Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:27:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội  (Đọc 131914 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #20 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 08:57:21 pm »

                   Tiếp theo:
Được Tấn bảo mình lên trước, Nhân tỏ vẻ đắc ý, khuỳnh tay kéo lại giây lưng cho chặt. Anh ôm sát ống bộc phá dài hơn hai thước vào người, rồi bỗng cười bật lên:

- Thôi, chào các bạn ở lại bình yên nhé!

Nhân lao mình qua cây gỗ chắn ngang, chạy xộc lên sống đồi. Tấn và Hạ cùng thét:

- Nằm xuống! Chết bây giờ!

Tiếng thét của Tấn bị át đi trong tiếng đại bác thì tiếng kêu của Nhân ở trên đã dội xuống:

- Tao gãy chân rồi, bay ơi!

Hạ bảo Tấn, giọng uất ức:

- Thế là Nhân hỏng rồi! Đại bác các ông ấy bắn thế quái nào mà lại có lúc tịt đi thế này thì còn hiệp đồng cái gì!

Anh truyền xuống:

- Đề nghị ở trên cho pháo bắn đều vào chứ! Muốn chết mẹ nó ở đây cả à?

- Truyền xuống!

Tấn vẫn tay bảo Diện lên thay Nhân. Diện mới 20 tuổi, nhưng trận Ba Lay, Diện đã một mình lập chiến công đầu tiên bằng hai quả bộc phá nổ ròn luôn ba thước hàng rào. Tấn không quên dặn anh chàng trẻ tuổi ấy:

- Cậu phải rút kinh nghiệm của đồng chí Nhân, tránh làn đạn thẳng của địch. Đừng liều mạng vô ích.

Từ nãy nghe tiếng kêu của Nhân, Diện đã suy nghĩ ghê gớm. Nhất định trăm phần trăm là hy sinh rồi. Nhưng nếu mình sợ hy sinh thì đồng đội sẽ hy sinh... Diện không nghĩ gì nữa khi nghe lời dặn của Tấn. Anh né mình sang bên trái, khom lưng chạy được mười thước thì một viên đạn trúng giữa đầu. Diện không kêu được một tiếng, ngã chúi xuống, cả thân thể anh và ống bộc phá lăn xuống giao thông hào.

Trong ánh pháo sáng, tiểu động phó Tấn trông thấy rõ bóng Diện ngã. Anh nhìn sang Hạ thì cũng vừa lúc đồng chí đại đội phó nhìn sang anh, không nói gì. Thoáng một cái, Tấn tự bảo: Thế là năm đã mất hai rồi, bây giờ đến Xoan, mất nốt Xoan nữa thì... Anh cố nén một cái gì ứ lên cổ, nhưng Xoan đã lắc tay anh:

- Báo cáo đồng chí, cho tôi lên. Không chịu được nữa. Tôi sẽ rút kinh nghiệm máu của Nhân và Diện. Tôi bảo đảm đánh hàng rào, không chịu hy sinh.

Nhằm vào lúc pháo của ta bỗng đổ hồi như sét đổ xuống đồn địch, Xoan vọt lên. Hạ và Tấn cùng ghé mắt nhìn theo Xoan, cùng chia mối lo lắng trước cái sống chết của một đồng đội. Một phút. Hai phút. Bóng Xoan bò len vào những gốc cây cụt. Rồi không thấy Xoan đâu nữa.

Tấn nói một mình:

- Lâu quá, hay là...

Đại đội phó Hạ vẫn nín lặng. Súng phun lửa của địch lòe đỏ rực như từ miệng một con thú dữ khổng lồ. Quái, sao lâu thế. Xoan nó già dặn lắm. Nó gan dạ lắm nhưng cũng rất thận trọng. Chưa bao giờ thấy nó để ướt một gói bộc phá. Chưa bao giờ thấy nó hấp tấp một cái gì. Ngay cả những lúc bom nổ trên đầu, nó cũng cứ ung dung như không có gì xảy ra cả. Trận Nghĩa Lộ, nó nằm ở sân bay mấy tiếng đồng hồ liền, súng bắn sát lưng, nó vẫn nằm yên, cằm cắm xuống đất, mắt không rời hỏa điểm của địch. Vì vậy nó vẫn sống. Chẳng lẽ lần này nó lại chết hay sao?

Một tiếng ùm dội lên phía đột phá khẩu. Tấn buột miệng:

- Hoan hô đồng chí Xoan! Đừng hy sinh đấy nhá.

Anh nín thở chờ đợi. Một phút. Hai phút. Sao Xoan lại không xuống nữa thế này? Trung đội phó Trang từ nãy chẳng nói gì, thở đánh sượt một cái:

- Đã bảo mà! Lại đánh vội!

Hạ tức Trang lắm, đã muốn gắt mấy câu. Nhưng đúng là Xoan không thấy xuống thật. Đảng sẽ ghi công cho Xoan, Xoan ạ. Nhưng còn đột phá khẩu, làm thế nào? chẳng lẽ cứ cho bộ đội xung phong bừa lên? Hạ vừa ngoảnh lại nhìn Tấn thì vừa lúc Xoan lồm ngồm bò xuống.

- Trời ơi, sao mà chậm thế mày! Tao tưởng...

Hạ mừng quýnh, đỡ lẫy Xoan xuống cạnh, hỏi lắp bắp:

- Thế nào, thế nào, đột phá khẩu...

Xoan đưa cánh tay vuốt ngang mắt:

- Báo cáo, sống đồi toàn dây thép gai rải rác cả, tôi bò rất chậm. Gặp hàng rào, tôi đánh luôn ống bộc phá...

Hạ cắt:

- Nhưng đột phá khẩu thế nào mới được chứ?

Xoan vãn chưa hết thở:

- Đột phá khẩu... Tôi chỉ biết là tôi bò lên đấy đã gần lô cốt lắm, chỉ cách năm sáu thước là cùng. Nhưng hàng rào thì còn nhiều.

Tấn nghĩ bụng: Đã gần lô cốt lắm, mà hàng rào lại còn nhiều, thật là khó hiểu. Quan sát địch mà như thầy bói nói mò thế thì làm ăn cái gì! Hạ cố bình tĩnh hỏi thêm Xoan:

- Chắc chắn là còn độ mấy thước?

- Độ năm thước.

- Nghĩa là bộ đội vẫn chưa thể xung phong?

Xoan không trả lời. Tấn tự bảo: Nhất định Xoan nó cẩn thận. Phải tin nó. Nhưng không thể cứ ở dưới này mà phán đoán địch tình mãi được nữa. Anh bảo Xoan lui xuống phía dưới, rồi nói với Hạ:

- Tình hình thế này mà kéo dài mãi thì nguy hiểm quá. Đề nghị đồng chí cho tôi lên. Không thể để đại bác của nó cứ dội vào lưng anh em mình mãi...

Hạ ngắt lời:

- Nhưng đồng chí lên thì làm nhiệm vụ gì?

- Nếu có hàng rào thì tôi đánh nốt. Tôi sẽ quan sát kỹ đột phá khẩu.

Hạ tiếp:

- Đúng, nhưng chủ yếu là nắm được tình hình đột phá khẩu.

Hạ tiếp:

- Đúng, nhưng chủ yếu là nắm được tình hình đột phá khẩu.

- Rõ. Cho phép tôi bỏ cả cuốc xẻng, bánh chưng ở dưới này cho nhẹ. Tôi chỉ lên người không. Nếu cần, tôi sẽ lấy bộc phá của tử sĩ để đánh.

Thấy Hạ gật đầu, Tấn buộc vào trán cái khăn mặt cho đỡ vướng tóc. Nắm chặt quả thủ pháo trong tay, anh trườn khỏi cây gỗ. Hạ nói với theo:

- Cố lên em nhé. Anh chờ.

Nước mắt Hạ bỗng ứ lên. Thỉnh thoảng Hạ vẫn gọi Tấn bằng em, vì Tấn kém anh những bẩy tuổi. Sao lúc này Hạ thấy thương Tấn hơn bao giờ. Anh lấy hết tinh lực hai con mắt nhìn theo Tấn. Một trái hỏa pháo lại làm anh lóa mắt không nhìn thấy gì. Pháo củ ta nổ ròn. Hạ lẩm bẩm:

- ở trên biết tình hình ta rồi đấy, cố lên, Tấn ạ.

Vượt qua quãng đất phẳng. Tấn vừa bò vừa nhìn. Trước mặt Tấn, ba bốn bóng người nằm chen nhau, không động đậy. Tấn trông thấy rõ ràng một đồng chí chết nằm sấp đè lên ống bộc phá. Anh thoáng có cái ý nghĩ: ở đây đời con người như cái lá, sống chết không biết thế nào. Nhưng lại có cái gì kích thích anh mạnh hơn: nhất định phải sống, nhất định không được chết như những đồng chí này đã chết trước khi làm xong việc. Và muốn như vậy, chỉ có một cách là phải thận trọng. Thà chậm còn hơn là hỏng. Anh lách người qua mấy xác chết, nhìn suốt cái sống đồi nổi bật thành một vệt ánh sáng. Địch tập trung hỏa lực vào phía giữa, bò vào đấy thế nào cũng chết. Bên phải thì sườn đồi cao, đại liên nó quạt mạnh mà nếu có lên được cũng rất có thể ăn phải đạn thẳng của mình. Chỉ còn phía bên trái. Sườn bên này thấp hơn. Trung liên của ta cũng kiềm nó mạnh. Nghĩ thế, Tấn quyết định nhích người bò chếch sang bên trái. Bỗng tay anh vướng phải cái gì như bàn chân, lại có tiếng rên rỉ. Nhích thêm một bước nữa, cùi tay anh đụng vào... Rồi một tiếng thét:

- Mẹ thằng nào đạp vào tao đấy, trời ơi!

Tấn hỏi:

- Đồng chí nào đấy? Tấn đây mà!

- Lộ đây, Lộ B2 đây, chết mất, chào đồng chí, bị thương vào ngực, chết mất...

Tấn không biết nói thế nào nữa. Anh bảo:

- Để tôi gọi cáng thương.

- Không, cáng thương cũng không lên được nữa rồi. Nó bắn dữ lắm. Đằng nào tôi cũng chết rồi. Đồng chí cứ lên đi, nhớ bò sang bên trái... Sắp hết hàng rào rồi. Tôi sẽ cố sống đến lúc mở đột phá khẩu. Đồng chí lên đi.

Tấn cố nén một nỗi đau đớn chưa từng thấy trên đời mình. Một đồng chí sắp chết mà vẫn còn góp phần mình vào chiến đấu. Nắm lấy tay Lộ, Thấy nóng, Tấn bảo:

- Đồng chí không chết đâu! Tôi lên nhé.

Bàn tay Lộ rời ra. Tấn gỡ lấy ống bộc phá của Lộ ôm vào người, cắn răng nhoai lên, mắt nhằm thẳng lô cốt tiền duyên đứng sừng sững như cái bóng một nhà ngục. Hỏa pháo lóe sáng. Anh nằm yên, rồi lại bò. Những mảnh hàng rào rơi vãi vướng vào quần xềnh xệch. Anh phải gỡ từng mảnh, vừa gỡ vừa tranh thủy thở để lấy sức. Anh bỗng tự hỏi: ừ, mà phía bên trái này dễ tránh luồng đạn hơn, nhưng nhất định có mìn. Nhỡ mìn nổ thì sao? Tấn lại tự giải đáp: Không, nếu có mìn thì bộc phá của ta từ tối đến giờ cũng làm nổ hết rồi, không ngại. Tấn thấy yên lòng, cứ thế vừa bò vừa quan sát. Đạn địch từ hỏa điểm trung tâm vẫn quét sát sống đồi. Tấn đắc ý: Mẹ chúng mày, tao không đâm đầu vào đấy đâu mà chúng bay bắn! ống bộc phá kềnh càng kéo lê như thân cây chuối, có lúc anh định quẳng trái thủ pháo đi cho khỏi vướng, nhưng nghĩ khi cần đến không có cũng rầy, lại thôi. Ghếch mắt lên nhìn, anh thấy luồng đạn xiên của địch cao hơn người mình đến mấy tấc. Yên trí, Tấn ráng sức bò một hơi. Đến một mô đất nhỏ, anh dừng lại, nghiêng đầu ngó sang phía tay phải. Bỗng anh bàng hoàng: Cái gì kia nhỉ: Hay là ta hoa mắt? Chớp mắt mấy cái, anh lại nhìn: Đúng là cái lô cốt rồi, chẳng lẽ mình nằm mơ, mà cũng rõ ràng mình còn sống! Tại sao mình lại nằm ngang với lô cốt tiền duyên mà không còn thấy hàng rào? Một sự phấn khởi kỳ lạ dội thêm sức cho Tấn. Ngó sang trái, anh thấy mờ mờ mấy cái lô cốt nhỏ đã bị pháo ta chặt cụt, nhấp nhô mấy mảnh tường.

Một hồi đại bác của ta dội đến. Tấn chúi đầu xuống, lẩm nhẩm: đúng là hết hàng rào rồi, đồng chí Xoan đã đánh tan thước rào cuối cùng của địch, vậy mà đồng chí vội vã bảo còn đến năm thước! Hoan hô đồng chí Xoan! Khi nghe đồng chí ấy báo cáo, mình đã ngờ ngợ, nhưng mình không dám nói, nhỡ đồng chí đại đội phó lại cho là mình không dám lên, đoán bừa! Thích quá, đột phá khẩu đã mở! Tấn định lao ngay xuống báo tình hình khả quan cho Hạ biết, nhưng nhớ lại lời của Hạ dặn phải quan sát kỹ đột phá khẩu, anh cố nén sốt ruột, bò thêm mấy bước.

Cùi tay Tấn hụt một cái. Đúng là đất, mềm mềm, lại đỏ đỏ. Tấn với tay. Thì ra giao thông hào! Lập tức anh co người tụt xuống, bụng bảo dạ: Phải nhanh không có ông pháo của mình ông ấy xơi vào đầu là đi đứt! Một cái gì lạnh toát ra. Giao thông hào của nó vừa sâu vừa chật, đúng là chúng nó chỉ sợ chết. Tấn sờ quanh người, áo chỉ rách thôi, không việc gì cả. Chúng nó khiếp pháo ta, chuồn sạch vào trong hầm rồi! Bây giờ thì rõ ràng là mình đã đứng trong đồn địch! Tấn lấy mắt đo: Chiều rộng đột phá khẩu chừng sáu thước, nhất định không còn mìn, chỉ có rải rác dây thép gai, bộ đội ta lên thì ăn ngon đi rồi! Tiếc rẻ, Tấn men theo giao thông hào vào sâu thêm một quãng. Anh giật mình: Không được, càng vào sâu càng tiếc rẻ, phải ra thôi, nếu không, một là ăn pháo của ta, hai là nhỡ nó ra nó túm được là hỏng hết.

Tấn men ra chỗ cũ, đứng ngắm lại địa hình một lần nữa, rồi bám lấy mép giao thông hào nhoai lên. Mấy hỏa điểm của địch bắn ra vẫn dữ. Tấn chửi thầm: Đồ mù, bắn phí đạn! Nghĩ đến đại đội phó Hạ đang chờ ở dưới, anh định lao một mạch xuống cho chóng, nhưng lại sợ chết uổng, anh từ từ bò. Được bốn mươi thước, Tấn hít một hơi thở mạnh, băng mình xuống như một mũi tên, hai chân líu lại, tai ù lên không nghe rõ gì nữa.

Đại đội phó Hạ từ nãy sốt ruột nóng như lửa đốt. Đã mấy lần, trung đội phó Trang bảo Hạ: “Có lẽ Tấn chết mất rồi, anh ạ”. Hạ chỉ biết nói: “ Đợi một tí xem sao!” Sự thật thì trong bụng Hạ đã rất lo lắng. Tấn mà chết thì ai lên? Song chăng? Hay là mình? Không được, mình còn phải chỉ huy, mà cũng chưa có lệnh của tiểu đoàn... Hạ đang nhẩm trong đầu, trù tính một tổ khác lên, thì một bóng người vụt đổ xuống, vượt quá chỗ Hạ nằm năm thước, rồi lăn ra.

Hạ líu lưỡi hỏi:

- Tấn, Tấn phải không?

Tấn bò nhích lên chỗ Hạ, thều thào:

- Vâng, Tấn đây.

Hạ mừng rỡ, ôm lấy lưng Tấn, Trang thì sờ soạng quanh người Tấn, gỡ nốt mẩu dây thép gai còn vướng bên hông anh. Tấn nhìn hai đồng chí cấp trên:

- Báo cáo, cho phép tôi nằm im một phút để tôi thở đã, mệt lắm, sau sẽ báo cáo.

Nằm sát vào Tấn như để truyền sức cho anh, Hạ vẫy trung liên:

- Bắn liên tục! Truyền xuống lấy thêm đạn! Bắn vỡ mẹ nó nòng ra thì thôi!

Thấy trong ngực đã như hơn một chút, Tấn chỉ tay lên phía lô cốt tiền duyên, kể lại cho Hạ và Trang nghe tình hình đột phá khẩu anh nói: Như thế là đột phá khẩu đã mở do trái bộc phá cuối cùng của đồng chí Xoan mà đồng chí ấy không biết.

Hạ và Trang cùng thốt:

- Hoan hô đồng chí Xoan!

Tấn tiếp:

- Đề nghị báo tiểu đoàn cho bộ đội xung phong lên được rồi!

Hạ hỏi vặn đột ngột:

- Này, nhưng mà đồng chí Kỳ đánh xong ống bộc phá bảo còn bẩy thước hàng rào, đồng chí Xoan đánh được một ống nữa, có giỏi lắm là phá được hai thước. Tại sao lại không còn tí hàng rào nào nữa nhỉ? Tôi lo lắm.

Tấn ngơ ngác:

- Đồng chí lo cái gì! Rõ ràng là tôi đã thấy lô cốt tiền duyên đứng sừng sững sau lưng tôi, rõ ràng là tôi đã đi vào giao thông hào của nó đến mười thước. Bây giờ đồng chí lại không tin ở tôi...

Tấn thấy một nỗi buồn ngao ngán sập xuống người mình. Cấp trên không tin mình. Công lao của mình, không được tí gì kết quả sao? Ai không tin mình thì có lý, chứ đằng này lại là đồng chí Hạ, người đã từng hiểu biết mình...
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #21 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 09:02:04 pm »

                       Tiếp theo
Hạ an ủi:

- Tôi không ngờ đồng chí gì đâu. Nhưng rất có thể lên trên đó đồng chí mất phương hướng, quan sát chưa kỹ. Có thể là giao thông hào của nó ở ngoài dây thép gai mà đồng chí lại lầm là ở trong...

Nóng mặt vì tự ái, Tấn đáp:

- Tôi cam đoan với đồng chí là tôi nói đúng. Tôi là đảng viên, tôi không thể nói sai. Tôi lên mất nhiều thì giờ là để quan sát kỹ lưỡng. Tại sao đồng chí tin ở lời báo cáo của đồng chí Xoan, mà lại không tin tôi?

Hạ vẫn giữ bình thản:

- Cậu có nhớ kinh nghiệm Ba Lay không? Đồng chí Bạo đánh xong ống bộc phá chạy xuống báo cáo là hết dây thép gai, đến lúc bộ đội xung phong lên bị thương vong mất bao nhiêu đồng chí...

Tấn không kìm được uất ức nữa:

- Nhưng Ba Lay khác, mà ở đây khác! Đồng chí Bạo khác, mà tôi khác!

Tấn gục mặt xuống, muốn khóc. Trong lòng lúc ấy, Hạ thấy thương Tấn vô cùng, nhưng dù thương mấy đi nữa, cũng không bằng trách nhiệm đảm bảo đột phá khẩu. Nếu cứ nghe Tấn mà cho xung kích lên, thương vong ùn lại ai chịu trách nhiệm?

Trở lại bình tĩnh, Tấn nói:

- Bây giờ đồng chí chưa tin thì để tôi lên một lần nữa. Muốn bảo đảm, đề nghị cho một cán bộ trung đội đi với tôi, nhỡ tôi có làm sao còn có người về báo cáo.

Hạ thấy Tấn có ý dỗi, nhưng rất cảm động trước sự quyết tâm của Tấn, anh gật đầu:

- Được rồi, bây giờ đồng chí Trang lên cùng với Tấn, hai người cùng quan sát lại đột phá khẩu một lần nữa, phải bảo đảm chính xách một trăm phần trăm!

Thấy Trang nhìn mình có vẻ rụt rè, Hạ thêm:

- Lên ngay, bảo đảm trăm phần trăm!

Rồi quay lại Tấn, anh bảo:

- Em cứ yên tâm. Anh không ngờ vực gì em đâu. Bắt buộc phải như thế.

Trung đội phó Trang lao theo Tấn ra khỏi mười thước thì hai người cùng nằm xuống, bắt đầu bò. Đã quen đường, lại nóng ruột, Tấn trườn như con thằn lằn lên dốc, thoắt đã đến chỗ giao thông hào lúc nãy. Anh nhìn trở xuống, không thấy Trang đâu cả. Chết rồi! Anh túm một hòn đất làm hiệu rồi nhằm lúc có pháo sáng, anh giơ ba ngón tay lên mép giao thông hào, vẫy vẫy. Trang đang vướng mảnh dây thép gai, hồi hộp chưa biết bò lên hướng nào, chửi trong miệng: “Thằng Tấn bỏ tao đây à, Tấn ơi, lên hay là xuống bây giờ”. Anh đã thoáng có ý nghĩ “rút lui” thì vừa lúc trông thấy bàn tay vẫy của Tấn. Mừng quá, anh nhắm mắt nhoai lên. Tấn đỡ lấy tay Trang lôi xuống giao thông hào. Trang thở hồng hộc:

- Mày dẫn đường mà lại bò nhanh thế, định xỏ tao à?

Tấn cố nín cười:

- Ai dám xỏ đồng chí! Tôi nóng ruột quá thôi.

Rồi chỉ ra phía lô cốt tiền duyên, Tấn để bàn tay vào bên miệng nói:

- Đồng chí thấy rõ nhá. Đột phá khẩu đã mở, mình hiện đang đứng trong đồn địch. Đồng chí thấy rõ rồi chứ? Đồng chí có muốn vào sâu nữa thì theo tôi!

Trang chăm chú nhìn theo ngón tay chỉ của Tấn, miệng lẩm bẩm:

- ừ, mà đúng thật nhỉ. Thế mà cái thằng Xoan dám nói là còn năm thước hàng rào nữa. Làm chúng ông mất công. Cả cái ông Hạ cũng lẩm cẩm nốt! Còn bảo lên nữa làm gì! Suýt nữa thì mất mạng!

Tấn bật cười:

- Thế đồng chí có cần vào sâu nữa không?

Trang vội gạt:

- Thôi vào làm cái gì, đủ rồi. Cậu xuống báo cáo cho bộ đội xung phong lên được rồi.

- Thế đồng chí không xuống nữa à?

Trang cười:

- Lúc nãy thì cậu chỉ huy tớ. Bây giờ thì tớ lại chỉ huy cậu. Cậu xuống ngay nói với đồng chí Hạ, mau lên.

Đôi chút e ngại, Tấn bảo:

- Nhỡ tôi xuống giữa đường mà hy sinh... hoặc tôi báo cáo đồng chí Hạ, đồng chí ấy vẫn không tin tôi thì làm thế nào?

- Sao lại không tin? Cậu cứ bảo là có sự đồng ý của tôi là được. Tôi đứng ở đây chờ bộ đội xung phong là vào tung thâm luôn thể. Báo cáo với đồng chí Hạ là tôi đã đứng hiên ngang trong giao thông hào giữa đồn địch rồi!

Nhằm đúng đường cũ. Tấn trượt xuống dốc chỉ mấy phút đã bò tới đại đội phó Hạ nằm.

Thấy Tấn về, Hạ phấn khởi đập bàn tay xuống đất bồm bộp. Nhưng chỉ thấy có một mình Tấn, anh hỏi:

- Trang đâu, đồng chí Trang đâu?

Tấn lắc đầu:

- Không, đồng chí Trang vẫn sống, hiện đồng chí ấy đang đứng ở giao thông hào trên ấy rồi. Đồng chí ấy lệnh cho tôi về báo với đồng chí chó bộ đội xung phong.

Không nén nổi bực mình, Hạ gắt:

- Cái thằng Trang đồ ngu! Lên rồi không xuống nữa! Đứng ở trên ấy mà ăn pháo của ta à?

Hạ hỏi lại tình hình đột phá khẩu một lần nữa, Tấn vẫn trình bày như lần trước. Lần này thì không thể không tin Tấn, anh gọi liên lạc:

- Báo cáo tiểu đoàn đột phá khẩu đã mở. Đợi lệnh xung phong. Báo cáo cho pháo bắn mạnh vào lô cốt tiền duyên, yểm hộ cho xung kích tiến!

Tấn nói với Hạ:

- Bây giờ xin đồng chí cho tôi về nắm tiểu đội cùng anh em chiến đấu.

Hạ gạt đi:

- Không được. Đồng chí hãy nghỉ đã. Tiểu đội đã có tiểu đội trưởng. Đồng chí ở lại rải băng cho tiểu đội tiêm đao đánh vào đột phá khẩu.

Tấn rừng rực một nỗi sung sướng không cùng. Mình làm đầy đủ trách nhiệm, đồng đội tin ở mình, thế là đủ. Hạ nắm lấy tay Tấn:

- Thế nào, không giận anh chứ?

Tấn đáp:

- Không, đồng chí làm đúng. Đồng chí buộc lòng phải không tin tôi.

Hạ không ngờ Tấn lại thông cảm với mình sâu xa đến thế. Anh đăm đăm nhìn lên trên đồn, đợi lệnh. Người anh thấy như nhẹ đi một nửa. Bỗng một bóng người ở trên bò xuống. Hạ giật mình hỏi:

- Gì thế, gì thế?

Hạ mở to mắt nhìn, thì ra trung đội phó Trang! Trang lồm ngồm bò đến cây gỗ chắn ngang, thở không ra hơi:

- Báo cáo, Trang đây, về nhận lệnh đại đội!

- Lệnh cái gì! Ông là đồ ngu! Đứng trên ấy để ăn pháo của ta thì ai chịu trách nhiệm? ý chừng pháo bắn dữ, đành phải chuồn xuống chứ gì?

Trang cười nhạt:

- Vâng...

Năm phút sau, những tràng đại bác gầm lên từng hồi úp xuống đồi Him Lam, những mảng lửa đỏ rực.

Hàng nghìn mũi súng ngóc dậy.

Theo lệnh của đại đội phó Hạ, tiểu đội tiêm đao băng băng lên sống đồi, dẫn hàng nghìn chiến sĩ vượt qua đột phá khẩu, đánh vào trung tâm Him Lam.

Chiến thắng oanh liệt đầu tiên mở màn cho đại thắng chiến dịch Điện Biên Phủ.

*

* *

Kể xong câu chuyện, đồng chí đại đội trưởng nhìn quanh anh em:

- Thế nào, cái đột phá khẩu có ly kỳ không?

Một chiến sĩ đáp:

- Ly kỳ lắm. Nhưng mà đánh lâu như thế là do quan sát địch không cừ, phải kéo dài, tất nhiên thương vong...

Đồng chí khác nói theo:

- Chuyện đồng chí Tấn như thế là gan, bình tĩnh. Đồng chí Trang thì giao động quá. Riêng đồng chí Hạ tại sao lại bắt đồng chí Tấn lên quan sát đột phá khẩu đến hai lần, thế nhỡ đồng chí ấy hy sinh thì sao?

Một ý kiến nữa tiếp:

- Súng của mình không kiềm chế được hỏa điểm của nó mấy. Để nó phá dữ... à, nhưng báo cáo đồng chí đại đội trưởng, trận ấy đồng chí làm gì nhỉ?

Đại đội trưởng kéo nốt hơi thuốc lào:

- Làm chiến sĩ....

Xong, đồng chí chống hai nắm tay lên cằm:

- Nhân ngày chủ nhật, tôi kể các đồng chí nghe câu chuyện vừa rồi để nhắc lại một kỷ niệm, nhưng các đồng chí thắc mắc như vừa rồi là phải. Sự thật là trước đây chúng ta đánh địch nhiều lúc gay go, trình độ kỹ thuật và chiến thuật của ta còn kém; có những lúc ta phải lấy tinh thần hy sinh ra để thay cho chỗ kém ấy. Bộ đội ta vô cùng dũng cảm. Nhưng chỉ dũng cảm thôi, không đủ. Như Him Lam tôi vừa kể đấy, và một vài trận khác nữa, nếu chúng ta có một trình độ kỹ thuật và chiến thuật giỏi hơn, thì nhất định ta đỡ thương vong và còn thắng nhanh hơn... Các đồng chí suy nghĩ chắc thấy rõ điều ấy, tôi không cần phân tích lại câu chuyện...

Không thấy ai nói gì, đại đội trưởng say sưa tiếp:

- Đó là một điều tất nhiên trong hoàn cảnh chiến tranh trước đây. Cũng như có một sự thật nữa, là bên những trận chiến thắng của ta, cũng có những trận phải nhận là thất bại. Chúng ta lớn lên trong những chiến thắng và cả những thất bại. Qua chiến đấu, tôi biết thế nào là cái sống cái chết, thế nào tốn xương máu. Cho nên những đồng chí ta trước đây đã dũng cảm ta phải dũng cảm hơn. Ta phải học cho giỏi kỹ và chiến thuật hơn. Chúng ta phải đề phòng một cuộc chiến tranh hiện đại...

Nhìn ra khẩu K50 đặt trên giá, đồng chí đại đội trưởng thong thả:

- Đồng chí Hạ còn để lại một khẩu K50. Tôi không ngờ đồng chí ấy lại chết trong trận thọc sâu mất. Tôi nhớ mãi cái hôm vợ đồng chí ấy đội khăn trắng dắt đứa cháu đến đại hội mừng công. Trông chị ấy, tôi suýt khóc. Tôi cứ nghĩ đồng chí ấy chết đi để mình sống, cũng đủ để thấy mình phải làm gì...

Mấy chiến sĩ ngồi nghe bỗng chăm chăm nhìn vào mắt đại đội trưởng. Không ai nói gì cả, như sợ đụng chạm đến sự suy nghĩ của nhau. Ngoài sân, nắng chênh chếch chiếu vào mấy cái bia xạ kích sáng rực.

 V C 12-1956
 V N Q Đ 3-1957

 
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #22 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 08:36:51 am »

                                           Mai
                                           Tác giả : Anh Ngọc


Chúng tôi dừng lại ở bìa rừng, năm người và một chiếc cáng. Trận mưa chiều vừa tạnh, cây cỏ còn ướt đẫm, nhưng vòm trời đã hé ra mấy khoảng sáng xanh biếc. Bác sĩ Quý thận trọng nhấc đòn cáng lên để cho anh chiến sĩ bên cạnh ghé vai vào thay.

Kíp mới này gồm hai anh chàng đều trẻ măng và vạm vỡ, họ còn phải vượt gần mười lăm cây số trong đêm nay để về quân y viện tiền phương của mặt trận. Quý kéo đồng chí y tá đi theo dặn dò mấy câu, đoạn quay lại bên cáng. Người nằm trên cáng đắp một tấm vải dù che kín lên tận mặt. Có lẽ người bị thương đang ngủ, chỉ thấy vạt vải dù động đậy khe khẽ theo nhịp thở.

Quý ngần ngừ một chút rồi quả quyết lật nhẹ mép vải dù lên. Mặc dù con người này suốt thời gian vừa qua đã quá quen thuộc với mọi người ở đây nhưng chúng tôi vẫn cứ chú mục nhìn theo bàn tay của Quý. Đầu tiên là một mớ tóc cắt ngắn, đen nhánh, buông xoã trên võng, mái tóc của một cô gái Trường Sơn dầu dãi nắng mưa nhưng vẫn trẻ trung duyên dáng. Gương mặt cô gái tái mét, hốc hác vì vết thương mất máu và những trận sốt kéo dài.

Trong ánh chiều đang nhạt dần, vầng trán cô gái như một mảnh gương lặng lẽ phản chiếu bầu trời đầy mây. Bác sĩ Quý gật đầu ra hiệu cho kíp cáng lên đường và quay lại phía tôi. Cánh rừng vừa sáng ửng lên thoắt đã tím sẫm đi rất nhanh. Hai chúng tôi đứng bên nhau cùng nhìn theo chiếc cáng đang dần khuất về phía đồng bằng Cam Lộ. Có tiếng bom rền xa xa miệt Thạch Hãn, Tri Bưu.

- Anh quen Mai lâu rồi? – Tôi hỏi Quý.

- Trước anh một tuần.

-  Nghĩa là từ hôm cô ấy bị thương?

- Đúng thế.

Trên đường trở lại trạm xá trung đoàn tôi cứ muốn hỏi Quý thêm về Mai. Nhưng không hiểu sao hôm nay anh lại ít lời như vậy. Anh vẫn còn xúc động lắm, trông vẻ mặt thì biết ngay. Người con gái này đi qua đời anh chỉ vẻn vẹn mươi hôm, trong tình trạng cô nằm bất động trên giường bệnh, nhưng đã để lại trong anh một dấu ấn khó phai.

Bác sĩ Quý đã có mặt ở chiến trường này sáu năm liên tục. Sáu năm anh đi hết từ trạm phẫu này đến trạm phẫu khác, lúc đỉnh đèo này khi thung lũng nọ. Sáu năm đủ để anh sinh viên y vừa rời ghế nhà trường trở thành một bác sĩ chuyên khoa chấn thương từng trải. Công việc tập cho anh thói quen lặng lẽ, ít nói, và vì vậy vô số ý nghĩ, cảm xúc cứ sinh ra rồi tự chín ở trong đầu. Dần dà anh mất đi cái thú được thổ lộ tình cảm. Đối với anh, điều quan trọng duy nhất là công việc. Khi đã đeo tấm khẩu trang vào và cầm lấy dao, kéo là anh quên hết tất cả.

Và khi cô thanh niên xung phong có cái tên dịu dàng này được đưa về trạm xá trung đoàn, anh vẫn là một người như vậy. Nếu như cô trung đội trưởng đi theo cô ta không tình cờ dúi vào tay anh bác sĩ một gói giấy nằng nặng và vừa rơm rớm nước mắt vừa khẩn khoản yêu cầu anh thực hiện cái ý nguyện của bạn mình: gửi hộ chút kỷ niệm này theo địa chỉ đã ghi, nếu chẳng may cô ấy...

Quý lơ đễnh cầm lấy gói giấy, trong đầu thoáng cái ý nghĩ khôi hài: mấy cô gái dở hơi, cuộc sống đến thế mà còn nghĩ ra được cái trò này... Nhưng không hiểu sao, trong lúc chờ kíp mổ chuẩn bị, anh lại tò mò dở tập “di chúc” của cô thanh niên xung phong ra, không phải để đọc mà là để xem cho khỏi sốt ruột. Và thật không ngờ, tập nhật ký – vâng, đấy là một tập nhật ký - của Mai đã hấp dẫn anh đến mức không cưỡng nổi.

Cho đến khi đứng trước ca mổ anh vẫn còn chưa bình tĩnh lại được, và anh đã tiến hành công việc trong một tâm trạng thật ra là không có lợi cho một bác sĩ phẫu thuật. Nhưng ca mổ đã thành công. Chính đôi tay và con dao của anh đã làm việc hiệu quả để giữ cuốn nhật ký ấy ở lại bên anh, mặc dù cô gái phải chuyển về tuyến sau điều trị tiếp.

Trong mười ngày nằm ở bệnh xá trung đoàn, có lúc Mai tỉnh táo và anh bác sĩ đã hỏi xem cô có nhớ mình có một cuốn nhật ký nào không? Cô gái đỏ mặt khi biết anh đã đọc tập nhật ký nhưng cô không hề tỏ ý đòi lại ngay. Vả lại, cô sẽ còn trở lại đây cơ mà...

 

***

Trời tối một lúc chúng tôi mới về đến trạm xá. Tôi định đi thẳng về lán khách của mình nhưng bác sĩ Quý đã kéo tay dắt vào lán của anh. Nồi canh rau tập tàng vừa hái được dọc đường đã kéo chúng tôi trở lại với bao kỷ niệm của những ngày trước chiến tranh.

Dạo ấy Quý còn ngồi trên ghế trường đại học Y khoa Hà Nội. Anh chăm học và học giỏi. Nhưng tính tình lại củ mỉ cù mì và nhát gái. Trong lớp Quý có một anh tên Đức người Hà Nội, con nhà khá giả nhưng học hành lại chểnh mảng. Đức có một vẻ ngoài dễ thương và vì vậy được nhiều cô gái mến. Trước mắt một thanh niên mới ở nông thôn lên như Quý, Đức là một hình ảnh thật hấp dẫn, nhưng quá xa vời và nhiều lúc đến mức lạnh lùng.

Quý đang ở vào lứa tuổi đầy khao khát, nhưng bản chất rụt rè đã kìm hãm anh lại. Trong khi Đức và các bạn khác đã bắt đầu lao vào bao chuyện rắc rối, thì Quý vẫn là một chú bé thơ ngây trước tình yêu. Có lần đi phố, Quý gặp Đức đèo một cô gái lướt qua. Cả hai vờ như không trông thấy nhau. Nhưng lúc họ đi đã xa, Quý mới thoáng nhìn theo. Anh chỉ nhớ cô gái có mái tóc thật đẹp, mái tóc mượt mà óng ả như suối chảy dài trên vai. Ồ, thằng cha hạnh phúc thật. Giá như Quý có được một tình yêu như thế, anh sẽ sung sướng, sẽ tự hào, sẽ giữ gìn nó bằng cả đời mình. Và vì anh chưa có nó, nên anh càng thấy nó thiêng liêng và bí ẩn vô cùng.

Ấy thế mà khi Quý hỏi Đức về người yêu, anh ta chỉ trả lời qua quýt:

Đùa chơi tý chút đấy mà, có gì đâu. 

Mà quả thật, cho đến suốt hai năm cuối cùng ở đại học vẫn không thấy Đức có tiến triển mới gì về con đường tình ái. Hay là anh ta đã từ bỏ cô gái nọ? Hay là anh ta đang có những âm mưu? Dưới cái vẻ ngoài nhã nhặn nhưng lạnh lùng, anh ta là cả một cái dấu hỏi rất lớn đối với bạn bè.

Những ngày cuối cùng của họ ở trường đại học cũng là những ngày đất nước đang có chiến tranh trên cả hai miền. Họ ra trường vội vàng và cũng vội vàng lao vào nhiệm vụ. Bác sĩ Quý vác ba lô theo những đoàn quân ra trận, để kịp đón tuổi đời thứ hai mươi tư của mình trên một đỉnh dốc chót vót của Trường Sơn. Trong những năm tháng bận rộn với công việc của chiến trường, có đôi lúc Quý chợt nhớ tới bạn bè. Giờ đây mỗi đứa một nhiệm vụ, chắc chúng nó cũng đã trưởng thành lắm. Nhiều lúc anh muốn viết thư cho đứa này, đứa nọ, anh muốn nói với chúng nó là anh nhớ chúng vô cùng. Và cả Đức nữa, anh cũng rất nhớ... Nó là cái mảng đời của mình âm thầm mà mạnh mẽ, khao khát, hy vọng và khổ đau nữa...

- Sau đó, anh có gặp lại Đức lần nào không? – Tôi hỏi Quý cho có chuyện.

- Không..., mà có. Quý ra vẻ bí mật.

- Thế nào?

- Anh cũng đã chú ý rồi đấy nhé. Nhưng xin anh đừng sốt ruột. - Quý mỉm cười. Anh mở nắp cái hòm đạn đựng tư trang ở đầu giường và lấy ra một gói giấy.

- Chính là cái này đấy ư?

- Nó đấy.

- Có một cái gì về câu chuyện vừa rồi trong đó à?

- Thì anh hãy đọc đi đã.

Tôi cười thích thú. Cái mà mình chờ đợi đây rồi. Ai ngờ câu chuyện lại kết thúc theo chiều hướng ấy.

- Chúc anh đêm nay khó ngủ! – Quý cũng cười.

Tôi nắm tay Quý với lòng biết ơn và vội vã về lán riêng, trong lòng cũng lây cái bồi hồi lạ thường của anh bác sĩ.

 

II.

Tập nhật ký của Mai bao gồm một khoảng thời gian tám năm, kể từ ngày Mai bước vào năm thứ hai Khoa Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đến tận ba ngày trước khi cô bị thương trong trận cứu xe ở ngầm P. cách đây mười hôm. Biết bao nhiêu sự kiện, tâm tư, suy nghĩ mà cô đã trải qua trong những năm đẹp nhất và cũng phiền toái nhất trong cuộc đời một người con gái. Dựng lại cả quãng đời đó trong nhật ký của Mai phải là một cuốn sách lớn với bề sâu của những chiêm nghiệm và từng trải rất mực, ở đây xin bạn đọc hãy tạm bằng lòng với chút ít âm sự của cô gái ấy về một vấn đề thôi mà nhiệm vụ của câu chuyện nhỏ này đặt ra và mong muốn giải quyết được: Những quan niệm về một tình yêu chân chính.

Vâng. Có lẽ chỉ có thế. Và vì vậy mà chúng ta hãy cùng nhau dở lướt qua tập nhật ký của Mai...

Mở đầu tập nhật ký, thay vì một dòng ghi số hiệu ngày tháng, cô gái dán vào đó một tờ lịch nhỏ bóc ra từ một bìa lịch, tờ lịch ngày 2-9-1964. Trên tờ lịch không ghi một dòng chữ nào, chỉ vẽ một bông hoa hồng nhỏ bằng bút chì mềm. Hiển nhiên, đấy là một ngày đáng nhớ lắm rồi.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #23 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 08:39:22 am »

                Tiếp :
Trang thứ hai ghi sau đó bảy ngày:

“9-9-1964:

Một tuần nay mình sống trong một trạng thái lạ lùng. Thật không ngờ tất cả lại diễn biến nhanh đến thế. Mình và anh Đức biết nhau từ đầu năm thứ nhất, trong kỳ hội diễn văn nghệ của các trường đại học. Trong lúc V. người đệm ghi ta cho tốp nữ của mình hát bỏ đi đâu mất, thì chính anh đã đệm hộ. Anh nói với chúng mình lúc sắp ra sân khấu: “Các bạn thông cảm, mình chơi bật bông thôi”. Ấy thế mà anh đệm rất tuyệt. Chính câu nói ý nhị ấy đã làm mình chú ý đến anh.

Sau này quen nhau, anh Đức còn đệm cho mình hát nhiều lần, và khỉ quá, mình toàn hát sai. Thế mà anh còn bảo: “Tại anh chỉ biết bật bông làm Mai vào sai đấy”. Con người kỳ thật. Bọn bạn mình bảo: Con trai Hà Nội khéo nói lắm. Mình cho rằng anh là người khiêm tốn thật lòng chứ không phải khéo nói.

Cả nhà anh làm nghề y và đến lượt anh cũng thế. Mình thấy trong cái nghề đó một cái gì rất thiêng liêng. Vả lại nghề y và nghề sư phạm của mình lại rất gần nhau, đều chăm lo cho cuộc sống con người cả mà, một bên thể xác, một bên tâm hồn...

Mình đã đến với anh Đức như với một người bạn, hoặc đúng hơn là một người anh trai. Và dạo đầu, chính anh cũng thật bình thản khi có mặt mình. Cái kính trắng đã giấu đi đôi mắt của anh. Anh bình thản đến mức có lúc mình thấy sợ. Chỉ có một lần, lúc mình sắp ra về, anh lấy trên bình hoa xuống một bông hồng và trao cho mình. Hành động đột ngột của anh làm mình khó xử quá. Nhận hay không? Mình bất giác ngước mắt lên nhìn anh. Giá như lúc đó anh bối rối hoặc tỏ ra ấp úng chắc mình đã bỏ chạy mất rồi. Nhưng anh vẫn thản nhiên. Có lẽ anh có tặng cho bạn trai thì vẻ mặt cũng thế thôi. Và mình đã cầm lấy bông hoa. Yên tâm, nhưng thú thật, có một cái gì uất ức...

Đấy.  Anh ấy là người như thế đấy. Nếu không có cái đêm pháo hoa vừa rồi, giờ này mình và anh ra sao rồi nhỉ? Thôi đừng lẩn thẩn đi, Mai ơi. Hãy giữ lấy những gì cuộc đời này đã cho mày. Tất nhiên, còn do... người ta nữa”.

Những ngày tiếp theo, Mai ghi rất ngắn. Những ngày hạnh phúc người ta thường ghi nhật ký rất ngắn. Tất cả đều vừa ý, đều tốt lành cả, có gì phải trằn trọc đâu. Vả lại, trong những ngày hạnh phúc, người ta bận rộn với những gì có được trong tay hơn là những gì sinh ra trong đầu. Mai đã đến với tình yêu bằng tình cảm trong trắng, mãnh liệt của một cô gái mười chín tuổi. Hoàn cảnh gia đình đã tạo cho cô một lối sống thẳng thắn, cởi mở, cả tin. Nhật ký của cô hay nhắc đến một người bố thương con và giản dị, một người mẹ “nghiêm khắc với con cái nhưng lại mau nước mắt”.

Gia đình Mai từ Phú Thọ về Hà Nội sau ngày thủ đô giải phóng theo yêu cầu công tác của bố cô. Ông cụ làm ở Viện thiết kế, Bộ công nghiệp. Một con người say sưa với nghề nghiệp, đầy sáng kiến và hồn nhiên đến mức độ “xem tất cả lũ trẻ con trong khu tập thể như bạn bè”. Với cô con gái lớn đang học đại học cụ đã dành cho một lòng yêu thương đặc biệt. “Cái cười độ lượng và những câu chuyện vui mà bố kể không bao giờ cạn đã làm cho những buổi tối ở nhà ấm cúng vô cùng.” – Mai ghi. Đối với bạn bè, nhất là bạn trai của con, cụ tôn trọng và luôn hoà mình vào các cuộc trò chuyện của họ. Có lẽ với con mắt tinh tường, cụ phân biệt được ngay ai là người tốt ai là người xấu, nhưng vẫn dành sự đánh giá cho chính con mình.

“- Con này, anh chàng Đức là bạn thân của con à?

 - Vâng ạ.

 - Hình như anh ta không được tự nhiên ở nhà mình.

 - Tính anh ấy vẫn thế đấy bố ạ.”

Mai đã bênh vực cho Đức. Và bố Mai hiểu hết. Đúng, tính anh ấy như thế. Cái tính lạ thật. Tại sao với cái gia đình mà anh sẽ trở thành người thân, anh vẫn không thể cởi mở được? Tính anh ấy thế. Tại sao, ngay với Mai, nhiều lúc đang trò chuyện, anh ấy cũng im bặt và lặng lẽ xa vắng đi một lúc rất lâu? Tính anh ấy thế. Thú thật, cái tính ấy dạo đầu hấp dẫn tính hiếu kỳ của Mai ghê gớm, nó làm cho Mai lúc nào ở trước mặt anh cũng thấy mình như có lỗi. Và cái mặc cảm có lỗi ấy dày vò cô. Anh ấy còn cần gì ở mình? Mình còn thiếu sót gì đối với anh ấy?

Có lần, Mai đã hỏi thẳng Đức, nhưng anh vội vã lắc đầu quầy quậy. Anh bảo: Anh đã quen sống như thế từ bé. Trong gia đình anh, người ta rất ít nói chuyện với nhau. Bố anh là một cán bộ cũ trong ngành y tế, ông cụ lúc nào cũng như đang mải suy nghĩ một việc gì. Ở nhà anh, ngay khi ngồi vào mâm cơm mọi người cũng lặng lẽ, chỉ có tiếng bát đũa va chạm khe khẽ. Đừng có hắt hơi to trong nhà. Lại đừng có mà cười hô hố nữa. Bố chỉ cần khẽ cau mặt thôi là mẹ đã lo cuống lên. Có lần Đức đang ngồi tiếp Mai thì ông cụ dắt xe đi ra: “Đức này, chiều nay bên Phủ Doãn có một ca đặc biệt, con nên sang ngay.” Đức vội vã đứng lên. Và sau lần đó Mai tự nhủ sẽ không bao giờ đến nhà Đức nữa. Nhưng nghĩ thế thôi, rồi Mai vẫn đến. Mai tin mọi người đều có lý để đối xử tốt với nhau. Tính tự ái thật xấu, nó làm cho người ta mất sáng suốt. Mai cố kìm tính tự ái lại.

“Nếu như người ta gọi tình yêu là một bài thơ, thì lúc đến với nhau là lúc người ta viết dòng thơ thứ nhất. Bài thơ ấy hay hay dở, xúc động hay khô khan, thoạt đầu người viết có thể biết được một phần, một phần thôi chứ không phải là tất cả. Và cứ mỗi ngày mỗi tháng qua người ta lại viết thêm những dòng mới, lúc nhanh, lúc chậm, lúc phơi phới, lúc âm thầm, lúc ấm êm, lúc cay đắng...

Anh hãy bật lên dây đàn

            Những hoà âm mà chúng ta hằng yêu thích

            Em sẽ nói với anh bằng tiếng hát

            Một bài ca chưa có ở trong đời

            Một bài ca em chưa gọi nên lời

            Chỉ có trái tim em khẽ nhắc

            Có khi em hát lên bằng mắt

            Hay bằng tiếng thầm thì

            Và có khi bằng cả nỗi lặng im...”

Các bạn thấy đấy, như thế là họ yêu nhau.

Trong thời gian đầu, cả hai đều cảm thấy hạnh phúc tràn đầy. Là một nữ sinh khoa văn, nhật ký của Mai thời kỳ này đầy những câu thơ. Những câu thơ ấy được làm ra khá dễ dàng, nhưng chính vì thế mà nó gần với lời nói thông thường, nghĩa là gần với ý nghĩ thật. Họ gặp nhau nhiều và nhiều buổi về quá muộn bị bố mẹ rầy la.

Đôi bạn nói không bao giờ hết chuyện. Bởi vì trong mọi câu chuyện của họ có một từ huyền bí và hấp dẫn: Ngày mai. Ngày mai là tất cả những gì họ mơ ước, khát khao và tin tưởng. Nhưng cái ngày mai đó chưa đến và cũng chưa có dấu hiệu gì là sắp đến, nên họ vẫn còn nhiều thời gian để mà tô vẽ cho nó thật lộng lẫy. Mai nói với Đức về một ngày cô sẽ bước lên bục giảng. Ngày ấy, trước hàng trăm đôi mắt mở to, say sưa của các em học sinh yêu dấu, Mai sẽ kể cho các em nghe về những mơ ước của cô, cô sẽ kể sôi nổi, tha thiết như là đang kể với Đức đây.

Nghề dạy học với cô là một nghề tuyệt diệu, vì cô sẽ có bao nhiêu bạn bè, bao nhiêu tình thân. Mai tin rằng khi một người chỉ mơ ước làm việc tốt cho người khác thì người đó sẽ không bao giờ chịu đơn độc vì thiếu tình thân. Mà Mai thì chỉ mong làm điều đó cho mọi người. Tất nhiên, như người ta vẫn nói “người đang được yêu thì làm việc gì cũng trôi chảy”, trong mọi việc ấy Mai sẽ làm với sự trợ lực của Đức bên cạnh.

Khi anh khoác áo bờ lu trắng vào phòng mổ thì em cầm viên phấn trắng bước lên bục giảng. Có những phút cả hai đều vất vả. Nhưng vì thế mà cả hai sẽ hiểu nhau hơn, “mà nỗi vất vả một khi đã được người thân yêu thông cảm và chia sẻ thì sẽ giảm đi biết chừng nào, có thể lại còn trở nên thú vị nữa kia. Được làm nũng anh cũng là một điều thú vị chứ sao? Có phải thế không, anh Đức?”

 

III.

Theo cách ví von của Mai thì đến đây họ đã viết xong những dòng đầu tiên của bài thơ tình yêu. Những dòng suôn sẻ và nhiều hứa hẹn.

Nhưng...

Đúng là có một chữ “Nhưng” như thế ở giữa cuốn nhật ký của Mai thật. Vâng, một chữ “nhưng” với ba dấu chấm lửng (...).

“Ngày 3-11-1965:

Gần đây, anh Đức rất quan tâm đến ngày ra trường của mình. Của mình thôi, vì anh tin anh vẫn là người được số phận chiều chuộng. Chỉ hơn nửa năm nữa, cái gì sẽ đến với mình? Anh tha thiết bảo mình: Anh không thể xa em được đâu, chúng mình phải tính kế trước.

Nhưng...

Nhưng anh Đức ạ, em là người không muốn tính kế với tổ chức, với nhà trường một chút nào. Ai lại đi tính kế với những người đã nuôi dưỡng và dạy dỗ mình? Cứ cho là em vụng về không biết tính liệu mọi việc cũng được, anh Đức ạ.

- Anh sẽ tính hộ em, chúng mình thống nhất về quyền lợi mà.

- Cũng thế thôi.

- Nhiều người cũng làm như vậy, không riêng mình.

- Nhiều không phải là tất cả.

Anh bảo anh sẽ làm được. Anh có một ông chú làm ở Sở giáo dục thành phố. Anh ở Hà Nội lâu đời nhiều họ hàng lắm nhỉ. Những lúc này rất cần họ hàng, anh bảo thế.

 - Chỉ cần em không phản đối. – Anh nói.

- Ai  lại đi phản đối sự chăm sóc của người khác đối với mình. Nhưng, có điều anh Đức ạ, em... lại thích đi xa thì sao?

Anh loay hoay sửa lại mắt kính và lấy lại vẻ mặt lãnh đạm muôn thuở. Nhưng lần này mình không còn cái mặc cảm có lỗi trước anh nữa. Mặc dù mình rất xúc động. Anh có gan quay lưng và đi thẳng không? Chắc anh đang cố nén. Rất lâu, anh mới nói thật khẽ:

- Anh rất tiếc là đã để em nghĩ xấu về anh.

- Anh Đức! – Mình kêu lên và nắm lấy tay anh. - Em không nghĩ thế. Em muốn chúng mình mãi mãi là những người tự trọng.

- Em trẻ con lắm. – Anh cười chế giễu.

Thôi, hãy tạm bằng lòng với cái kết thúc này... “Anh điên mà em cũng điên, mười đêm gặp chín đêm liền giận nhau” mà...”

Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #24 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 08:41:53 am »

                          Tiếp :
Trong những ngày ấy, các trường đại học đều đi sơ tán. Đôi bạn ở xa nhau và ít dịp gặp gỡ nhau. Cả hai đều đang đứng trước một kỳ thi quan trọng của đời mình. Họ phải học tập khẩn trương và do đó những mắc mớ riêng tư cũng phải tạm thời đấu tranh để gác lại. Mai lao vào sách vở với tất cả lòng hồ hởi vốn có của cô. Từ bé Mai đã ham đọc sách. Cô nữ sinh ấy đã ngồi hàng buổi dưới bếp vùi đầu không biết chán vào những cuốn truyện thiếu nhi, những pho sách dày cộp nước ngoài và trong nước. Ham đọc sách, Mai còn biết rút ra từ sách những điều bổ ích cho mình. Sách vở đã đưa cô vào một thế giới vừa gần gũi vừa xa lạ, những con người cao thượng tuyệt vời, những tính cách anh hùng dữ dội, bên cạnh những gương mặt xấu xí và thấp hèn đến ghê tởm... Cô quên hết cả những gì quanh mình, để xúc động với những số phận của các nhân vật. Họ là những cô Lọ Lem, những chàng hoàng tử, những nàng công chúa hạt đậu... của tuổi thơ, và những Côdét, Giăng Vangiăng, những Natasa Rôxtôva, Paven Corsaghin... của tuổi thanh niên.

Mai thèm khát được sống như những nhân vật mà mình yêu thích. Cuộc sống của mỗi con người là hữu hạn, nhưng với cả nhân loại là vô hạn. Mỗi con người mất đi, nhưng những gì họ đã làm vì hạnh phúc của mọi người thì còn lại. Một cuộc sống chỉ biết mưu toan và nỗ lực vì lợi ích của riêng mình thôi thì đáng buồn biết chừng nào. Trong tình yêu cũng vậy. Mai thật lòng không muốn rơi vào địa vị của một cô Tônhia đã đánh rơi tình yêu đẹp nhất của một con người đẹp nhất mà không hay biết.

“Và trên tất cả những điều đó là lòng thành thật” - Mai ghi - “Anh Đức, em có thể, vì ngại ngùng, không dám giới thiệu anh với bạn bè, nhưng với những người thân thì em không hề giấu. Nhưng anh, anh đã bao giờ giới thiệu em với ba mẹ anh chưa? Gia đình anh không chú ý đến thủ tục ấy phải không? Lại một thói quen đáng phải trân trọng nữa. Anh đừng cho là em đòi hỏi, anh nhầm đấy, em cần một sự thành thật và sòng phẳng, anh Đức ạ.”

Trong lúc đó, có một thứ tiếng động còn mạnh gấp bội át đi cả những tiếng ồn ào qua lại đã bắt đầu nẩy sinh giữa hai người, ấy là tiếng gầm rít của chiến tranh. Cuộc chiến đấu lớn của đất nước đã dội vào những vách trường sơ tán. Hết đợt thứ nhất đến đợt thứ hai những thế hệ sinh viên đại học đã gác bút nghiên đáp lại tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc lên đường đánh giặc cứu nước. Giờ đây mỗi bài học đều có thêm một nội dung cấp thiết và mỗi tiết học đều có thêm một mục đích hướng ra phía trước. Những ngày thật bồi hồi nôn nao. Đến giấc ngủ cũng không yên lành nữa. Sáng dậy, Mai xuống suối, tay vục lên những giọt nước lạnh buốt như kim châm mà nghĩ đến những bạn bè mình, trai có, gái có giờ này đang lội qua con suối thứ mấy chục, mấy trăm trên con đường hành quân thăm thẳm vào chiến trường. Trong thử thách nghiêm trọng của dân tộc, phẩm chất con người cũng được sàng sẩy, chọn lọc lại. Bao nhiêu lớp nguỵ trang kín đáo đã rơi tuột, bao nhiêu sự thật đau lòng đã phơi bày, nhưng đồng thời bao nhiêu chân tình thắm thiết, giản dị, mà ít lời cũng đã tự khẳng định. Cả tình yêu nữa, cũng phải xem xét lại hết. Bởi vì, giờ đây đã có một thứ tiêu chuẩn để xem xét, một thứ tiêu chuẩn mà không ai có thể từ chối không chấp nhận : Tình yêu Tổ Quốc.

Mai ít gặp Đức, nhưng thay vì điều đó, cô lại nhận được thư anh luôn. Trong nhật ký của Mai còn kẹp nguyên cả những bức thư của Đức gửi. Có một bức như thế này:

“Mai ơi,

Nhiều lúc anh cảm thấy hốt hoảng vì lẽ gì anh cũng không rõ nữa. Có lẽ vì cuộc chiến tranh thì đang tiến đến rất gần mà chúng ta thì xa nhau quá. Những gì chúng ta đã có với nhau đã đủ để nói rằng chúng ta gần nhau chưa? Đã đủ để gắn bó chúng ta lại trước sức tấn công khủng khiếp của cuộc chiến tranh này chưa? Em có nghe thấy không, trên những đường phố Hà Nội dạo này luôn luôn vang lên cái điệp khúc “đồng bào chú ý, đồng bào chú ý, máy bay địch cách Hà Nội năm mươi cây số, ba mươi cây số...”. Cái điệp khúc mới rối bời làm sao, có lúc anh cay đắng nghĩ rằng: Máy bay địch cách ba mươi cây số, mà em ạ, còn chúng ta thì giờ này cách nhau ba trăm, ba ngàn... cây số!”

Tội nghiệp cho anh, người nào cảm thấy rằng trong cuộc chiến tranh này mình đơn độc thì thật đau khổ biết chừng nào. Còn Mai, ngược lại, Mai cảm thấy quanh mình mọi người đang xích lại với nhau hơn. Mọi niềm vui và đau khổ đều được bạn bè trân trọng sẻ chia. Có những tình bạn mà ngày thường Mai không dám đối xử thật hồn nhiên vì ngăn cách của giới tính, nhưng bây giờ Mai lại cảm thấy thoải mái, bởi vì tự đáy lòng tất cả đều trong sáng và chân thành. Có phải cái cá tính lạnh lùng đã ngăn cản Đức đến với mọi người, ngay cả trong lúc này chăng? Trong không khí xô bồ, bận rộn của hôm nay, một người “lịch sự” quá mức như anh sẽ nhận đứng vào chỗ nào để cái ly quần thẳng tắp kia khỏi nhàu, cái bàn tay trắng trẻo kia khỏi dây đất cát? Mai nghĩ rằng, cả Mai và anh đều phải thay đổi đi, đều phải sống khác trước. Nhất định Mai sẽ đương đầu với anh trong chuyện này. Mai không thể làm khác được. Anh là người có hiểu biết, chắc anh sẽ nhận ra phải trái.

 

***

Cái điều hệ trọng tất nhiên phải đến đã xẩy ra với đôi bạn trong mùa hè năm 1966. Đấy là một mùa hè khắc nghiệt. Trời nóng kinh khủng và máy bay giặc Mỹ luôn luôn rập rình đe doạ. Thành phố đã vắng ngắt người. Các cụ già và trẻ em Hà Nội chia nhau về nhiều ngả vùng quê. Giấc ngủ ban đêm bị xé vụn ra bởi những hồi còi báo động. Trên bầu trời Hà Nội những quả đạn cao xạ vạch đường đã thay cho những chùm pháo hoa ngày hội.

Căn nhà của gia đình Mai vắng ngắt không một bóng người. Chỉ có đôi bạn ngồi đối diện với nhau, lặng lẽ. Cả hai đều lấm láp và bụi bậm vì vừa vượt qua một chặng đường từ khu sơ tán trở về. Mặc dù đang những ngày bận rộn nhất trước khi bước vào kỳ thi tốt nghiệp, họ vẫn quyết định phải gặp nhau, bởi vì nếu không, họ sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa. Nhật ký của Mai ghi sau hôm đó mấy ngày và toàn bộ câu chuyện đã được tường thuật gần như trọn vẹn. Đấy là những dòng đau đớn, nhưng là cái đau của một người tỉnh táo, bởi vì người đó đã có ý thức chủ động nhận lấy sự đau đớn tất yếu. Mai đã không nhượng bộ trong cuộc đương đầu mà Mai biết là không thể tránh khỏi.

Chúng ta hãy đọc màn kịch nho nhỏ đó trong tập “hồ sơ” mà cho đến nay, cô thanh niên xung phong ấy vẫn giữ mãi bên mình.

“Ngày 24-6-1966. Hà Nội. Giữa hai kỳ báo động.

Về Hà Nội từ chiều 20-6. Trước đó một tuần mình đã thông báo cho anh biết quyết định của mình: Đăng ký xin ra chiến trường phục vụ ngay sau khi nhận bằng tốt nghiệp. Mình đã suy nghĩ rất chín chắn trước khi đi đến quyết định này. Toàn bộ những tâm niệm của mình từ lúc biết nghĩ đến nay, toàn bộ những mơ ước mình hằng ấp ủ từ tấm bé đều dẫn mình đến quyết định ấy. Bố đã viết thư động viên mình rất nhiều, cả các em và bạn bè nữa. Bây giờ, trước mắt mình chỉ còn anh... Anh ấy sẽ phản ứng ra sao? Mình đã lờ mờ nhận thấy một cái hố cách chia hiện ra. Nhưng dù sao đi nữa, mình vẫn không thể thay đổi quyết định. Trong lúc cả dân tộc đang đầm mình trong gian lao, lẽ nào lại có thể chăm chăm chỉ lo vun vén cho cái tổ ấm của mình được. Việc ấy chỉ nghĩ đến thôi cũng đã xấu hổ. Mình trở về gặp anh với quyết tâm ấy choán ở trong đầu.

Vẫn căn phòng thân yêu của những kỷ niệm những năm qua. Mỗi bậc cầu thang dường như vẫn ấm dấu chân anh. Khung cửa sổ nơi lần đầu hai đứa nắm tay nhau trước lúc tạm biệt sau đêm dạo chơi đầu tiên dưới màu sắc rực rỡ của những chùm pháo hoa... Tất cả còn nguyên vẹn, nhưng sao lòng mình trống trải.

Có tiếng gõ cửa quen thuộc. Anh hiện ra, gầy và xanh đi nhiều. Ôi, nếu không có những vướng mắc đang đòi hỏi cả hai phải nghiêm túc giải quyết, mình đã ôm chầm lấy anh như xưa. Nhưng mình đã nén được. Trước sau cũng phải một lần sòng phẳng. Nếu cả hai vượt qua được thử thách này, hạnh phúc sẽ càng bền chặt hơn nhiều. Mình hy vọng như vậy.

Có lẽ đọc được những xúc động trên nét mặt mình, nên anh quyết định tấn công ngay. Anh để nguyên cả áo khoác ngoài ngồi xuống ghế:

- Anh xin hỏi lại em một câu thôi: Em vẫn giữ quyết định ấy chứ?

- Thì anh bỏ áo khoác ra đã nào. – Mình bình tĩnh mỉm cười: - Anh làm như hỏi em xong một câu là anh bỏ đi ngay ấy. Chúng mình đã đạp gần trăm cây số về đây lẽ nào lại không dành được mấy phút để nói chuyện cặn kẽ với nhau hay sao. Anh vẫn cho là em trẻ con trong quyết định này à?

- Không phải trẻ con nhưng cũng không phải là người lớn.

- Vì sao vậy?

- Em vẫn chưa thoát ra khỏi cái thế giới sách vở mộng mơ của em. Em nên biết, cuộc sống thật phức tạp và khắc nghiệt hơn nhiều.

- Em chưa hề nghĩ là nó đơn giản và dễ dàng.

- Em hãy cho anh biết: Em dạy ai ở ngoài mặt trận? Ở đấy người ta cần bàn tay, đôi vai, chứ không cần đến khối óc của em. – Có lẽ chưa bao giờ anh nói bằng cái giọng như thế với mình, dằn từng tiếng và thách thức.

- Anh quên rằng em cũng có bàn tay và đôi vai như mọi người hay sao? Em có thể làm bất cứ việc gì mà mặt trận cần đến. Vả lại, chiến tranh là công việc của con người, mà con người không chỉ hành động bằng tay mà còn cần đến bộ óc, rất cần là đằng khác. Cũng như nghề y của anh, chắc anh không thể cầm cái dao mổ như một cái máy.

- Chiến tranh, tất cả chỉ tại cái cuộc chiến tranh chết tiệt này.

- Anh nói chỉ đúng một nửa thôi. Chúng mình không ai muốn chiến tranh cả, nhưng kẻ thù đã bắt chúng mình phải cầm súng.

- Cái thứ chính trị ấy của em, nói thì dễ lắm, nhưng làm thì khó đấy.

Anh nói vậy và đứng dậy.

- Thế còn anh thì sao? Anh cũng có thể cần phải ra trận cơ mà? Nhất là chuyên khoa ngoại của anh. – Mình hỏi rất thật.

- Anh cũng phục vụ mặt trận, nhưng bằng những phương tiện khác, cứu chữa một lúc cho rất nhiều người.

- Không phải bằng con dao của anh à?

- Một ít thôi. Chủ yếu là bằng khối óc.

- Em không hiểu.

- Có một người quen cho anh biết là anh sẽ được giữ lại công tác ở một cơ sở thực hành và nghiên cứu ở Hà Nội. Có thể anh sẽ được đi học thêm ở nước ngoài. - Những câu này anh nói rất nhanh nhưng rõ ràng, mắt nhìn đi nơi khác. Nhưng mình biết là anh vẫn theo dõi thái độ của mình. Có phải đây là đòn tấn công cuối cùng của anh không? Sự thể có thế thật hay anh bịa ra? Có lẽ anh đã nói thật. Nhưng điều đó có giúp ích gì được cho mình đâu.

 Anh Ngọc

Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #25 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 09:05:03 am »

                   Trong lòng địch    
                   Tác giả : Nguyễn Lai

LTS: Đồng chí Nguyễn Lai (Nguyễn Tùng Thiện) nguyên đại tá thuộc Tổng cục tình báo Bộ tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam có gửi đến Tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Quân đội bản thảo cuốn hồi ký dài viết về những tháng năm ông cùng đồng đội vượt biển vào Nam hoạt động trong lòng địch. Trong thư gửi kèm theo đồng chí Nguyễn Lai ghi rõ: “Đây là những sự kiện đã được kết luận và xác minh qua kiểm tra của Quân ủy Miền” và có nhã ý tặng các nhà văn quân đội làm “tư liệu sáng tác nếu thấy có giá trị ít nhiều”.
Ban biên tập đã đọc và thấy đây là một cuốn hồi ký có giá trị, trong phần văn xuôi số này xin gửi đến bạn đọc một vài đoạn trích từ những ghi chép về cuộc đời hoạt động tình báo của đồng chí Nguyễn Lai.

Xem bói

Tôi không nhớ rõ tháng ngày xảy ra câu chuyện. Chỉ nhớ đó là khoảng sau khi xảy ra chiến dịch “Lam Sơn 719” của Mỹ. Tôi có nhiệm vụ vào nội thành Sài Gòn xác nhận, đánh giá cậu Trung úy thủ khoa Hành chính Quản trị Bộ Tổng Tham mưu quân ngụy Sài Gòn và một vài cơ sở khác.

Sau khi làm xong việc, đúng ngày hẹn tôi phải đi xe đò về Bến Tre và theo đường 26 đi Giồng Trôm, ghé lại Lương Quới vờ xem bói rồi “đi thăm chị” để trở vào căn cứ.

Nhà ông thầy bói tên Tư Oanh ở cạnh đường 26 gần cầu Kinh. Từ phà Rạch Miễu có chị giao thông viên bí mật tên Năm sẽ đi với tôi với hình thức là hai người không quen biết. Chỉ khi ra hiệu cho nhau và khi đến nhà ông Tư, lúc không có người lạ mới nhận “cậu, cháu” và cậu “về thăm mẹ cháu bị bệnh”, cháu sẽ đưa cậu lên ghe tam bản, chèo vào căn cứ.

Tôi đến phà Rạch Miễu đã 2 giờ chiều. Đứng đợi chị Năm theo kế hoạch. Đợi hoài, đợi mãi mà không thấy chị đâu. Tôi vào quán nước, gọi một chai nước cam. Uống chậm rãi, chờ đợi. Nhưng nước thì hết mà giao thông viên vẫn chưa thấy. Không lẽ ngồi mãi hay sao? Lại gọi thêm 1 chai nữa. Có lẽ cũng không giống ai. Cứ ngồi vậy hết chuyến phà này cập bến đến chuyến phà khác. Người, xe, phà đi lại sôi động. Còn tôi ngồi bất động. Bụng như có lửa.

Một giờ đã trôi qua. Ngồi mãi bọn mật vụ, thám báo nhan nhản sẽ sinh nghi. Ở đất miệt vườn, ngồi đọc báo cũng là chuyện nghi ngờ của bọn này. Tôi quyết định lên xe đò đi Giồng Trôm. Lúc này đã 15 giờ. Đường không quá xa, chừng 20 - 30km. Trên đường vắng tanh. Lúc này ai cũng lo về nhà, cơm nước, chuẩn bị đối phó với pháo bầy, pháo mồ côi không biết bắn vào nhà mình lúc nào. Đất “tự do oanh kích” mà. Hầm hào phải có sẵn và nằm ngủ bên miệng hầm.

Xe chạy đến gần cầu Kinh xã Lương Quới. Tôi xuống xe tìm nhà hỏi thăm thầy Tư xem bói. Làng mạc xơ xác, vắng tanh. Trên lô cốt sát cầu Kinh một khẩu đại liên MG họng súng đen ngòm hướng thẳng theo đường quốc lộ. Người duy nhất tôi gặp trên đường là một trung úy đi xe hon đa 90 từ bốt gác ra.

Tôi đến nhà thầy Tư. Có lẽ bà con thập phương đến đây xem bói mong tìm lời phán truyền “an cư, lạc nghiệp” trong thời buổi chiến tranh chết chóc này cũng không ít. Bước qua sân nhìn vào gian giữa: bàn thờ khói hương nghi ngút. Không khí thật im ắng.

Nhưng vừa bước qua cửa, nhìn sang gian bên phải bàn thờ thì tôi không khỏi giật mình. Một tốp lính rằn ri với súng ống trong tay, mấy máy bộ đàm PRC 25, cần ănten nhô lên. Lính ngồi im lặng chỉ có tiếng liên lạc qua máy của tên thiếu úy.

Tôi thoáng nghĩ: Mật phục chăng? Mật phục ai đây? Mình ư? Dù sao cũng phải hết sức bình tĩnh thực hiện đúng kế hoạch. Vào xin xăm và coi như không có tốp lính ngụy ở gian bên. Tôi thấy có một vị trung niên, tóc búi, mặc đồ bà ba màu xám đang đi lại bên bàn thờ. Tôi ra chiều mừng rỡ, muốn xóa cái không khí im lặng nặng nề này:

- Kính chào bác Tư. Nam mô ai di đà phật! Tôi có chuyện muốn thưa với thầy nhờ thầy giúp đỡ.

- Ông có gì cứ nói - Bác Tư dừng lại bên cạnh tôi.

- Thưa thầy! Chẳng giấu gì thầy, tôi có 2 thằng con trai tòng quân ở vùng I chiến thuật. Chúng báo cho biết nó đã đi qua Lào chiến đấu chống Việt Cộng. Không rõ hiện nay sức khỏe nó ra sao. Nhờ thầy cho tôi xin một quẻ.

Thầy Tư bảo tôi cho biết tên hai đứa, ngày tháng năm sanh. Rồi thầy lấy ống thẻ ra, bảo tôi quỳ xuống, lắc ống thẻ. Tôi lấy thẻ văng ra ngoài dâng thầy, thầy cầm xem và phán:

- Hai thằng con ông, một bị bắt, một bị thương nhẹ. Đứa bị bên kia bắt coi như khỏe rồi. Còn thằng bị thương nhẹ chắc sẽ về thôi.

Tôi giật mình với câu “bị bên kia bắt, coi như khỏe rồi”. Chỉ có người cảm tình với cách mạng mới dám nói ra ý này, mà nói ra trước tốp ngụy khác gì đòn tâm lý. Tôi không rõ ý định của thầy Tư ra sao.

Lúc này việc bại trận của cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã đồn vang. Lính chết, bị thương la liệt đã dấy lên sự lo lắng trong xã hội và quân đội ngụy. Tên nào cũng lo sợ bị đưa ra đường 9 - Nam Lào.

Thầy Tư mới mời tôi ngồi uống nước. Tôi cũng nhân dịp tâm sự về gia đình, vợ con “lo phát ốm”. Bọn lính ngồi đó không làm gì cũng ngồi nghe hai bên trò chuyện. Tôi cũng không biết việc này kết thúc ra sao, cảm thấy đối tượng mật phục không phải là tôi. Vì nếu là tôi, chúng không thể để yên cho tôi đàm đạo với thầy Tư. Cuối cùng cô Năm từ sau nhà bước ra. Trong bụng tôi mừng quá như trút được một gánh nặng vì bị ức chế cả ngày nay. Tuy vậy tôi cũng hết sức tự nhiên, không muốn để bọn lính Ngụy nghi ngờ.

- À, cháu Năm. Mẹ cháu khá chưa? Cậu định đi Bình Đại, nhưng nghĩ lại muốn vào thăm mẹ cháu nên xuống xe thăm thầy Tư đây. Con thu xếp đưa Cậu vào thăm mẹ cháu kẻo tối rồi, đi lại khó khăn.

Chị Năm cũng bình tĩnh, cúi chào tôi vừa nháy mắt ý muốn tôi phải chấm dứt việc trò chuyện với thầy Tư và thưa:

- Cậu ơi! Mẹ cháu khá rồi và bả rất mong cậu đó.

Tôi cũng sửa soạn lại đồ đạc, cúng một ít tiền rồi chào thầy Tư.

Vừa khi, trùng hợp lúc đó, máy PRC 25 phát đi lệnh của đại đội trưởng yêu cầu trung đội tập trung về ăn cơm. Vậy là bọn lính cũng xôn xao, sửa soạn súng ống trong thế ra về.

Cô Năm đưa tôi ra rạch phía sau nhà và dùng xuồng đưa tôi về căn cứ. Cô cứ thanh minh là bị lính kèm riết nên không đi đón tôi được.

(Tháng 2-2009 tôi có tìm về nhà ông thầy bói. Nhà vẫn còn trên mảnh đất đó, con ông đã chuyển ra lô 26. Ông Tư Oanh đã mất và con ông cho biết ông Tư lúc còn sống là người có cảm tình và đã nhiều lần giúp đỡ cho cách mạng).

Một lần thoát hiểm

Sông Nhơn Trạch chảy ra sông Giồng Trôm sát thị xã Bến Tre và chia cắt mảnh đất ra hai phần ở sát vàm (đầu sông): bên phải là xã Nhơn Thạnh, bên trái là xã Mỹ Thạnh. Hai xã này là vùng căn cứ. Nhưng đầu vàm, sát sông Giồng Trôm là vùng hai bên làm chủ. Ban ngày: Ngụy. Ban đêm ta về hoạt động. Đây là cửa ngõ ra vào để thâm nhập thị xã Bến Tre và sau đó là Sài Gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho. Dân ở đây ta nắm không chắc, không phân loại được, địch ta lẫn lộn. Tôi đi công tác vào Sài Gòn cũng từ cửa ngõ Mỹ Thạnh và trở về thì qua đất Nhơn Thạnh.

Trước đây có lần tôi đi qua An Hóa bằng ghe từ sông Nhơn Thạnh qua kinh Chẹt Sậy, còn đi bộ thì chưa.

Kế hoạch như sau: tôi đi xe đò từ Sài Gòn về Bến Tre sau đó đi xe lam về ngang gần cầu kinh Chẹt Sậy. Xuống xe đi dọc theo đường nhỏ cặp mé sông đến nhà ông hai Cao Đài (cha của năm Khoa - cán bộ quân báo Mỹ Thạnh). Ông sẽ đưa tôi qua Nhơn Thạnh bằng ghe máy và từ đó lội bộ vào sâu đất Nhơn Thạnh, gặp ghe bà con làm ăn xin qua sông, đến căn cứ H69. Căn cứ lúc này ở vạt mía của vợ chồng anh cụm phó Nguyễn Văn Tâm sát mé sông Nhơn Thạnh.

Sau khi làm việc xong ở cơ sở trong Sài Gòn. Tôi lên xe đò ra về. Y theo kế hoạch tôi xuống xe ở đầu kinh Chẹt Sậy. Tôi xuống xe, gặp ngay một bãi cỏ trống. Một tình huống bất ngờ, một xe Jeep truyền tin của quân Sài Gòn đã nằm tại đó. Chúng nó đang liên lạc với ai đó qua máy bộ đàm. Có lẽ việc này tôi thấy cũng bình thường và cũng thiếu cảnh giác nên không chú ý. Tôi đi ngang qua vạt đất theo đường mòn cặp mé sông và đi vào xóm bờ sông của thị xã Bến Tre. Dân cư ở xóm này chủ yếu là người ở các xã lân cận, chạy giặc tránh bom đạn về đây dựng nhà tạm bợ để trú ngụ. Nên khi hỏi nhà ông Hai Cao Đài tôi cũng không gặp khó khăn gì. Ông là một ông già quắc thước, một chức sắc trong đạo Cao Đài, ở Mỹ Thạnh ông có một khu vườn rộng, một nhà thờ Cao Đài tuy đã bị phá hủy nhưng nền nhà còn lại cho tôi biết là một nhà khá lớn.
 

 
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #26 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 09:08:35 am »

                    Tiếp theo
Tôi đã từng gặp ông Hai nhiều lần trong căn cứ. Gặp tôi ông rất tôn trọng khách và buộc tôi phải dùng cơm trưa với ông, xong ông sẽ đưa tôi qua sông vào đất Nhơn Thạnh.

Chừng xế trưa, ông đưa tôi xuống bến, lên một chiếc thuyền không mái khá to. Ông tự nổ máy và điều khiển thuyền vượt sông, hướng vào rặng cây bần, cây gừa, sát vàm sông Nhơn Thạnh.

Khi ngồi trò chuyện, tôi hỏi ông tình hình bên Nhơn Thạnh và việc có chiếc xe truyền tin của quân ngụy ở bãi cỏ đầu kinh Chẹt Sậy có gì bất ổn không? Ông bảo không có gì đâu. Bà con trong căn cứ ra bán rau, quả cho biết mọi việc đều yên ổn.

Qua sông rồi, thuyên giảm tốc độ và ghé vào rặng cây sát một chòi lợp lá dừa nước bên cạnh. Ông cắm sào, giữ thuyền ổn định, chỉ cho tôi con đường mòn đi vào bên trong và bảo “chú yên tâm, không có gì”. Xong ông đẩy ghe ra và nổ máy đi về hướng Giồng Trôm.

Tôi bước xuống hàng cây và ghé vào chòi lá, ý định muốn hỏi thêm tình hình. Tiếng máy thuyền nổ to đã làm cho mấy con chó trong nhà sủa vang. Tôi là khách lạ vào nhà nên chúng nó càng ra sức sủa.

Tôi bước vào nhà. Thật bất ngờ tôi gặp ngay mấy người trong nhà đang đứng dậy và ai cũng im lặng không ai chào mặc dù tôi đã chủ động chào chủ nhà. Tôi nhìn thấy trong nhà có một bà quen quen tôi đã từng gặp đôi lần trong căn cứ. Đó là bà chín Hương thường đi thuyền vào mua trái cây, đem ra Bến Tre bán. Bây giờ tôi mới biết nhà bà. Và bà ở bên nào trong cuộc chiến này, tôi cũng chưa biết. Tôi chào bà lần nữa “chào chị Chín. Trỏng có yên không chị?”

Im lặng.

Ủa sao kỳ vậy? Sao không ai nói gì trong lúc đàn chó vẫn sủa và cũng không ai bảo chúng “im đi”.

Tôi cũng đứng sững một lúc khá lâu. Tôi nhìn chủ nhà. Nhưng chủ nhà lại nhìn vào một nơi khác và im lặng. Tại sao lại có chuyện hai người điếc gặp nhau? Có chuyện gì vậy?

Đàn có lúc này đã hết sủa và tôi chỉ còn ra khỏi nhà hướng vào đường mòn. Thú thật, tôi cũng không nghĩ đến có địch ở bên trong. Một ngu xuẩn và thiếu cảnh giác nghiêm trọng.

Tôi đi theo đường mòn, qua một đám ruộng khô hoang khoảng 50 mét, vào một hàng chuối lơ thơ, và sau cùng là một hàng rào bông bụp chạy dọc theo đường mòn. Bên trong hàng rào thấy một mái nhà tranh. Hàng rào bông bụp dài chừng hai mươi bước, ở giữa cách quãng làm cửa ngõ. Tôi bước mấy bước đầu tiên theo hàng rào và theo quán tính tôi nhìn vào mái nhà bên phải tôi. Từ hàng rào đến ngôi nhà phải qua một sân hẹp chừng mươi bước.

Trong khi chân đang bước thì mắt tôi đập vào một mục tiêu di động: một tên lính ngụy mặc áo rằn ri, lăm lăm ở tay một khẩu súng AR15 và đang đi giữa sân, hướng vào nhà.

Ngỡ ngàng! Mật phục!?

Câu hỏi vụt đến: Đi nữa hay quay lại! Quyết định sao đây?

Câu trả lời là phải tiếp tục đi, đi nhanh, đi nhẹ. Vì tôi thấy tên lính ngụy còn cách xa nhà, xa hơn tôi cách cửa ngõ. Vậy khi tôi đi qua cửa ngõ nó cũng chưa đi đến nhà, và nếu nó quay lại thì tôi đã đi qua ngõ rồi. Hàng rào sẽ che mắt nó, nó không thể thấy kịp và tôi đã đi vào lùm chuối phía sau.

Cái quyết định của tôi tính trong chớp mắt và không biết các nhà tâm lý học phân tích thế nào. Chứ tôi thấy quyết định này là một quyết định tổng hợp của sự tính toán lý trí, bản năng sống và cả sự chấp thuận hy sinh nếu tên lính thấy tôi, nhả đạn. Phía trước là căn cứ, là đất sống, phía sau là nhà Bà Chín Hương, sông Giồng Trôm, là thị xã Bến Tre, không phải là nơi an toàn.

Viết ra thì quá dài chứ thực tế chưa đến 30 giây! Và tôi đã quyết định hành động đúng. Tôi qua được cửa ngõ, vào được vườn chuối. Và không có băng đạn AR 15 găm vào sau lưng tôi.

Qua lùm chuối, đến một nhánh sông Nhơn Thạnh, ngồi kín đáo, tôi chờ có thuyền qua lại, xin quá giang. Tôi qua được sông, đi vào căn cứ của H69, cũng không xa nơi tôi bị mật phục. Tim tôi không đập mạnh. Tại sao? Không phải tôi không hồi hộp. Nhưng có lẽ lý trí tập trung quá, căng thẳng nên thần kinh tim không huy động được.

Kể lại mọi chuyện ai cũng mừng cho tôi. Hú vía! Hú vía! Tôi nói cũng nhờ đàn chó của bà chín Hương sủa dai dẳng và chấm dứt khi tôi chuẩn bị đi vào đường mòn.

Ngồi hình dung lại: Quay lại đoạn phim tôi vào nhà bà Chín. Chó sủa dai dẳng buộc bọn mật vụ đang ở (hoặc đang ngả lưng trong nhà) cho một tên ra coi chuyện gì xảy ra. Tên này cũng loại quan liêu, chỉ cần ra đến cổng thôi. Trong lúc đó chó không sủa nữa. Và tôi phải đi qua một đám đất 50 mét, vườn chuối 20 mét. Vị chi có khoảng một thời gian im lặng chừng 5 phút. Chừng ấy phút đã giải thích cho tên lính đi ra cổng là không có gì. Không có Việt cộng gì ráo. Thôi lại vào ngủ hoặc đánh bạc cũng nên! Vì vậy tôi thoát nạn.

Nhưng có một điểm chưa rõ là lính ngụy vào đây bằng đường nào? Và xe máy truyền tin đang liên lạc với ai? Vậy có lẽ lính ngụy bí mật đã đi từ nơi có xe truyền tin, đi qua sông, qua nhà bà Chín và đi vào đây. Cho nên bà Chín quá kinh ngạc biết địch bên trong mà tôi lại chui vào. Không dám nói, nên cứ “muốn nói mà không nói được như “gà mắc tóc”.

Sau này (tháng 12-2009) tôi có tìm lại bờ sông nơi bị lính mai phục. Ba mươi tám năm rồi, địa hình địa vật và con người đã thay đổi. Tuy vậy tôi vẫn được thấy nơi chòi có chó sủa, con đường hẻm vào nơi lính mai phục nhà vườn có hàng rào bông cẩn. Người dân cho biết chòi trái cây là của ông Tư Rê, ông đã chết. Bà Chín Hương có chòi cùng nghề ở bờ sông đối diện và đã chết. Nhà có hàng rào bông cẩn là của ông Tám Điệp.

Bị bắt và ra tòa án binh xét xử

Tôi bị bắt vì mang thẻ căn cước giả. Bị giam giữ ở nhiều nơi, từ bót Nguyễn Văn Tố, phòng giam của Cảnh sát đặc biệt đến nhà lao Chí Hòa.

Một hôm quản tù gọi tôi bảo ngày mai vào phòng “giảo hình”. Giảo hình là gì? Chưa nghe bao giờ, có cảm giác kinh kinh. Nhưng đây chỉ là động tác kê khai lại lý lịch. Đến mục khai khi cần báo tin cho ai, tôi nói không nhà cửa, người quen. Hai tay thư ký nhìn nhau và nhìn tôi rồi nói: “Ông này mà là loại vô gia cư à?”. Cuối cùng nó cũng ghi nội dung như vậy. Tôi vào lao Chí Hòa không gặp rắc rối gì. Có lẽ hồ sơ đã hoàn tất, các cấp phê duyệt. Chỉ còn tòa án sắp xếp chương trình để xử. Ngày 21 tháng 2 năm 1972, quản tù thông báo ngày mai sẽ đưa tôi ra tòa. Tôi bị tòa án quân sự  lưu động vùng 3 chiến thuật số 3 đường Bạch Đằng xét xử. Bạn bè tội phạm mừng cho tôi và khuyên dặn phải cẩn thận.

Đó là tòa nhà cổ một tầng. Bên trong bày mấy dãy ghế ngồi bằng gỗ lim đen kịt và nặng nề. Bên trên như là sân khấu gồm bàn ghế chủ tọa, thư ký, luật sư và vành móng ngựa. Một không khí lạnh lẽo và quy tắc bao trùm. Đến giờ khai mạc phiên tòa viên lục sự (thư ký tòa) báo cáo có 14 phạm nhân. Tôi nhớ trong đó có 3 nữ phạm nhân là tiếp tế cho Việt cộng, 2 phạm nhân là lính đã giải ngũ của Quân đoàn 4 nhưng dùng căn cước sai quy định, 1 phạm nhân là tôi dùng căn cước giả.

Lục sự sắp xếp thứ tự đề nghị xét xử: tội nhẹ xử trước, nặng xử sau. Ông ta dự định đưa tôi ra xét thứ 14 là tội nặng nhất.

Nhưng ông chánh án trung tá Thành (ở dưới tôi nghe và thấy phù hiệu quân hàm của ông) đã sắp xếp lại. Tôi bị đưa ra xét ở số thứ tự 7. Tên lục sự thưa chánh tòa: “Tên Thiện này nặng nhất nên đưa vào số 14”. Nhưng chánh án gạt đi và bảo: “Ông lục sự thực hiện theo sắp xếp của tôi. Cứ vậy mà thi hành”. Tôi nghe ông nói giọng Quảng Bình - Quảng Trị.

Tôi được đưa lên số thứ 7 với hai người lính đã hết hạng quân dịch nhưng đi lại bằng căn cước quân đội. Tôi cũng hết sức bất ngờ và lại suy nghĩ ông Thành là ai? Đến khi tòa gọi 3 người ra vành móng ngựa, hai người lính kia nhận có sai sót chưa làm căn cước dân sự mới. Đến tôi, chánh án hỏi:

- Ông Thiện, tại sao làm giấy tờ giả đi vào Sài Gòn để làm gì?

- Thưa ông chánh án, xin ông xét lại cho, tôi là nạn nhân chiến cuộc ở Quảng Trị, tôi chạy vào Sài Gòn bị mất giấy tờ. Bây giờ tôi muốn trở ra tìm vợ con nên nhờ người mua căn cước. Ai ngờ là giấy giả. Do vô tình mà phạm tôi xin tòa lượng thứ.

Chánh án hỏi luật sư biện hộ: “Ông luật sư có ý kiến gì không?”. Lúc này tôi mới biết tòa án có cử cho tôi một luật sư biện hộ. nhưng tôi chưa bao giờ được tiếp xúc với luật sư. Luật sư nói: “Thưa chánh tòa, ông Thiện là nạn nhân chiến cuộc, ông chạy loạn bị mất giấy tờ căn cước nên có sai phạm là mua căn cước giả để tìm đường về quê. Xin tòa cho ông tại ngoại để ông về quê làm giấy tờ và sum họp cùng gia đình”.

Một điều rất lạ là sau khi nghe báo cáo trình bày và luật sư biện hộ, ông chánh án nói với ba chúng tôi:

- Tôi nói cho ba anh biết, sau này về, ba anh phải đi làm giấy tờ căn cước ngay chứ không được đi lại với giấy hiện nay.

Tòa chưa luận án mà chánh án nói như vậy khác gì chánh tòa đã sơ bộ thông báo kết luận là tha cho 3 người.

Quả thật sau khi xử xong 14 bị cáo, tòa họp và luận tội: Hai anh lính được tha bổng. Còn tôi bị 3 tháng tù treo. Tôi cũng chú ý nghe lời kết tội của tòa và lời tự biện hộ của 3 nữ phạm nhân can tội tiếp tế cho Việt cộng. Tôi nghe các chị nói: “Các ông có buộc tội tôi bao nhiêu cũng không quan trọng. Vì các ông còn ở đây đâu mà giữ chúng tôi trong tù”.

Từ ngày bị bắt đến nay cũng đã 3 tháng thiếu 3 ngày. Như vậy 3 ngày nữa tôi được tự do.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #27 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 09:10:46 am »

                                       Tiếp :Tôi cứ thắc mắc không rõ ông trung tá Thành là ai? Có quan hệ gì với ngành? Sau này anh Ba Quốc cho biết: Đơn vị không có quan hệ gì với ông Thành cả. Có thể đây là tâm lý dao động trước hiệp định Paris sắp ký của các nhân viên chính quyền Sài Gòn.

Câu chuyện ngụy trang phù hợp với thực tế xã hội, diễn biến chiến sự ở Đông Hà - Quảng Trị lúc đó cũng làm cho bọn cảnh sát an ninh bất lực (ta đã chiếm Đông Hà - Quảng Trị nên mọi điều tra đều không thể làm được). Hết sức tránh các vấn đề dính líu đến chính trị thì những người bình thường trong bộ máy ngụy quyền có cảm tình với ta, có thể giúp đỡ được.

Sau khi ở tòa án về và được thông báo kết quả, các bạn tù trong nhóm đều vui mừng cho tôi. Tuy vậy có một người đã nói: “Bác cẩn thận, nếu hồ sơ của bác không cho phép tòa án xử nặng bác thì bọn an ninh quân đội sẽ bắt cóc bác đưa về giam không xét xử và thời gian giam là vô tận. Ở Chí Hòa thường thả tù vào buổi chiều. Nếu ra cổng bác thấy có xe an ninh quân đội đứng chờ là điều rất nguy hiểm đó”.

Ngày 24 tháng 2 năm 1972, tôi được ra tù. Thật bất ngờ là ngày này trùng hợp với ngày sinh nhật của con tôi và không có xe nào của an ninh quân đội ngụy đứng chờ cả.

Lời kết

Là một cán bộ điệp báo nhưng khi thì tôi ở trong đô thị làm công việc của ngành: xây dựng lực lượng, giáo dục chính trị, bồi dưỡng nghiệp vụ, chỉ đạo hoạt động; khi thì tôi ra sống với anh em ở vùng ven trong cụm điệp báo, trở thành một cán bộ chỉ huy của lực lượng vũ trang tham gia cùng địa phương chống càn quét, bắn tỉa, bao vây đồn bốt giặc...

Tôi được đi nhiều, sống nhiều ở những môi trường chính trị đối lập nhau và tôi cho rằng những năm 1968 - 1972 là những năm tôi sống và hoạt động phong phú nhất, vượt qua nhiều nguy nan nhất, tự rèn luyện nhiều nhất, thấy rõ mình là ai nhất. Tuy vậy tôi cũng không dám tự cho là tôi đã chịu đựng được những thử thách cao nhất. Tôi chỉ nghĩ rằng qua thử thách cụ thể trong thực tế tôi đã trụ vững để vượt qua. Còn thử thách cao hơn? Tôi chưa gặp và chưa thể nói như đinh đóng cột là mình sẽ vượt qua. Trong phần kể lại các câu chuyện, tôi có nói đến yếu tố may mắn. Tôi không chờ đợi yếu tố may mắn vì nó sẽ chi phối suy nghĩ của tôi. Nhưng người nào trong công việc hằng ngày lại không mong đến sự may mắn? Có người nói: Nếu có đủ tài năng thì cần gì đến may mắn? Có người lại nói: “Có đến sáu mươi phần trăm việc thành công đều nhờ may mắn?”. Tôi bị địch phục kích, nhưng may mắn là tên lính ngụy quay lưng vào nhà, nên nó không thấy tôi và tôi đi thoát. Có phải là may mắn không? Gặp sóng Lưỡi Búa nếu cơn sóng thứ hai là cơn sóng mạnh thì thuyền đã chìm. Nhưng cơn sóng thứ hai yếu nên nước tràn vào ghe, chưa đủ sức để ghe chìm. Vậy có phải may mắn không? Qua kênh Dương Văn Dương, do lạc đường, đơn vị tôi từ vị trí hành quân ở cuối trở thành đi đầu, vượt qua được kênh an toàn. Còn đơn vị đi đầu lại thành đơn vị đi cuối và bị thiệt hại rất nặng. Ai gặp may? Ai gặp rủi? Nói chuyện này để thấy ngoài bản lĩnh con người còn có yếu tố may rủi tức là điều kiện khách quan chi phối. Xin đừng nghĩ rằng đây là duy tâm mà phải xem xét sự việc một cách khách quan cả nội lực và cả yếu tố khách quan cộng lại.

 

NGUYỄN LAI
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #28 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 09:20:42 am »

                           Trên mái nhà người phụ nữ
                           Tác giả :  Dạ Ngân

Chiến tranh dưới góc độ nào cũng vẫn là chiến tranh. Con người đã đi qua nó như thế nào, đó là câu hỏi mà văn học có thể trả lời được.
Trong cuộc kháng chiến thứ hai (1954 - 1975), không người dân nào có thể đứng bên ngoài nó. Người phụ nữ càng phải đóng nhiều vai.

Cho đại cuộc, cho niềm trắc ẩn mẫu tử và cho nỗi tự nhiên đàn bà của mình nữa. Thực sự có những công việc không tên, không cần ghi nhận và sau đó, nó để lại dư vị lạ kỳ không bao giờ có nữa ở thời không chiến tranh. Nhưng đâu chỉ có vậy, đâu chỉ có hy sinh, vô tư và hiện thực. Bên dưới đổ nát là gì, là một khoảng trống của đau thương. Bên trên đổ nát là gì, nhất là với những người đàn bà vừa trút ra khỏi vai bao nhiêu là gánh nặng? Cũng là khoảng trống nốt.
Thật không đành lòng nếu như chưa đặt bút về đối tượng đó. Ở đâu cũng nhìn thấy nỗi niềm phụ nữ, đó là vẻ đặc sắc Việt Nam. Tôi viết như được thôi thúc bởi chị bởi em quen thuộc trên những nẻo đường tôi qua. Đó là truyện ngắn nhiều hư cấu nhất mà tôi tự tin một cách khác thường, khi viết.
                                                                                   Lời tác giả.

     Khi bắt gặp nụ cười run rẩy trên môi đứa con gái, chị cảm thấy tức thì về cuộc sống hiu hắt của mình, cảm giác rõ ràng như đang đêm mà ngọn đèn duy nhất trong nhà tắt phụt.
Đó là lúc nó, con Thảo lẫm chẫm của mười tám năm trước, lấn qua lối gặt của chị, bàn tay tháo vát túm một lượt hai bụi lúa rồi xiết một đường hái ngọt xớt, để lại trên đầu rạ vết cắt không bình thường, lởm chởm hàm chó.
- Độ rày trời mau tối quá chừng!
Nó nói, cái giọng rụt rè mà như lưu ý chị. Quả thời tiết cuối năm còn chịu ảnh hưởng của tháng mười chưa cười đã tối, nhưng lúc con gái chị đứng sững lên băn khoăn nhìn trời thì chiều còn roi rói.
Một buổi chiều như mọi buổi chiều khô ráo trong mùa gặt. Cánh đồng bỗng hực vàng xối xả, không trung lả tả chim lá rụng và chân trời sau ven lá dừa nước bên kia sông lựng đỏ như một mẻ than khổng lồ. Chung quanh bốc lên mùi nồng ngái muôn thuở của rơm rạ, mặt đất se se dưới chân mát rượi màu xanh của rau đắng đồng, rau bợ và vài thứ cỏ linh tinh khác mọc len lỏi giữa những hàng lúa. Kéo khăn rằn trùm đầu xuống cổ, nghe hơi gió mát lạnh mang tai, chị biết nước sông đang rong bờ và lục bình đang nao nao đổ vào cái eo vịnh cong như sợi dây cung bên xóm.
Hai Mật nhận thấy đôi tay quán xuyến của con gái cũng có cái gì đó nao nao. Một chân chồm hẳn qua bên chị, nó thâu tóm về mình một lối lúa có tới mười lăm buội. Chiếc áo bà ba màu khói đã cũ dán vào lưng hằn một đường eo chắc lẳn hồng hồng. Hai cánh tay thon thon vung vẩy khéo léo và hấp tấp như đang múa. Tiếng hái ăn rạ ròn khướu như tiếng trâu ăn cỏ. Lát lát nó ngẩng mặt lên nhìn vạch chấm hết lối gặt là cái bờ mẫu với những cụm bông mắc cỡ tím rưng rưng chen bên những bụi cỏ đuôi gà. Phải chật vật lắm chị mới theo kịp con dù nó chỉ dành cho chị một lối lúa hèm hẹp. Chưa bao giờ chị thấy con quyết liệt và bồn chồn như vậy. Khi đặt nắm lúa cuối cùng xuống. Khi đã không quên dùng hái khoèo những bông lúa vung trên bờ mẫu để tránh chân người, nó ngoảnh nhìn chị, ánh mắt chờ đợi và thăm dò. Chị thử làm thinh. Không giấu nổi sốt ruột, nó buột miệng:
- Nữa hay về, má?
Chị nheo mắt kín đáo quan sát con. Đầu nó cúi thấp, miệng nhấm nhá một cách vô bổ cọng rạ trong trong, chót mũi rám nắng lấm tấm mồ hôi hột, cả người nó căng thẳng trong sự chờ đợi khổ sở. Chị chợt hiểu và cảm thấy hoảng sợ với ý nghĩ không bao lâu mình sẽ làm bà ngoại. Đã trù tính hết mọi chuyện nhưng khi nó đến chị lại bị bất ngờ như là nó ập đến. Thời gian mới nghiệt ngã làm sao! Chị thì vẫn trinh nguyên mà con gái chị sắp không còn con gái nữa. Nếu là người dứt ruột đẻ ra nó chắc hẳn chị đã vui mừng và lo âu trước sự bắt gặp này. Ngược lại, trái tim son rỗi của chị bỗng dưng đập những nhịp đập đồng cảm bạn bè với cô con gái.
- Về thôi, con.
Vừa nghe mệnh lệnh hào phóng ấy. Thảo vứt ngay cọng rơm, mỉm cười và bước né qua mặt chị, cái lưỡi hái trên tay quạt ràn rạt trên đầu rạ. Không thể vù chạy vì có chị nên dáng đi của nó gây tức cười trong vẻ cố ý nghêu ngao. Đáng nói là nụ cười của nó, nụ cười run rẩy như một đoá quỳnh xoè nở, nụ cười không giấu nổi cái hạnh phúc trinh nguyên, nụ cười thú nhận sự chuyển hoá từ cái nụ bỗng dưng thành cái bông nở ra kỳ hết, nụ cười thú nhận cái vẻ phụ nữ trọn vẹn của mình. Đứa con gái cứ đi và cứ cười, còn người mẹ thì lủi thủi theo sau và cứ hiểu theo cách hiểu của một người đã trải qua cả tâm trạng ấy.
Trong đời người phụ nữ ai cũng có ít nhất một lần cười cái nụ cười của Thảo đang cười. Đó là lúc cô ta được giải thoát khỏi công việc và trong đầu ngợp những hình ảnh về cuộc gặp gỡ với cái người đang thập thò ở chỗ hẹn nào đó. Lần đầu tiên ấy, lần đầu tiên thôi, cô gái là một đoá quỳnh trong đêm giao thừa của đời mình.
Hai Mật nhớ lại thời trẻ, cái thời chính mình cũng cảm thấy sự tươi mát của mình, cái thời chị để tóc chấm chôn áo bà ba và kẹp nó bằng cái kẹp ba lá sáng trưng như mọi cô gái miệt nầy. Chị yêu thầm một anh bộ đội có gương mặt của cậu học sinh thành đạt; trên đó, khi vui hay buồn đều toát ra vẻ thanh cao thơ trẻ. Hai người thường bắt gặp cái nhìn của nhau, không phải ánh mắt đắm đuối mà là sự tò mò ngờ nghệch, mỗi lần như vậy, cả hai đều hốt hoảng quay đi, người rúm lại như bị phỏng lửa.
Cứ khoảng một tuần, đơn vị của Cường lại báo về đóng quân trong xóm của Hai Mật. Anh là người sức vóc trong tiểu đội nên hay giành phần cầm chèo, chị biết vậy vì mỗi khi xuồng cập bến bao giờ anh cũng xuất hiện trước cửa nhà chị với cây trung liên và cái ba lô xề xệ một bên vai, còn vai kia là đôi chèo với bộ quai đánh rất bóng bằng dây chuối xiêm khô. Anh chỉ trao cho chị cái nhìn ngập ngừng rồi quay sang nói năng và mỉm cười dạn dĩ với má chị. Vì vậy, nếu không có buổi chiều lập cập ngoài ruộng thì mối tình ấy mãi mãi là một bí mật thiêng liêng chỉ riêng chị biết.
Đó là một buổi chiều yên tĩnh, chiến tranh chỉ lảng vảng ở đâu đó bên ngoài cảm giác của trái tim đang yêu. Lúc ấy đang mùa thu hoạch lúa, những đợt tấn công mùa khô của ta vào quân địch đã bắt đầu liên tục. Tranh thủ thời gian máy bay giặc ngừng hoạt động, nông dân hay ở lại trên ruộng cho tới tối mịt, những đêm có trăng họ còn thức suốt ngoài đồng. Đang xúc vô bao mớ lúa do chính mình đập lấy, Hai Mật bỗng thấy cả người bồn chồn, linh cảm đó ngày nay người ta gọi là hiện tượng thần giao cách cảm. Chị biết đơn vị của Cường đang trên đường đáo lại xóm chị.
- Về má ơi! Chị kêu lên, bàn tay xoắn không chặt nuộc lạt trên miệng bao.
- Cái con nhỏ nầy! Má chị trách nhẹ.
Sau đó chị làm ộc lúa trong bao ra đất nẻ và cuối cùng thì bỏ béng mớ lạt dừa ở đâu đó nên chị bị mắng thực sự.
- Vìa thì vìa! Bộ đói bủn rủn hết rồi ha?
Chị vụt cười, nụ cười run rẩy sung sướng. Má chị ngạc nhiên nhìn chị, nhìn đến độ khi bà hiểu lờ mờ cái gì đó rồi mới buông tha chị. May thay, bà chỉ phán một câu thật xứng đáng là một bà mẹ chiến sĩ, đúng như chức vị của bà hồi ấy.
- Thế nào tối nay tụi nó cũng đáo vìa. Thôi, vô cơm nước sơm sớm! Kiếm cái gì nấu cho tụi nó ăn giờ, Mật? Chèo sút mồ hôi mà tới nơi còn phải đào hầm đào hố.
Chị xốc gọn hơ bao lúa hai giạ lên vai và đi như chạy vô mí vườn. Chị gặp Cường tại bờ bến, trong ánh hoàng hôn chập choạng, chị nhìn thấy ánh mắt tỏ tình ngượng ngập của anh. Chị đáp lại bằng nụ cười của một đoá quỳnh trong khoảnh khắc bừng nở. Từ giờ phút đó, kể như chị đã từ giã những niềm vui vô tư để bắt đầu thời kỳ đau khổ của hạnh phúc.
Một tuần sau, đơn vị của Cường lại đáo về, nhưng người xuất hiện trước cửa nhà chị với cây súng và cái ba lô của Cường, với cả cây chèo thon thon bằng cây đước mun bóng không phải là Cường. Bằng sự từng trải của người goá bụa, má chỉ an ủi chị một câu:
- Chiến tranh mà! Rồi nó qua thôi con!
Dĩ nhiên rồi nó sẽ qua, chiến tranh và những nỗi khổ. Ký ức chị lưu giữ hình ảnh một anh Cường với gương mặt phúng phính lông tơ, nụ cười vụng về và ánh mắt mát lành như buổi sớm…
Hai Mật nhìn thấy con cúi xuống cái bồ đập lúa hình chiếc loa, tay ôm xốc lên một mớ rơm, chắc là để cho bầy vịt rỉa lúa sót. Nó như nhỏm chạy vô mí vườn, chỗ hàng dừa bao ngạn bắt đầu tập họp bóng tối dưới những tàu lá bề bộn. Nó đang đi con đường tâm trạng của chị hồi đó. Đợi nó là ai kia? Có thể lắm là cái cậu thầy giáo đã để lại chiến trường biên giới một bàn chân ấy. Ngoài tiếng ghi-ta trữ tình và nhiều nội tâm, cậu ta còn có một phong thái trầm tĩnh tự nhiên và thái độ sống tận tâm hiếm có. Mới chuyển về xóm  Vịnh thay cho tay thầy giáo có cái lưng dài hơn cặp chân, vị thầy mới đã đứng ra sửa trường, chấm dứt cảnh trùm áo mưa trong giờ dạy. Nhưng, chính vị thầy giáo tật nguyền đó hay người khác bây giờ không phải là việc chị nữa. Chị sẽ ngồi đúng chỗ mà con Thảo đặt.
Ừ, ngay cả việc chọn lựa đó nó cũng có vẻ giống chị. Nó đã khá giống chị từ hồi chị mới nhận nó về. Hồi ấy, trong nhà đã có ba đứa nhỏ. Một đứa gái lên bảy, con của chị cán bộ phụ nữ tỉnh. Hai đứa trai lên năm, con sinh đôi của chị cán bộ địch hậu. Thảo là con chị y sĩ có tiếng trong tỉnh. Lúc đầu, thấy các chị các cô bồng chống con cái lòn xòn theo, mấy bà má trong Hội mẹ chiến sĩ đã nghĩ ra cách nhận lũ nhỏ về nuôi giúp. Dù rất ái ngại, những người phụ nữ có nhiệm vụ thoát ly gia đình cũng phải chấp nhận và cho đó là kế sách hết sức nhân nghĩa, là lối ra táo bạo cho hoàn cảnh ngặt nghèo của họ. Những năm đó, con người còn bám ruộng vườn được, miếng cơm manh áo không nan giải lắm. Má con chị đã làm ruộng, đã trồng khoai ở bất cứ khoảnh đất trống nào trong vườn nhà, đã xúc tép bắt cua, đã chằm lá mướn để nuôi bầy trẻ lóc nhóc. Những gia đình làm việc nầy như gia đình chị đều chung một ý thức hồn nhiên rằng: đây cũng là cách góp sức mình cho cách mạng.
Má của Thảo chuyển Thảo qua tay chị ngay cái ngày dứt sữa cho nó. Người mẹ bặm môi nhịn khóc ra đi. Cũng ngay đêm đó, lúc đi đỡ sanh cho một cán bộ khác ở cữ, má nó lọt vô ổ của tụi biệt kích và hy sinh. Đêm đêm con Thảo cứ khóc thét lên từng chập, ánh mắt khắc khoải nhìn chị, nhưng khi chị ẵm nó lên, nó lại không chịu áp đầu xuống vai chị, vừa khóc rưng rức nó vừa ngoảnh nhìn dao dáo ra bóng tối ngoài cửa. Đúng như má chị tiên đoán, khi bén mùi chị thì nó vượt được cơn sốc bí ẩn trong nó. Vào thời kỳ bập bẹ tập nói, tự dưng, chưa ai kịp dạy, nó đã kêu được tiếng má rành rạnh, khi kêu, nó nhìn đúng chị và cùng với tiếng nói đầu tiên, nó gửi tới chị ánh mắt long lanh vui sướng. Cảm thấy vừa hạnh phúc vừa bất hạnh, Hai Mật bỗng rùng mình trước cái chức má mà chị không hề mong đợi. Ngay sau đó, một niềm vui cao quý bùng dậy, dập tắt cái cảm giác kỳ lạ ban đầu, chị lao tới ôm chầm lấy nó, để lại trên khắp mặt mũi nó những vệt nước nóng hổi.
Đã có một đơn vị khác chuyển tới vùng chị thay cho đơn vị của Cường vừa nhổ lên vùng trên. Chị lại yêu một anh bộ đội. Tại sao chị cứ chọn đối tượng này, điều đó cũng khó giải thích như bản thân tình yêu và không ai định giải thích làm gì. Nhưng quả tình, cuộc sống của họ có cái gì đó khiến các cô gái dù tính toán thiệt hơn đến mấy rồi cũng không cưỡng nổi sự hấp dẫn của họ. Đó là cuộc sống quy củ dung dị, là sự chân thành trong thái độ cư xử và trên cùng là cái chất sống hiên ngang khoáng đạt của họ.
Lần này, trái tim đã đằm thắm của chị gặp được một người thâm trầm. Mở đầu cuộc gặp gỡ được má chị cho phép, anh nói trang trọng:
- Anh hiểu em Mật à. Chuyện đó không có gì quan trọng hết. Anh sẽ coi con Thảo như con anh.
Chị muốn bật cười, nhưng dưới ánh trăng thanh mảnh lọt qua kẽ lá vú sữa hai màu, chị cảm thông sâu sắc vì gương mặt trắng tái đi bởi xúc động chân thành. Không có vẻ cao thượng của kẻ biết hy sinh, cũng không có vẻ khổ sở của kẻ cảm thấy mình thiệt thòi, điều anh nói ra giản dị như mọi sự giản dị khác của anh. Chị im lặng, định dành cho Tráng sự bất ngờ trọng đại khi chị thuộc về anh.
Quả con Thảo càng ngày càng có vẻ giống chị như con đẻ. Cũng nước da bánh ít và gương mặt nhẹ nhõm, phúc hậu, cũng giọng cười giòn rụm hết mình và tướng đi lẹ làng, nhanh nhẹn như làn gió. Cũng cái thần thái phảng phất vẻ buồn buồn thường thấy ở những người sớm chịu đựng mất mát lớn lao. Ngoài sự phát hiện đó, chị còn nhận thấy sự thú vị khác ở chị, rằng chị chưa bao giờ cho người ngoài xóm biết Thảo là đứa con nuôi bất đắc dĩ vì chị cảm thấy không nỡ. Lời thú nhận đó sẽ làm cho tình thương ngậm ngùi trong chị không còn trọn vẹn và thiêng liêng.
Lần đầu tiên chị biết được cảm giác run rẩy khi người đàn ông chạm tới lúc con Thảo vốn nghịch ngợm đã cầm ngón tay ám khói của Tráng dí vào cái bớt lọ trong mái tóc mai của chị.
- Đó! Cậu chùi đi! Con chùi hoài mà nó không chịu sạch!
Nó cười khăng khắc, một chân dậm đồm độp trên giường, cánh tay tròn như ống chỉ cầm chắc tay của cậu Tráng mà miết tới miết lui bên tai chị như điều khiển cái bàn chải.
- Đố Thảo biết sao má có cái bớt này? - Anh nói, hơi thở gần đến mức chị muốn choáng váng. Tại vì hồi mới sanh má, ngoại trét lọ chảo lên đây để làm dấu nè nghe!
- Sao phải làm dấu hả ngoại? Con bé kéo cổ má chị vào cuộc.
Bà chỉ cười, nụ cười mãn nguyện rồi lặng lẽ quay lại với bếp lửa.
- Làm dấu đặng để dành cho cậu mà!
Anh nói hể hả và cười hệch hạc. Từ chiếc áo màu lá cây của anh toát ra cái mùi kỳ lạ làm đầu óc chị chao đảo. Phải huy động hết sức mình chị mới nhấc nổi tay lên chạm vào vùng ngực ấy để đẩy anh ra. Anh lùi xa chị vài bước và nhìn chằm chặp vào mặt chị bằng ánh mắt trêu trọc, còn chị thì bủn rủn đứng lên cười mếu máo.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #29 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 09:23:25 am »

                                  Tiếp theo
Chị còn có những buổi chiều xao xuyến một đời. Đó là những lúc sông Nước đục duềnh lên trong tiếng dào dạt của dầm chèo, đoàn quân đi dưới cái bóng âm thầm của rừng lá dừa nước dày như bức tường thành ven sông, hoàng hôn vãi xuống giữa dòng một dải lụa ửng tím. Vài cánh cò chểnh mảng trên không trung nghi ngút màu lam, màu trắng nuột nà trên đôi cánh trở thành điểm sáng riêng tư lãng mạn giữa trời chiều. Tiếng bần rụng thảng thốt trong biển lá, từ đó vọng ra tiếng chim bìm bịp âm trên mặt sông như tiếng vỗ khắc khoải trên mặt ống. Ngồi trên cây dừa nhoai ra mép nước, Hai Mật nhìn thấy tất cả họ, khi đoàn xuồng cắt ngang dải lụa để từ doi lá bên kia đi chéo sang doi lá bên nầy. Họ giống nhau lạ lùng, cái khổ người chắc nịch, cái vành nón tai bèo chấp chới, cái gương mặt bất động trên những chiếc xuồng xôn xao lá nguỵ trang. Ai cũng có thể là anh Tráng của chị, nhưng chỉ mỗi mình anh mới dễ dàng nhận ra dáng ngồi trông ngóng của chị trên cây cầu dừa. Trong chiến tranh, được nhìn thấy nhau như vậy cũng là hạnh phúc. Đó là những buổi chiều đỏ bầm, như tứa máu, là những khúc ca bi tráng không nguôi trong ký ức. Có khi đoàn quân bất ngờ đảo lại xóm chị vào lúc nửa đêm và anh Tráng của chị cũng bất ngờ xuất hiện với nụ cười tươi tỉnh. Rồi một hôm, vào lúc hừng đông, sông Nước đục mù mịt sương tưởng có thể múc được bằng nón, họ trở về xóm chị, mình mẩy người nào cũng bốc mùi thuốc đạn. Trên chiếc xuồng Tráng thường đi bỗng trống trơn, chỗ anh vẫn ngồi vần vũ màu sương tang tóc. Mới nhìn thấy cái khoảng trống ấy, chị cảm thấy được ngay cái khoảng chống chếnh không sao bù đắp nổi trong cuộc đời mình, như giông bão vừa cuốn phăng bóng cây vững chãi trên mái nhà chị.
Dĩ nhiên rồi nó sẽ qua, chiến tranh và những nỗi khổ.
Bằng tất cả tiềm lực man dại của nó, giặc bình định ác liệt vùng chị. Chúng quẳng vào mảnh đất bằng bàn tay ấy bảy mươi ba tiểu đoàn. Má con chị bồng chống bốn đứa nhỏ lóc nhóc ra tá túc trong vườn dừa của người bà con gần chợ Vị Thanh. Nhà đông miệng ăn, chị phải tập tành mua gánh bán bưng. Đầu đội chiếc nón lá thâm kim, một mình giữa những thúng gạo, vừa nhấm nhá gạo sống, chị vừa tự an ủi: rồi nó sẽ qua, chiến tranh và những nỗi khổ. Dù cực đến mấy, chị nghĩ, mình sẽ cầm cự được cuộc sống mong manh nầy để làm cho trót lời hứa với ba má bọn trẻ con trong nhà, nếu như má chị không bị bắt. Trong khi theo dõi chị cán bộ binh vận, má của hai đứa nhỏ sinh đôi, địch đã phát hiện ra đường lui tới của chị. Chúng đã bắt luôn bà má, trong khi Hai Mật đi vắng. Lại một lần nữa, nhờ sự bao bọc của bà con chỗ chị tản cư tới, sau khi gom được bốn đứa nhỏ, chị bồng chúng lên Cần Thơ vừa để rộng đường lẩn tránh vừa để gần nhà lao giam má chị. Ở tại thành phố trung tâm này, chị đã làm mọi việc: giặt ủi, gánh nước mướn và cả việc rửa chén cho các quán nhậu.
Sau hiệp định Pa-ri, giặc chưa kịp thực hiện việc trao trả tù nhân thì má chị đã chết trong khám. Chị đưa bốn đứa trẻ trở về mảnh vườn không còn một cây đứng, công việc đầu tiên là dựng cái chòi trên nền cũ lởm chởm gốc sậy và đóng ngay cái bàn thờ phập phình bằng cây mí bái.
Mấy đứa nhỏ lần lượt được ba má đón đi. Chị cán bộ phụ nữ tỉnh đến xin Hai Mật cho nhận con lại, bảo là cuộc chiến đã dễ thở, chị có thể mang nó bên mình được. Hai đứa sinh đôi được má cho người đem lên chiến khu Đ, để theo đường Trường Sơn ngược ra Bắc học vì mẹ chúng đang ở ngoài kia sau đợt trao trả tù đầu tiên. Còn bé Thảo, nó cũng được đón ba nó trong căn chòi của chị. Anh hay tin vợ chết lúc còn học ở trường chính trị trong rừng miền Đông. Sau đó anh được giữ lại làm cán bộ giảng dạy, mãi đến sau này anh mới biết được địa chỉ tạm trú của con.
Khi chị bảo với Thảo lần thứ ba rằng người đàn ông ấy là cha nó, đôi mắt kinh ngạc của nó ánh lên vẻ gan góc của sự vâng lời. Nó bỡ ngỡ ngã vào lòng anh, ngượng nghịu né tránh những cái hôn nhám râu của anh. Chỉ vài giờ sau nó đã thật sự tin anh là ba nó. Nhưng khi anh móc từ trong bóp ra tấm ảnh ố vàng của người đàn bà và bảo đó là má nó, lập tức nó giẫy nẩy phủ nhận và gắng sức giẫy khỏi vòng tay anh rồi từ xa, nó đứng sững nhìn anh bằng con mắt hoài nghi tội nghiệp.
Đêm đó, nó nhất định không chịu ngủ với ba. Khi anh kéo nó vô cái mùng của mình trên nền đất trong chòi, nó cự tuyệt đến mức anh nổi giận. Lúc đã lên được mùng của chị thì nó bật cười hăng hắc:
- Ba nói là ba của con sao ba không ngủ với con với má? Bộ ba hổng thương con sao?
Câu cuối cùng nó nghiêm túc một cách bất ngờ, bất ngờ đến mức cả hai người lớn đều lúng túng. Sau đó nó giở trò nằn nì anh, không được nó bèn khóc ầm lên, buộc anh phải lên giường với má con nó. Chị còn nhớ rõ, khi cánh tay bồi hồi của anh giở mí mùng lên để chui vào, chị đã ngồi bật dậy, hai tay ôm đầu gối, người rúm ró trong cơn sốt điêu đứng. Nhưng con Thảo không để chị yên, nó buộc chị và anh nằm xuống và loay hoay thu xếp công phu sao cho khi nó nằm giữa thì hai người không ai gần hoặc xa nó quá. Chỉ một lúc sau nó đã ngủ yên trong tư thế thanh thản của thiên thần, lâu lâu nấc khẽ lên như một đứa trẻ oan ức điều chi. Chị rón rén đưa tay lau nước mắt trên mặt nó và đụng phải bàn tay anh, bàn tay trắng xanh với sợi dây đồng hồ màu đen giản dị mà sau nầy, mỗi khi nhắm mắt lại, chị như nhìn thấy nó hiện ra bồn chồn bên cái mí mùng động đậy. Lần này, người bật dậy chính là anh, anh chui ra khỏi mùng như một kẻ bỏ chạy. Suốt đêm đó, chị nhìn thấy đóm thuốc lập loè từng chập trên cái bàn bên kia vách chòi.
Sáng ra, trước khi khom người chui qua mái lá, với ánh mắt băn khoăn, anh nhìn chị cái nhìn thật sâu và buông một câu thòng ý tứ:
- Tui tính đưa con Thảo về cho bà nội nó ở ngoại ô Cần Thơ. Nhưng, giờ tui để nó lại làm gánh nặng cho cô.
Anh lùi lũi bước, đôi vai xuôi xuôi như bị sức níu vô hình từ mặt đất. Hai má con chị bấu vào tay nhau nhìn theo mút mắt. Bỗng Thảo chạy theo anh và khóc ngất lên, nhưng anh vẫn không lần nào dám dừng lại. Chị lao theo níu nó trở về, vừa mừng như thoát được cái gì vừa như giận dỗi, cái cảm giác quái quỷ chính chị cũng phải rủa thầm. Chị đã chờ nhưng anh không bao giờ trở lại nữa. Thêm một lần, giông bão chiến tranh cuốn mất cái bóng cây trên mái nhà của chị.
Số phận đã gắn chị với số phận đứa con gái mồ côi.
Chị đặt bên cạnh lư hương của bà và má mình cái lư hương thứ ba dành cho anh ấy. Thực tình, đêm đầu chị cắm lên cái lư hương đó hai cây nhang nhưng nó đã làm cho con Thảo thắc mắc khổ sở. Sau đó, Thảo luôn giành phần thắp nhang và chê chị đếm không rành, ba liệt sĩ thì ba cây nhang chứ sao lại bốn. Nhìn con, chị càng thấy không nỡ nói ra sự thật. Cái tâm trạng cảm thấy mình mồ côi phân nửa sẽ khác nhiều tâm trạng mồ côi hoàn toàn. Dĩ nhiên nó sẽ chịu đựng được tất cả nhưng nói ra thì chính chị cũng là kẻ mồ côi vì Thảo đã thành nơi nương tựa tinh thần của chị. Họ đang cần cho nhau như một sự tổn thương cần được bù trợ sau mất mát.
Nhưng có sự thật nào nằm yên trong bọc được. Hôm ấy, nó đã chạy vù về nhà và chỉ kịp hỏi một câu cần hỏi rồi úp mặt vào lòng tay lắc đầu nguầy nguậy như bảo rằng nó không tin, nó không thể tin điều đó. Khi nó ngẩng lên, chị bỗng sững nhìn, vẻ thiếu nữ trên mặt nó đã biến mất.
Càng lớn, tình thương của Thảo với chị càng đằm thắm. Vừa rồi, nó xin phép chị cho nó về thăm bà ngoại, cái người đã mấy lần xuống thăm má con nó và nói tránh là bạn thân của ngoại quá cố nên nó phải kêu là ngoại.
Giờ đây, nó đang đứng trước mặt chị, trưởng thành trọn vẹn trong bộ bà ba đen tươm tất, mái tóc cắt hình chiếc lá túm hờ sau lưng không phải bằng cây kẹp ba lá của chị ngày xưa mà là cây kẹp bằng nhựa in một bông hồng trinh bạch.
- Gấp thì đi đi! Ở nhà má nấu cơm ăn trước chứ gì!
Suýt nữa nó sẽ mỉm cười nếu như không chợt nhận thấy trên mặt chị ngưng đọng vẻ hiu hắt và rắn rỏi của hoàng hôn. Người phụ nữ trong nó bỗng hiểu: Chính vì vậy mà má nó hay mở mắt thao láo nhìn lên mái nhà, ở đó, đêm đêm, cuộc chiến tranh vẫn chưa hề nguội lạnh. Lập tức trong đầu nó hiện ra những khuôn mặt đàn ông mà nó có cảm tình. Có người nào trong số họ hợp và có thể làm nơi nương tựa vững chãi cho má con nó không? Nó nao lòng khi nhìn thấy con đường nghiệt ngã của thời gian và chiến tranh đi qua đầu má nó, đó là lằn tóc rụng theo vết kẹp xĩa, cây kẹp hai mươi năm của chị để lại trên mái tóc đã thưa một con đường thu úa. Nhưng má nó vừa quay lưng vô bếp, chắc để tránh ánh mắt bàng hoàng của nó, vừa thúc hối:
- Sao lần chần vậy? Gấp thì đi đi con!
Lúc đó, chị nghe trong không gian nhoè tối có tiếng ghi-ta bập bùng.

Truyện ngắn . Dạ Ngân

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM