-tơn đã chọn I-rắc làm đối tượng. Bằng cuộc chiến tranh Vùng Vịnh, Mỹ đã tập hợp được một liên minh rộng rãi để thể hiện vai trò siêu cường duy nhất trong trật tự thế giới đơn cực sau Chiến tranh lạnh. Năm 2003, mượn cớ “chống khủng bố”, “ngăn chặn vũ khí sát thương hàng loạt” và “đem dân chủ đến cho I-rắc”, Oa-sinh-tơn phát động cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ hai để hiện diện và phát huy ảnh hưởng tại một khu vực có vị trí địa - chính trị quan trọng sống còn ở Trung Đông trong chiến lược toàn cầu của Mỹ thế kỷ XXI. Phát huy ảnh hưởng ở Vùng Vịnh, Mỹ có thể dùng dầu mỏ làm công cụ để duy trì quyền kiểm soát đối với các nền kinh tế cạnh tranh với Mỹ như Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Âu, Nga và các nước khác. Như vậy, xét về bản chất sâu xa, cả hai cuộc chiến tranh Vùng Vịnh là sự cạnh tranh và xung đột địa - chính trị giữa Mỹ với các quốc gia đã từng là đối thủ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh và với cả các đồng minh của Mỹ. Cạnh tranh và xung đột địa - chính trị ở Ban-căng. Cộng hòa Xéc-bi-a nằm trong vành đai “động đất địa - chính trị” những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, kéo dài từ Ban-căng, qua vùng Cáp-ca-dơ thuộc Nga, đến Trung Á, Pa-ki-xtan, Ấn Độ và Trung Quốc. Mỹ từ lâu đã có tham vọng thiết lập “hành lang an toàn” trong vành đai này. Xéc-bi-a là điểm khởi đầu vành đai quan trọng đó. Ngoài ra, sau khi Liên Xô sụp đổ, khối quân sự Vác-sa-va tan rã, NATO - công cụ chiến lược toàn cầu của Mỹ - không còn lý do để tồn tại, nên Mỹ đã chọn Xéc-bi-a để tập hợp lực lượng, lôi kéo các nước trong khối NATO gây chiến tranh, để ngay sau đó tuyên bố Định hướng chiến lược mới của Khối liên minh Bắc Đại Tây Dương trong dịp kỷ niệm 50 năm thành lập khối này ở Oa-sinh-tơn vào tháng 5-1999. Phát động chiến tranh Cô-xô-vô, tạo lập ảnh hưởng ở Xéc-bi-a, Mỹ tạo dựng bàn đạp để tiến sang Bắc Cáp-ca-dơ và Trung Á, nơi có nguồn dầu mỏ lớn thứ hai thế giới ở vùng biển Ca-xpi. Chính vì thế, Mỹ đã tìm mọi cách gạt bỏ ảnh hưởng của Nga ra khỏi cuộc chiến tranh ở Cô-xô-vô cũng như trong quá trình dàn xếp tình hình chính trị ở Xéc-bi-a sau khi chiến tranh kết thúc. Cạnh tranh và xung đột địa - chính trị ở Áp-ga-ni-xtan. Năm 2001, phát động “cuộc chiến tranh toàn cầu chống khủng bố” khởi đầu ở Áp-ga-ni-xtan và xây dựng một chính phủ thân Mỹ tại đây, Oa-sinh-tơn theo đuổi tham vọng đánh chiếm bàn đạp để chi phối vùng Trung Á, một khu vực địa - chính trị có ý nghĩa chiến lược quan trọng, nơi có nguồn dầu mỏ lớn của thế giới và được coi là “bàn cờ lớn” trong thế kỷ XXI. Ngoài ra, đứng chân ở Áp-ga-ni-xtan để chi phối Trung Á, “lót chỗ” trong “sân sau” của Trung Quốc, Mỹ còn theo đuổi tham vọng làm chủ Ấn Độ Dương, khống chế I-ran, mở đường tiến tới biên giới Nga, gạt bỏ ảnh hưởng của hai cường quốc hạt nhân là Pa-ki-xtan và Ấn Độ ở khu vực này. Cạnh tranh và xung đột địa - chính trị ở I-ran. Trong quan hệ với Tê-hê-ran, đang diễn ra cuộc cạnh tranh địa - chính trị giữa các nước lớn gồm Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và các nước khác. Đối với Mỹ, ngăn chặn nguy cơ hạt nhân của I-ran nằm trong chiến lược dài hạn của họ nhằm ba mục đích chủ yếu. Một là, khống chế nguồn dầu mỏ và khí đốt khổng lồ của I-ran. Hai là, thông qua I-ran để kiểm soát tuyến đường biển quan trọng ở Tây Á đi qua eo biển Héc-mút, “huyết mạch” của hoạt động vận chuyển dầu mỏ của thế giới. Ba là, “dân chủ hóa” I-ran theo mô hình của phương Tây vừa nhằm loại bỏ mối đe dọa hạt nhân, vừa làm suy yếu thế giới Hồi giáo để thực hiện chiến lược “dân chủ hóa” ở toàn bộ khu vực “Trung Đông mở rộng”. Đối với Mỹ, mối đe dọa từ phía Tê-hê-ran không chỉ là chương trình hạt nhân mà là quốc gia I-ran Hồi giáo mạnh “đe dọa” ảnh hưởng và vai trò của Mỹ ở “Trung Đông mở rộng”. Vì thế, ngay khi vấn đề hạt nhân I-ran được giải quyết, vẫn chưa thể hóa giải được những mâu thuẫn sâu xa giữa Mỹ và I-ran. Đối với Nga, I-ran được Mát-xcơ-va coi là quốc gia then chốt để phát triển ảnh hưởng ở Trung Đông và hạn chế ảnh hưởng của các nước khác ở khu vực này. Nga có quan hệ hợp tác kinh tế và kỹ thuật quân sự đặc biệt với I-ran. Hai bên đã ký kết nhiều hiệp định quan trọng, góp phần gia tăng đáng kể tiềm lực quân sự của I-ran, trong đó Nga đã cung cấp cho I-ran các loại vũ khí hiện đại. I-ran đã soạn thảo chương trình hiện đại hóa quân đội trong vòng 25 năm chủ yếu dựa vào vũ khí của Nga. Đã từ lâu, Nga tìm cách dàn xếp cuộc tranh chấp hạt nhân với những đề nghị thỏa hiệp như đề nghị nhận lại những thanh nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng về Nga và cùng với I-ran làm giàu urani trên đất Nga. Công trình xây dựng nhà máy điện nguyên tử trị giá gần 1 tỉ USD ở Bu-se-ra (Busherh) của I-ran là dự án nước ngoài đầu tiên sau khi Liên Xô sụp đổ đã góp phần giúp cho ngành hạt nhân của Nga sống sót. Đối với Trung Quốc, họ đang nỗ lực thắt chặt quan hệ với I-ran để phát huy ảnh hưởng chính trị tại khu vực có ý nghĩa chiến lược này. I-ran là nguồn cung cấp dầu mỏ và khí đốt chủ chốt phục vụ mục tiêu phát triển và hiện đại hóa nền kinh tế Trung Quốc vốn đang phụ thuộc nặng nề vào nguồn dầu mỏ nhập khẩu. Ngoài lĩnh vực năng lượng, hiện có hơn 100 công ty của Trung Quốc đang làm ăn tại I-ran trong các lĩnh vực đóng tàu, sản xuất thép, xây dựng cảng biển và sân bay. Trung Quốc là nước có thể giúp I-ran hiện đại hóa ngành công nghiệp dầu mỏ và phát triển nền kinh tế với kỹ thuật công nghiệp, vốn, dịch vụ kỹ thuật và công nghệ hạt nhân. Trung Quốc coi I-ran là đối tác địa - chính trị để hạn chế ảnh hưởng của Mỹ tại Trung Đông. Cùng với Nga, Trung Quốc phát triển Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) nhằm hạn chế sự hiện diện của Mỹ tại khu vực Trung Á. I-ran đã được mời tham gia SCO với tư cách quan sát viên.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 07:34:27 pm » |
|
Cạnh tranh và xung đột địa - chính trị ở khu vực Nam Cáp-ca-dơ. Trong cuộc cạnh tranh và xung đột địa - chính trị hiện nay giữa Mỹ, NATO và Nga ở Nam Cáp-ca-dơ, Gru-di-a được đánh giá là có vai trò then chốt. Không phải ngẫu nhiên cuộc chiến tranh năm ngày lại bùng phát ở Nam Ô-xê-ti-a, vùng đất tranh giành ảnh hưởng lâu nay giữa Nga với Gru-di-a, mà thực chất là giữa Nga với Mỹ và NATO. Cuộc chiến tranh này là dấu mốc quan trọng trong chiến lược của Mỹ và NATO nhằm kiềm chế và thu hẹp “không gian ảnh hưởng” của Nga. Gru-di-a, cùng với U-crai-na là hai trong số những “điểm nóng” trên ván cờ địa - chính trị trong thế kỷ XXI giữa Nga với Mỹ và NATO. Nếu U-crai-na là khâu then chốt trong chiến lược của Mỹ và NATO nhằm loại trừ ảnh hưởng của Nga ra khỏi châu Âu, thì Gru-di-a đóng vai trò quyết định cuối cùng trong vấn đề ai sẽ giành được quyền kiểm soát vùng biển Ca-xpi, khu vực có trữ lượng tài nguyên chiến lược lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Trung Đông.
Cạnh tranh và xung đột địa - chính trị ở châu Phi. Nguyên nhân sâu xa khiến Mỹ và các quốc gia phát triển nhất thế giới ngày càng đặc biệt quan tâm đến châu Phi là do sức hút tài nguyên thiên nhiên của châu lục nghèo nhất thế giới này. Theo dự báo của Bộ Năng lượng Mỹ, vào năm 2010, thị phần xuất khẩu dầu mỏ của châu Phi trên thế giới có thể tăng đến mức 28% - 30%. Vì thế, trong thời gian gần đây, châu Phi rơi vào tâm điểm cạnh tranh địa - chính trị giữa các nước Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và một số quốc gia khác, trong đó, Mỹ thể hiện rất rõ vai trò và ý định trong việc đứng ra “phân vai” cho các quốc gia khác trong cuộc chinh phục và kiểm soát “lục địa Đen”.
Bề ngoài, Mỹ tuyên bố chính sách của họ nhằm góp phần “giảm căng thẳng xung đột chính trị - quân sự” và giải quyết “các vấn đề mang tính nhân đạo” đang đặt ra trước châu Phi, như “chống tham nhũng và bệnh tật” và “ngăn chặn sự bùng nổ tệ phân biệt chủng tộc” v.v.. nhưng mục đích của họ là nhằm kiểm soát nguồn tài nguyên dầu mỏ của châu lục này. Trong tương lai, 30% tổng số dầu mỏ nhập khẩu của Mỹ là từ châu Phi. Hiện tại, Mỹ chiếm từ 67% đến 75% tổng khối lượng đầu tư ngày càng lớn của các nước vào hoạt động thăm dò và khai thác dầu mỏ ở châu lục này. Nhận thức được các mối đe dọa tiềm tàng ở châu Phi, từ năm 2002, Mỹ triển khai xây dựng một căn cứ hải quân ở Xao Tô-mê và Prin-xi-pê. Năm 2008, Mỹ thành lập Bộ Tư lệnh châu Phi nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác với các nước châu Phi. Năm 2009, tiếp theo chuyến thăm của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma tới Ga-na, Ngoại trưởng Hi-la-ry Clin-tơn đã có chuyến thăm châu Phi nhằm tiếp tục thực hiện chiến lược gây ảnh hưởng ở châu lục này.
Trung Quốc bắt đầu quan tâm tới châu Phi từ những năm 50 thế kỷ XX, chủ yếu xuất phát từ các mục đích chính trị. Khi bắt đầu chính sách mở cửa, Trung Quốc đã từng đưa ra khái niệm “mở rộng không gian sinh tồn” hoặc “cuộc tranh giành biên giới mềm” trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa như một cơn lốc ào ạt thổi tràn qua các châu lục. Với tinh thần đó, Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc - châu Phi diễn ra hồi tháng 11-2006 ở Bắc Kinh (Trung Quốc) trở thành một sự kiện quan trọng chứng tỏ Trung Quốc không chỉ đang “mở rộng không gian sinh tồn” mà còn “mở rộng không gian phát triển” sang “lục địa Đen”. Đến năm 2010, Trung Quốc sẽ trở thành lực lượng kinh tế thương mại chiếm ưu thế ở châu Phi và sẽ là đối tác thương mại chủ yếu của các nền kinh tế lớn nhất ở khu vực này như Ai Cập, Xu-đăng, Ni-giê-ri-a và Ăng-gô-la, sẽ đẩy lùi các đối tác truyền thống như Mỹ, Anh và Pháp ra khỏi “lục địa Đen”.
Nga tuy là quốc gia có diện tích lãnh thổ lớn nhất thế giới, ẩn chứa trong đó gần như tất cả các loại tài nguyên thiên nhiên trên trái đất, nhưng, gần đây Nga nhận ra rằng, tài nguyên thiên nhiên trong nước không chỉ có hạn mà còn là thứ “vũ khí” trong cuộc tranh giành ảnh hưởng địa - chính trị trên thế giới. Nếu nước Nga muốn có một vị thế chính trị và kinh tế tương xứng với tầm vóc ảnh hưởng của họ trên toàn cầu, thì không thể yên vị say sưa với “câu chuyện cổ tích” xuất khẩu tài nguyên mà lãng quên chuyện “cạnh tranh lành mạnh” với các nước trong việc khai thác tài nguyên ở các khu vực khác trên thế giới. Vì thế, trong Chiến lược an ninh quốc gia mới đến năm 2020 và trong chính sách đối ngoại, Nga bắt đầu chú ý đến chuyện bảo vệ lợi ích quốc gia bên ngoài lãnh thổ của mình, trong đó có châu Phi. Chuyến thăm châu Phi của Tổng thống Đ.Mét-vê-đép vừa qua được giới phân tích ở Nga đánh giá là “tuy chậm nhưng tốt”.
Ấn Độ hiện nhập khẩu 20% dầu mỏ từ châu Phi, 70% từ Trung Đông. Thực hiện “đường lối ngoại giao dầu mỏ”, Ấn Độ đặc biệt tích cực hoạt động ở Đông Phi, nơi sự hiện diện của Mỹ và Trung Quốc vẫn còn thưa vắng. Cách làm của Ấn Độ ở châu Phi là khuyến khích quan hệ đối tác cân bằng với các nhà cung ứng châu Phi, không để các nước ở châu lục này như là các đối tác chỉ có sức quyến rũ từ tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, các công ty của Ấn Độ tăng cường vốn đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế ở Đông Phi như Tan-da-ni-a, Dăm-bi-a, Cốt Đi-voa, Mô-ri-xơ, Ni-giê-ri-a và Ma-đa-ga-xca. Ấn Độ không chỉ là nước nhập khẩu nguyên liệu từ châu Phi, mà còn là nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu. Sự gần gũi về ngôn ngữ và văn hóa với các nước Đông Phi nói tiếng Anh đã tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ hợp tác song phương đó. Dự án hợp tác kỹ thuật năm 2004 liên kết Ấn Độ với 8 nước Tây Phi là Ga-na, Buốc-ki-na Pha-xô, Sát, Cốt Đi-voa, Ghi-nê Xích đạo, Ghi-nê Bít-xao, Ma-li và Xê-nê-gan. Trong khuôn khổ dự án này, Ấn Độ cam kết ủng hộ các đối tác nửa tỉ USD dưới hình thức tín dụng, viện trợ và chuyển giao công nghệ.
Cạnh tranh và xung đột địa - chính trị ở Bắc Cực. Đây là một khu vực đặc biệt của trái đất, bao gồm các vùng phía bắc lục địa Á - Âu, Bắc Mỹ và gần như toàn bộ khu vực Bắc Băng Dương với tổng diện tích vào khoảng 27 triệu km2, gần gấp 3 lần diện tích châu Âu. Theo kết quả nghiên cứu thăm dò của Cục Địa lý và Khí tượng của Mỹ, Bắc Cực chứa tới 1/4 tiềm năng dầu mỏ và khí đốt của thế giới. Ngoài ra, Bắc Cực còn có nguồn dự trữ cá lớn hàng đầu thế giới, có các tuyến giao thông đường biển đóng vai trò cực kỳ quan trọng với khả năng vận tải xuyên quốc gia.
Với tài nguyên và vị trí địa - chiến lược quan trọng của Bắc Cực, khu vực chưa được khai phá này của trái đất đang thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trong bối cảnh quá trình ấm lên toàn cầu diễn ra nhanh chóng trong những thập niên gần đây đang thu hẹp dần lớp băng đã từng được coi là “vĩnh hằng” tại đây, tạo điều kiện thuận lợi hơn để có thể khai thác Bắc Cực vào mục đích thương mại. Hiện nay, Nga đang nỗ lực chứng minh chủ quyền của họ đối với phần lãnh thổ mà trước đây Mát-xcơ-va đã từng tuyên bố chính thức là thuộc quyền sở hữu của họ. Trong những năm 20 thế kỷ XX, Liên Xô, Na Uy, Đan Mạch, Mỹ và Ca-na-đa đã từng coi một số vùng mặt nước và đảo trong khu vực Bắc Cực là một phần lãnh thổ của họ. Nga đã từng tuyên bố chủ quyền đối với một khu vực lớn nhất được tạo bởi Chu-khốt-ca, Bắc Cực và bán đảo Côn-xki. Trên các bản đồ tự nhiên của Liên Xô, khu vực này đã từng được coi là một phần lãnh thổ của Liên Xô.
Hiện tại, Nga là quốc gia đầu tiên chủ động tham gia quá trình cạnh tranh địa - chính trị ở Bắc Cực trước sự chống đối mạnh mẽ từ phía các quốc gia khác cũng đang rất quan tâm đến khu vực này. Nhiều nước có tham vọng tranh giành Bắc Cực đã bắt đầu hành động. Mỹ đã có ý định đầu tư 8,7 tỉ USD để sửa chữa và hiện đại hóa các tàu phá băng ven bờ. Oa-sinh-tơn đang chuẩn bị phê chuẩn Công ước biển của Liên hợp quốc để có được quyền phát ngôn trong việc giải quyết các vấn đề về thềm lục địa. Ca-na-đa đang đầu tư những khoản tiền lớn để chế tạo tàu tuần tra ở Bắc Cực và bắt đầu bàn đến việc lắp vũ khí pháo binh lên các tàu phá băng hiện có. Tuy nhiên, các tàu của Mỹ và Ca-na-đa chưa thể cạnh tranh được với hạm đội của Nga ở Biển Bắc. Na Uy tuy chưa có hạm đội tàu phá băng, nhưng lại có nhiều kinh nghiệm trong việc khai thác các mỏ dầu và khí đốt ở thềm lục địa ở Biển Bắc. Họ cũng không có vị thế mạnh về địa - chính trị trên thế giới mà chỉ hạn chế ở khả năng tranh giành lợi ích của họ ở khu vực này. Đan Mạch cũng không dễ dàng gì trong việc tuyên bố chủ quyền của họ dựa trên các luận chứng về kinh tế và sự hiện diện về quân sự. Rõ ràng, cuộc cạnh tranh và xung đột địa - chính trị ở Bắc Cực sẽ ngày càng quyết liệt. Thắng lợi cuối cùng sẽ được quyết định không chỉ bởi ý chí chính trị mà còn bởi sự hiện diện về kinh tế - quân sự, bởi khả năng đầu tư và công nghệ để có thể khai thác một cách đầy đủ tài nguyên tại khu vực này. Nhiều chuyên gia phân tích chính trị quốc tế đã từng dự báo, Bắc Cực có thể sẽ là chiến trường của một cuộc chiến tranh lớn trong thế kỷ XXI.
Như vậy, Chiến tranh lạnh kết thúc chấm dứt kỷ nguyên xung đột ý thức hệ nhưng lại mở đầu một kỷ nguyên cạnh tranh và xung đột mới về địa - chính trị âm thầm nhưng quyết liệt. Nhiều chuyên gia phân tích chính trị quốc tế đã nói đến khả năng thế giới đương đại quay trở lại tình hình xung đột địa - chính trị từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã từng dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918). Tuy nhiên, trong kỷ nguyên cạnh tranh và xung đột địa - chính trị trong thế kỷ XXI có thêm yếu tố hoàn toàn mới là quá trình toàn cầu hóa đang gắn kết tất cả các quốc gia. Vì thế, kỷ nguyên cạnh tranh và xung đột địa - chính trị ẩn chứa nhiều yếu tố bất định, khó lường./.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 07:35:37 pm » |
|
NHỮNG “BỨC TƯỜNG” MỚI MỌC LÊN SAU KHI BỨC TƯỜNG BÉC-LIN SỤP ĐỔ Kể từ khi Bức tường Béc-lin sụp đổ, sự cạnh tranh và xung đột mới về địa - chính trị, xung đột sắc tộc - tôn giáo và mâu thuẫn do khoảng cách giàu - nghèo ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới ngày càng gia tăng. Những “bức tường” mới mọc lên trong 20 năm qua khó có thể được dỡ bỏ trong một sớm một chiều, thậm chí có thể phải cần tới hàng thế kỷ. Là biểu tượng của “chiến tranh lạnh”, sự kiện Bức tường Béc-linh sụp đổ ngày 9-11-1989 được coi là dấu mốc kết thúc sự đối đầu giữa hai hệ thống chính trị thế giới và giữa hai khối quân sự lớn nhất hành tinh - khối NATO và khối Vác-xa-va, đồng thời mở đầu cho những thay đổi không chỉ ở Đức mà cả châu Âu. Ban đầu, dư luận cho rằng, từ đây không còn phân tuyến chia cắt châu Âu, nhưng trên thực tế đã không diễn ra như vậy. Sau khi Bức tường Béc-linh sụp đổ, Liên minh quân sự của Hiệp ước Vác-xa-va giải thể nhưng Tổ chức Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) vẫn tồn tại. Cựu Tổng thống Mỹ G.Bu-sơ (cha) hứa với cựu Tổng thống Liên Xô M. Goóc-ba-chốp rằng, “NATO sẽ không tiến về phía Đông dù chỉ là một mét”! Nhưng lời hứa đó “không cánh mà bay”. Theo chủ trương chiến lược từ Oa-sinh-tơn, các nước trước đây đã từng là thành viên khối Vác-xa-va được kết nạp vào NATO, trong đó có các nước cộng hoà thuộc Liên Xô trước đây như Lít-va, Lát-vi-a và E-xtô-ni-a. Giờ đây, cả U-crai-na và Gru-di-a đang “xếp hàng” để đến lượt được kết nạp vào NATO. Mỹ chủ trương dựng lên một “bức tường” khác nhằm chia cắt châu Âu. Chủ trương đó đã dẫn tới hai nhóm mâu thuẫn: Một là, mâu thuẫn giữa các nước “châu Âu cũ” gồm Đức, Pháp, Tây Ban Nha, I-ta-li-a, v.v. đang có xu hướng “ly khai” khỏi quỹ đạo của Mỹ, với các nước trong khối “châu Âu mới” gồm các nước Đông Âu vừa mới gia nhập NATO như Ba Lan và Cộng hoà Séc, v.v. có xu hướng gắn bó ngày càng chặt chẽ với Mỹ. Trong khi các nước “châu Âu cũ” từng phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở I-rắc, thì các nước “châu Âu mới” nhiệt tình ủng hộ cuộc chiến này. Hai là, mâu thuẫn giữa các nước “châu Âu cũ” và “châu Âu mới” với Nga. Trong đó, các nước “châu Âu mới” một thời đã từng là đồng minh của Nga thì nay mâu thuẫn gay gắt hơn nhiều so với mâu thuẫn giữa các nước “châu Âu cũ” với Nga. Để hiểu được “điều kỳ lạ” này, phải nhớ lại tuyên bố “nổi tiếng” của cựu Tổng thống G.W. Bu-sơ rằng, châu Âu bị chia rẽ sẽ dễ “cai quản” hơn một châu Âu thống nhất, hơn thế, lại là một châu Âu có Nga gia nhập. Vì thế, kế hoạch xây dựng hệ thống lá chắn tên lửa đạn đạo do cựu Tổng thống G.W.Bu-sơ đề xướng bố trí trên lãnh thổ hai nước Ba Lan và Cộng hòa Séc thuộc khối “châu Âu mới” mà không cần tham khảo ý kiến của các đồng minh trong “châu Âu cũ”, được ví như “cái gai” không chỉ nhằm chia rẽ hai khối đồng minh của Mỹ ở châu Âu, mà còn khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa các nước “châu Âu mới” với Nga. Việc Oa-sinh-tơn lập luận rằng, lá chắn tên lửa ở Đông Âu nhằm đối phó với nguy cơ tiến công bằng tên lửa tầm xa từ phía I-ran, theo giới phân tích, chỉ là sự ngụy biện, còn thực chất là dùng cái “ô an ninh” như thời “chiến tranh lạnh” để tập hợp các nước “châu Âu mới” trong vòng ảnh hưởng của Mỹ. Trong bối cảnh đó, ở châu Âu còn hình thành một “bức tường” mới, gọi là “bức tường Shen-gen” (thực chất là Hiệp ước Shen-gen), theo đó, các công dân thuộc các nước Ba Lan, Cộng hòa Séc, Hung-ga-ri, các nước vùng Ban-tích được quyền tự do đi lại trên lãnh thổ các nước châu Âu, còn công dân các nước Nga và U-crai-na không có được quyền đó. Để có thể xuất nhập cảnh vào các nước châu Âu, công dân Nga và U-crai-na cần phải xin phép để được cấp thị thực nhập cảnh mà người ta gọi là “visa Shen-gen”. Như vậy, sau 20 năm Bức tường Béc-linh sụp đổ, ở châu Âu đang tồn tại những “bức tường” ngăn cách khác, khiến người ta có cảm nhận rằng, “chiến tranh lạnh” chưa bao giờ kết thúc đối với nước Nga. Đằng sau những “bức tường” mới đó là một cuộc chiến tranh khác biến tướng từ “chiến tranh lạnh”. Đó là cuộc chiến tranh địa - chính trị và địa - kinh tế ở châu Âu và nhiều khu vực khác trên thế giới. Thực hiện chiến lược chiến tranh địa - chính trị, vừa đúng hai tháng sau khi Bức tường Béc-linh sụp đổ, cựu Tổng thống G.Bu-sơ (cha) ra lệnh điều 26 nghìn quân xâm lược Pa-na-ma, mở đầu chính sách sử dụng sức mạnh quân sự để giành giật lợi ích chiến lược về địa - chính trị. Năm 1991, Mỹ phát động cuộc chiến tranh vùng Vịnh Péc-xích lần thứ nhất và đến năm 2003, phát động cuộc chiến tranh vùng Vịnh Péc-xích lần thứ hai. Cả hai cuộc chiến tranh đều nhằm vào I-rắc. Giữa hai cuộc chiến tranh đó, Mỹ và NATO đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tư vào cuối năm 1998, đầu năm 1999. Sau cuộc chiến tranh này, Mỹ đã dựng lên một nhà nước mới ở Cô-xô-vô - lãnh thổ thiêng liêng của người Xéc-bi ở Nam Tư. Năm 2001, mượn cớ tiến hành “cuộc chiến tranh toàn cầu chống khủng bố”, Mỹ phát động cuộc chiến tranh Áp-ga-ni-xtan và tới nay vẫn còn bị sa lầy ở đó. Đồng thời, chính quyền của cựu Tổng thống G.W. Bu-sơ đã tuyên bố rút khỏi Hiệp ước phòng thủ tên lửa đã từng ký với Liên Xô năm 1972 - một hiệp ước đóng vai trò cực kỳ quan trọng bảo đảm an ninh và hoà bình trong quan hệ Mỹ - Liên Xô trước đây và Mỹ - Nga sau này. Có thể thấy, những cuộc chiến tranh do Mỹ phát động trong 20 năm qua đều gắn liến với chiến lược địa - chính trị của Oa-sinh-tơn ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Đó là các khu vực Trung Đông (tâm điểm là I-rắc và I-ran), Trung Á (tâm điểm là Áp-ga-ni-xtan và các nước cộng hoà Xô-viết trước đây), Ban-căng (tâm điểm là Cô-xô-vô), biển Ca-xpi (tâm điểm là Gru-di-a), Bắc Cực, châu Phi, Đông Bắc Á, Đông Nam Á, v.v.. Trong đó, “nóng” nhất vẫn là các khu vực Trung Đông, Ban-căng, Trung Á, biển Ca-xpi, châu Phi và Bắc Cực. Ngoài những “bức tường” mọc lên do những toan tính về địa - chính trị, sau khi Bức tường Béc-linh sụp đổ, trên thế giới đang hình thành những “bức tường” do các thế lực phản động lợi dụng chủ nghĩa dân tộc dựng lên. Giôn Miếc-sây-mơ (John Mirsaymer), một đại diện của trường phái chủ nghĩa hiện thực chính trị mới và là một trong những người có thái độ dè chừng trước sự kiện Bức tường Béc-linh sụp đổ năm 1989 đã từng dự báo, trong không khí sôi động năm 1989, ít ai nghĩ rằng sự kiện Bức tường Béc-linh sụp đổ mở đầu sự thống nhất nước Đức sẽ để lại hậu quả chia rẽ thế giới đến kinh ngạc trong những năm sau đó. Trong 20 năm qua, ở châu Âu hình thành mới 20 quốc gia và ít nhất có 5 vùng lãnh thổ đang đòi thành lập nhà nước có chủ quyền. Trong gần một nửa trường hợp thành lập quốc gia mới đó đều kéo theo các cuộc xung đột đẫm máu, gây hận thù dân tộc và hình thành hố ngăn cách về chính trị - xã hội giữa các dân tộc đã từng cùng chung sống. Biểu tượng chia rẽ dân tộc đáng chú ý nhất là những chiếc cầu. Đó là cây cầu bắc qua sông I-bơ (Ibar) ở vùng Mi-trô-vi-xa của Cô-xô-vô chia cắt phần lãnh thổ của người An-ba-ni với người Xéc-bi chiếm đa số; cây cầu bắc qua sông In-gu-ri ngăn cách người Gru-di-a với người Áp-kha-di-a. Bốn cuộc chiến tranh ở Ban-căng, trong đó có sự tham gia của NATO và năm cuộc xung đột vũ trang trong không gian hậu Xô-viết, phần lớn là do xung đột dân tộc - sắc tộc bị các thế lực phản động xúi giục, kích động mà bùng phát. Ngoài ra, còn một “bức tường” ngăn cách ngày một cao giữa cái giàu và cái nghèo của thế giới. Hai mươi năm qua, mặc dù quá trình toàn cầu hoá đã mang lại nhiều kết quả cho sự phát triển của thế giới nhưng vẫn chưa thể khắc phục được hố ngăn cách giàu - nghèo về chất lượng sống và mức sống ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới. Từ đó sinh ra những bức tường ngăn cách. Cách đây 20 năm, không ai nghĩ rằng nước Mỹ luôn tự cho mình cái quyền giương cao lá cờ “dân chủ” và “thị trường tự do” để chinh phục phần còn lại của thế giới, lại dựng lên những bức tường rào ngăn cách Mỹ với các nước láng giềng. Năm 2006, cựu Tổng thống Mỹ G.W. Bu-sơ ký đạo luật an ninh nội địa, theo đó, Mỹ chi 1,2 tỉ USD để xây dựng bức tường nhằm ngăn chặn dòng người nhập cư bất hợp pháp từ nước Mê-hi-cô láng giềng. Đến nay, bức tường đó vẫn đang tiếp tục được xây dựng và ngày một dài thêm. Cũng phải kể đến bức tường cao 6 mét nhằm ngăn chặn dòng người từ Ma-rốc tràn sang khu vực của người Tây Ban Nha sinh sống ở Xê-út tại Bắc Phi./.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 07:38:20 pm » |
|
XU HƯỚNG TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH QUÂN SỰ Ở CHÂU Á Tại sao châu Á tăng cường sức mạnh quân sự? Xu hướng tăng cường sức mạnh quân sự tại châu Á trước hết cần được xem xét từ góc độ ở khu vực này có Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakixtan, các quốc gia châu Á sở hữu vũ khí hạt nhân. Châu Á cũng là nơi diễn ra một trong những “điểm nóng hạt nhân” của thế giới là bán đảo Triều Tiên. Châu lục này không chỉ là nơi hội tụ nhiều mâu thuẫn về địa - chính trị và địa - kinh tế, tiềm ẩn nguy cơ có thể dẫn tới xung đột và chiến tranh như sự tranh chấp ảnh hưởng của các nước lớn; tranh chấp biên giới, lãnh thổ và lãnh hải chưa được giải quyết, mà còn là khu vực ẩn chứa nhiều nguy cơ mâu thuẫn sắc tộc và tôn giáo có thể bùng lên bất cứ lúc nào nếu bị lợi dụng kích động. Cùng với những nguy cơ mang tính “truyền thống” đó, châu Á còn là nơi tiềm ẩn các nguy cơ “phi truyền thống” rất đáng lo ngại như tội phạm xuyên quốc gia, buôn lậu ma tuý, di dân bất hợp pháp... Những nguy cơ đó buộc các quốc gia châu Á phải gia tăng sức mạnh quân sự phòng khi bất trắc. Xét trên thay đổi cục diện trong bức tranh chính trị - quân sự thế giới, đó là sự chuyển hướng tư duy về sức mạnh quân sự thời kỳ hậu chiến tranh lạnh. Sự kiện Liên Xô, một trong những cường quốc quân sự mạnh nhất thế giới bị “chiến bại mà không cần chiến tranh”, ban đầu đã khiến không ít quốc gia cảm thấy dường như sức mạnh quân sự không còn ý nghĩa gì đáng kể trong một thế giới mới hình thành sau trật tự thế giới hai cực kết thúc. Nhưng rồi hàng loạt các cuộc chiến tranh và xung đột liên tiếp xảy ra sau đó cùng với các mâu thuẫn địa - chính trị và địa - kinh tế nổi lên ngày càng gay gắt, đã xua tan mềm hy vọng trước đó về một thế giới yên bình, đưa các quốc gia quay trở lại với tư duy truyền thống, rằng chiến tranh vẫn là sự kế tục của chính trị bằng phương tiện bạo lực vũ trang. Tuy nhiên, sức mạnh bạo lực mà quân đội là nòng cốt, trong một thế giới nổi lên các quá trình toàn cầu hoá đã có nội dung mới, sắc thái mới, gắn bó chặt chẽ với các yếu tố sức mạnh khác như tiềm lực kinh tế, ngoại giao, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, tư tưởng - văn hoá. Từ đó, nhiều quốc gia đã đưa ra chiến lược hiện đại hoá quốc phòng tổng hợp, nhằm không chỉ tăng cường “sức mạnh cứng” (sức mạnh quân sự), mà còn cả “sức mạnh mềm” trong chiến lược tổng thể phát triển quốc gia để tạo ra và duy trì sự phát triển bền vững. Đồng thời, quá trình hiện đại hóa quân sự ở châu Á còn chịu tác động không nhỏ của một hiện tượng mới hình thành trong thế giới đương đại, đó là, cuộc cách mạng mới trong quân sự đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới thời kỳ sau chiến tranh lạnh, khởi nguồn từ Liên Xô trước đây và Mỹ, nay đang dược tiến hành khẩn trương và gấp gáp ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước châu Á. Đây là một quá trình khách quan, có phạm vi toàn cầu, diễn ra đồng thời với quá trình phát triển của thế giới từ kỷ nguyên văn minh công nghiệp sang kỷ nguyên văn minh thông tin. Tuy nhiên, cuộc cách mạng này diễn ra không đồng đều, không đồng loạt ở tất cả các nước, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và thể chế chính trị - quân sự của từng quốc gia. Quá trình hiện đại hoá quân đội tăng cường sức mạnh quân sự của các nước châu Á đều có tính đến cách mạng mới trong quân sự. Các quốc gia là đồng minh của Mỹ ở châu Á, trước hết là Nhật Bản và Hàn Quốc, hơn ai hết, đang nỗ lực bắt kịp với cách mạng mới trong quân sự để có thể tác chiến liên hợp với Mỹ khi cần thiết, còn các nước khác cũng đón nhận cuộc cách mạng mới trong quân sự nhằm tăng cường sức mạnh quân sự của mình. Các nước có cách đi riêng Dựa vào tiềm lực, động cơ tăng cường sức mạnh quân sự cũng như cách thức tiến hành của từng quốc gia, có thể chia châu Á thành các nhóm nước sau: Thứ nhất là nhóm các nước lớn gồm Nga, Trung Quốc, Ấn Độ. Nước Nga, sau khi Liên Xô sụp đổ, đã phải mò mẫm trải qua nhiều lần điều chỉnh chiến lược quân sự. Đầu những năm 1990, Nga chủ trương ngả sang phương Tây để rồi phải vỡ mộng. Từ cuối những năm 1990, đặc biệt là từ năm 2000, chiến lược của Nga đề cập nguy cơ an ninh toàn diện trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, thông tin, văn hoá. Từ đó, Nga bắt đầu cảnh giác trước các nguy cơ tiềm tàng từ Mỹ và NATO, bắt đầu tăng cường sức mạnh quân sự, trước hết là gia tăng khả năng răn đe hạt nhân, tuyên bố sẵn sàng đánh đòn phủ đầu vào các thế lực xâm lược. Những năm gần đây, Nga chú trọng phát triển mới và đưa vào trang bị các phương tiện thuộc “bộ ba chiến lược” như tên lửa đường đạn xuyên lục địa thế hệ mới cơ động trên bộ Topol-M và phóng từ biển Bulava có tầm xa trên 10.000 km; nâng cấp máy bay ném bom chiến lược Tu-160 được trang bị tên lửa hành trình tầm xa X-555; tàu ngầm thế hệ mới mang tên lửa chiến lược; đóng mới tàu sân bay. Về vũ khí thông thường “thông minh”, Nga vừa đưa vào trang bị tên lửa đường đạn tầm ngắn và tầm trung độc nhất vô nhị trên thế giới Iskander; tên lửa phòng không siêu hiện đại S-400 có thể bắn rơi bất kỳ vũ khí đường không nào; hệ thống dẫn đường bằng vệ tinh toàn cầu GLONASS bảo đảm cho vũ khí của Nga tiến công với độ chính xác trên dưới vài cm. Mục tiêu của Nga là tới năm 2020 thay mới toàn bộ kho vũ khí thông thường cũ từ thời Liên Xô để lại. Trung Quốc cũng điều chỉnh chiến lược quân sự, chuyển từ tư duy dựa vào sức mạnh của số đông sang dựa vào sức mạnh của vũ khí hiện đại, sẵn sàng giành chiến thắng trong chiến tranh cục bộ công nghệ cao, thâm nhập mạnh mẽ vào thị trường vũ khí toàn cầu. Mục tiêu của Trung Quốc thật “hoành tráng”: Đến 2010 - 2020 trở thành cường quốc quân sự chiếm vị thế áp đảo trong khu vực, tạo đà để Trung Quốc tranh giành các lợi ích địa - chính trị và địa - kinh tế trong khu vực. Từ năm 2020 - 2050, quân đội Trung Quốc phải sánh vai với các cường quốc hàng đầu thế giới, có khả năng tiến hành và giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh ở bất kỳ quy mô nào, bằng bất cứ loại vũ khí nào. Những năm gần đây, Trung Quốc xúc tiến hiện đại hoá kho vũ khí chiến lược gồm tên lửa đường đạn xuyên lục địa DF-5 (tầm bắn 12.000 km); máy bay ném bom chiến lược H-6 có khả năng mang bom hạt nhân (tầm bay khoảng 3.000 km); tên lửa đường đạn xuyên lục địa phóng từ tàu ngầm hạt nhân. Đặc biệt, Trung Quốc tập trung nâng cao khả năng cơ động và độ chính xác của tên lửa xuyên lục địa, hoàn toàn có khả năng vượt qua hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ. Ngoài ra, Trung Quốc đang đẩy mạnh chương trình vũ trụ vừa phục vụ kinh tế, vừa phục vụ quân sự. Trung Quốc đã phóng thành công tàu vũ trụ Thần Châu-5, trở thành nước thứ ba trên thế giới đưa được người vào vũ trụ sau Liên Xô (Nga) và Mỹ, chứng tỏ chương trình vũ trụ của Trung Quốc đã có những bước tiến vượt bậc. Trung Quốc coi làm chủ vũ trụ là nhiệm vụ hàng đầu trong việc duy trì thế cân bằng chiến lược. Năm 2007, Trung Quốc thử nghiệm thành công vũ khí chống vệ tinh. Như vậy, sức mạnh quân sự của Trung Quốc đã vươn lên đến vũ trụ. Đồng thời, Trung Quốc đã làm chủ được công nghệ chế tạo tàu sân bay, máy bay chiến đấu hiện đại như Su-27, Su-30, Su-34, tên lửa phòng không S-300. Năm 2009, Trung Quốc bắt đầu đóng tàu sân bay. Ấn Độ, do vị trí địa - chính trị, phải đương đầu với các thách thức an ninh từ nhiều phía, cũng chủ trương giành ưu tiên cho chương trình tăng cường tiềm lực quốc phòng, hiện đại hoá quân đội trên cơ sở tổ hợp công nghiệp quốc phòng, đẩy mạnh hợp tác kỹ thuật quân sự đa phương với các nước như Nga, Mỹ, Ixraen, Pháp, Đức. Theo chủ trương hiện đại hoá, hiện nay tổ hợp công nghiệp quốc phòng Ấn Độ đã sản xuất được một số loại vũ khí theo giấy phép của nước ngoài, trong đó có máy bay Su-27, MIG-29, xe tăng T-72 và T-80 của Nga; tự thiết kế chế tạo xe tăng Arjun, máy bay chiến đấu hạng nhẹ, trực thăng hạng nhẹ tiên tiến, tên lửa đường đạn tầm trung “Prithvi” và “Agni”. Ngoài ra, ấn Độ đã nhập khẩu các loại vũ khí hiện đại như máy bay MIG-29 và SU-30MKI, xe tăng T-90, tàu ngầm Project 636 lớp Kilo, máy bay cảnh báo sớm AWACS, tàu sân bay “Admiral Gorshkov” của Nga; máy bay C-17 Globemaster III của Mỹ. Đặc biệt, với thành tựu tàu vũ trụ Chandrayaan- 1 của Ấn Độ được tên lửa mang PSLV-CIIC cực mạnh phóng lên quỹ đạo năm 2008, Ấn Độ trở thành cường quốc vũ trụ và lọt vào danh sách bốn quốc gia cắm quốc kỳ lên bề mặt Mặt trăng (đến nay mới có Mỹ, Nga và Nhật Bản). Thứ hai là nhóm các nước đồng minh của Mỹ: Nhật Bản, Hàn Quốc. Nhật Bản, kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đã nhiều lần điều chỉnh chiến lược quân sự, từng bước phát triển Cục Phòng vệ thành Bộ Quốc phòng, lấy Hiệp ước an ninh Nhật Bản - Mỹ làm cơ sở. Chịu ảnh hưởng của cách mạng trong quân sự từ Mỹ, Nhật Bản xúc tiến khai thác tiềm lực kinh tế và công nghệ hùng hậu, kể cả công nghệ vũ trụ, phát triển mạnh tổ hợp công nghiệp quốc phòng, coi trọng tâm hiện đại hoá quân đội là không quân, hải quân, hướng tới vai trò cường quốc quân sự, phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa nhằm cùng với hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ hình thành hệ thống phòng thủ tên lửa toàn cầu. Hiện nay, các cơ sở công nghiệp quốc phòng Nhật Bản đã tự sản xuất được gần như tất cả các loại vũ khí trang bị hiện đại, bao gồm máy bay, tên lửa, xe tăng, pháo, tàu nổi và tàu ngầm. Một số loại vũ khí đòi hỏi kỹ thuật cao như máy bay chiến đấu F-15, máy bay chống ngầm P-3C Orion, tên lửa hạm đối hạm Harpoon, tên lửa đất đối không dạng vác vai, pháo nòng ngắn, v.v. được sản xuất theo giấy phép của Mỹ. Hiện Nhật Bản đang chuẩn bị mua máy bay chiến đấu tàng hình F-22 thế hệ áp chót của Mỹ. Đặc biệt, Nhật Bản đang hợp tác với Mỹ để phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia NMD và hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trường TMD ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Nhật Bản đã chế tạo thành công tàu khu trục được trang bị hệ thống tên lửa đánh chắn Aegis của Mỹ. Hàn Quốc đứng trước thách thức từ nhiều phía, trước hết từ phía Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên, đặt mục tiêu hiện đại hoá quân đội theo hướng tinh nhuệ, linh hoạt và cơ động; hiện đại hoá đồng bộ cả lục quân, không quân và hải quân bằng vũ khí công nghệ cao trên cơ sở tổ hợp Công nghiệp quốc phòng mạnh được xây dựng theo mô hình của Mỹ. Hàn Quốc đã từng có các đề án “Tầm nhìn tương lai của không quân đến năm 2030”, “Tầm nhìn lục quân đến năm 2010”, “Tầm nhìn hải quân đến năm 2020”, xây dựng học thuyết quân sự nhằm hoá giải các thách thức trong những thập niên đầu thế kỷ XXI. Tổ hợp công nghiệp quốc phòng Hàn Quốc đáp ứng được 80% nhu cầu về vũ khí trang bị của lục quân, không quân và hải quân Hàn Quốc. Tỷ lệ khối lượng vũ khí trang bị được nội địa hoá chiếm khoảng 80%. Hàn Quốc đã từng chế tạo xe tăng thế hệ mới XK-2 “Black Panther” (Báo Đen) dựa trên cơ sở xe tăng M-1 Abrams của Mỹ, có đầy đủ mọi khả năng của những xe tăng hiện đại nhất thế giới, có thể vượt qua các chướng ngại khi đang lội nước, bắn đạn có điều khiển và được lắp lớp giáp chủ động được nghiên cứu chế tạo trên cơ sở lớp giáp chủ động của Nga “Arenna”, cho phép xe tăng phát hiện các khí tài bay và tiêu diệt đạn và tên lửa chống tăng khi đang tiếp cận tới mục tiêu. Năm 2007 đi vào lịch sử Hàn Quốc như một mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt. Hàn Quốc cho hạ thuỷ thành công khu trục hạm mang tên “Hoàng đế Sejong” do họ tự thiết kế chế tạo, được lắp hệ thống phòng thủ tên lửa hiện đại “Aegis” của Mỹ và một số loại vũ khí trang bị khác. Đây là chiến hạm thuộc loại tiên tiến nhất thế giới, mang theo 16 tên lửa đối hạm, 128 tên lửa đánh chặn các mục tiêu trên không, tên lửa hành trình và ngư lôi chống tàu ngầm. Chiến hạm “Hoàng đế Sejong” được trang bị cho hải quân Hàn Quốc trong năm 2009. Hiện nay, thực lực của hải quân Hàn Quốc đứng thứ tư châu Á và đứng thứ 10 thế giới. Trước đó, năm 2005, chiếc tàu sân bay hạng nhẹ đầu tiên LPX trong lịch sử hải quân Hàn Quốc đã hạ thủy, được trang bị hệ thống chỉ huy, kiểm soát, truyền thông, tình báo và máy tính tự động hoá vào loại hiện đại nhất thế giới. Năm 2008, Hàn Quốc phóng tên lửa vũ trụ đầu tiên do họ tự thiết kế, chế tạo. Gần đây, Hàn Quốc thử nghiệm thành công tên lửa hành trình chống ngầm KASM hiện đại bậc nhất thế giới, có tính năng không thua kém vũ khí săn tàu ngầm của Nga và Mỹ. Thứ ba là nhóm một số nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN): Từ những năm 1990, nhờ có được sự tăng trưởng kinh tế cao, một số nước ASEAN bắt đầu chương trình hiện đại hoá quân đội do phải đối mặt với các nguy cơ an ninh mới xuất phát từ xung đột địa - chính trị, địa -kinh tế và an ninh nội địa. Xu hướng chủ yếu trong các chương trình hiện đại hóa quân đội của một số nước trung khu vực này là vừa tranh thủ thị trường vũ khí trang bị giá rẻ sau chiến tranh lạnh, vừa tiếp cận các thành tựu của cuộc cách mạng mới trong quân sự, đa dạng hóa các nguồn cung cấp vũ khí trang bị. Một số nước trong khu vực (Inđônêxia, Thái Lan, Xingapo, Philíppin) hiện đại hoá quân đội để có thể hợp tác với Mỹ trong khi tham gia các cuộc diễn tập quân sự chung. Có thể thấy, nguồn cung cấp vũ khí trang bị hiện đại cho một số nước ASEAN khá đa dạng như Mỹ (máy bay F-16, F-18, F-4, F-5E/F); Trung Quốc; Ấn Độ; Nga (MIG-29, MiG-27, Su-30, Su-35, tên lửa phòng không, tàu chiến). Nhìn chung, xu hướng đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội của một số nước ASEAN không hẳn là một cuộc chạy đua vũ trang, mà là nhằm tăng cường các khả năng hiện có và tìm kiếm những khả năng mới trong tương lai, trước hết trong lĩnh vực vũ khí của không quân và hải quân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 07:40:15 pm » |
|
Nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân ở Đông Bắc Á Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên là một trường hợp đặc biệt trong quá trình gia tăng sức mạnh quân sự ở châu Á. Đến nay, đã gần 60 năm sau chiến tranh Triều Tiên, Bình Nhưỡng vẫn chưa ký kết được Hiệp ước hoà bình với Oasinhtơn và vì thế họ quyết định tiến tới sở hữu vũ khí hạt nhân phòng khi bất trắc. Quá trình đạt mục tiêu sở hữu vũ khí hạt nhân của nước này diễn ra theo dòng xoáy phổ biến vũ khí hạt nhân khởi đầu từ sau khi Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản năm 1945. Quá trình này luôn chịu tác động của hai nhóm yếu tố đối ngược nhau: Nhóm ngăn chặn và Nhóm kích thích. Trong khi nhóm yếu tố ngăn chặn gồm Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT), Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT)... tỏ ra ít có hiệu quả, thì Nhóm kích thích lại có động lực quá mạnh mẽ khiến Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên và nhiều nước khác muốn có trong tay vũ khí hạt nhân. Yếu tố kích thích có nhiều nhưng chủ yếu nhất vẫn là do một số cường quốc tuyên bố sẵn sàng tiến công phủ đầu vào các quốc gia khác bằng vũ khí hạt nhân hoặc bằng vũ khí công nghệ cao có sức huỷ diệt không kém gì vũ khí hạt nhân chiến thuật như đã từng thấy trong nhiều cuộc chiến tranh gần đây. Trước nguy cơ bị tiến công xâm lược, nhiều nước buộc phải phát triển vũ khí hạt nhân để răn đe đối phương. Tuy nhiên, nếu Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên phát triển vũ khí công nghệ cao có thể vừa góp phần phát triển kinh tế vì đó là công nghệ lưỡng dụng, thì việc phát triển vũ khí hạt nhân lại làm cạn kiệt tài nguyên, tác động tiêu cực với phát triển kinh tế và kích thích cuộc chạy đua vũ trang ở Đông Bắc Á. Vì thế, để giải quyết vấn đề phi hạt nhân hoá trên bán đảo Triều Tiên nói riêng và tiến tới một thế giới không có vũ khí hạt nhân, ngoài các nghị quyết trừng phạt của Liên hợp quốc, thì giải pháp cơ bản và lâu dài là các quốc gia đã từng sở hữu vũ khí hạt nhân cần cam kết từ bỏ chính sách sử dụng loại vũ khí này để thực hiện mục đích chính trị. Như vậy là, dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau, châu Á đang phải đối mặt với quá trình tăng cường sức mạnh quân sự. Đó cũng là xu hướng chung của thế giới. Bởi, nếu nói chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, còn chiến tranh là sự kế tục của chính trị, thì một khi kinh tế còn là “mặt trận”, không ai dám lơ là chuyện củng cố quốc phòng. Trong chuyến thăm châu Âu đầu tháng 4-2009. Tổng thống Barắc Ôbama đã từng tuyên bố: “Sự tồn tại vũ khí hạt nhân là gia tài nguy hiểm nhất của thời “chiến tranh lạnh”. Mỹ là cường quốc duy nhất đã sử dụng bom nguyên tử và như vậy có nghĩa vụ đạo đức để hành động nhằm tìm kiếm hòa bình và an ninh trong một thế giới không vũ khí hạt nhân. Mỹ cần có những bước đi cụ thể và chúng tôi yêu cầu những nước khác cũng làm như vậy”. Tuyên bố của Tổng thống Ôbama liệu có được tiếp nối bằng hành động cụ thể nhằm hướng tới một Đông Bắc Á nói riêng và thế giới nói chung không có vũ khí hạt nhân? CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ Hiện đại, chính xác, tính sát thương cao, khả năng tấn công trên diện rộng, song cũng khó xác định hơn… đó là các tiêu chuẩn được rượt đuổi bởi bất kỳ một sản phẩm ra lò nào có tên “vũ khí công nghệ cao”. Rộng hơn, đó là đích nhắm của lĩnh vực công nghệ quân sự, lĩnh vực vốn trước đây được coi là “tối mật”, nhằm mục tiêu phòng vệ an ninh hay tham vọng sử dụng bạo lực chiến tranh của bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên, công nghệ quân sự thế kỷ XXI đã “mở” hơn, kèm theo nó là sự đua tranh khốc liệt hơn. Trước tiên cần nói rằng, công nghệ quân sự dù đã manh nha từ rất lâu nhưng chỉ chừng một thập kỷ trở lại đây, nó mới thực sự trở thành một lĩnh vực có tốc độ phát triển vượt bậc. Cuộc cách mạng khoa học-công nghệ tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật và công nghệ cho một nền kinh tế phát triển cao hơn hẳn nền kinh tế công nghiệp trong thế kỷ XX, thay đổi căn bản diện mạo sản xuất và đời sống đương đại, trong đó có lĩnh vực công nghệ quân sự. Từ vũ khí công nghệ đến chiến tranh công nghệ Công nghệ cao được ứng dụng trong quân sự đã tạo nên thế hệ vũ khí hoàn toàn mới, với đặc điểm quan trọng và nổi bật nhất là có tính lưỡng dụng, nghĩa là vừa có để sản xuất ra hàng hoá dân dụng, vừa chế tạo ra các phương tiện chiến tranh, vì thế nên nó còn được gọi là công nghệ cao lưỡng dụng. Trong thế kỷ XXI, công nghệ quốc phòng chủ yếu sẽ là công nghệ cao lưỡng dụng và chiến tranh sẽ được tiến hành bằng vũ khí công nghệ cao, hay còn gọi là chiến tranh công nghệ cao (High-Technology War). Đa số các chuyên gia quân sự đều nhất trí nhận định rằng cuộc chiến tranh Vùng Vịnh do Mỹ và liên quân phát động (1990-1991) là nơi thử nghiệm đầu tiên loại hình chiến tranh công nghệ cao, mà ở đó vũ khí có thể chỉ đơn giản là một loại virus máy tính. Việc ứng dụng rộng rãi công nghệ và kỹ thuật cao của quân đội tham chiến trong cuộc chiến này được cho là những thử nghiệm cơ bản hình thành chiến tranh công nghệ. Kết quả của nó là sau 42 ngày đêm chiến đấu, quân đội Iraq hứng chịu số thương vong lên tới vài trăm ngàn người, trong khi của quân đội đồng minh chỉ 126 người. Kỳ tích này chính là do sự vận dụng công nghệ kỹ thuật cao, trong đó có việc quân đồng minh dùng công nghệ phá huỷ toàn bộ hệ thống chỉ huy thông tin của Iraq. Theo tiết lộ của báo chí Anh sau này, trước khi chiến tranh bùng nổ, Iraq đã đặt mua của Pháp một lô máy in hiện đại để dùng trong hệ thống quốc phòng, chuẩn bị vận chuyển vào Baghdad qua thủ đô Amma của Jordan. Nắm được thông tin, các nhân viên đặc nhiệm của Mỹ tại Amma đã bí mật cài virus vào số máy in này, từ đó thông qua máy in xâm nhập vào máy chủ của hệ thống chỉ huy quân sự. Loại virus này mang tên AF91, là do Cục An toàn quốc gia của Mỹ viết ra. Khi Mỹ cầm đầu quân đồng minh phát động chiến dịch “Bão táp sa mạc” tấn công vào Iraq, Mỹ đã dùng thiết bị điều khiển từ xa kích hoạt số virus đó khiến cho hệ thống phòng không của Iraq bị tê liệt hoàn toàn. Trong khi đó, những cuộc tấn công của liên quân trong cuộc chiến này lại được chỉ huy bởi hệ thống máy tính có công nghệ tiên tiến nhất, với hệ thống khoảng 60 vệ tinh, nhiều máy bay do thám, trinh sát điện tử làm “tai, mắt”, các loại tên lửa có thiết bị dẫn đường thông minh tiến hành cuộc tấn công “điểm huyệt”, mở đường cho máy bay Mỹ không kích Iraq. Thống kê sau chiến dịch “Bão táp sa mạc” cho thấy, riêng số máy tính dùng để liên lạc về Mỹ có tới 3.000 chiếc. Về thực chất, đây là cuộc chiến tranh công nghệ cao nhưng mới chỉ dừng ở cấp độ thông tin, biến thông tin thành ưu thế trên chiến trường. Có ý kiến cho rằng, một cuộc chiến tranh công nghệ - thông tin trong tương lai sẽ có thể có số binh sĩ mang máy tính nhiều hơn số binh sĩ mang súng đạn. Trong các cuộc chiến tranh tiếp sau đó ở Kosovo (1999), Afghanisstan (2001) và Iraq (2003), chiến tranh công nghệ cao đã được phát triển lên những nấc thang mới. Nhiều chuyên gia quân sự đã tính tới khả năng chế tạo thế hệ vũ khí công nghệ cao có tầm tiến công xuyên lục địa để tiến hành chiến tranh từ xa trên phạm vi toàn cầu. Giữa các nước lớn, đang diễn ra cuộc chạy đua và cạnh tranh, thậm chí “ăn cắp công nghệ” vô cùng quyết liệt để tranh giành thị trường công nghệ cao. Đáng chú ý là mới đây, trong tuyên bố khung về Hiệp ước hạn chế vũ khí tiến công chiến lược (START) mới giữa Mỹ và Nga, hai bên đã nhất trí đưa vũ khí trang bị công nghệ cao vào danh mục các vũ khí có tác dụng tạo nên sự cân bằng chiến lược quân sự.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|