Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:06:10 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tảng sáng  (Đọc 45491 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #20 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 03:15:05 pm »

*

*   *

Anh Bốn Linh được thư anh Sáu nhờ tìm nhà cho bà đốc Thụ và cô Tuyết Hạnh về ở. Lại một đợt khách thứ hai sau bốn chiếc rương T.A Quân sự. Anh Bốn Linh cân đi nhắc lại, cuối cùng anh chọn nhà tôi. Nhà tôi bằng tranh nhưng xây về hướng đông, có nhiều cửa sổ. Gió và ánh sáng là những thứ bác sĩ rất cần. Một bà đốc vợ với một ông đốc tờ về ở nhà quê, không phải chuyện vừa! Cả nhà trên sẽ dành cho bà đốc Thụ và cô gái. Chị Ba xuống ngủ nhà dưới. Tôi sang nhà anh Bốn Linh ngủ với thằng Cù Lao. Tôi và thằng Cù Lao được xếp vào loại chân chạy, bà đốc có nhờ gì, chúng tôi sẽ chạy. Trước đây một vài người ở làng mắc bệnh, lễ bái không lành, đã ra Đà Nẵng nhờ bà đốc nói với ông đốc một tiếng, ông cho cái toa mua vài thứ thuốc. Khi về lại làng, họ đều trầm trồ: Bà đốc và cô con gái sướng chi sướng lạ! Đời trước, ông bà có dày công tu nhân tích đức con cháu mới được cái sướng như vậy! Mọi việc bà đốc chẳng thèm động đến móng tay. Bước đi một bước đã có thằng xe. Đi chợ đã có con hầu xách rổ. Ngồi ăn có đứa đứng quạt. Mẹ đeo kiềng vàng, vòng vàng, mặc toàn gấm vóc. Cô gái mặc toàn tơ lụa, uốn tóc quăn. Cầm, kỳ, thi, họa đều giỏi.

Mẹ tôi nghe bà đốc Thụ và cô Tuyết Hạnh sắp về, chép miệng:

- Nghĩ mà thương bà đốc và cô Tuyết Hạnh! Giặc đuổi, lại một phen gặp cái gian nan!

Tôi thường đi xem hát tuồng ở chợ Quảng Huế, tưởng tượng ra có một bà phi và nàng công chúa bị giặc đuổi chạy. Bà đốc và chị Tuyết Hạnh rực rỡ gấm vóc lụa là, một thị tỳ đẩy chiếc xe loan. Sau xe loan có vài ba thị tỳ khác theo hầu. Một cô cầm quạt, quạt khe khẽ bà phi. Một cô mang tráp trầu, một cô cầm chiếc đèn lồng. Chốc chốc bà phi than thân trách phận. Cô hầu kể lể là người ta ở đời có lúc thịnh lúc suy. Bà phi chớ quá buồn phiền, mà hại đến vóc ngọc! Nhất định có ngày bọn gian nịnh sẽ bị bêu đầu. Chợt chiếc xe loan đó dừng lại ở đầu làng Hoà Phước. Cả đoàn người tiến vào nhà tôi. Các cô thị tỳ phải đỡ bà đốc bước xuống, chạy lấy nước cho bà rửa chân. Tiếng sai bảo của bà đốc õng ẹo dài ra:

- Con hầu đâu? Têm cho bà miếng trầu!

Tức thì tiếng trả lời cũng õng ẹo hơn nữa:

- Thưa bà, có con đây ạ ạ!…

Có những khách như vậy, nghĩ cũng rất quý.

Bỗng có tiếng chị Ba giục:

- Cục và Cù Lao rút hết những áo quần móc trên kia, đem ra sông giặt hết cho chị.

Chị Ba giảng giải:

- Những bác sĩ ăn ở rất sạch. Sờ đến cái gì là phải rửa tay. Không rửa bằng nước mà rửa bằng cồn. Mình ăn ở dơ dáy, họ không chịu được. Họ bỏ đi nơi khác, thanh danh nhà mình mất hết. Được bác sĩ về ở nhà mình, thiên hạ ngó vô cũng sướng.

Chị Ba nói xong, bước lên giường rút hết chiếu chăn quần áo trên sào. Tôi và thằng Cù Lao vác tất cả đặt lên lưng trâu Bĩnh, bắt nó thồ ra sông. Chúng tôi hết đập lại vò, lại ngửi. Chưa có một cuộc tổng vệ sinh nào lại kỹ như vậy!

*

*   *

Ở bãi dâu về, tôi đi thẳng vào nhà bà Hiến để dạy học. Có tiếng chị Ba loáng thoáng ngoài ngõ nói bà đốc đã đến. Tôi chạy về nhà. Nhà vắng. Trước sân chỉ có hai người đàn bà mặc áo bà ba đen, xoàng xĩnh như các bà bán mắm. Họ đang nói chuyện với mẹ. Tôi hỏi:

- Bà đốc Thụ và chị con gái đâu mẹ?
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #21 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 03:15:47 pm »

Mẹ tôi không trả lời, mỉm cười nói với hai người kia:

- Nó là thằng thứ bốn của tôi đó. Đi làm việc dân việc nước suốt ngày. Hai chân lia lịa như cóc bỏ đĩa.
Thấy đó mất đó…

Mẹ quay sang tôi:

- Bà đốc đó, cô Tuyết Hạnh đó. Không biết hả?

Tôi tưng hửng! Vì rõ ràng hai người này không có gì giống với những bà phi trong rạp hát tuồng. Họ chẳng gấm vóc, chẳng có vòng vàng. Một người là một bà đứng tuổi, có cặp mắt thâm quầng. Cô con gái khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, gầy nhom, xanh xao như người bị đói. Áo quần của họ bạc màu trông càng tiều tuỵ. Bà đốc hỏi về tôi. Tôi được bao nhiêu tuổi mà đã “dài đương” được việc nước non tối ngày? Bà ca ngợi bọn trẻ con ở nhà quê, chỉ tí xíu mà cái gì cũng giỏi, học cũng giỏi, làm cũng giỏi, công tác cũng giỏi. Đã như vậy lại còn biết kính trên nhường dưới, biết chịu thương chịu khó giúp đỡ mọi người. Con nít nhà quê không như con nít thành phố, lười biếng, vô lễ, mê chơi, đêm nào cũng đi xem xi-nê-ma, thích ăn diện. Bọn con nít ở phố, ở Hàn, “không bằng cái móng tay” của bọn con nít nhà quê.

Bà đốc nhìn thẳng vào tôi như muốn tìm trong mắt tôi có một hạt bụi nào không, bà nói chậm rãi:

- Tôi mà có được một đứa con như nó, thì sướng biết mấy!

Mẹ nói:

- Ở đây nhất quỷ, nhì ma, thứ ba là bọn chăn trâu đó. Chúng thách nhau vật lộn. Vài bữa lại bị một cục u trên đầu. Lại còn bơi tuốt qua bên sông, tôi sợ quá!

Chị Tuyết Hạnh nhìn tôi, mắt mở rộng:

- Bơi được qua sông, giỏi quá hè!

Mẹ tôi nói tiếp:

- Vừa rồi được cử đi dạy bình dân học vụ, dạy bà Hiến và ông Bốn Rị.

Chị Tuyết Hạnh đầy vẻ thán phục:

- Nhỏ vậy mà đã chiến sĩ bình dân học vụ rồi!

Bà đốc giơ hai bàn tay trắng bệch với những ngón tay nhỏ như muốt đũa than thở:

- Tôi chân yếu tay mềm, chẳng làm ra được lúa gạo! Chỉ có biết ăn nhờ! Vậy chú phải nhịn phần cơm cho cô, nghe!

Tôi lúng búng chẳng biết nói câu gì! Chị Ba ở trong nhà bước ra mách:

- Trả lời đi. Trả lời như thế này: chỉ thêm vài đôi đũa, tốn kém chi đâu? Chỉ sợ ngô khoai với tương mắm, cô ăn không được.

Chị Ba mới làm cán bộ mấy tháng mà việc đối đáp giỏi quá.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #22 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 03:16:28 pm »

*

*   *

Bà đốc Thụ và chị Tuyết Hạnh suốt ngày cặm cụi may vá. Chị Tuyết Hạnh lấy ra một cái hộp tróc sơn đựng nhiều đồ óng ánh rất sang trọng: Thìa, nĩa, con dao sáng quắc, cái kéo tí xíu, cái pin, con dao díp có đến bốn lưỡi, cái ống sáp tô môi. Chị nói khi tô môi phải ăn diện. Về Hoà Phước sống với nông dân, phải hoà mình, giấu hết áo quần loè loẹt. Hôm nay chị giống như ma đói. Hôm nào chị diện vào, tôi và thằng Cù Lao sẽ thấy chị đẹp mất hồn! Chị soạn một chiếc túi chứa toàn lọ, đựng đủ các thứ thuốc. Chị cho biết các thứ thuốc đó chữa đủ các bệnh. Cơ thể người ta có bộ phận gì thì chị sẵn sàng có thứ thuốc chữa các bộ phận đó. May vá xong, chị Tuyết Hạnh làm mọi việc khác. Chị làm việc không ngớt, quét tước, giặt giũ, xách nước, nấu cơm, làm lia lịa còn nhanh nhẹn hơn chị Ba. Chị lên chợ mua đàn dây dừa, cây đèn dầu, hành, tiêu, gạo, mắm. Mua cả chiếu, tự tay xách về. Chị nấu cơm ghế thêm khoai của mẹ tôi vừa biếu, ăn với cá và mắm. Mâm cơm chẳng có món bồ câu hầm, món chè đậu xanh như người ta đồn. Chị Tuyết Hạnh ăn một cách ngon lành, ăn một lèo hết ba bát. Bà đốc Thụ thú thật về Hoà Phước tự nhiên ăn như cọp đói. Hoà Phước có nhiều chất ô-xi như ông đốc cho biết. Bà đến mua thịt chó ở ông Bốn Rị đem về xào nấu trước mặt mọi người. Mẹ tôi không hiểu vì sao một bà phong lưu như bà đốc lại ăn thịt chó. Bà đốc còn cho thịt chó chứa nhiều chất đạm, ăn tốt chẳng có gì ô uế cả. Một bà đốc vợ ông đốc tờ nói thì ai cũng tin. Những người bị nôn oẹ vì mùi thịt chó không bị nôn oẹ nữa. Chị Ba thấy ăn thịt chó là việc bình thường. Ông Bốn Rị càng mất mùi hôi, ngồi gần ông được.

Mẹ tôi bảo không mấy khi cô Tuyết Hạnh về chơi, chớ có để cô làm nhiều việc, nhưng chị Tuyết Hạnh lại rất thú vị khi được xay lúa, giã gạo, như được múa hát vậy. Chị Tuyết Hạnh lấy đôi vò lớn, gánh một lèo bốn gánh nước đổ đầy vại. Mẹ tôi sợ chị bị ngất. Chị bảo chị nghe khoẻ ra, ngủ thẳng giấc. Tôi đi đâu chị cũng xin đi theo để “học” cho biết. Chị theo sang nhà bà Hiến dạy bà học. Bà Hiến rất thích, vì chị Tuyết Hạnh ăn nói dễ nghe. Thỉnh thoảng chị còn hát khe khẽ cho bà nghe. Tôi mách với chị là thằng Cù Lao có “miếng trói” rất lợi hại. Có được miếng võ đó trong tay thì ai khoẻ mấy cũng bị đánh bẹp. Chị xin tình nguyện làm người học trò nhỏ để được học “miếng trói”. Chị Tuyết Hạnh rút ra một gói nhỏ có hình vẽ một người đàn bà cổ đeo dây cườm, miệng cười tủm tỉm. Chị cầm gói đưa cho tôi và thằng Cù Lao ngửi. Đó là miếng xà phòng thơm, chị lấy ra để tặng hai đồng chí nông dân Cù Lao và Cục. Tôi và thằng Cù Lao ra sông tắm thật sạch, sau đó mới “xức” xà phòng thơm. Bọn chăn trâu trong làng cũng dược tôi xức cho xà phòng thơm, sau khi tắm rửa sạch sẽ.

Chị Tuyết Hạnh về được vài mươi hôm đã được cử làm chiến sĩ diệt dốt, chị dạy bà Hiến, dạy ông Bốn Rị khi tôi và thằng Cù Lao bận việc khác. Chị được cử làm trợ giảng cho lớp đặc biệt. Mặt trận diệt dốt lại thêm một chiến sĩ học giỏi, không kém tiến sĩ cử nhân ngày trước.

Chị Tuyết Hạnh về Hoà Phước mang theo một kho hiểu biết. Chị giỏi lịch sử, địa lí, giỏi tiếng Tây, biết cả đàn hát. Chị kể thao thao bất tuyệt những chuyện phim, những phim đó ai thủ vai chị đều nhớ được. Chị thuộc như cháo tên những đào kép như Cơ-lác Gắp, đào Gác-bô. Dưới trần đời này, Cơ-lác Gắp, Gác-bô là sự tuyệt diệu của tuyệt diệu! Chị có nhiều chuyện mê ly, kỳ quặc, chuyện một con bọ dừa vàng có ba chấm đen trên lưng. Một tướng cướp bắt được một con bọ dừa như vậy, bỗng hoá sáng suốt. Nhờ con bọ dừa đó, tướng cướp đó tìm ra được một kho châu báu chứa đến ba nghìn lạng vàng, một nghìn hạt kim cương và năm nghìn ngọc bích… Nếu không có con gà trống của bà Hiến nhắc đêm đã khuya, thì tôi và thằng Cù Lao đã thức đến sáng để nghe những câu chuyện giật gân của chị. Những chuyện kể của chị Tuyết Hạnh làm chúng tôi có hôm dậy trễ.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #23 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 03:17:18 pm »

5

Tôi mở bừng mắt, thấy trời đã sáng trắng. Sau mùa mưa lụt, trời ban mai càng cao, càng xanh như có ai vừa chùi quét. Con sông Thu Bồn rì rào khe khẽ. Dưới nhà, chị Ba đang xay thóc. Chị Tuyết Hạnh học giần sàng. Con trâu Bĩnh khua sừng lách cách. Con mèo mướp kêu meo meo, bọn gà mẹ lục tục gọi con. Chợt mẹ tôi gọi chị Ba:

- Để im nghe thử!

Có tiếng nổ! Tiếng nổ từng loạt vang từ xa, nghe mờ mờ nhưng rất vang dội.

Mẹ tôi nghểnh tai:

- Tiếng súng, chúng mày ơi!

Tôi nói:

- Họ đốt pháo đó!

Tôi nói vừa dứt thì một tiếng nổ vang rền. Chó trong xóm nổi sủa. Đàn chim sẻ trên cây mít tung bay.

- Tiếng chi to quá! – Mẹ tôi nói, vẻ lo lắng. – Nổ phía Đà Nẵng! Tiểu đoàn 17 của cha mày ở phía đó!

Mẹ giục tôi và thằng Cù Lao chạy sang nhà anh Bốn Linh hỏi tin tức. Anh Bốn Linh không có nhà. Chị Bốn cho biết anh đã đi đâu, có lẽ đi họp tự vệ ở chòm đa Lý. Tôi và thằng Cù Lao chạy vào chòm đa Lý. Đội tự vệ đang họp ở đó, có ông Bảy Hoá đứng gác. Thấy tôi, ông xua tay quát:

- Dừng lại!

Tôi gọi:

- Chúng tôi đây ông Bảy!

- Không được vào!

Ông Bảy tay cầm kiếm bước từng bước oai nghiêm ra hiệu chúng tôi đi nơi khác.

Tôi hỏi:

- Có anh Bốn Linh ở đây chớ ông Bảy?

- Không biết!

- Ông Bảy có nghe nổ không?

- Không nghe.

Tôi nói to:

- Lỗ tai ông điếc rồi! Nổ dữ lắm. Đó… nghe chưa?

Cặp mắt ông Bảy đảo lia lịa, báo hiệu cơn sấm sét sắp nổ:

- Mày dám nói vậy hả? Tạo điếc hả? Bọn Pháp ở Đà Nẵng đang đánh ta, thằng ngu mới không biết. Có thứ pháo nào lại kinh thiên động địa rứa hả?

Tôi và thằng Cù Lao chạy về nhà. Bà đốc Thụ và chị Tuyết Hạnh đứng trước cửa. Tôi nói ngay:

- Ta và Pháp đánh nhau ở Đà Nẵng rồi!

Bà đốc Thụ giật thót. Mặt mày của bà hoá nhợt nhạt, chân mày của bà nhíu lại, mũi đầy nếp nhăn. Bà quay sang chị Tuyết Hạnh rít lên:

- Đáng đời chưa! Đáng đời thằng cha mày chưa! Tao đã bảo thằng cha mày một cũng phải đi, hai cũng phải đi. Cứ trù trừ. Rủi tên bay đạn lạc…
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #24 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 03:19:26 pm »

Rít xong, bà thụp xuống, nước mắt tràn ra. Tôi hiểu bà đốc đang trách ông đốc không chịu đi tản cư trước.
Chị Tuyết Hạnh quàng tay vào vai bà an ủi:

- Không hề chi đâu! Pháp không bắt bác sĩ đâu! Nội chiều nay, ba con sẽ có đây cho mà coi.

Chị Tuyết Hạnh đoán đúng. Chiều hôm đó, ông đốc Thụ đã hiện ra trước nhà tôi. Khác với bà đốc, ông đốc tròn như một hạt mít, đỏ như quả bồ quân. Mặt mày ông đốc đang bốc lửa, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Ông dựng chiếc xe đạp chất đầy bao bị, rút khăn lau phất lia lịa.

Bà đốc tiếp ông đốc bằng một tiếng rít mừng rỡ. Hàng xóm nghe có ông đốc Thụ ở Đà Nẵng về kéo đến hỏi thăm không biết cái gì nổ dữ quá? Ông đốc giương to mắt, thả một tiếng “á”. Rồi vừa thở, vừa khịt, lúc khoát tay, lúc nhún vai, ông đốc kêu lên: Dữ quá! Kinh khủng quá! Ta đánh! Ới! Ta chiếm nhà máy điện. Dọc đường quốc lộ, cây hạ ngổn ngang. Ối! Mìn nổ! Á! Cầu Cẩm Lệ rơi tõm xuống sông! Đạn bay vèo vèo! Tôi suýt bỏ mạng! Tôi bỏ ô tô, đi xe đạo loanh quanh lẹo quẹo! Á! Đùng đoàng! Dữ lắm!… Ới!

Những tràng liên thanh của ông đốc đang nổ thì bà đốc kêu lên hoảng hốt:

- Ấy chết! Đã ăn chi chưa?


Bà đốc chạy vụt xuống nhà bếp. Chị Tuyết Hạnh chạy theo. Bà đốc vẫy gọi chị Ba và thằng Cù Lao chạy xuống. Tiếng gà đập cánh. Lửa bếp bập bùng. Chỉ trong chốc lát con gà mái tơ của chị Ba đã nằm trong đĩa, sạch lông, vàng óng, thơm ngát, sẵn sàng mừng ông đốc thoát vòng lửa đạn.

*

*   *

Vạn Hoà Phước bỗng hoá rộn rịp, thuyền qua lại càng đông. Vạn Hoà Phước là đầu mối lên các ngõ nguồn. Hoà Phước có thuyền từ Hội An lên, từ Đà Nẵng đến. Nhiều thuyền trông đường bệ, có đến bốn buồm.
Trong số thuyền qua lại có một chiếc ghe bầu to, mui phẳng, khi đến bến, bác lại thuyền gọi to vào bờ:

- Có phải Hoà Phước đây không?

- Phải rồi!

Bác lái thuyền quay bánh lái thuyền. Chiếc ghe chở nhiều thùng gỗ đóng kín. Trên ghe còn chất nhiều bàn ghế, giường tủ, bao bị. Từ trong thuyền lần lượt chui ra như không bao giờ hết một đám trẻ lóc nhóc. Có một đứa trạc tuổi thằng Cù Lao. Một ông già vừa chui ra, vừa quát tháo. Tiếp theo sau là hai người đàn bà, tay bế trẻ em. Một bà già xương xẩu chui ra sau rốt. Tất cả đứng chen chúc trên mui. Ông già chuyển bao bị cho bác lái thuyền đưa xuống bến. Bọn chăn trâu gọi nhau kéo đến dòm ngó. Chúng hít hít đánh hơi, chỉ trỏ những thùng gỗ:

- Mắm! Mắm! Chúng bay ơi!

Ông già nói với đám con cháu:

- Phải ngồi đợi đây! Tao vào làng gặp bác Tư Trai cái đã!

Nói xong, ông già xách chiếc dù đi vào xóm, đến thẳng nhà ông Tư Trai.

*

*   *

Ông Tư Trai ở cạnh nhà tôi có một người em, quen thân với ông Biện Thành làm nghề buôn mắm. Do đó ông Biện Thành và ông Tư Trai quen nhau. Lúc Đà Nẵng nổ súng, ông Biện Thành tản cư về ở nhà ông Tư Trai mang theo nhiều thùng mắm.

Ông Tư Trai gặp ông Biện Thành cười khà khà:

- Ông dọn về đây phải lắm! Ở đây người đông như kiến mấy mắm bán cho đủ!

Ông Biện cười theo:

- Bị lũ cháu đông quá! Sợ không có chỗ ở!

- Lo chi! “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Cứ hạ những bó bã mía của tôi xuống, lấy chiếu rải lên. Nằm
vậy êm như nhung đó!
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #25 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 03:20:21 pm »

Như vậy Hoà Phước đón đợt khách thứ ba sau những chiếc rương, sau bà đốc Thụ.

Ông Biện Thành và ông Tư Trai cùng dắt nhau ra vạn. Ông Biện Thành chỉ vào lũ trẻ suýt soát tuổi nhau, bảo đứa này là cháu ngoại, đứa kia là cháu nội, có đến mười đứa. Bọn nhỏ léo nhéo đòi ẵm, đòi dắt. Ông
Biện Thành vung chiếc dù chỉ vào mặt chúng:

- Có chân là phải đi! Không bế bồng chi cả! Mấy đứa lớn xách được cái gì thì phải xách. Thằng Sơn Hải dẫn đi. Đi theo đường kia, nghe chưa!

Lệnh vừa hạ xuống, bọn trẻ ùa đến nhặt bao bị đeo lên vai. Thằng Cù Lao chạy đến phía trước:

- Đi theo tôi đây!

Bọn trẻ con đi theo hàng dọc, gọi kêu ầm ĩ. Khách đổ bộ xuống Hoà Phước lần này ồn ào, nhí nhố, khác hẳn bốn chiếc rương kẽm oai vệ lầm lì, khác lần bà đốc Thụ bất ngờ và im lặng.

Ông Tư Trai nhìn lên thấy mặt trời đã chui vào chòm sung. Việc vận chuyển đồ đạc của ông Biện Thành phải làm gấp. Ông chạy gặp chú Năm Mùi. Chú Năm chạy rút anh Bảy Hoành, ông Bảy Hoá, ông Kiểm Lài, ông Bốn Rị… tất cả phải ra ngay ngoài vạn mang theo quang gánh đưa đồ đạc của đồng bào chạy giặc vào xóm.

Nhà ông Tư Trai chợt như có giỗ lớn. Cháu con nội ngoại, bỗng đầy nhà. Phải nhóm thêm ba bếp ngoài sân. Mâm bát cái lanh canh lách cách. Bữa ăn có đến bốn mâm. Nhà ông Tư hoá giàu có, chật ních đồ đạc. Gian giữa thêm ba chiếc tủ, một bộ bàn, bốn chiếc ghế. Giường thêm đến bốn chiếc, không phải loại gãy chân mọt đục, mà toàn loại gỗ rất nặng. Nồi niêu, ấm tích, chén bát, bao bì thôi thì đầy nhà! Đặc biệt còn có một chiếc đồng hồ rất to treo trên vách. Chốc chốc tiếng đồng hồ nổi rọt rẹt, tiếp theo là những tiếng “kính coong” êm như ru. Chỉ đếm tiếng “kính coong” cũng biết mấy giờ. Mỗi khi đồng hồ “kính coong”, ông
Biện Thành kêu toáng lên:

- Một giờ rồi! Phải cho bọn trẻ con ăn trước đi!

- Hai giờ rồi! Con Bảy phải xuống chợ xem thử…

Thằng Cù Lao là người được vinh dự vác cái đồng hồ đó về nhà. Tôi là người được đưa bốn chiếc đinh cho ông Biện Thành đóng để treo lên vách. Bọn trẻ trong làng kéo đến xem cái đồng hồ “kính coong” của ông Biện. Chúng còn được ngắm những bức truyền thần của ông Biện nữa. Một bức vẽ chân dung ông bà Biện, ông Biện oai phong lẫm liệt, mặc bộ đồ tây cầm một chiếc gậy có ngù như sẵn sàng vung gậy nện vào kẻ khác. Bà Biện đứng sát bên cạnh ông Biện, mặc áo hoa, tóc cài trâm, cổ đeo đầy cườm, tay đeo đầy xuyến. Hai ông bà đều sang trọng, phong lưu. Ông Biện Thành trong bức họa khác hẳn ông Biện Thành đi tản cư trán thấp, vai u, cù mì cục mịch, mặc một bộ đồ cộc đen. Bà Biện Thành trong tranh mũm mĩm, trẻ trung, đài các, khác hẳn với bà Biện Thành xương xẩu hốc hác, người đầy góc cạnh. Trong những khung gỗ khác còn nhiều bức ảnh, chụp toàn những người sang trọng, người cầm trong tay quyển sách dày cộp, người cầm chiếc đàn. Ông Biện Thành thấy thằng Cù Lao cứ đứng ngắm nghía, ông chỉ vào các bức tranh:

- Đó! Chú muốn cái nào thì cứ lấy.

Ông Biện Thành người thấp, nhưng rất nhanh nhẹn. Ông quấn trên đầu một chiếc khăn lông to. Những ông lái ghe bầu thường có một chiếc khăn như vậy. Ông ngồi không yên. Hết lên nhà trên, lại xuống nhà dưới, đi ra đi vào, xem xét, chỉ trỏ, ra lệnh cho đám con cháu làm việc này, việc khác. Ông không chịu người khác làm một việc gì chưa vừa ý. Chiếu chăn cần trải thật ngay ngắn, đồ đạc cần móc lên cao, tất cả những gì cần gói, cần đậy, ông đều có ý kiến phải gói phải đậy.

Ông xuống nhà bếp bắt phải đặt lại ông táo, bày vẽ cách thái thịt. Ông đến ngay nhà ông Bốn Rị mua thịt chó. Ông đến thăm bà đốc Thụ vì bà đốc cũng chạy giặc như ông. Ông Biện rất thích được chỉ huy cả toán trẻ con. Có đứa nào làm gì sai trái, đứa khác dọa ngay: Tao về mách với ông, ông cho mày biết!
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #26 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 03:21:03 pm »

Ông Biện Thành nói:

- Chỉ vắng mặt tôi vài giờ là tất cả đều nát bét, tụi con nít làm rối tung như mớ bòng bong!

Trong đám cháu của ông Biện có Sơn Hải là đứa lớn nhất. Nó suýt soát tuổi tôi, có đôi má tròn, cổ tay cổ
chân cũng đều tròn. Những ngày đầu về Hoà Phước, nó lầm lì, ít nói. Tôi hỏi:

- Ngoài Đà Nẵng có chi lạ không?

Nó trả lời gọn lỏn:

- Không!

- Có đèn điện, nhà lầu, ô tô?

- Có.

- Có toà thị chính bốn tầng?

- Có.

- Có thấy bọn Tàu Tưởng, bọn lê dương không?

- Có.

Nó ít nói được vài ngày. Sau đó, nó nói nhiều, nhiều hơn cả tôi. Đến ngày thứ ba, tôi được biết Sơn Hải là
một tay võ sĩ, giỏi môn quyền Anh và môn ném tạ. Về Hoà Phước, Sơn Hải mang theo một quả tạ. Sơn Hải đứng chạng chân, ưỡn ngực, thót bụng, méo mồm, lên gân, co hai cánh tay bảo thằng Cù Lao bóp vào vai, vào bụng, xem những bắp thịt ở đó đã “cứng” chưa. Nó phải tập luyện để sau này trở thành một võ sĩ loại nặng đo ván bất kì võ sĩ nào khác. Như vậy, nó sẽ được đứng trên võ đài giữa những tiếng hoan hô như sấm. Thằng Cù Lao bảo nó đi một thao quyền Anh để xem thử. Sơn Hải cãi lại:

- Thao quyền Anh là gì? Không ai nói vậy. Phải nói đánh bốc hay bốc-xê. Võ sĩ đánh bốc là bốc-xơ. Này,
mình bốc-xê cho mà coi.

Nó nhảy ra đứng thẳng người, quắc mắt thu quả đấm. Nó phóng tay trái thẳng về phía trước ngang tầm mắt. Tay mặt thu sát bên tai rồi vụt nhảy, vừa nhảy vừa ném lia lịa tay đấm về phía trước. Cách đánh bốc của nó trông hùng dũng, rất lạ mắt.

Tôi hỏi:

- Thế Sơn Hải đã bốc-xê với ai chưa?

- Ít thôi. Mình có ông chú nhiều lần lên “rin” đánh hai “rươn” liên tiếp.

Nó cho biết suốt đời nó chỉ thích cái bốc-xê. Nó không thích vật lộn, bơi lội, không mê thứ hát bội. Cơ-lác Gắp và Gác-bô của chị Tuyết Hạnh không phải là sự tuyệt diệu của tuyệt diệu. Chính võ sĩ Đờ Lu-i mới là sự xuất chúng của xuất chúng!

Tôi hỏi:

- Có khi nào Sơn Hải bị u đầu hay gãy răng không?

- Còn nguyên cả. Bốc-xê dễ bị sái quai hàm. Quai hàm với răng vẫn còn đây này! – Sơn Hải nhe răng cho
tôi thấy.

Tôi và thằng Cù Lao bàn nhau thử dùng miếng trói của anh Long để chọi lại cách đánh bốc của Sơn Hải. Thằng Sơn Hải khi bốc-xê cứ đấm lia lịa. Thằng Cù Lao khi đi quyền phải đứng trụ. Một đằng thì phải tìm sơ hở. Một đằng thì nhảy nhót lung tung. Hai cách đấu khác nhau một trời một vực. Rất khó biết được bên nào thắng bên nào bại. Thằng Cù Lao đứng trụ một lúc, thằng Sơn Hải nhảy nhót một lúc, hai đứa nổi cười! Tôi làm trọng tài không hiểu luật lệ đánh bốc thế nào, cho phép hai bên được hoà, để một bên khỏi bị sái quai hàm, một bên khỏi gãy tay. Tôi tuyên bố hai bên hoà nhau, Cuộc đấu chấm dứt.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #27 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 03:21:48 pm »

*
*   *

Ông Biện Thành vừa vào đến sân, bọn cháu nội ngoại của ông đã ùa ra. Nhiều đứa ôm chặt chân ông, kêu lên:

- Đói quá! Đói quá!

Tất cả lật áo đưa bụng cho ông Biện xem:

- Đã xẹp đây này!

Ông Biện Thành nghiêm nét mặt:

- Đang chạy giặc, có phải ở nhà đâu!

Ông Biện cho mười cháu nội ngoại của ông là mười miệng cá mập. Chúng nuốt đá cũng tiêu, nhưng chúng không làm ra nửa xu. Chỉ vài tháng nữa tiền bán hai mươi thùng mắm của ông sẽ tiêu ra khói.

Vừa về Hoà Phước, ông Biện Thành đã nói với ông Tư Trai biết rõ kế hoạch làm ăn:

- Tôi phải mua một chiếc thuyền nhỏ. Bắt thằng Sơn Hải bỏ theo thuyền. Cứ lên xuống sông Thu Bồn, đem mắm ở biển đưa lên nguồn để bán. Lại chở mít chuối trên nguồn đem xuống biển để bán, ấy vậy mà lời to.

Nhưng đùng một cái, Pháp cho tàu phá ngoài biển. Thuyền chài không thể đi khơi. Các con ông Biện Thành viết thư cho biết nghề mắm phải nghỉ hết. Ông Biện loay hoay chưa tìm ra kế sinh nhai. Việc đó phải lo gấp, vì mười cái miệng “cá mập” luôn luôn kêu đói.

Bọn cháu ông Biện Thành thấy cái gì cũng để mũi vào, gặp gì cũng sờ mó, làm vướng chân vướng cẳng mọi
người.

Chúng kéo ra đàng đi nghễu nghện xuống đến chợ, dòm dòm ngó ngó. Chúng nhặt sỏi ném vào bụi tre, đuổi lũ quạ. Thằng Sơn Hải ra sông, gạ bọn chăn trâu đi ném tạ. Không hiểu sao tạ lại ném vào chân bọn nhỏ, có đứa đi cà nhắc. Sơn Hải bị mẹ rút đũa bếp quất vào mông. Sơn Hải bỏ chạy, sau đó trốn biệt. Thằng Cù Lao biết nó chui vào cây rơm nhà anh Bốn Linh. Đến bữa ăn, Sơn Hải không về. Thằng Cù Lao mách cho mẹ
Sơn Hải biết là nó đang ngồi trong cây rơm. Mẹ nó đến dỗ:

- Thôi về đi con, về ăn cơm kẻo đói bụng!

Nó trong cây rơm nói ra:

- Không về đâu. Phen này phải chết cho rảnh!

- Mẹ để phần cho mày đĩa thịt chó!

- Thịt chó cũng không về đâu!

Mẹ nó tản đi nơi khác, vẫy thằng Cù Lao, nhờ thằng Cù Lao dỗ nó chui ra.

Thằng Cù Lao đứng trước cây rơm nói vào:

- Mẹ mày về rồi! Ra được đó.

Thằng Sơn Hải nhảy vụt ra. Tôi và thằng Cù Lao chạy đến gỡ rơm rác dính đầy người nó. Sơn Hải về nhà lấy cơm ăn. Ăn xong, nó chạy tìm thằng Cù Lao. Hai đứa dắt nhau đến nhà ông Bốn Rị để dạy ông học và xem ông làm thịt chó.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #28 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:43:41 pm »

6

Ở Hoà Phước có nghề trồng dâu nuôi tằm, nghề kéo thao, nghề làm ruộng. Nhưng tất cả đều không hợp với ông Biện Thành. Chú Năm Mùi bàn với ông Biện nên theo nghề nấu đường. Nhà ông Tư Trai sẵn có lò đường. “Có chi làm nấy”. Chú Năm phân tích:

- Bác Tư Trai đã bỏ vốn dựng lò đường thì bác Biện Thành phải bỏ vốn ra mua mía. Bác Tư Trai coi làm đường, bác Biện Thành chở đường đi bán. Lời lãi chia đôi. Như vậy đồng tiền trự bạc phân minh, không bên nào thiệt hơn, hơn thiệt chi cả!

Ông Tư Trai khụt khịt:

- Tôi có nói thiệt hơn, hơn thiệt chi đâu!

Chú Năm Mùi vẫn nghiêm trang:

- Sau này yên ổn, việc làm ăn của hai bác mở ra. Đường ở đây chất lên thuyền chạy ra Đà Nẵng. Mắm của Đà Nẵng chất lên thuyền đưa về đây. Thuyền đường, thuyền mắm cứ qua lại, lại qua! Công ty Biện Thành - Tư Trai càng ngày càng phát đạt. Từ sông Thu Bồn ra đến Đà Nẵng phải đặt thêm nhiều đại lí. Lúc đó, tôi xin một chân thư kí.

Ông Tư Trai cười xoà:

- Thiệt có lí! Chung nhau làm đường, thế mà hay đó!

Ông Biện Thành sẽ ở lại Hoà Phước làm đường với ông Tư Trai. Cái vui như gấp bội. Tôi và thằng Cù Lao cố cho trâu Bĩnh ăn thật no, để nó kéo che ép mía. Mỗi ngày nó kéo hai lần, tôi sẽ được hai lần gặp thằng Sơn Hải, tôi sẽ có cơ hội học môn ném tạ với môn quyền Anh. Sẽ cùng nhau tìm bắt con bọ dừa có chấm đen để tìm ra một kho châu báu như chị Tuyết Hạnh đã bảo. Nhưng Sơn Hải lại được phân công giữ mía ngay ngoài đám mía. Nó quét dọn rác mía, dồn ngọn mía, dồn củi mía thành đống. Lúc về nhà ông thợ nấu đường giao cho nó lấy nước muối xoa bát rót đường. Sơn Hải còn được cạy đường, cạy không vỡ. Ông thợ phải khen. Sơn Hải thích làm việc, quên cả môn ném tạ và quyền Anh. Nó không còn bị xua đuổi, mà còn được xem ngang hàng với các bác thợ, được cùng ngồi ăn một mâm, cùng bàn bạc mọi chuyện. Sơn Hải còn lập được một thành tích lớn. Đó là việc đập gốc mía. Chặt mía xong, gốc phải cuốc lên. Chú Năm Mùi bày cho Sơn Hải dùng vồ nện vào gốc mía, đất bị rơi ra, còn lại gốc mía đem về đun bếp. Sơn Hải suốt ngày “bốc-xê” gốc mía mang đổ thành đống. Mẹ Sơn Hải phải phục. Bọn em nó bắt chước làm theo. Uy tín của Sơn Hải càng tăng. Cả chị Tuyết Hạnh cũng nhờ nó dạy cho cách “bốc-xê” ngọn mía.

*

*   *

Tiếng đồn giặc đã chiếm Tuý Loan, phía Đà Nẵng.

Người dân tản cư càng đông. Có người gánh gồng, bồng bế vượt hai mươi cây số đường đồng, dừng lại ở Hoà Phước. Chú Năm Mùi đưa đồng bào về ở những nhà xóm dưới. Chợ Hoà Phước đông gấp ba bốn lần. Tôi và thằng Cù Lao không mong gì hơn vì càng được quen với nhiều nghệ sĩ như chị Tuyết Hạnh, những võ sĩ như Sơn Hải. Khắp làng hoá chộn rộn.

Bà con ai cũng hỏi nhau:

- Không biết giặc đến đâu rồi? Có đi tản cư không đó?

Đột ngột, một máy bay bay dọc sông Thu Bồn bắn tạch, tạch! Ông Kiểm Lài đang làm đồng vứt cuốc bỏ chạy. Ông nói máy bay bay ngay trên đầu ông. Nó chĩa súng vào đầu ông, nã tạch tạch! Ông bỏ chạy. Máy bay cứ đuổi riết theo. Bí quá, ông phải chui vào bụi.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #29 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:44:40 pm »

Tiếng súng cứ đùng đoàng từ phía Đà Nẵng. Lệ thường vào lúc nhá nhem, một loạt súng máy lại rột roặc.
Nhiều tin trái ngược. Giặc chưa vào Tuý Loan, có người ở Tuý Loan nói rõ như vậy. Giặc vẫn còn ở tận ngoài Phước Tường. Phải bốn tháng mới đến được Phước Tường. Đến Hoà Phước đâu phải dễ! Cứ lo cày cuốc làm ăn, không cần đi đâu cho mệt.

Nhưng một việc làm cho Hoà Phước phải rục rịch, phải… đi. Đó là việc rời bốn chiếc rương T.A Quân sự khỏi Hoà Phước. Bốn chiếc rương đựng tài liệu quan trọng phải được cất giấu nơi an toàn. Nơi an toàn trước đây là Hoà Phước. Nay phải dời rương đi, có nghĩa là Hoà Phước không còn an toàn nữa. Giặc có thể tràn đến. Nhìn bốn chiếc rương ra đi, chị Ba buột mồm nói với mẹ:

- Giặc đang dòm ngó làng mình! Liệu phải tìm nơi mô… Lo trước vẫn là hơn chớ mẹ!

Lên nguồn là đắc sách.

Bà đốc Thụ và chị Tuyết Hạnh thuê thuyền dượng Hương Thư lên nguồn Trung Phước. Trung Phước có đất
rộng, ông Biện Thành cũng nhắm nguồn Trung Phước.

Mẹ tôi cố nhớ lại những cô dì, chú bác ở rải từ Hoà Phước lên các ngõ nguồn. Có người lâu quá bị quên, bỗng dưng tên tuổi được nhắc lại. Có người ở xứ Ghềnh Ngô, có người ở chỗ Thác Cả, chỗ Am Mây, chỗ Động Khói… Toàn những tên gợi nên những cảnh suối sâu, đèo cao, âm u, mù mịt, những nơi sơn cùng thuỷ tận. Những bà dì theo chồng lên đó rồi biệt vô âm tín. Những ông bác đi làm ăn rồi lấy vợ đẻ con trên đó. Có những ông phá xóm phá làng sau vào lẩn tránh trong núi. Nghe nói có người lên đó hoá thành tướng cướp, tướng du côn hung hãn hơn trước. Sau cách mạng, có người mò về thăm làng, thấy họ khiêm tốn, hoà nhã, gọi dạ, bảo vâng, chẳng thấy gì hung hãn cả.

Mẹ tôi bấm đầu ngón tay nói với tôi và thằng Cù Lao:

- Có dì Cửu Phan ở Phú Đa nè! Có dì Năm Chi ở Bến Dầu nè! Có dì Hương Thư ở Dùi Chiêng nè! Có chú Tư Mai ở Động Khói nè! Chú Tư dữ hơn cọp…

Tôi và thằng Cù Lao nghe rất thích. Lên các xứ đó tha hồ săn hổ.

Mẹ tôi lên cả một danh sách. Có đến mười người. Suy đi nghĩ lại. mẹ tôi thấy nên lên Phú Đa cái đã. Phú Đa gần hơn, có dì Cửu Phan. Dì Cửu Phan không phải dì ruột, nhưng rất thân với mẹ lúc bé. Ông Cửu Phan có nhà ngói. Anh Bốn Linh tán thành đi Phú Đa, không thể đi quá xa, thỉnh thoảng phải lộn về thu lúa, đào khoai để nuôi lỗ miệng. Chú Năm Mùi bảo phải có người lên hỏi trước. Phải gặp dì Cửu cái đã. Việc đó cứ giao cho tôi và thằng Cù Lao, vì tôi và thằng Cù Lao đã được thử thách, vừa được chỉ định làm đội viên đội Thiếu niên công tác! Đó cũng là công tác đội. Tôi và thằng Cù Lao phải sẵn sàng đi “sứ” một chuyến. Nay mai có thuyền dượng Hương Thư đi Trung Phước. Bọn tôi có thể quá giang xuống bến Phú Đa vào nhà dì, nhất định lập được thành tích xuất sắc.

*

*   *

Thuyền của dượng Hương Thư nhổ sào vào lúc mờ sáng. Đất trời rực rỡ như dệt bằng những sợi tơ vàng. Thuyền quay lái, tôi nghe thoát mọi sự trói buộc. Con trâu Bĩnh không còn làm phiền tôi nữa. Tôi ra đi với một trọng trách, sẽ “thương thuyết” với dì Cửu Phan về việc tản cư cho các gia đình cán bộ. Thuyền lướt hăm hở được một lúc rồi chậm dần. Gió ngã. Buồm teo. Thuyền tròng trành. Tôi và thằng Cù Lao phải ngồi co ro. Đồ đạc của các gia đình tản cư chật ních. Gặp chỗ cạn, thuyền phải quay lái, tìm lạch sâu hơn. Thằng Cù Lao rút sào chống giúp. Thuyền bò chậm chạp. Tôi nghĩ nên quẳng hết đồ đạc lên bờ, rồi cứ việc nai lưng ra gánh. Làm vậy đi được nhanh hơn. Nghĩ vậy nhưng không dám nói ra sợ dượng Hương Thư mắng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM