Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:37:41 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Pi-e Đệ nhất  (Đọc 158955 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #230 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2011, 09:16:17 pm »

Hắn đã vô tình nổi nóng. Hắn luồn bàn tay tím ngắt và run rẩy vào trong túi, rút ra một chiếc khăn tay và thấm mồ hôi. Hắn lắc đầu nhìn những ngọn nến đang lụi. Hắn thở dài và kết luận:

- Thôi ta đi ăn!

Tất cả những người trong phòng nguyện đi qua tiền đình và nhà bếp xuống tầng dưới. Họ ngồi vào cái bàn làm bằng gỗ ván trên phủ một thứ vải thô sặc sỡ và bóng. Trong góc danh dự dưới những tranh thánh, Vaxili Reviakin và ba tên thư ký già của hắn anh em con chú con bác với hắn - ngồi ăn. Người ta mời vị thánh lão cùng ngồi dưới các tranh thánh. Nhưng đột nhiên lão khạc nhổ ầm ĩ và chạy ra phía cửa, nhập bọn những người nghèo ngồi dưới đất. Andrey cũng ở trong số đó.

Giữa bàn là một cây nến mỡ bò đang cháy. Người đàn bà khắc khổ từ trong bóng tối nhô ra, hai tay bưng những liễn đầy. Thỉnh thoảng lại có một con gián từ trên trần rơi xuống. Mọi người lặng lẽ ăn nhai một cách nghiêm trang, đặt thìa xuống không một tiếng động. Andrey lại gần vị thánh lão. Lão đang cúi xuống, bát để trên đầu gối đánh rớt những giọt thức ăn xuống bộ râu bù xù; lão nuốt một cách vội vã và bị bỏng; lão ăn bánh từng miếng nhỏ một. Ăn xong, lão cầu kinh và chắp tay trên bụng. Nhìn cặp mắt lão lờ dờ, người ta thấy rõ là lão đã chịu đi.

Andrey khẽ nói với lão:

- Thưa cha, con muốn đi gặp thánh lão Nectari.

- Cha cho con đi tới đó.

Lão già thở nhanh hơn. Rồi cặp mắt của lão lại lờ đờ mờ đi:

- Lát nữa, khi mọi người đã đi ngủ cả, hãy đến phòng nguyện. Ta sẽ thử thách nhà ngươi.

Andrey rùng mình. Buồn rầu và cảm thấy mình như bị kết án, anh cọ gáy vào bức tường gỗ súc sù sì.

***

Một làn gió ấm, từ miền Nam, từ cánh đồng Dikoe Pole thổi tới. Trong một tuần, tuyết tan hết. Bầu trời mùa xuân xanh biếc, trên mặt nước tuyết tan phủ kín cánh đồng. Nước sông lên to băng trên sông Đông tan vỡ.

Trong một đêm, nước sông Voronez tràn ngập các công trường đóng tàu. Các tàu lớn, thuyền nhỏ, thuyền buồm, thuyền chèo tay đều bỏ neo, đung đưa trên mặt nước từ thành phố đến sông Đông. Hắc ín chưa khô nhỏ giọt trên mạn thuyền, các đầu thần Neptun thếp vàng thép bạc sáng lóng lánh. Buồm căng lên để hong khô phần phật trước gió. Dưới lòng nước đục, những cục băng cuối cùng cũng chìm xuống rồi lại nổi lên rào rào. Bên trên tường thành bên hữu ngạn, trước mặt thành Voronez, những đám mây khói thuốc súng bốc lên, bị gió xé toang ra thành từng mảng. Súng trái phá nổ ầm ầm trên mặt nước, tựa hồ mặt đất cũng nở ra, vỡ thành bong bóng.

Trên các công trường, công việc vẫn dồn dập ngày đêm. Sắp hoàn thành tàu La Sitadell có gắn bốn mươi khẩu trái phá. Đuôi tàu cao và chạm trổ, có ba cột buồm, đang đung đưa bên những cọc néo tàu mới tinh, Thuyền bè chở thuốc súng, thịt muối, bánh, liên tục vượt qua sông tới áp vào hai bên mạn tàu đen sì. Nước chảy xiết căng các dây cáp, gỗ kêu răng rắc. Trên đuôi tàu ở cầu chỉ huy, thuyền trưởng Pambur chửi rủa bằng tiếng Nga và tiếng Bồ Đào Nha, át cả tiếng thùng lăn trên sàn tàu và tiếng ròng rọc nt ken két. Mặt Pambur đen sạm, ria lởm chờm, mắt như mắt cừu đực điên; đôi ủng lớn đầy bùn; ngoài áo nẹp, y khoác một áo cầu ngắn, đầu chít một chiếc khăn lụa đỏ. "Đồ vô tích sự! Đồ chó đẻ! Careja!"(Tiếng rủa Bồ Đào Nha). Đám lính thuỷ gò lưng ra kéo những túi bánh, thùng, hòm lên sàn tàu, họ vừa chạy vừa lăn nhanh các thứ tới hầm tàu, ở đấy, các thuỷ thủ trưởng, đầu đội mũ cao bằng dạ, quần trên bồng ống chẽn màu nâu, đang cáu gắt hò hét như đàn chó dữ.

Những tháp canh dựng bằng gỗ tròn uốn cong, mái nhọn, in bóng trên đồi, từ trên cao chế ngự cả dòng sông. Xa xa, phía ngoài những bức tường nham nhở là những mái hình củ hành gỉ nát của các nhà thờ. Trước thành phố cũ, những ngôi nhà nhỏ bằng đất nện và những lều bằng gỗ của thợ rải rác đây đó trên sườn đồi. Gần mé sông là những ngôi nhà gỗ của Golovin vừa mới được phong chức đô đốc, của Alekxandr Melsikov, của hải quân tổng tư lệnh Apraxin, của phó đô đốc Cornelix Cruyx. Bên kia sông Voronez, trên bờ sông thấp la liệt những mảnh gỗ và chằng chịt vết bánh xe, mọc lên những lò luyện sắt, - những ngôi nhà ám khói mái bằng đất, - những sườn tàu đóng dở, những chồng ván ngập nước đến nửa, những bè mảng, thùng tròn, dây cáp, mỏ neo gỉ, đã được kéo từ dưới nước lên. Từ những nồi nấu hắc ín sôi sùng sục bốc lên những đám khói đen ngòm mù mịt. Những bánh xe nhỏ của chiếc máy xe dây cáp kêu rin rít. Trên những giá gỗ cao, vai những người thợ xẻ nhô lên thụt xuống. Những người lái bè, tay cầm móc, chạy chân không dưới bùn, vớt những cây gỗ đang bị nước lên cuốn đi.

Phần lớn công việc đã xong. Hạm đội đã được hạ thuỷ. Chỉ còn lại tàu La Sitadell đang được hoàn thành với một sự chăm chú đặc biệt. Có lệnh ba ngày nữa sẽ kéo cờ đô đốc lên cột buồm.

Không lúc nào là không có những người mới đến mở cửa ầm ầm, bước vào: chẳng cởi bỏ áo ngoài, chẳng chùi chân, họ ngồi phịch xuống ghế; các thượng quan ngồi ngay vào bàn. Trong ngôi nhà gỗ của Sa hoàng hàng ngày người ta ăn uống suốt hai mươi bốn giờ liền.

Nhiều nến được thắp lên, cắm vào miệng những chai rỗng. Những bộ tóc giả treo trên tường; trong nhà rất nóng. Khói thuốc tẩu bay mù mịt.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #231 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2011, 09:17:47 pm »

Phó đô đốc Cornelix Cruyx ngồi ở bàn, gục đầu vào lai tay áo thêu vàng mà ngủ. Người Hà Lan Julius Retet, sutbij-nast(1) của hạm đội Nga, người giang hồ bốn bể táo bạo, đầu đã từng được đặt giải hai ngàn bảng Anh vì những thành tích lừng lẫy trên các đại dương xa xôi - nhấm nháp vodka pha hồi, con mắt độc nhất còn lại trên bộ mặt dữ tợn chằm chằm nhìn cây nến.

Các thợ cả đóng tàu Ioxif Ney và Jhon Dey, trong những ngày nóng bức nầy hai má râu đã mọc kín, rít tẩu thuốc, nhấp nháy cặp mắt nhạo báng về phía người thợ cả Nga Fedorxey Xkliaev. Fedorxey vừa bước vào, hắn bỏ khăn quàng cổ, cởi khuy áo lông cừu và đang ăn món xúp nấu mỡ với mì ống.

- Nầy Fedorxey, - Iosif Ney vừa nói vừa nháy nháy cặp lông mi hung hung đỏ, - kể cho bọn mình nghe cậu phè phỡn ở Moskva ra sao?

Fedorxey lặng thinh và cứ tiếp tục ăn. Quả tình hắn cũng đã chán lắm rồi. Tháng hai, khi ở nước ngoài về hắn đã phải tới ngay Voronez, theo lệnh trong thư của Piotr Alekseevich. Ma quỷ đã cám dỗ hắn sa ngã. Hắn đã đến chơi khắp lượt các bạn bè của hắn ở Moskva và thế là cả một cuộc vui chơi thoả thích. Suốt ba ngày liền, thôi thì bánh tráng, món nhắm, rượu say, không lúc nào ngừng. Sự việc kết thúc đúng như nó phải kết thúc: tại bộ Preobrazenskoe.

Sa hoàng được tin Fedorxey, người sủng thần mà nhà vua hằng trông ngóng, bị bắt giam ở nhà vương hầu chấp chính, cử ngay một người về Moskva đưa thư cho Romodanovski:

"Myn Herr Konig… Tại sao ngươi lại giữ các bạn ta. Fedorxey Xkliaev, và những người khác? Việc đó đã làm ta buồn vô cùng. Hơn tất cả những người khác, ta mong đợi Xkliaev, hắn là người đóng tàu lành nghề nhất. Vậy mà ngươi đã bắt giam hắn. Để Chúa xét xử ngươi. Thực ra, chẳng có ai giúp ta ở đây. Và ta nghĩ rằng đó chẳng phải là một vấn đề quốc sự. Vì Chúa, hãy thả hắn ra và đưa hắn tới đây! Pite".

Mười ngày sau, chính tay Xkliaev đem thư trả lời của vương hầu chấp chính: "Lỗi của hắn là như sau: hắn đi xe ngựa, say khướt, cùng với các bạn hắn và đã gây lộn với quân lính trung đoàn Preobrazenski đóng trước một hàng rào cự mã. Cuộc điều tra đã xác nhận là cả hai bên đều có lỗi. Sau khi điều tra, thần đã ra lệnh đánh Xkliaev bằng roi vì sự bậy bạ của hắn và cả bọn lính đã gây ra cuộc ẩu đả và đã khiếu tố. Bệ hạ không nên giận thần. Thần không có thói quen tha thứ những chuyện bậy bạ, không kể ở cấp bậc nào".
Được. Sự việc lẽ ra có thể ngừng lại ở đó. Khi Piotr Alekseevich gặp Xkliaev, nhà vua ghì chặt lấy hắn, ôm hôn hắn và vỗ đùi mình đen đét. Nhà vua không cười, nhà vua đã sằng sặc như ngựa hí đến chảy nước mắt.

"Fedorxey, đây không phải là Amsterdam!" Và trong bữa ăn tối, nhà vua đã đọc cho bức thư của vương hầu chấp chính.

Ăn xong món xúp nấu mì ống, Fedorxey gạt bát ra, giơ tay về phía Ioxif Ney xin thuốc lá:

- Thôi cười thế đủ rồi, đồ qui thọt, - hắn nói giọng gắt gỏng. - Hôm nay, các anh đã xuống hầm phía lái tàu chưa?

- Xuống rồi, - Iosif Ney trả lời.

- Không, các anh không xuống

Jhon Dey chậm rãi bỏ tẩu thuốc nõ bằng đất ra, nhếch mép và nói bằng tiếng Nga, giọng rít giữa hai hàm
răng:

- Fedorxey Xkliaev, tại sao anh lại bảo bọn ta không xuống đến hầm tàu?

- Vì thế nầy… Đáng lẽ các anh không nên ngồi trêu tức tôi mà nên đi lấy đèn xuống xem mới phải.

- Có chỗ rò chăng?

- Đúng thế. Một chỗ rò. Khi người ta bắt đầu chuyển các thùng thức ăn muối lên tàu, dây néo không chịu nổi. Nước từ dưới vọt lên.

- Không thể thế được

- Được lắm chứ. Chính tôi nói thế. Các mộng ở phía lái tàu yếu lắm.

Iosif Ney và Jhon Dey nhìn nhau. Không vội vã, hai người đứng dậy, ấn chiếc mũ có tai sụp xuống tận mắt. Fedorxey cũng đứng dậy; vẻ cáu kỉnh, hắn quấn chiếc khăn quàng quanh cổ và cầm lấy đèn.

- Nào, đi nào, các tướng!

Ở bàn, các sĩ quan, thuỷ thủ, thợ cả, mệt nhọc, người lem luốc hắc ín, quần áo vấy bùn ngồi vào bàn trong chốc lát. Họ uống một cốcvodka nóng bỏng như lửa rót từ một hũ sành ra, và lấy tay bốc trong đĩa nào thịt quay, thịt lợn, lưỡi bò ngâm dấm. Nhiều người ăn qua loa vội vã, rồi bỏ đi, chẳng làm dấu thánh, chẳng kịp cảm ơn

Một thuỷ thủ, mắt lừ đừ ngái ngủ, đầu đội chiếc mũ dạ lệch sang một bên tai, đứng tựa vai vào trụ một cánh cửa trổ ở tấm vách gỗ ván. Một chiếc thừng buộc nút tẩm hắc ín - cái roi bằng thừng bện - lủng lẳng ở cái cổ gân guốc của anh ta. - Hắn thưởng roi cho những kẻ nào đáng đánh đòn - Ai lại quá gần cửa,
hắn cũng khẽ bảo, giọng uể oải:

- Đi đâu thế, đi đâu thế, đồ lợn?
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #232 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2011, 09:19:00 pm »

Sau bức vách, trong phòng ngủ, các chính khách đang ngồi bàn quốc sự: đô đốc Fedor Alekxevich Golovin, Lev Kirilovich Naryskin, Fedor Matveevich Apraxin, tổng tư lệnh Hải quân và Alekxandr Danilovich Melsikov. Sau khi Lơfo chết, Melsikov đã được phong ngay trung tướng và tổng trấn tỉnh Pskov. Người ta đồn rằng vua Piotr sau khi đi đưa đám trở về Voronez đã nói: "Trước kia ta có hai bàn tay, giờ chỉ còn một, thực ra có hay ăn cắp chút ít nhưng trung thành".

Alexaska, mặc áo nẹp dạ mỏng của trung đoàn Preobrazenski, ngang lưng thắt một dải băng lịch sự, đầu đội bộ tóc giả, cái cằm nhọn ngập trong đăng ten, tựa lưng vào chiếc lò sưởi bằng gạch rất nóng.
Apraxin và Golovin bụng phệ thì ngồi trên chiếc giường chăn nệm bừa bộn. Naryskin ngồi bên bàn, tay đỡ lấy trán. Họ đang nghe Prokofi Voznixyn, lục sự viện Duma và đại sứ thần vừa họp hội nghị của các sứ thần Áo, Ba Lan, Vơnidơ và Moskva để điều đình hoà ước với người Thổ Nhĩ Kỳ, ở Caclovitz trên sông Dunai về.

Voznixyn chưa được gặp Sa hoàng. Nhà vua đã cho người bảo các vị thượng thư cứ việc họp bàn: một lát sau nhà vua sẽ đến. Voznixyn đặt các sổ sách ghi những con số trên đầu gối; lão đã kéo tụt cặp kính xuống tận đấu mũi và kể:

- Tôi đã ký kết được với các sứ thần Thổ Nhĩ Kỳ, ngài Reix-Effendi Rami và viên tư vấn Mavrocordato, một hiệp ước đình chiến, nghĩa là tạm thời ngừng chiến. Tôi không thể làm hơn được. Thưa các vị thượng thư, các vị xét xem: trong lúc nầy ở châu Âu, có một việc mới chớm xảy ra và sẽ làm cho cả thế giới lo âu hoặc cũng gần như thế. Vua Tây Ban Nha đang lâm bệnh nặng sẽ chết nay mai mà không có con cái. Vua Pháp muốn đặt cháu ông ta là Philip lên ngai vàng Tây Ban Nha. Ông ta đã lấy vợ cho cháu và giữ cháu bên ông ta, ở Paris, hy vọng đặt được cháu lên ngôi nay mai.

Hoàng đế Áo, về phấn mình, muốn đặt con là Charles lên ngôi vua Tây Ban Nha.

- Chúng tôi biết, chúng tôi biết tất cả những chuyện đó rồi, - Alexaska nóng ruột ngắt lời.

- Hãy chịu khó nghe một chút, Alekxandr Danilovich, tôi biết gì thì tôi nói vậy. - Voznixyn, cặp mắt xám người qua cặp kính chăm chú nặng nề nhìn anh chàng đẹp trai - Đây là một cuộc tranh chấp lớn giữa nước Pháp và nước Anh… Nếu Tây Ban Nha về tay vua Pháp thì các hạm đội Pháp và Tây Ban Nha sẽ làm bá chủ tất cả các đại dương. Nếu Tây Ban Nha về tay Hoàng đế Áo thì người Anh sẽ đánh bại được hạm đội Pháp đơn độc. Người Anh đang làm rối rắm cục diện chính trị châu Âu. Chính họ đã làm môi giới cho người áo và người Thổ Nhĩ Kỳ ở Caclovitz. Muốn gây chiến tranh với vua Pháp, Hoàng đế Áo phải rảnh tay và bọn Thổ Nhĩ Kỳ thì rất sung sướng được có hoà bình để nghỉ ngơi và tập hợp lại lực lượng: Vương hầu Egien xứ Xavoa đã cướp mất của chúng nhiều đất đai và nhiều thành phố ở Hungary, ở Tranxinvania và ở More cho Hoàng đế Áo, và người Áo đã lăm le muốn chiếm lấy Constantinop… Bọn Thổ Nhĩ Kỳ thì nay chỉ lo lắng có một điều: đoạt lại những đất đai của chúng trước kia… Còn gây chiến ở những nơi xa xôi với người Ba Lan hoặc với ta thì lúc nầy chúng chưa nghĩ tới… Như Azop chẳng hạn, lúc nầy không đáng giá những tổn thất
chúng sẽ phải chịu để chiếm lại.

- Vua Thổ Nhĩ Kỳ có thật suy yếu như ông khẳng định không? Tôi ngờ lắm, - Alexaska dằn từng tiếng nói. - Golovin và Aptaxin khẽ cười. Thấy thế, Lev Kirilovich cũng lắc đầu mỉm cười, Alexaska rung đùi, đinh thúc ngựa kêu lanh canh. - Nếu hắn suy yếu, sao ông không ký một hiệp ước hoà bình vĩnh viễn với hắn? Hay ông đã quên xtreletz của ta đang tránh mùa rét ở Ukraina; trung đoàn kỵ binh lớn của Sein đang đóng ở Akhtycka và ở Briansk, hạm đội sẵn sàng nhổ neo. Người ta đã không cử ông đi tay không… thế mà chỉ ký được hiệp ước đình chiến!

Prokofi Voznixyn chậm rãi bỏ kính ra. Lão thấy thật khó mà thích nghi được với trật tự mới, một tên vô danh tiểu tốt dòng dõi thấp kém dám nói như vậy với một đại sứ thần. Prokofi đưa bàn tay khô khan lên viết, bộ mặt run rẩy vì phẫn nộ và tập hợp lại ý nghĩ. Tất nhiên, lúc nầy, lão chẳng đạt được gì bằng những lời chửi rủa.

- Alekxandr Danilovich, đây là lý do tại sao tôi đã ký hiệp ước đình chiến chứ không ký kết hoà ước. Các sứ thần của Hoàng đế Áo đã không gặp ta lẫn người Ba Lan, cũng không gặp cả các sứ thần Vơnidơ, họ đã riêng rẽ và bí mật điều đình với bọn Thổ Nhĩ Kỳ. Người Ba Lan cũng bí mật thoả thuận với chúng không cho ta biết. Và họ đã để cho ta đơn độc. Lúc đầu bọn Thổ Nhĩ Kỳ đã thu xếp được ổn thoả với bọn Áo, chúng dương dương tự đắc đến mức từ chối cả hội đàm với ta… Nếu tôi không có ở bên đó một người quen thuộc cũ là Alekxandr Mavrocordato thì đến một hiệp định đình chiến ta cũng không ký được. Thưa các vị thượng thư, các vị ngồi đấy và các vị tưởng là toàn thể châu Âu chiêm ngưỡng các vị… Không. Đối với họ, chúng ta chỉ có một đường lối chính trị nhỏ mọn, hay đúng hơn là chẳng có một đường lối chính trị nào, có thể nói như vậy!

- À vấn đề đó thì còn phải bàn!

- Hãy khoan, đừng nổi nóng vội, Alekxandr Danilovich, - Golovin nhẹ nhàng ngăn lại.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #233 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2011, 09:19:57 pm »

- Tại khu các sứ thần, họ đã dành cho ta chỗ tồi nhất. Họ đã cho người bao vây canh gác ta, cấm ta đi lại bất cứ nơi đâu, cấm ta gặp người Thổ Nhĩ Kỳ, trao đổi thư từ với họ. Thời tôi còn ở Viên, tôi có đem theo một thầy thuốc người Ba Lan, khôn ngoan và thận trọng. Chính viên thầy thuốc nầy, tôi đã cử đến gặp Mavrocordato ở trong hành dinh Thổ Nhĩ Kỳ. Tôi cử ông ta đến lần đầu, Mavrocordato gửi lời chào tôi. Tôi cử ông ta đến lần thứ hai, Mavrocordato gửi lời chào tôi và nói thêm là hắn ta bị lạnh. Tôi rất lấy làm hài lòng về việc đó. Tôi bèn lấy tấm áo nẹp bọc dạ tía, trong lót lông cáo ánh bạc và sai viên thầy thuốc đi qua đồng cỏ, tránh đinh các sứ thần, đem đến biếu hắn. Mavrocordato đã nhận chiếc áo. Ngày hôm sau, hắn gửi đến biếu tôi thuốc lá, hai tẩu thuốc loại tốt, nửa cân cà-phê và giấy viết thư. Tôi tự nhủ: A, ra hắn trả nợ quà ta biếu… Và tôi lại cho một xe chở đến biếu hắn trứng cá ép, lườn cá chiên, năm con cá hồi lớn và đủ các loại rượu mùi. Đêm đến, tôi bận quần áo thường thân hành đến dinh người Thổ một mình. Đúng ngày hôm đó, người Thổ Nhĩ Kỳ đã ký hoà ước với hoàng đế Áo.

- A! - Alexaska dậm chân thốt lên. Đinh thúc ngựa kêu lanh canh.

- Mavrocordato bảo tôi: "Rất có thể chúng ta không đạt được một giải pháp thoả đáng nếu các ông không trả lại chúng tôi các thành luỹ nhỏ của chúng tôi ở trên sông Dniepr, để chúng tôi có thể bịt được con sông đó, và vĩnh viễn ngăn đường các ông ra Hắc Hải. Các ông phải trả lại chúng tôi Azop và các ông phải nộp cống cho phiên vương Krym như xưa kia…". Đấy, Alekxandr Danilovich, ngay cuộc gặp gỡ đầu tiên bọn Thổ Nhĩ Kỳ đã treo giá cao như vậy đó… Còn tôi thì đơn độc có một mình. Các đồng minh của ta đã giải quyết xong công việc của họ và tếch về rồi… Tôi bắt đầu đem hạm đội Voronez của ta ra hăm doạ. Chúng cười: "Đây là lần đầu tiên chúng tôi nghe nói đóng tàu cách biển hàng ngàn dặm; thôi được, các ông cứ việc bơi trên sông Đông nhưng đừng có ra khỏi cửa sông". Tôi liền đem các đội quân của ta đóng ở Ukraina ra đe. Để đáp lời tôi chúng đưa bọn Tarta ra doạ lại: "Các ông hãy coi chừng, giờ đây bọn Tarta đang rảnh tay, chúng có thể gây nhiều tổn thất cho các ông như chúng đã làm dưới thời Devlet-Girey(2). Nếu bọn Thổ Nhĩ Kỳ không có nhiều chuyện phải lo nghĩ thì có lẽ chúng đã tuyên chiến với ta rồi… Alekxandr Danilovich ạ, không biết có phải vì trí tuệ tôi nghèo nàn quá nên không thể đạt được kết quả nhiều hơn không, nhưng một hiệp ước đình chiến, dù sao cũng không phải là chiến tranh".

***

Còn rất nhiều bộ phận chưa hoàn thành. Đinh thì thiếu. Mãi hôm qua mới có một phần đoàn xe trượt tuyết chở sắt vùng Tula tới, trên con đường tuyết đã tan. Các lò rèn làm việc suốt đêm. Môi ngày giờ đây rất quý giá: phải lợi dụng nước lũ để đưa những chiếc tàu chiến nặng nề ra cửa sông Đông.

Đèn thắp sáng trưng. Những người thợ rèn, tạp dề cháy xém, sơ-mi đẫm mồ hôi mặn, những người quai búa, người nào người nấy đều to lớn, mình trần đến tận thắt lưng, da khét lẹt, nhưng chú bé ám khói kéo bễ, ai ai cũng mệt mỏi rã rời, những cánh tay đen nhẻm của họ cử động như máy. Những người chỉ làm việc. - họ thay phiên nhau nhiều lần trong một đêm không rời khỏi lò; người thì ngồi ngay bên cánh cửa để ngỏ, nhai cá khô; người thì ngủ trên những đống than.

Kuzma Zemov, - người thợ cả đầu tiên Lev Kirilovich đã đưa từ xưởng của lão ở Tula đến đây. - người ta đã giải Zemov từ nhà tù Tula đến làm việc chung thân ở xưởng đó - bị thương ở tay. Một người thợ cả khác suýt chết ngạt; giờ đây nằm bên cạnh lò rèn trên những tấm ván ẩm ướt, mặt quay ra hướng gió ban đêm, hắn đang than vãn kêu rên.

Người ta hàn chân chiếc mỏ neo lớn của tàu La Sitadell. Chiếc mỏ neo treo vào ròng rọc ở xà trên trần, được đặt vào lò. Những người kéo bễ, lấy tay quệt mồ hôi trên trán, thở hổn hển, kéo cán của sáu chiếc bễ.

Hai người quai búa đứng đó sẵn sàng, những chiếc búa dài của họ dựng dưới chân. Với bàn tay lành còn lại, bàn tay kia quấn giẻ, Zemov vừa đảo than vừa nói:

- Gắng lên, gắng lên, kéo bễ mạnh nữa vào!

Vua Piotr đứng đó, mặc chiếc sơ-mi trắng nhớp nhúa, ngực đeo tạp dề bằng vải thô, mặt mũi hốc hác và lem luốc mồ hóng, môi chúm lại, tay cầm cặp kìm dài, nhà vua thận trọng quay đi quay lại chân chiếc mỏ neo trong lò Công việc hàn một bộ phận lớn như vậy thật khó khăn.

Zemov quay về phía những người thợ đang giữ thừng chiếc ròng rọc:

- Nào… nghe kỹ đây… - và nói với vua Piotr - Đúng lúc rồi đấy, nếu không thì cháy mất… - Cặp mắt lồi không rời khỏi lò than, nhà vua gật đầu đồng ý và ngoáy ngoáy cặp kìm - Nào, mạnh tay vào! Nào!
Những người thợ, chuyển tay thật nhanh, kéo thừng, ròng rọc kêu ken két. Chiếc mỏ neo nặng bốn mươi phút ra khỏi lò. Tia lửa tung tóe khắp nơi. Thân neo được nung đỏ, nổ lách tách, lơ lửng trên đe. Bây giờ phải để nghiêng chiếc neo, đặt xuống cho chắc chắn.

Lần nầy, Zemov nói khẽ:

- Nghiêng nó xuống, đặt nó xuống… Đặt nó xuống thật vững… - Chiếc neo được đặt nằm trên đe - Cạo hết cứt sắt đi. - Chính Zemov cầm một chiếc chổi nhỏ quét cứt sắt trên chếc neo, chiếc chổi bắt lửa - Chân neo?

Quay về phía nhà vua, Zemov thét lên, giọng dữ dội:

- Thế nào, còn đợi gì nữa? Đem chân neo lại chứ!

- Sẵn sàng!
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #234 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2011, 09:20:58 pm »

Nhà vua vội vã rút cặp kìm nặng một phút từ trong lò ra định đặt lên đe nhưng trượt, suýt nữa đánh rơi mất chân neo nóng đỏ. Nhà vua gò người lại vì gắng sức răng nhe ra, đặt cái chân neo lên đe.

- Giữ chắc nữa vào?

Zemov vừa thét vừa đưa mắt nhìn những người quai búa. Hai người nầy liền quai búa xuống, miệng thở hồng hộc, búa vung thành những đường vòng tròn. Vua Piotr giữ chặt chân neo. Zemov lấy búa đập: tốc, tốc, tốc, tốc, tốc, tốc… Cứt sắt nóng bỏng bắn tung tóe vào các tạp dề.

Công việc hàn neo đã xong. Thợ quai búa thở phì phò, đã tránh ra một góc. Vua Piotr vứt bỏ kìm vào một cái thùng, lấy tay áo lau mặt. Mắt nhà vua nheo lại, hân hoan, nháy nháy Zemov. Zemov nhăn mặt:

- Làm thế nào được, thưa Piotr Alekseevich, việc ấy thường xảy ra… Nhưng lần khác, hoàng thượng đừng rút kìm ra vội như thế, có thể làm người khác bị thương và chắc chắn là sẽ trượt đe. Chính thần cũng đã từng bị đòn về lỗi lầm đó.

Không trả lời, nhà vua rửa tay trong thùng nước, lấy tạp dề lau, mặc chiếc áo nẹp vào rồi bước ra khỏi lò.
Không khí đượm hơi ẩm mùa xuân. Dưới những ngôi sao lớn, những cục băng rì rào trên dòng sông nhờ nhờ xám. Một ngọn đèn lồng đung đưa trên cột buồm tàu La Sitadell. Tay thọc vào túi, miệng khe khẽ huýt sáo, nhà vua men theo dọc sông, sát ngay bên bờ nước.

Trông thấy Sa hoàng, người lính thuỷ đứng gác bên tường ngăn, vội đẩy cửa vào báo cho các vị thượng thư biết. Nhưng vua Piotr không bước ngay vào phòng bên. Nhà vua thích thú hít không khí ấm áp và khói thuốc lá, cúi xuống bàn, xem xét các món ăn.

- Nầy, - nhà vua nói với một người để râu quai nón lộng mầy người lên vì kinh ngạc, cặp mắt xanh biếc rạng rỡ trên khuôn mặt nhỏ bé; đó là Aladuskin, người thợ mộc đóng tàu nổi tiếng - Miska, đưa cho ta đĩa kia - nhà vua vừa nói vừa chỉ món thịt quay hầm khoai ở phía bên kia bàn. Nhà vua ngồi xuống ghế, trước mặt vị phó đô đốc đang ngủ và chậm rãi uống một ly vodka như người ta uống khi trong người rất mệt mỏi; rượu dẫn nhanh vào mạch máu. Nhà vua chọn một trong những quả táo chắc nhất. Vừa nhai, nhà vua vừa nhổ hạt vào cái đầu hói của Cornelix Cruyx:

- Ông ta làm sao thế? Say chứ gì?

Vị phó đô đốc tức thì ngẩng bộ mặt nhăn nhúm lên và giọng trầm trầm khàn khàn, đáp:

- Có gió Nam thổi, gió Tây Nam cấp một. Đến phiên Pambur trực đấy. Thần thì thần nghỉ. - Rồi hắn lại vùi đầu vào ống tay áo thêu.

Ăn xong, nhà vua nói:

- Tại sao nơi các ngươi lại buồn thiu như vậy? - Nhà vua đặt hai nắm tay xuống bàn đợi một phút, ưỡn thẳng lưng lên rồi đứng dậy và sang phòng bên, ngồi xuống giường.

Các vị thượng thư kính cẩn đứng cả dậy. Nhà vua lấy ngón tay cái nhồi tẩu thật chặt với thứ thuốc lá Hà Lan, châm lửa ở ngọn nến do Alexaska đưa ra.

- À chào vị đại sứ thần.

Đôi chân già nua của Voznixyn, đi tất dạ khuỵu xuống; đuôi áo cứng đơ của chiếc áo may theo kiểu Pháp co lên, lão cúi rạp xuống chào, những chùm tóc ở bộ tóc giả xoã xuống tận đôi giầy đầy bùn của nhà vua. Lão giữ nguyên tư thế đó, đợi Sa hoàng nâng dậy. Vua Piotr chống khuỷu tay ngả người xuống gối và nói:

- Alexaska, nâng vị đại sứ thần dậy… Prokofi, đừng giận ta, ta mệt lắm… - Voznixyn bị nhục đấy!
Melsikov ra và tự mình đứng dậy.

- Ta đã đọc thư của nhà ngươi. Nhà ngươi xin ta đừng giận dữ. Ta không giận dữ đâu. Nhà ngươi đã làm tròn nhiệm vụ một cách chính trực, theo kiểu cũ. Ta tin nhà ngươi… - Vẻ khó chịu, nhà vua nhe răng ra - Bọn Áo! Bọn Anh! Được rồi. Đây là lần cuối cùng ta kính cẩn chào chúng… Nhà ngươi ngồi xuống và kể đi?
Voznixyn lại kể lại công việc của lão: lão nói đến những nỗi bực bội phải chịu dựng và những cố gắng lớn của lão tại hội nghị các sứ thần. Vua Piotr đã biết tất cả những điều đó qua thư của lão; nhà vua lơ đãng rít tẩu thuốc.

- Tâu bệ hạ, - Voznixyn nói, - kẻ tôi tớ của bệ hạ đã lý luận như sau, với cái trí thông minh nghèo nàn của mình: miễn là không khiêu khích bọn Thổ Nhĩ Kỳ, ta có thể kéo dài rất lâu hiệp ước đình chiến. Phải cử ngay một người rất mực thông minh, quỷ quyệt đến gặp bọn Thổ Nhĩ Kỳ… Người đó sẽ thương lượng với chúng, kéo dài thời gian, thậm chí hứa hẹn sẽ nhượng bộ cái gì đó, vì thực ra, tâu bệ hạ, chúng là bọn Hồi giáo, nói dối chúng cũng không có tội lỗi gì. Chúa sẽ tha thứ cho ta.

Vua Piotr cười gằn. Nửa bộ mặt nhà vua ở trong bóng tối nhưng cái nhìn của đôi mắt tròn xoe được ngọn nến chiếu sáng trông thật nghiêm nghị.

- Các vị đại thần các vị còn có điều gì nói nữa không nào?. - Nhà vua rít tẩu thuốc và nhổ qua khe răng xa đến một xagien.

Bóng hai bộ tóc giả nhọn hoắc của Apraxin và Golovin chuyển động trên tường. Quả thật khó mà trả lời được ngay tức thì.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #235 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2011, 09:21:45 pm »

- Nói năng như xưa kia ở viện Duma, với lời lẽ văn hoa, xoay quanh vấn đề, vua Piotr không thích. - Alexaska, vừa cọ vai vào cái lò nóng vừa bĩu môi.

- Cái gì thế? - Vua Piotr hỏi Alexaska.

- Prokofi tưởng hành động theo lề lối của ông cha ta là tốt: kéo dài và làm rối rắm vấn đề! Ngày nay, cái lối đó không ổn tí nào. - Lev Kirilovich nổi nóng, thở hổn hển, nói.

- Ngay cả Chúa cũng không cho phép ta ký kết hoà ước với bọn Thổ Nhĩ Kỳ. Giáo trưởng ở Gierusalem van xin ta bảo vệ Mộ Thánh. Các phiên chúa ở Moldavia và Valasi gần như quỳ gối xin ta giải phóng họ khỏi nền đô hộ Thổ Nhĩ Kỳ. Vậy mà ta, ôi lạy Chúa?. - Vua Piotr nói, giọng chế giễu: "Nào, đừng có khóc…"

Lev Kirilovich ngừng bặt, mồm mắt mở tròn xoe, rồi nói tiếp:

- Tâu bệ hạ, chúng ta không thể không có Hắc Hải được! Nhờ ơn Chúa, giờ đây chúng ta đã mạnh và bọn Thổ Nhĩ Kỳ thì yếu… Ta không nên đến Krym, như Vaska Golixyn, mà tiến thẳng đến Constantinop bằng đường sông Dunai, dựng cây thánh giá trên nhà thờ Đức thánh bà Sofia(3).

Các bộ tóc giả nhọn hoắc lắc lư, lo lắng. Mắt vua Piotr long lanh, vẫn bí hiểm; chiếc tẩu nhỏ rít lên. Lão Apraxin vốn tính bình tĩnh, khẽ nói:

- Hoà bình vẫn hơn là chiến tranh, Lev Kirilovich ạ. Chiến tranh tốn kém lắm. Ký kết hoà ước với bọn Thổ Nhĩ Kỳ trong hai mươi lăm năm hoặc ngay mười năm đi nữa mà không trả Azop, không trả những thành luỹ nhỏ trên sông Dniepr cho chúng, ta còn mong gì hơn nữa? - Lão liếc mắt về phía vua Piotr và thở dài.

Vua Piotr đứng dậy. Nhưng căn phòng bé quá không thể đi đi lại lại được, nhà vua ngồi lên bàn.

- Thế ra suốt đời ta, ta phải làm theo ý các chúa đất quý tộc? Đội cảnh vệ quý tộc? Chúng leo lên mình ngựa, bọn quỷ béo ấy, thậm chí cũng không biết cầm kiếm tay nào nữa. Toàn đồ vô tích sự, đồ vô tích sự chính tông! Nhà ngươi cần phải nói chuyện với đám thương nhân, Arkhagensk là cửa ngõ duy nhất đi ra thế giới: bọn Anh, bọn Hà Lan muốn định giá thế nào cũng được, chúng mua như lấy không… Mitrofan Sorin có kể cho ta nghe là hắn đã để thối tám nghìn pud gai trong kho, hắn đã đợi giá hời qua ba mùa thông biển. Bọn quái ác ấy diễu qua và chỉ cười… Lại còn, gỗ nữa! Ở ngoại quốc, người ta cần gỗ. Gỗ thì chỉ ta mới có thế mà ta vẫn phải van vỉ: xin các ngài mua cho. Còn vải nữa! Ivan Brovkin nói là thà hắn đốt hết vải ở trong kho tại Arkhagensk còn hơn là bán với giá hạ… Không? Chúng ta không phải bận tâm đến Hắc Hải… Ta phải có tàu của ta trên biển Ban Tích

Nhà vua đã nói xong… Vẫn ngồi trên bàn, người dài nghêu, mặt lem luốc, nhà vua nhìn các quan thượng thư với cặp mắt lồi. Các thượng thư sị mặt. Gây chiến với bọn Tarta, hay với bọn Thổ Nhĩ Kỳ chẳng hạn, là một công việc quen thuộc tuy có khó khăn. Nhưng chiến tranh trên biển Baltic ư? Đánh nhau với bọn Livoni, bọn Ba Lan ư? Gây chiến với quân Thuỵ Điển ư? Đi rúc vào cái mớ bòng bong ở châu Âu ư? Lev Kirilovich lấy bàn tay mập mạp thọc vào vạt áo nẹp, rút ra chiếc khăn tay lụa màu hạt dẻ, thấm mồ hôi trên mặt.

Voznixyn lắc lư bộ mặt choắc cheo khô đét. Vua Piotr rút trong túi quần ra một túi thuốc lá:

- Với bọn Thổ Nhĩ Kỳ, ta sẽ không làm như Prokofi, ta sẽ đòi hỏi hoà bình bằng một cách khác… Ta sẽ
không đến đấy vẻn vẹn với một chiếc áo nẹp lót lông cáo ánh bạc.

- Nhất định rồi! - Alexaska bỗng nói lên, mắt long lanh.
 
Chú thích:

(1) Cấp bậc tương đương chuẩn đô đốc.

(2) Dưới thời Ivan Hung đế, người Krym đã đốt cháy Moskva, giết và bắt làm tù binh khoảng nửa triệu
người. - chú thích của tác giả)

(3) Nhà thờ lớn ở Constantinop, Thổ Nhĩ Kỳ. - Năm 1953 người Thổ Nhĩ Kỳ đổi thành nhà thờ Hồi giáo.

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #236 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2011, 09:23:28 pm »

Chương 113

Hạm đội xuôi dòng sông Đông, nước đục lờ, đấy ắp các cánh buồm kẻ sọc căng phồng dưới làn gió ấm.
Mười tám chiếc tàu hai boong đi đầu, đằng trước và đằng sau là hai mươi thuyền buồm nhẹ và hai mươi thuyền chiến nhỏ, thuyền buồm lớn có chèo, du thuyền, thuyền chiến chèo tay: tám mươi sáu tàu trận và năm trăm thuyền chở quân Cô-dắc hợp thành một đoàn dài rải ra trên các khúc sông.

Từ trên boong tàu cao nhìn xuống là những cánh đồng cỏ xanh rờn; mặt nước lăn tăn của những hồ ao do lũ mùa xuân tạo thành dọc theo bờ sông. Từng dàn chim bay về phương Bắc. Từng quãng lại có những ngọn đồi đá vôi điếm trắng ở chân trời. Gió Đông Nam thổi lúc đầu là gió người, mọi người phải chèo lái gay go cho đến khi tàu quay mũi sang hướng Tây: các cánh buồm rũ xuống, tàu giạt đi, các thuyền trưởng dùng loa quát tháo dữ dội. Nhật lệnh nói rõ: "Không một tàu nào được tụt lại sau tàu chỉ huy. Mọi tàu đều phải theo sát tàu nầy. Nếu ai đến chậm ba giờ sẽ bị khẩu một phần tư lương hàng năm, chậm sáu giờ khẩu hai phần ba và chậm mười hai giờ khẩu lương cả năm".

Khi tàu quay mũi về hướng Tây Nam, cuộc hành trình trở nên thích thú. Ánh chiều tà ẩm ướt và rực rỡ trải ra trong chốt lát trên đồng cỏ. Một phát trái phá từ tàu đô đốc ầm nổ. Tiếng kèn thay phiên gác vang lên. Đèn hiệu leo lên đỉnh cột buồm. Buồm được thu lại, mỏ neo thả xuống nước kêu lũng bũng. Những đống lửa được nhen lên trên bờ sông mờ mờ tối, tiếng quân Cô-dắc í ới, nghe như hát.

Từ cái khối đem ngòm của chiếc tàu Sứ đồ Piotr do Sa hoàng chỉ huy, một phát pháo hiệu, tựa cái đuôi của mụ phù thuỷ, bay lên bầu trời đầy sao, tiếng rít làm đàn cun cút hoảng sợ. Mọi người tập hợp tại phòng sĩ quan ăn bữa tối. Trong những đêm say sưa đó, các đô đốc thuyền trưởng, cận thần của Sa hoàng, từ các tàu gần nhất đến đây bằng thuyền.

Khi qua tu viện Divnogorski, sáu chiếc tàu do công ty của vương hầu Boris Alekseevich Golixyn đóng, gia nhập hạm đội. Trong dịp nầy, đoàn tàu bỏ neo bên bờ sông đá vôi, tiệc tùng linh đình hai ngày ròng rã ở ngoài trời trong vườn tu viện. Người ta tìm cách cám dỗ các tu sĩ bằng tiếng kèn đồng hoặc những lời bông đùa hai nghĩa; người ta cho phát hoả cả tám trăm khẩu đại bác của hạm đội để làm họ kinh hoảng.

Rồi buồm lại căng gió trên cả dòng sông. Tàu lượn theo dọc bờ sông cao, chạy qua những thành nhỏ chung quanh có những hàng giậu bằng phên đan và luỹ đất, qua những lãnh địa mới của các đại thần và các tu viện, qua những nơi đánh cá. Gần thành nhỏ Pansin, người ta thấy hàng đàn kỵ binh Kalmys đen ngòm, mang giáo dài, và bên hữu ngạn, quân Cô-dắc đóng giữa các xe cộ xếp thành một ô vuông với hai khẩu đại bác. Quân Kalmys và quân Cô-dắc đương đầu với nhau, tranh dành những đàn ngựa và những nơi đánh cá chiến.

Tổng trấn Sein đi xuống tới gặp quân Kalmys, Boris Alekseevich, Golixyn thì tới gặp quân Cô-dắc. Họ giảng hoà đôi bên. Nhân dịp nầy lại tiệc tùng linh đình trên những ngọn đồi xanh rờn, dưới những đám mây lừng lờ trôi, dưới những đàn sếu bay ngang trời.

Cornelix Cruyx, rượu say, ra lệnh câu rùa rồi chính tay hắn đem nấu xúp. Vua Piotr cũng ra lệnh câu rùa và đãi các đại thần một món ăn đặc sắc. Ăn uống xong, nhà vua đưa những đầu rùa ra, tổng trấn Sein nôn ọe luôn.

Mọi người cười mãi.

Ngày 24 tháng năm, vào buổi trưa, khí trời oi bức những pháo dài thành Azop xuất hiện ở phía Nam, qua một màn sương mù che lấp cả mặt biển. Nơi đây, dòng sông Đông trải ra rộng mênh mông; nhưng lòng sông không đủ sâu để các tàu gắn bốn mươi cỗ đại bác có thể vượt qua được cửa sông.

Trong lúc phó thuỷ sư đô dốc thăm dò lòng nhánh sông Đông - sông Kutiurma - và vua Piotr tới Azop và Taganrok bằng du thuyền để thăm các thành luỹ, pháo đài - thì đoàn sứ thân của phiên vương (tức Krym) từ Bakhsitxarai tới, cưỡi trên những con ngựa tuyệt đẹp, có cả một đoàn ngựa chở đầy tặng phẩm đi theo. Họ dựng lên những lều thảm rồi cắm trên dỉnh đồi một cái "túc" tức là một ngọn giáo dài trên đầu có buộc một cái đuôi ngựa và một hình trăng lưỡi liềm, - rồi cho phiên dịch tới hỏi xem Sa hoàng có vui lòng nhận lời chào và tặng phẩm của phiên vương hay không.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #237 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2011, 09:24:25 pm »

Các sứ thần được trả lời là Sa hoàng ở Moskva, chỉ có đại diện của nhà vua là thuỷ sư đô đốc Golovin và các đại thần có mặt ở đây. Ngọn "túc" phấp phới bay ba ngày trên đỉnh đồi. Quân Tarta phi trên mình những con ngựa hung dữ trước nòng những khẩu trái phá. Đến ngày thứ tư, các sứ thần ra mắt trên tàu đô đốc. Người ta trải một tấm thảm trắng của miền Anatoli rồi đặt tặng phẩm lên trên: một cốt sắt cho yên ngựa, một thanh kiếm, súng ngắn, một dao găm, một bộ yên cương, mọi thứ khá giản dị, bằng bạc nạm ngọc, giá trị không bao nhiêu. Golovin ngồi trịnh trọng trên chiếc ghế gấp, người Tarta ngồi trên thảm, chân xếp bàn tròn. Họ nói đến hiệp ước đình chiến do Voznixyn đã kết kết, rồi nói đến việc nầy việc nọ, vừa nói vừa vuốt vuốt chòm ria lưa thưa hai bên mép, vừa đưa cặp mắt linh hoạt như mắt chó biển sục sạo khắp nơi, vừa tặc tặc lưỡi:

- Moskva rất tốt, hạm đội rất tốt… Nhưng các ngài đã lầm khi đặt vào đó nhiều hy vọng quá. Những tàu lớn của các ngài sẽ không qua được dòng sông Kutiurma. Mới đây, hạm đội của vua Thổ Nhĩ Kỳ đã định lọt vào sông Đông nhưng rồi đành chịu tiu nghỉu trở về Kesk.

Tất cả mọi việc đều chứng minh là họ đến chỉ có mục đích dò xét tình hình. Sáng sớm hôm sau, trên đồi cột "túc" lều kỵ binh đều biến mất, chẳng còn gì nữa.

Cuộc thăm dò cho biết là dòng sông Kutiurma nông. Mực nước sông Đông ngày càng xuống. Người ta chỉ còn mong một cơn gió dữ từ phía Tây Nam thổi tới để dồn nước biển vào trong eo mà thôi.
Vua Piotr từ Taganrok trở về. Mặt nhà vua sa sầm khi được biết là lòng sông không được sâu lắm. Gió Nam uể oải thổi. Nóng bức bắt đầu. Từ các sườn tàu, hắc ín chảy nhỏ giọt. Vỏ tàu bằng gỗ không được phơi kỹ trong mùa đông bây giờ nứt nẻ. Người ta phải hút nước từ hầm tàu lên. Buồm thu cả lại, các tàu đậu bất động, hư hư ảo ảo trong không khí nóng bức.

Có lệnh phải bỏ bớt đồ nặng trên tàu. Từ hầm tàu, những thùng thuốc súng và thức ăn muối được chuyển xuống thuyền để chở tới Taganrok. Tàu nhẹ đi nhưng mực nước sông Kutiurma cứ tiếp tục rút.

Ngày 22 tháng sáu, vào giờ bữa ăn trưa, chuẩn đô đốc Julius Retet, nặng nề và mặt đỏ nhừ, từ phòng sĩ quan nóng như cái lò bước ra đứng trên cầu tàu đái xuống. Mắt long lên, hắn nhìn thấy ở phía Tây Nam một đám mây xám đang ùn lên rất nhanh. Đái xong, hắn nhìn đám mây một lần nữa, rồi trở về phòng sĩ quan, cấm lấy mũ, gươm và nói lớn: "Sắp có giông!"

Vua Piotr, các đô đốc và các thuyền trưởng đứng bật cả dậy, rời khỏi bàn. Những dám mây tơi tả, lướt trên trời cao: từ phía sau mặt nước nhợt nhạt, những khói đen ngòm bốc lên. Mặt trời nóng giãy lấp lánh ánh sắt. Cờ xí quần áo thuỷ thủ phơi trên thừng cột buồm rủ xuống, im phăng phắc. Trên tất cả các tàu, các thuỷ thủ trưởng thổi còi báo động: tất cả mọi người lên boong! Người ta buột chặt buồm lại, thả những neo dùng khi có bão.

Mây đen phủ kín nửa bấu trời. Mặt nước xám xịt lại Một tia sáng lớn từ sau rìa làn mây lóe ra. Gió rít trên dây buồm càng dữ dội hơn, khắc khoải hơn. Cờ đập phành phạch. Gió thổi mạnh vào những đám mây đen ngòm đang cuồn cuộn, tan tác. Cột buồm kêu răng rắc; những quần ngắn bị giật khỏi các dây thừng, bay lên. Gió xô đẩy mặt nước, giật đứt các dây dợ trên tàu. Các thuỷ thủ trên các trục buồm co quắp bíu chặt lấy dây thừng. Các thuyền trưởng dậm chân, quát tháo át cả cơn bão mỗi lúc một mạnh thêm. Nước sủi bọt xô vào mạn thuyền. Bầu trời như vỡ toác ra trong tiếng sấm động ầm ầm, ánh chớp sáng loáng; sấm rền không ngừng. Những cột lửa đổ xuống.

Vua Piotr, đầu trần, vạt áo nẹp bay tung, tay bám chặt lấy lan can tàu, đứng ở đằng lái con tàu lúc chúi xuống, lúc nhoi lên. Oang tai choáng mắt, nhà vua há hốc mồm như cá ngáp. Chớp đánh lằng nhằng chung quanh tàu, tưởng như đánh vào đầu các ngọn sóng. Julius Retet thét vào tai nhà vua:

- Chưa có gì đâu. Cơn bão thực sự một lát nữa mới bắt đầu.

Cơn bão tới, gây nhiều thiệt hại. Sét đánh chết hai thuý thủ trên bờ. Bão giật đứt dây cáp buộc mỏ neo, quật gẫy nhiều cột buồm, xô giạt vào bờ nhiều tàu nhỏ làm những tàu nầy ngập nước. Nhưng mặt khác, một cơn gió Tây Nam dữ dội dồn đến, đúng như mọi người mong muốn.

Nước sông Kutiurma dâng lên vùn vụt. Tang tảng sáng các tàu bắt đầu lên đường. Khoảng năm mươi thuyền chèo tay, dùng những dây thừng dài, kéo chiếc La Sitadell đi trước. Từ hải tiêu nầy đến hải tiêu khác, đáy tàu không một lần nào chạm lòng sông, chiếc tàu ra khỏi sông Kutiurma và tiến vào biển Azop,
nổ đại bác và kéo cờ hiệu của thuyền trưởng Pambur.

Cùng ngày hôm đó, các tàu có tầm nước cũng được kéo ra khơi:Sứ đồ Piotr, Voronez, Azop, God Darag và Vijin Drag. Ngày 27 tháng sáu, toàn thể hạm đội thả neo trước những pháo đài của thành Taganrok.
Ở đây núp trong kè xây ở cảng, người ta xảm lại tàu quét hắc ín và sơn lại những vỏ tàu bị khô nẻ, nối lại các dây thừng, xếp đồ nặng lót đáy tàu. Vua Piotr ngồi trên một chiếc ghế đẩu treo lơ lửng bên mạn tàu La Sitaden hàng ngày ròng rã. Nhà vua vừa khe khẽ huýt sáo vừa đập búa vào những chỗ xảm. Hoặc chồng cái mông lép kẹp dưới chiếc quần chẽn bằng vải thô nhem nhuốc, nhà vua leo lên cột buồm để mắc một trục buồm mới. Cũng có khi nhà vua lại tụt xuống tận đáy hầm tàu, nơi Fedorxey Xkliaev làm việc. Trong lúc cãi cọ hắn đã đi đến chỗ chửi nhau tục tằn với Jhon Dey và Ioxif Ney - Hắn đang lắp mộng ở đằng lái.

- Piotr Alekseevich, nhân danh Chúa, xin bệ hạ đừng làm vướng hạ thần, - Fedorxey nói, giọng cáu kỉnh - Nếu các mộng của hạ thần không vững, xin bệ hạ cứ đem chặt đầu hạ thần đi nếu bệ hạ muốn, nhưng xin bệ hạ đừng làm vướng hạ thần!
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #238 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2011, 09:26:46 pm »

- Được, được ta chỉ muốn giúp nhà ngươi thôi!

- Thế thì xin bệ hạ đến giúp Aladuskin, vì bệ hạ và hạ thần cùng làm thì chỉ có cãi nhau mất!

Mọi người làm việc suốt tháng bảy. Chuẩn đô đốc Julius Retet huấn luyện thuỷ thủ các tàu, tuyển trong số binh lính các trung đoàn Preobrazenski và Xemionovski.

Nhiều thuỷ thủ là con nhà quý tộc: suốt đời họ, họ chưa hề trông thấy biển cả. Về tính hung ác và lòng dũng cảm, Julius Retet là một thuỷ thủ thực sự. Hắn dùng roi thừng nhồi vào óc các thuỷ thủ lòng say mê đi biển, buộc họ phải đứng trên trục chiếc buồm cao tít, cách mặt nước mười hai xagien, nhảy từ trên lan can tàu xuống nước, đầu đâm xuống trước và để nguyên quần áo: "Kẻ nào chết đuối, kẻ đó không phải là thuỷ thủ". Đứng giang hai chân trên cầu chỉ huy, quai hàm bạnh như mõm một con chó giữ nhà, tay cắp gậy sau lưng, tên cướp biển độc nhỡn nầy nhìn thấy hết thảy: ai lề mề tháo một nút thừng hay buộc một đầu dây không chắc: "Nầy đằng kia, trên một buồm đằng mũi kia, đồ con bò, mầy thả dây buồm thế nào thế?" Hắn dậm chân: "Tất cả mọi người về sàn đằng lái… Bắt đầu lại!".

Emelian Ukrainxev, sứ thần mới được bổ nhiệm, từ Moskva tới. Hắn là một nhà kinh doanh dày dạn kinh nghiệm, làm việc tại Bộ các sứ thần. Đi theo hắn có viên thư ký Sheredeev và các phiên dịch Lavretski và Botvinkin. Để làm tặng phẩm cho vua Thổ Nhĩ Kỳ và các viên tổng đốc Thổ Nhĩ Kỳ, họ có đem theo lông hắc điêu thử, nanh hải báo và một pud rưỡi chè.

Ngày 14 tháng tám, tàu La Sitaden dong buồm, cùng toàn thể hạm đội ra khơi vào một buổi gió Đông Nam thổi mạnh, thẳng dường tiến về hướng Tây Tây- Nam. Ngày 17, bên mạn trái tàu, trên bờ sông Nogai. Hạm đội vượt qua eo biển, nổ súng đại bác, khói thuốc súng mù mịt, rồi đến trước Kesk và thả neo. Tường thành nầy đã có từ lâu, những tháp vuông cao nhiều chỗ đã đổ nát. Không có pháo đài, thành luỹ. Bốn chiếc tàu đỗ gần bờ. Rõ ràng là người Thổ Nhĩ Kỳ hốt hoảng: họ không ngờ thấy trong vịnh xuất hiện nhiều buồm và nhiều khói thuốc súng đại bác đến thế.

Murtaza, tổng đốc thành Kers, một người Thổ Nhĩ Kỳ ăn bận chải chuốt và lười nhác, khiếp sợ nhìn qua lỗ châu mai một ngọn tháp. Hắn cử phái viên xuống tàu đô đốc của xứ Moskovi để hỏi lý do sự thăm viếng của một đoàn tàu lớn đến như thế. Một tháng trước đây quân Tarta của phiên vương Krym đã về báo cáo là hạm đội của Sa hoàng không ra gì, hoàn toàn không có đại bác và không bao giờ có thể vượt qua được các bãi cát ngầm ở Azop.

- Ai-ai-ai… Ai-ai-ai, - Murtaza vừa lẩm bẩm vừa gạt một cành cây con mọc trong lỗ châu mai để nhìn cho rõ hơn. Hắn đếm, đếm mãi số tàu. Rồi hắn bỏ không đếm nữa.

- Đứa nào đã tin vào bọn gián điệp của phiên vương? - hắn thét lên với bọn công chức đứng sau hắn trên hiên tháp, đầy cứt chim. - Đứa nào đã tin vào bọn chó Tarta?

Murtaza dậm đôi giầy mõm nhái. Bọn viên chức, được nuôi béo và quen sống lười biếng trong cái thành phố hẻo lánh quá yên tĩnh nầy, đặt tay lên ngựa, lắc cái đầu đội mũ dấu hoặc quấn khăn, vẻ mặt đau khổ.
Chúng hiểu rõ là Murtaza sẽ phải viết cho hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ một bức thư chẳng thú vị gì và ai biết được sự việc sẽ xoay chuyển ra sao? Hoàng đế tuy là đại diện tối cao của Giáo tổ nhưng tính tình nóng nảy, người ta đã từng thấy nhiều viên tổng đốc, còn quan trọng hơn Murtaza, rên rỉ mà ngồi lên cọc tội hình.
Cánh buồm chéo của chiếc thuyền nhỏ chở đoàn phái viên rời khỏi tầu đô đốc. Murtaza vội sai một viên chức ra bờ vịnh để thúc giục bọn phái viên, và hắn lại đếm số tàu. Các phái viên - hay người Hy Lạp - đến trình diện; mắt ngước lên trời, so vai rụt cổ, họ tặc tặc lưỡi. Murtaza giận dữ, vươn cổ, nghểnh bộ mặt phì nộn về phía họ. Họ kể:

- Viên đô đốc xứ Moskovi ra lệnh cho chúng tôi gửi lời chào ngài và nói là họ đưa sứ thần đến gặp hoàng đế. Chúng tôi có cho viên đô đốc biết là ngài không thể để sứ thần qua đường biển được và phải qua Krym và Baba như tất cả mọi người khác. Viên đô đốc trả lời: "Nếu các người không để ta đi qua đường biển, tất cả hạm đội của ta sẽ đi cùng với sứ thần đến tận Constantinop!"

Ngày hôm sau, tổng đốc Murtaza phái hai quan chức thượng cấp đến gặp đô đốc. Và họ nói:

- Thưa các ngài xứ Moskovi, chúng tôi ái ngại cho các ngài. Các ngài không biết Hắc Hải của chúng tôi. Những khi có tai biến, trên biển nầy, lòng người trở nên đen tối, do đó mới có tên gọi là Hắc Hải. Các ngài hãy nghe chúng tôi, hãy theo đường bộ mà tới Baba.

Đô đốc Golovin cau mặt lại: "Các người tưởng làm ta sợ chăng? Lúc ấy có một người cao lênh khênh, mắt sáng, ăn mặc theo kiểu Hà Lan phá lên cười và tất cả những người Nga đều cười theo.

- Làm thế nào bây giờ đây? Làm thế nào ngăn không cho họ qua được khi mà lúc gió sớm nổi lên, các tàu xứ Moskovi dong buồm và sắp thành hàng theo đúng mọi phép tắc trong ngành hàng hải, đi đi lại lại trong vịnh, bắn phá các tấm biển bằng vải cắm trên các phao. Làm thế nào mà từ chối bọn láo xược cờ nầy? Chỉ còn hy vọng ở Chúa Alla(1). Murtaza kéo dài cuộc thương lượng.

Xuồng cặp mạn tàu đô đốc Thổ Nhĩ Kỳ. Cornelix Cruyx và hai người chèo xuồng, mặc quần áo thuỷ thủ Hà Lan - vua Piotr và Alexaska - bước lên tàu. Trên sàn tàu đằng lái, thuỷ thủ Thổ Nhĩ Kỳ bắn một loạt súng chào viên phó đô đốc xứ Moskovi. Đô đốc Haxan trịnh trọng bước ra khỏi căn buồng phía lái tàu, mặc áo dài lụa trắng và chít khăn có cài một vành kim cương hình lưỡi liềm. Hắn trang nghiêm đặt ngón tay lên trán và lên ngực. Cornelix Cruyx bỏ mũ ra và vừa phất phất những chiếc lông chim trên mũ vừa đi giật lùi trước Haxan.

Người ta đưa đến hai chiếc ghế. Hai viên đô đốc ngồi dưới một cái tán vải. Một người béo lùn - tay đầu bếp đã bị hoạn - bưng một chiếc khay trên có một đĩa nhỏ đựng kẹo bánh, một ấm cà-phê và những chén nhỏ không lớn hơn cái đê khâu là mấy. Hai viên đô đốc chuyện trò lịch sự. Haxan hỏi thăm sức khỏe Sa hoàng.
Cornelix Cruyx trả lời Sa hoàng vẫn mạnh và cũng hỏi thăm sức khỏe hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ. Haxan cúi đầu xuống sát mặt bàn: "Alla phù hộ hoàng đế". Cặp mắt buồn bã của hắn nhìn sang bên cạnh Cornelix Cruyx.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #239 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2011, 09:27:50 pm »

- Ở Kesk, - hắn nói - chúng tôi không để một hạm đội lớn. Chúng tôi chẳng phải lo ngại ai ở đây. Trái lại ở biển Marmara, chúng tôi có những tàu mạnh. Súng đại bác trên tàu lớn đến mức có thể bắn đạn đá nặng ba pud.

Cornelix Cruyx vừa nhấm nháp cà-phê vừa trả lời:

- Tàu của chúng tôi không bắn đạn đá. Chúng tôi dùng đạn gang nặng từ chín đến mười lăm cân. Đạn nầy xuyên qua tàu địch từ bên nầy sang bên kia.

Haxan khẽ nhướn cặp lông mày đẹp:

- Chúng tôi rất lấy làm lạ thấy người Anh và người Hà Lan, những người bạn tốt của Thổ Nhĩ Kỳ, phục vụ một cách mẫn cán trong hạm đội của Sa hoàng

Cornelix Cruyx, với một nụ cười cởi mở, nói:

- Ồ thưa ngài Haxan, người ta phục vụ cho những ai trả lương hậu hơn.

Haxan nghiêm nghị gật đầu:

- Hà Lan và Anh thu được những món lãi lớn trong việc buôn bán với xứ Moskovi. Sống hoà bình với Sa hoàng có lợi hơn là gây chiến. Xứ Moskovi giàu có hơn tất cả các nước khác trên thế giới.

Haxan, vẻ nghĩ ngợi:

- Thưa ngài phó đô đốc, Sa hoàng lấy đâu mà có nhiều tàu như vậy?

- Chính người Moskovi đóng lấy, trong hai năm.

- Ai-ai-ai, - Haxan vừa kêu lên vừa lắc lư chiếc khăn.

Trong khi các đô đốc chuyện trò, vua Piotr và Alexaska mời các thuỷ thủ Thổ Nhĩ Kỳ hút thuốc và bày đủ trò cho họ cười. Thỉnh thoảng Haxan lại liếc mắt nhìn những anh chàng cao lớn có vẻ như quá tò mò ấy. Chẳng hạn, một trong hai người đã leo lên tận chòi canh trên đỉnh cột buồm. Người kia đưa mắt ngắm một khẩu đại bác bắn nhanh kiểu Anh. Nhưng Haxan lịch sự lặng im, ngay cả khi thuỷ thủ dẫn những người Moskovi xuống tận sàn giữa tàu.

Cornelix Cruyx xin phép xuống bến để mua hoa quả kẹo bánh và cà phê. Haxan suy nghĩ một lát và trả lời chính hắn có thể bán cà phê cho phó đô đốc.

- Ngài cần nhiều không?

- Độ bảy mươi đồng tiền vàng.

- Apdula-Alla!

Haxan gõ gót giầy gọi. Người đầu bếp hoạn lặc lè chạy đến, nghe lệnh rồi đem đến một cái cân, theo sau là mấy thuỷ thủ kéo lê những túi cà phê. Haxan nhích ghế lại gần cho tiện xem lại mặt cân, rồi rút từ trong bụng ra một chuỗi hạt hổ phách để tính mã cân. Hắn ra lệnh thác một túi. Vừa để những hạt cà phê tuôn trên những ngón tay sạch sẽ chau chuốt của hắn, hắn vừa nói, mắt lim dim:

- Cà phê nầy là thứ cà phê tốt nhất ở Java. Ngài sẽ cám ơn tôi, ngài phó đô đốc ạ. Ngài thật là một người tốt. - Và cúi sát tai phó đô đốc - Tôi không muốn làm hại ngài, ngài hãy khuyên can người Moskovi đừng đi theo đường biển: dọc bờ biển có nhiều đá ngầm và nhiều bãi cát nguy hiểm. Chính chúng tôi cũng ngại vùng ấy.

- Chúng tôi đi theo dọc bờ biển làm gì? - Cornelix Cruyx trả lời. - Miễn là có gió thuận, tàu chúng tôi cứ thẳng đường mà vượt biển.

Cornelix Cruyx đếm bảy mươi đồng Shervonitz(2).

Hai vị đô đốc chia tay nhau. Ra đến cầu xuống tàu, Cornelix Cruyx nghiêm khắc gọi: "Ôhê, Piotr Alekseyev!"
Một tiếng vội vã trả lời: "Có tôi!"

Vua Piotr và theo sau là Alexaska, từ một cửa hầm tàu vọt ra: cả hai người đều đã đội mũ đỏ hình đấu.
Phó đô đốc xứ Moskovi ngả mũ chào đô đốc Thổ Nhĩ Kỳ và ngồi vào chỗ bẻ lái. Xuồng chạy về phía bờ, vua Piotr và Alexaska ra sức chèo, mái chèo oằn lại, và vui vẻ cười nhe cả hai hàm răng.

Một đợt sóng nhào lao chiếc xuồng vào đá sỏi trên bờ. Từ cổng thành, các phái viên và các thượng quan Thổ Nhĩ Kỳ hồi nãy vội vàng tiến ra, men theo dãy thuyền đã hư nát và các cọc xanh rêu. Họ đến yêu cầu những người Moskovi đừng vào trong thành phố: nếu cần, các thương nhân sẽ đem đến tận xuồng mọi thứ hàng hoá cần mua… Vua Piotr trợn mắt, hai má đỏ bừng bừng vì giận dữ. Alexaska dựng thẳng mái chèo như một ngọn giáo.

- Myn Herz, hãy nói cho chúng biết… Hạm đội ta sẽ tiến lại cách một tầm súng đại bác… Nghĩa là…

- Họ có quyền không đế ta vào: đây là một toà thành, - Cornelix Cruyx nói - Ta hãy đi dạo trên bờ, dọc theo tường thành, ta sẽ thấy tất cả những điều ta muốn biết.
 
Chú thích:

(1) Thánh của đạo Hồi.

(2) Tiền cổ Nga, bằng 10 rúp.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM