Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:57:25 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đứa con của đất  (Đọc 67302 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #50 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2011, 01:38:59 pm »

                                 Tiếp theo :


Tôi được khen, lại lo thêm. Từ lúc lãnh cây đại liên, tôi luôn nghĩ tới trận địa, hình dung ra những đợt xung phong của giặc và tôi phải bắn rạp chúng xuống như thế nào. Tôi lo lắng nóng lòng hướng tới trận địa, nơi sẽ diễn ra mọi sự gay cấn mà có giáp mặt mới biết nó ra làm sao. Tối hôm ấy, khi Khởi và Cần đã nằm ôm nhau ngủ tôi vẫn thao thức. Và cây đại liên mà gần trọn ngày đã bị chúng tôi phân thân nhiều lượt, giờ nằm yên đó sát bên tôi, chắc nịch và im lặng. Tưởng như cây súng đang nghỉ ngơi, đang ngủ. Chỉ có tôi là bận bịu, không yên. Lát lát, tôi lại rờ súng, vuốt ve thân súng mát lạnh, cầm lấy chân súng có bàn bè ra như chân vịt. Đôi lúc tôi có cảm tưởng cây súng như một con người, từ nay ở sát bên tôi, tự nguyện theo tôi đi rửa thù. Ngày hôm nay, ngày tôi chánh thức lãnh cây súng, tôi cứ ngỡ ngàng thấy sao cái chuyện đó đến với tôi y như tôi hằng mơ. Ngày tôi đi kiếm bộ đội, tôi chẳng đã mơ được bắn một cây súng dữ dằn là gì? Ngày đó tôi cũng chưa nghĩ ra cây súng dữ dằn là cây súng gì. Lòng khát khao trả thù

chỉ mới phác ra sự mong muốn được cầm một thứ khí giới sắc bén. Bây giờ thứ khí giới đó đã đến tay, cái tôi mong đã có. Cho nên tôi lo lắng phải làm sao cho xứng đáng.

Biết bao người đã khuất, biết bao cảnh tượng ướt đầm nước mắt lần lượt hiện lại như dặn dò tôi nhớ lấy đừng để sót một món nợ nào. Trong đêm, hình như bên tai tôi vẳng tới một tiếng nói rất nghiêm, của cha mẹ, của ông bà cô bác và của cả ruộng đồng sông rạch. Tiếng nói đó bảo rằng: "Đã có một cây súng tốt cho con rồi đó, con cầm lấy cùng anh em đồng đội mà đi trả thù. Chỗ nào chúng nó làm chảy máu anh em bà con mình, chỗ ấy con phải bắt chúng nó đem máu mà trả. Chỗ nào con đã ngó thấy chúng nó thiêu sống những em cháu thơ ngây của mình, chỗ đó con phải thiêu đốt chúng ...". Trong đêm, những tiếng nói không phát ra thành tiếng, những hình bóng không hẳn là hình bóng của một riêng ai, cứ hiện đến và cứ nói với tôi.

Cuối cùng, không thể nằm yên được, tôi ngồi dậy bật lửa thắp đèn. Lúc ấy đã khuya lắm, có lẽ tới mười một mười hai giờ. Tất cả anh em ở văn phòng đại đội đều chẳng ai còn thức, trừ những anh trong phiên gác. Với ý định phải làm lại thành thạo những gì anh Bé đã dạy, tôi rón rén mở bồng lấy tấm vải ni-lông, giũ ra, trải xuống đất giữa nhà. Rồi hết sức nhẹ nhàng, tôi bê khẩu đại liên từ trên ván xuống đặt giữa tấm ni-lông vừa trải. Vậy rồi tôi bắt đầu ngồi lom khom tháo rời khẩu đại liên ra. Tôi tháo rất êm, không để khua chạm lớn. Tháo xong, tôi nhanh nhẹn ráp lại đúng theo thứ tự từng bộ phận. Ráp xong, tôi xoa tay, ngồi cười lên một mình. Rồi nằm nhoài người, tôi tập ngắm. Làm năm bảy lượt như vậy tôi mới tạm yên tâm bê khẩu súng đem đặt lên bộ ván như cũ.

Nhưng tôi cũng chưa leo lên nằm lại, mà xách một thùng đạn, đem để giữa tấm ni-lông, mở nắp. Từ thùng đạn, xông lên mùi đạn thơm sực nức như mùi nhãn chín. Tôi cầm đèn dơ lên nhìn những giây đạn mới tinh, vàng chóe. Mê quá, tôi cúi xuống ngửi đạn.

Vào lúc ấy chợt tôi có cảm giác hình như có ai vừa bước vào, đứng sau lưng tôi. Tôi quay lại nhìn thấy anh Đấu đã đứng đó tự lúc nào. Anh sửng sốt ngó tôi:

- Ủa, khuya rồi mà em còn thức làm gì đó?

Tôi lúng túng đậy nắp thùng đạn lại, trong lúc anh Đấu vừa lắc đầu, vừa cười khớ ra:

- Trời đất ơi, bộ em khùng rồi hả Quyết. Nửa đêm dậy ngửi đạn, thiệt hết biết cái thằng này rồi ...

Tôi cũng cười, và vội vàng xách thùng đạn đem cất. Quên cả cây đèn đang cháy, tôi leo lên ván nằm co mình như con tôm.

Anh Đấu nói:

- Thôi ngủ đi!

Rồi anh đưa bàn tay phẩy tắt ngọn đèn, bước trở ra ngoài ... ( hết chương 21 )
--------------------------------
1   Đìa cá cạn rút nước.
2   Tiếng gọi đùa: chư vị.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #51 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2011, 01:40:36 pm »

                                       
CHƯƠNG HAI MƯƠI HAI

Ba hôm nay, hôm nào tiểu đoàn chúng tôi cũng triển khai ra công sự ở bìa đồng Long-tiên. Có tin trong vòng một tuần lễ trở lại, quân Mỹ sẽ càn vùng này. Trên tiểu đoàn còn cho biết rõ quân Mỹ này thuộc sư đoàn số Một Anh Cả Đỏ. Nếu càn quét vùng này, chỗ tốt nhất chúng đổ quân chỉ có đồng Long-tiên

Sáng nay, đại đội chúng tôi cũng ra bìa đồng từ lúc trời chưa tỏ mặt người. Cái công sự của khẩu đội đại liên tôi đào rất công phu. Dưới sự hướng dẫn trực tiếp của anh Bé, tổ chúng tôi đã đào một ngày liền. Không phải chỉ đào một cái mà đào tới hai cái. Cái công sự thứ hai này là do chứng tôi nghĩ ra, đào nó ở ngoài đồng, cách công sự chính ở bìa đồng chừng năm chục mét. Chúng tôi ngụy trang cái công sự này rất kín đáo, giành làm chỗ chồm lên khi địch bỏ chạy. Mấy con "đầm già" rà rê dòm ngó cánh đồng suốt hai ba hôm mà vẫn chưa phát hiện được gì.

Đứng dưới công sự đại liên hình bán nguyệt, tôi hết ngó nhìn đồng lúa đang chín tới, lại khom lưng ngắm súng. Tôi rà nòng súng qua lại, kêu Khởi và Cần dượt cho quen. Hai đứa nó đảo nòng súng vào mục tiêu tưởng tượng trên đồng, bảo tôi là rất tốt, chỉ sợ quân Anh Cả Đỏ không đổ xuống. Tôi vấn thuốc rê hút liên tiếp, điếu nào cũng lớn, vừa hút vừa chờ đợi. Khởi sốt ruột nói:

- Vái trời cho bữa nay Mỹ nó xuống. Coi tụi anh chị bự xưng là Anh Cả Đỏ này ra làm sao. Đêm nào cũng thức khuya dậy sớm đợi nó, buồn ngủ thấy mồ!

Tôi dặn:

- Chừng nổ súng, hai đứa bây để ý tiếp đạn kịp cho tao bắn. Trong trường hợp tao có bị thương hoặc hy sinh thì thằng Khởi vô liền tức thời. Ba đứa mình phải giữ chặt chỗ này, dứt khoát không cho thằng giặc nào lọt vô, nghe không?

Khởi và Cần đều gật đầu. Tôi ngồi dưới công sự, rít nốt những hơi thuốc cuối cùng. Bỗng lại nghe hơi hu hu của con "đầm già". Lát sau, hai con đầm già kiểu L.19 cặp lộ bay lên. Vẫn như mấy hôm trước, chúng bay cặp lộ một quãng, rồi bỗng quẹo ngang, đảo vòng lớn trên đồng. Tôi vụt cái tàn thuốc, đứng dậy. Hai con đầm già bắt đầu siết vòng nhỏ. Thình lình nó tắt máy, chúi xuống rất thấp. Cứ thế nó đảo, chúi năm lượt liền rồi cả hai cùng bay bổng lên, lảng ra.

Tôi nghe tiếng anh Đấu thét:

- Anh em mình chú ý, coi chừng pháo bắn!

Anh Đấu vừa nói dứt lời thì quả nhiên một loạt pháo đã bắn tới. Đạn pháo nổ ở mé vườn. Tre bị phạt nhánh, rớt xào xào. Khói bốc dậy từng cụm, mù mị

Khởi kêu giọng mừng rỡ và hồi nộp:

- Chắc bữa nay tụi nó xuống quá, anh Quyết!

Tôi gật đầu:

- Ừ, kiểu này là nó tới!

Pháo địch bắn xong loạt đầu thì dừng lại mấy phút. Sau đó chúng lại bắn, và lần này thì nổ vô hồi kỳ trận. Không còn phân biệt được từng lọat nữa, chỉ nghe tiếng pháo nổ "pung ... pang" và tiếng cây vườn gãy đổ răng rắc khắp đó đây. Lá tre rụng bay như bướm trên đầu chúng tôi. Nghe có vài trái pháo nổ lọt vào xóm, tôi lo lắng nói:

- Không biết cô bác với mấy đứa con nít ở trong ra sao?

- Chắc cũng xuống hầm rồi - Khởi bảo.

- Bà con chưa quen pháo, có lẽ đây là lần đầu.

Tôi vẫn phập phồng lo cho bà con trong xóm. Nhớ tới cái hầm mà hôm qua chúng tôi đào giúp cho thím Sáu chủ nhà, tôi thấy hơi yên tâm một chút. Nhưng tôi lại nghĩ tới trâu, bò. Hầm đâu cho chúng? Nhà nghèo chết con trâu khổ lắm. Đi đánh giặc, tôi có tâm trạng lo đủ mọi bề cho bà con. Thiệt Mỹ nó bắn pháo không kể gì hết. Cứ nghe pháo cũng đủ biết chúng bắn bừa bãi, để chốc nữa chúng có thề yên tâm mà đến. Nhưng kể cũng lạ, pháo bầy bắn dữ dội như vậy mà khi ngớt đợt, chúng tôi vẫn còn nguyên, anh Đấu, anh Sáu Dũng vẫn đi khắp các hầm vui vẻ báo tin là cả đơn vị tôi không có ai sứt mẻ gì cả. Nhưng anh Đấu cho biết trong xóm có một mẹ già với đứa cháu chết vì không kịp xuống hầm ở loạt pháo đầu tiên, và trâu bò lớp chết lớp bị thương chừng một chục con.

- Thấy chưa, có chết trâu bò rồi! - Tôi thốt kêu.

Nghe trâu bò chết tôi xót ruột lắm. Con trâu con bò chết đối với tôi là sự thiệt thòi nằm kế sau mạng người. Lâu rồi, con trâu con bò với tôi là bầu bạn, là nghĩa ơn. Những con vật đó có lúc đã cho tôi đi mà chân không lấm đất, đã để tôi ngủ trên lưng, và đôi mắt chúng lắm khi đã nhìn tôi ướt rượt, buồn bã, như là chúng cũng hiểu được nỗi bơ vơ, khổ cực của tôi

Trận pháo vừa rồi còn tàn phá đồng lúa, phạt lúa đổ gục từng lõm lớn. Mảnh đạn pháo cào cấu đồng lúa một cách không thương tiếc.

Hai con đàm già lảng đi lúc nãy, giờ lại lượn tới, bên trên sự phá phách do chính nó chỉ chọc. Rồi chúng bay rà sát vào mí vườn. Tôi chợt nghe từ xa vọng tới tiếng gầm gừ của những chiếc phản lực. Con đầm già đang làm nhiệm vụ mới. Chúng rà thấp trên đầu chúng tôi thấp đến nỗi tôi chỉ sợ nó nhận ra nòng đại liên của chúng tôi. Cũng như lần trước, cả hai chiếc L.19 bỗng lảng ra, vọt lên cao. Nhưng lần này chúng chưa đi. Cả hai cùng cắm xuống. Hai trái hỏa tiễn xẹt thành hai đường khói song song. Một trái nổ cách công sự chúng tôi chừng vài thước.

Những chiếc phản lực F.105 tự nãy giờ không biết vần vũ chờ đợi ở đâu, nay rú lên, ầm ầm lao tới. Chúng trút bom xuống dọc mí vườn. Trận đánh bom kéo dài cỡ mươi lăm phút thì chấm đứt. Những chiến F.105 lao vút đi, chừa lại hai chiếc L.19 cứ tì tì quần lượn, soi mói. Thế là không lâu sau, tôi bắt đầu nghe tiếng động cơ của trực thăng.

Tiếng anh Đấu la lớn:

- Có trực thăng, địch sắp đổ quân, anh em chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu!

Tôi muốn lên tiếng đáp là chúng tôi đã sẵn sàng. Nhưng để tranh thủ, tôi cùng anh em lo ngụy trang lại công sự, che những nhánh lá bị hơi bom đánh rạt, và riêng tôi cố vấn thêm một điếu thuốc. Thiệt ra chúng tôi cũng chẳng còn có gì chuẩn bị nhiều, vì chúng tôi sẵn sàng từ ba hôm nay. Không còn lướng vướng gì nữa, bộ ba chúng tôi bây giờ chỉ còn đợi lệnh nổ súng, khẩu súng chính bọn Mỹ mà đại đội tôi vừa cướp được không đầy một tuần lễ. Sớm hôm nay, lần đầu tiên chúng tôi sẽ bắn khẩu súng đó. Thiệt quan trọng biết chừng nào. Chúng tôi phải đánh sao cho anh em trong đại đôi tin cậy cho anh em thấy rằng giao cây đại liên cho chúng tôi là không lầm. Cả Khỏi và Cần chắc cũng nghĩ như tôi, tuy hai đứa nó không nói ra. Riêng tôi, tôi lại càng thấy trách nhiệm mình nặng hơn. Tôi hồi hộp nhưng không bối rối. Mỗi phút sát kề cuộc giáp mặt với quân Mỹ, tôi chỉ lo cuộc giáp mặt bị vuột khỏi, lo quân Mỹ không đổ xuống. Ban nãy tôi sợ chết hoặc bị thương hết sức. Chính ban nãy, tôi giữ mình hơn bất cứ lúc nào. Nép sát vào công sự rồi mà tôi vẫn ngại một mảnh pháo mảnh bom nào đó ghim trúng. Bởi chỉ cần một miếng nhỏ ghim phải cánh tay cũng đủ hỏng hết cái buổi hôm nay.

Lúc tiếng tm ì tới gần thì anh Sáu Dũng đến. Đầu anh chít khăn rằn, lưng đeo súng ngắn "Côn 12 ly". Từ trên anh nhảy phóc xuống công sự:

- Bữa nay anh sẽ ở đây với mấy em!

Anh bảo tôi đứng xê ra, rồi anh gò lưng nheo mắt rà đảo nòng súng mấy lượt:

- Được, cỡ này tầm đạn sẽ vô ngực và bụng. Nhưng nếu tụi nó bò hoặc chạy lom khom thì phải linh hoạt hạ nòng xuống.

Anh Sáu Dũng vừa nánh ra nhường chỗ cho tôi thì Cần vụt kêu lên:

- Mấy anh ơi, trực thăng nó tới, đông lắm!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #52 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2011, 01:43:30 pm »

                                    Tiếp theo :


Tôi ngước nhìn. Trực thăng địch đã đến thiệt. Từ ngoài lộ, chúng bay xề vào. Mỗi một chiếc bây giờ đã hiện lớn bằng trái mướp. Rồi lớn ra mãi. Tôi nhẩm đếm. Tốp thứ nhất có mười sáu chiếc, loại HU.1B mà chúng tôi thường gọi là cán gáo, chưa kể hai chiếc chỉ huy bay lừng lững ở trên cao và hai con đầm già vẫn lảng vảng lúc gần lúc xa. Anh Sáu Dũng khẽ nói:

- Thế nào cũng đổ quân!

Tôi lập tức lên cò súng đánh "rốp" một cái, run run đưa tay rờ rẫm cò, nhìn bầy trục thăng cán gáo nhủi đầu sà xuống thấp, tôi thấy nó cũng rất giống con nòng nọc. Đã có thể ngó thấy nhũng cái chong chóng trên lưng chúng quay tít, phát thành tiếng ù ù, lạch bạch. Lúa trên đồng bắt đầu xô đùa vào nhau, lả liệt trước cơn gió xoáy dữ dội do những cái chong chóng to lớn làm bằng gỗ ép kia gây nên.

Trực thăng địch không đổ hẳn. Từng chiếc như vờn đậu ở trên ngọn lúa. Lính Mỹ tay lăm lăm cầm súng nhảy túa ra. Lần đầu tiên chúng tôi ngó thấy quân Mỹ. Tuy bọn Mỹ còn đang ở giữa đồng, nhưng chúng tôi thấy quân phục chúng mới xanh. Anh Sáu Dũng mím chặt môi, sau đó gật gù bảo:

- Đúng tụi ở dưới tàu bốc lên. Lính số Một Đỏ còn mới tinh, thấy không?

Địch chuyển vận quân tới rất nhanh. Cứ năm phút là lại có một bày mười sáu chiếc trực thăng đổ quân Mỹ xuống đồng Long-tiên. Tính từ biển lên tới đây đi bộ thì lâu, chở trực thăng thì cần độ nửa tiếng. tất cả năm chuyến như vậy. Mỗi chuyến mười sáu chiếc.

Anh Sáu Dũng nói tỉnh rụi:

- Xuống hai tiểu đoàn rồi. Coi như mình một nó hai nghe!

Tất cả bốn anh em chúng tôi đều đứng thẳng lên trong công sự, nhìn ra đồng. Quân Mỹ lố nhố ở ngoài đó. Màu quân phục xanh sẫm của chúng xen lẫn trong màu lúa chín vàng rực. Chúng đang tập họp hàng ngũ sau đợt đổ xuống. Giữa lúc ấy, bỗng tôi nghe nhiều tiếng "cụp cụp" gằn mạnh. Anh Sáu Dũng nói:

- Nó thụt cối!

Và chúng tôi có thể trông thấy rõ những trái đạn cối loại 61 ly bay vòng cầu mang theo những vệt khói xám ở sau đuôi. Thứ này đi chậm, nên trước lúc nó nổ, chúng tôi đều nhận ra hướng nó đến. Nhiều trái nổ gần chỗ chúng tôi như bưng đất lên. Sợ miểng cối văng trúng khẩu đại liên, tôi định xách khẩu đại liên xuống công sự nhưng anh Sáu Dũng thét to:

- Đừng, tụi nó đương tiến vô!

Tôi vội vàng để nguyên súng ở chỗ cũ. Thì ra quân Mỹ đã bắt đầu giăng hàng ngang tiến vô dưới làn đạn cối xẹt khói đầy trời. Bọn Mỹ đi chậm chạp, dò dẫm. Phần lớn chúng đều khuất mình dưới lúa, chỉ thấy những cái nón sắt có bọc vải đang di động. Những cái nón sắt đó ngày một gần lần. Thế rồi tôi ngó thấy những cái cổ đỏ gay, những bộ mặt đỏ và nâu bóng bị vành nón sắt che sụp gần phân nửa. Tôi chú ý thấy trên cánh tay phải của tên Mỹ nào cũng có một bệt đỏ bằng bàn tay mà tôi chưa biết là cái gì. Giờ thì chúng đã vào gần lắm. Những thằng Mỹ đi lom khom, mũi súng chĩa tới trước. Ngón tay tôi đặt nơi cò súng ướt rịn mồ hôi.

Anh Sáu Dũng nói khẽ chỉ vừa đủ cho tôi nghe:

- Chưa đâu, đợi nó vô thiệt gần đã. Chú ý nghe súng lệnh. Em lấy độ ngắm lại lần nữa đi!

Tôi nhắm nghiền mắt trái. Giăng giăng trên đầu ruồi súng chừng hai đốt ngón tay, là những bộ mặt Mỹ xa lạ, chăm chú. Thiệt là căng thẳng mà cũng thiệt là sướng mê đi cái giờ phút của cuộc giáp mặt, trước khi nòng súng phụt lửa. Thiệt là quân Mỹ rõ ràng đây rồi chớ không phải còn mơ hồ mường tượng gì hết. Quân Mỹ xương thịt mỹ mới nguyên từ biển vừa bốc lên. Kìa là những bộ mặt gieo tai ương. Tôi thấy rõ từng thằng. Có thằng râu ria xồm xoàm, có thằng mắt xanh lè, có thằng coi rất trẻ thơ, hồng hào. Tôi cũng bắt gặp trên đầu súng những làn da mặt đen nâu, bóng láng. Đó là những lính Mỹ đen mà tôi nghe mấy anh nói rằng đời họ khó cực đen đủi như màu da của họ. Ở bên Mỹ, nghe đâu họ bị rượt bắn y như con thú. Nhưng bây giờ tại sao họ đi đây, đi cạnh những tên Mỹ trắng, cầm súng bắn chúng tôi lâu nay cơ cực như họ. Anh Đấu, Anh Sáu Dũng bảo là vì họ bị lừa gạt.

Còn chừng một trăm thước tới mí vườn, quân Mỹ vụt chạy ùa vào. Tôi chợt nghe có tiếng gì hét như tiếng kêu của những con trích. Thì ra đó là tiếng kèn. Quân Mỹ đã thổi kèn. Tôi không biết chúng thổi bản gì, chỉ nghe tiếng kèn giục thúc, lảnh lói vang trên mặt ruộng.

Anh Dũng thì thào:

- Kệ cha nó, cho nó thổi, mấy đứa cứ tỉnh!

Một loạt đại liên bỗng nổ như xay lúa. Anh Dũng gặt mạnh tay hô:

- Bắn!

Tôi nhắm nghiền mắt trái, miết cò. Nòng khẩu đại liên rung lên. Những cây thịt cao lớn đang chạy bỗng chúi nhào trên các bụi lúa vừa bị miểng pháo cào bấy. Một vài tên Mỹ bị trúng đạn té quỵ chầm chậm. Hệt như là chúng đang ở bộ quỳ lạy. Các cỡ súng từ các công sự chạy dài hình vòng cung dọc ven vườn nổ như bắp rang. Đám quân Mỹ đầu tiên chạy vào mí vườn tức khắc bị chặn đứng. Nhiều tên hoảng hốt nhớn nhác chạy tháo lui. Tôi bắn qua hai loạt, nhìn lại thấy bọn Mỹ trước mặt tôi thưa hẳn đi. Có những tên nằm rạp xuống, cũng có tên chạy cà cồng trên ruộng lúa. Tôi không miết cò bắn hàng loạt nữa mà bắn từng phát một, nhằm hạ những tên đang chạy phơi lưng đó. Anh Dũng xây lại ngó tôi có vẻ rất ngạc nhiên. Mỗi lần thấy tôi lẫy "đùng" một cái, làm nhảy dựng một tên Mỹ ngoài ruộng thì anh kêu "ô" lên, tuồng như rất lạ lùng thấy tôi bắn như vậy.

Sau khi bị đánh dội lại, quân Mỹ lại ùa vào ngay. Tiếng kèn lại lanh lảnh trỗi dậy. Chúng vẫn giăng hàng ngang vừa bắn vừa tiến. Đội hình vẫn y nguyên. Thằng sống đi ngay trên lối thằng vừa chết. Chỉ có khác là lần này chúng bắn như đổ đạn. Kèn đồng ré lên, thúc chúng xông tới. Tôi ghét cay ghét đắng tiếng kèn ấy. Đã đi ăn cưóp mà còn thổi kèn. Tôi muốn bắn chết thằng thổi kèn. Nhưng tôi không thấy tên Mỹ thổi kèn ở đâu cả. Giờ tôi không bắn lẫy từng phát một nữa. ước đợt xung phong mới của địch, tôi miết cò không thả ra lần nào. Thằng Cần đứng nâng đạn cho tôi bắn, phải liền tay lôi mãi giây đạn trong thùng ra. Tôi xoay người như một cái chong chóng theo vòng lia của khẩu đại liện. Tôi bắn mà cứ sợ đạn ra không kịp, nổ chồng lên nhau. Giữa lúc đại liên nổ như gió, đột nhiên tôi thả cò. Cây đại liên chồm mình lên một cái rồi nín bặt. Khởi la ầm lên:

- Trời ơi, coi tụi nó chạy kìa!

Tôi cũng không nhịn được cười. Bọn Mỹ còn lại đang chạy trối chết, vấp chân vào những bụi lúa ngã chổng chân lên. Tôi lại bợ khẩu đại liên đưa bắn từng phát. Một lần nữa anh Dũng lại nhìn tôi, dường như anh chưa hẳn tin là tôi bắn được như vậy (Hoặc là tôi không có vẻ gì là một xạ thủ đại liên cả). Một xạ thủ đại liên ắt phải như thế nào kìa, chớ tôi thì chân cẳng cao kều, đầu tóc xửng lên như bông gáo.

Đợt xung phong thứ hai của quân Anh Cả Đỏ đã bị chúng tôi đánh bật trở lại. Sướng quá, tôi buông súng thụi đụi đụi vào lưng Khỏi và Cần. Rồi tôi ôm chầm lấy anh Dũng, hỏi anh:

- Sao anh, em bắn vậy được không anh?

- Em bắn hay lắm. Cả Khởi và Cần tiếp đạn cũng tốt. Mấy em làm ăn coi được. Cứ phối hợp cho chặt như vậy là vững. Lần sau nếu tụi nó lại tổ chức xung phong thì để Khởi, để Cần bắn cho quen. Em nào cũng phải bắn tốt mới được.

- Vậy thì Khởi bắn, rồi tới Cần. Cây súng nầy bắn ngon lắm, tụi nó có cà xốc cà táp chớ không dễ gì nhảy tới kịp đâu!

Khởi gật đầu, đứng thay vào chỗ tôi.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #53 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2011, 01:46:12 pm »

                                    Tiếp theo :


Quân Mỹ giờ đã dồn ra giữa đồng. Chỗ ruộng lúa gần mí vườn chỉ còn lại những tên Mỹ chết nằm sấp, nằm còng queo, hoặc nằm ngửa, mũ sắt sụp che kín cả mặt. Tuồng như chúng chết rồi mà còn sợ ánh nắn mặt trời dọi vô mặt chúng vậy. Khởi đứng ghìm súng đợi, nhưng vẫn chưa thấy quân Mỹ mở đợt xung phong mới. Trời đã gần đứng bóng. Bỗng có lệnh của Ban Chỉ huy cho một số anh em ra tranh thủ cướp vũ khí địch. Tôi và Cần nhảy lên, chạy ra đồng. Từ ven vườn, anh em cũng ùa ra rất đông. Mọi người lấy được rất nhiều súng, đạn và các đồ dùng khác như nón sắt, bi-đông. Tôi và Cần lấy bốn cái nón sắt, năm thùng đạn. Lúc sắp chạy về, bỗng tôi ngó thấy một vật gì lấp loáng ngời sáng dưới bụi lúa, nhảy tới coi. Thì ra là cây kèn. Thế là tôi vớ luôn cây kèn, đeo lên vai. Về tới công sự, chúng tôi hể hả chuyền xuống năm thùng đạn còn mới nguyên, rồi đưa cho anh Dũng và Khởi mỗi người một cái nón sắt.

Tôi lôi cây kèn bên vai ra, đứng dạng chân, phùng má thổi toe toe khiến mọi người cười ngất. Tôi đưa cây kèn cho anh Dũng:

- Cây kèn coi tốt quá anh. Mà coi như không phải bằng đồng, đồng gì trắng tinh vậy?

Anh Dũng cầm cây kèn coi. Đó là một cây kèn trận mới tinh, sáng loáng, có rất nhiều ống hơi, thổi nhẹ mà kêu to. Kèn không phải làm bằng đồng mà làm bằng một thứ kim loại gì trắng. Trên thân kèn có đính một lá cờ đuôi nheo mầu đỏ, ở giữa thêu con số 1 bằng chỉ kim tuyến lóng lánh. Anh Dũng chú ý xem xét thấy chỗ gần miệng kèn có khắc một dòng chữ và những con số. Anh nói:

- Thằng lính kèn nầy tên là thằng Pao. Chắc nó chết rồi!

Tôi bảo tôi không thấy có thằng Mỹ nào chết cạnh cây kèn đó hết.

- Ờ, cũng có thể nó vụt kèn bỏ chạy ... Nhưng em tính lấy cây kèn nầy về làm gì?

- Để buồn buồn thối bậy chơi, anh!

Anh Dũng cười:

- Kèn này nên dùng để thổi thiệt chứ thổi bạy là sao? Lâu nay trên D kiếm một cây kèn mà kiếm chưa được đó!

- Kiếm chi vậy?

- Kiếm để thổi cho anh em mình xáp trận chớ chi. Bộ Mỹ nó mới có quyền thổi kèn hả? Không, mình cũng cần có tiếng kèn lắm!

Tôi chẳng những đồng ý giao kèn mà còn nhảy cỡn lên:

- Trời đất, mình cũng thổi kèn thiệt sao anh? Mà mình thổi bài kèn gì, ai thổi?

- Đừng lo, mình không thiếu chi bài bản. Còn ai thồi hả, cũng không có thiếu nhơn tài đâu thổi còn hay ác hơn tụi Mỹ nữa kìa. Để rồi mấy em coi kèn của mình thổi lên là lính chỉ tràn tới chớ không có chạy như tụi nó đâu?

Khoảng một giờ trưa, địch lại liệng bom. Hết bom lại tới pháo bầy. Anh Sáu Dũng bị miểng pháo xớt một miểng da đầu. Anh nhờ tôi lấy khăn buộc chặt lại. Đợt bom pháo vừa dứt, quân Mỹ kéo vào. Không có gì thay đổi trong cách tiến quân của chúng. Vẫn y như những lần trước, chúng giăng giăng chạy tới chỗ đồng bọn chúng vừa bỏ mạng. Tôi ngạc nhiên nói:

- Tụi này bộ khùng anh Sáu. Tốp trước chết, tốp sau cũng sấn ngay vô chỗ chết y như vậy?

- Thứ Mỹ nầy còn chân ướt chân ráo, chưa có kinh nghiệm. Tụi nó cậy thế có phi pháo, tính đánh qua một đợt bom pháo là mình chết hết rồi. Nhưng ma mới rồi cũng có ngày thành ma cũ. Trận sau không thể coi thường nó!

Chưa nói gì tới trận sau như anh Dũng vừa bảo, ngay lúc Khởi sẳp sửa nổ súng thì bọn Mỹ đang chạy chợt bò sát xuống cả. Chúng lách mình giữa nhũng bụi lúa, bò trườn tới một cách thận trọng. Loạt đạn đại liên do Khởi bắn đều bay quá đầu chúng. Anh Dũng thét:

- Hạ thấp xuống!

Loạt thứ hai, Khởi diệt được vài tên, nhưng chúng vẫn tiếp tục bò tới. Khởi đã hạ nòng súng thấp hết mức, nhưng tầm đạn cứ hãy còn cao. Tình thế rất nguy. Nếu để chậm, chỉ một chốc nữa đám quân Mỹ đang bò kia sẽ chồm dậy ùa tới bên công sự. Tôi ngó chăm chắm yào bộ chân súng, thấy tất cả trở ngại là ở chỗ đó, nên bảo Khởi giao súng lại cho tôi. Ôm xốc khẩu đại liên, tôi bắn rà sát mặt ruộng. Lần nầy tầm đạn quét sát sạt. Không một tên Mỹ nào có thể ngóc đầu lên trườn bò tới được nữa. Đạn ghim chúng nằm dí tại chỗ. Hình như chúng cố chờ cho ngớt đạn là lại bò lên. Nhưng tôi cố bắn không đế hở, cài đạn sát mặt đất hoài làm cho chúng hết phương cục cựa. Liên tiếp có nhiều tên trúng đạn ngoẻo vật đầu qua một bên, và có rất nhiều cái nón sắt bị bắn thủng ngó thấy. Không đầy một phút sau, bọn Mỹ nhổm dậy bỏ chạy. Tôi định hô Khởi và Cần cùng tôi ra công sự hai, tức là cái công sự ở quá ngoài đồng, để đặt đại liên ở đó mà bắn sát đít tụi bỏ chạy. Nhưng anh Dũng ngăn lại:

- Cứ ở đây không nên ra đó, tách khẩu đội ra đó một mình rất nguy hiểm.

Tôi ngồi bệt dưới công sự, cởi cái áo ướt mồ hôi. Anh Dũng cười nói:

- Mấy đứa thấy chưa, riết rồí tụi nó cũng phải khôn hơn. Phải nói tụi nó trườn bò rất đúng bài bản.

Tôi vừa thở vừa vuốt mồ hôi ròng ròng trên mặt:

- Hồi nãy lơ mơ là nó hốt mình đó chớ bộ giỡn. Cái kiểu này lần sau hễ vừa tầm là bắn. Không bắn khi tụi nó còn xa, mà cũng không nên để gần quá.

- Uớc định được quãng cách cần thiết để nổ súng là một điều hết sức quan trọng - Anh Dũng nói.

- Đúng quá!

- Cái đó phải qua nhiều trận mới có được!

Tôi nói:

- Tổ cha thằng Mỹ, nó giàu quá anh Sáu, bắn pháo liệng bom tưới xượi!

- Thì anh đã nói, nó là thằng du côn nhà giàu mà!

- Du côn gì tụi em cũng không ngán, xin miễn dứt bom pháo mà tụi em còn nguyên là được. Tụi nầy chỉ cậy bom pháo, chớ bị đánh nước nạp thì chạy tét. Bữa nay em bắn thiệt đã tay!

Tôi nói với anh Sáu một cách hể hả, giữa lúc Khởi còn nổ từng loạt ngắn bắn theo tụi Mỹ bỏ chạy. Khởi bắn một hồi lại nhường cho Cần. Từ đó, Khởi và Cần luân phiên nhau đánh lui thêm hai đợt xung phong mới của địch. Khoảng ba giờ chiều, địch bắt đầu rút. Chúng hoàn toàn không ập vào được ven vườn. Những bầy trực thăng từ miệt biển Long-hải giờ lại ầm ĩ bay lên bốc chở lính Mỹ. Cứ năm phút một chuyến, y như ban sáng. Khẩu đội đại liên chúng tôi vẫn bám tại công sự cho tới chiều. Lúc có lệnh rời công sự, tôi bỗng nghe từ trong bờ tre, có tiếng anh Đấu gọi:

- Quyết ơi, Quyết, có người quen tới kiếm đây nè!

Tôi tự hỏi: "Ai kiếm mình vậy kìa?". Một lát anh Đấu đi ra tới, đứng ngay trên bờ công sự. Sau lưng anh Đấu còn có ai đó. Nhưng anh cố ý đứng khuất không cho tôi ngó thấy. Anh cười bảo tôi:

- Đố em đoán thử coi ai?

Dứt lời, anh đứng nhích sang bên. Người anh Đấu bảo là có quen tôi ấy là một cô gái. Một cô gái tuổi chừng mười bảy, dáng dong dỏng, đang tươi cười mở to mắt mà nhìn tôi mãi cho tới khi tôi kịp nhận ra và kêu lên một tiếng lớn:

- Biếc!
                       Hết chương 22
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #54 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2011, 10:52:11 pm »

                                       
CHƯƠNG HAI MƯƠI BA

Đúng là Biếc thật.

Biếc đã đến, cùng lượt với một đại đội thanh niên xung phong được điều về tiểu đoàn. Ban đầu, tôi cứ ngỡ là ai chớ không phải Biếc. So với hồi ở Phước-kiển, bây giờ Biếc khác quá. Đứa con gái bé nhỏ, gày gò và đen đúa ngày nào, nay đã lớn lên. Biếc đã trở thành một cô gái, vẫn với nước da màu bánh ếch như trước, nhưng tươi tắn, rám hồng. Biếc cao dong dỏng mà không gầy. Ở vào tuổi mười bảy, Biếc nảy nở như mọi đứa con gái khác. Những gì đau đớn khổ cực chỉ còn thấy ở mắt Biếc. Đôi mắt đó nay đã có nụ cười rồi, nhưng vẫn còn đọng chứa tất cả nét đau thương ngày cũ. Đôi mắt chừng như to hơn ngày trước, và đen muồi. Từ lúc gặp lại Biếc, tôi vừa vui sướng xôn xao, vừa hồi hộp. Tôi sợ như Biếc có thể biến đi bất cứ lúc nào. Nhưng Biếc vẫn còn đó, không biến đi đâu cả.

Tối hôm sau, chúng tôi mới ngồi lại trò chuyện với nhau, vì cả ngày sau Biếc phải cùng chị em đưa thương binh đi. Tôi, anh Ba Đấu và Biếc ngồi trên một thân cau bị pháo chém gẫy sà xuống đất. Anh Ba Đấu tỏ vẻ đặc biệt cưng Biếc. Anh kéo Biếc ngồi cạnh, hỏi Biếc có mấy bộ đồ, đã có tấm dù để ngụy trang và để đắp ngủ chưa. Nhất nhất cái gì anh cũng chăm lo cho Biếc. Nhưng điều đó chỉ càng làm cho tôi thêm vui mừng mà thôi. Anh Đấu cười nói:

- Vậy là rốt cuộc anh em mình đều gặp mặt ở đây hết, chỉ còn thiếu có con Thắm. Nhớ hồi ở nhà thằng Biện Tư, anh còn được ở trong nhà nền đúc, chớ mấy đứa ở ngoài chòi gió thổi bắt ngán!

Tôi cũng cười nói:

- Dà, cái chòi giữ trâu đó gió thổi tối ngày sáng đêm. Lúc giáp Tết, gió bấc mới ác chớ, lạnh ngủ không được

Biếc cứ ngồi cười tủm tỉm. Chắc là Biếc cũng đang nhớ tới những ngọn gió bấc. Chắc là Biếc cũng đang nhớ lại cái bao bố mà Biếc và tôi thường chui vào đó khi trời nhòa tối. Tôi nhớ một hôm, tôi chui vô bao rồi mà còn thò đầu ra ngoài phì phèo hút thuốc, bị Biếc cằn nhằn cho một trận.

Lát sau, anh Đấu đứng dậy, đi lên tiểu đoàn họp, chỉ còn lại tôi với Biếc, tôi nhắc lại chuyện ấy. Biếc phì cười, rồi hỏi tôi:

- Bây giờ chắc anh Quyết hút thuốc dữ lắm hả?

- Hút vừa vừa thôi!

Im lặng một lúc, Biếc nói giọng trách móc:

- Sao bữa anh đi không cho em hay gì hết vậy? Rồi đi biệt luôn, không nhắn về một câu!

Tôi kêu:

- Trời ơi, có phải tôi bỏ Biếc mà đi đâu. Để tôi nói cho Biếc nghe ...

Bấy giờ đã vào đêm. Bên trên những thân cau gẫy ngọn, bầu trời đầy sao. Tôi nghe những bông cau còn đậy nụ vẫn bình yên tỏa mùi hương thơm ngát khắp vườn Cái mùi hương quen thuộc dễ chịu của vườn làng ấy và bầu trời lấp lánh ấy lát lát lại bị phá quấy bởi tiếng gầm rú của chiếc trinh sát phản lực lao ngang, có ý như dọa dẫm cái nơi chúng vừa bị đau đòn. Tôi bắt đầu kể cho Biếc nghe. Tôi kể hết, từ buổi tôi bị lừa lên Xà-bang ở với Bảy Vàng. Rồi những năm sau đó. Chuyện bầy bò, chuyện ông Cổ, và cả câu chuyện về con xà- niên nữa.

Thế là tôi nghe Biếc khóc. Biếc khóc từ cái đoạn đó, đoạn nói về ông Cổ, nói về con người túng cùng bị dồn đẩy tới chỗ sắp trở thành con thú. Nhưng Biếc khóc không thành tiếng. Chẳng qua do tôi nhìn thấy, hay nói đúng hơn là tôi cảm thấy đôi mắt đen lớn của Biếc đầy những nước mắt. Cho tới khi nghe tôi thuật lại cái đêm tôi bị Bảy Vàng đánh bất tỉnh, tới khuya mới tỉnh dậy được, một mình sờ soạng bò trốn thì khi đó Biếc mới khóc òa. Tôi lúng túng không biết làm sao, chỉ biết cầm cườm tay Biếc lắc nhẹ mà dỗ: "Thôi, Biếc đừng khóc, để tôi nói tiếp cho nghe!”. Nhưng tôi không nói nữa, xúc động cầm giữ bàn tay nhỏ nhắn của Biếc. Cái bàn tay ấy nay có da thịt hơn, mát rợi và ngoan ngoãn. Tôi thấy thương bàn tay đó quá, muốn cầm mãi, dắt Biếc cùng tôi đi tới một chỗ vui tươi mà giờ đây tôi đã ngó thấy. Thiệt ra nơi �rõ là một nơi nào, nhưng hồ như là một cách đồng lúa chín vàng mơ, lượn hết đợt sóng này đến đợt sóng lúa khác, dào dạt đến tận chân trời. Và bầu trời ở đó thì cũng rộng mênh mông, xanh biếc, chao liệng không biết bao nhiêu con chim ríu ran vui hót. Giữa phút này, tôi cảm thấy như tôi lại có mẹ có cha như xưa, mọi vật chung quanh bỗng trở nên khác trước, vui vẻ hơn trước. Biếc đã thôi không khóc nữa. Chúng tôi ngồi im lặng trong khu vườn thiệt là yên tĩnh. Một cây cau nẩy bẹ nghe tanh tách. Một cái bắp chuối nào đó đang cục cựa trổ khỏi mình mẹ. Những thứ tiếng đó vỡ ra rất khẽ, khẽ đến nỗi không thính tai thì không nghe thấy. Nhưng tôi nghe rõ hết cả. Mùi hương bông cau tôi cũng nghe thơm nhiều hơn. Rồi lai có tiếng rú của một chiếc phản lực. Tôi và Biếc ngước lên. Cả hai chúng tôi đều thấy bóng chiếc máy bay đen trũi cắt ngang trên những ngọn cau.

Biếc nói:

- Trận vừa rồi tụi em tới trễ quá, chớ trận tới tụi em sẽ cùng ra trận với mấy anh. Không biết mình còn ở đây lâu không?

- Nghe phong phanh thì lần này tiểu đoàn mình sẽ đi xa, đi tới miệt biển Phưóc-hải, Long-hải gì đó ...

- Cha, sướng quá. Hổi giờ em chỉ nghe nói biển chớ chưa ngó thấy. Anh Quyết có thấy biển chưa?

- Chưa, hồi giờ anh ở trong ruộng chớ có ra biển hồi nào đâu. Mà điều ba anh có ra biển. Ba anh theo người ta ra đó bủa lưới rùng một trận rồi dông về luôn. Ba anh nói biển dữ lắm, dữ hơn ở ruộng nhiều. Ở ngoài biển khỏi có ngó thấy bờ, chỉ có trời với nước, xanh lè minh mông, mà sóng thì nhào lộn tối ngày, một lượng sóng lớn bằng ba bốn cái nhà gộp lại.

- Dữ vậy hả anh?

- Chớ sao, mà cá thì lớn tổ bành ky. Ba anh nói có con cá đao lớn bằng chiếc ghe lườn. Còn cá nược thì nổi lên một lần đôi ba chục con, con nào con nấy lớn bằng bộ ván ngựa, trồi trồi hụp hụp dưới sóng.

- Ớn quá hả? Cá nược có ăn thịt mình không anh?

- Cá nược không ăn thịt người, cá mập mới ăn thịt người. Nên chi mình mới ví tụi Mỹ như cá mập đó. Ớn chi mà ớn, Mỹ mình không ớn thì con thú dữ con cá dữ mình cũng không sợ. Mình cầm cây súng thì mình không sợ gì hết, anh cầm cây súng anh thấy vững lắm!

- Hôm rồi anh Quyết bắn chết được bao nhiêu thằng Mỹ?

- Chừng đôi ba chục ...

- Nhiều vậy sao?

- Ừ, bắn cây đại liên nên Mỹ phải chết nhiều.

- Em thì chưa bắn chết thằng nào, nhưng nếu cho em bắn, nhất định có thằng chết.

- Chết chớ sao không, súng đạn đâu có tha tụi nó. Mà em chưa cần bắn, để tụi anh bắn nó cũng dư sức. Chỉ cần mấy em lo tiếp đạn cho kịp, với lại khi nào tụi anh rủi chết hoặc bị thương thì ráng khiêng dùm đừng có bỏ ...

Tôi nói chưa dứt câu liền bị Biếc véo một cái vào sườn. Tôi cười và kêu oái. Sau đó tôi bảo:

- Nói là nói vậy chớ ai mà mong chết và bị thương để cho mấy cô cõng. Nhưng phần anh, đi đánh giặc rủi có chết thì anh đề nghị khỏi chôn cất gì ráo, chỉ cần để anh nằm trên đất ruộng.

- Thôi đi, anh Quyết cứ nói tầm bậy tầm bạ ...

- Thiệt chớ, mình sống nhờ đất, chết cũng nhờ đất. Nhưng mà đừng có chôn, chôn xuống đất là hết còn ngó thấy cái chi. Chỉ cần để anh nằm trên một miếng đất ruộng là đủ, để mà ngó thấy đồng, ngó thấy chim ...

- Sao anh Quyết không nói là để anh gọi chim luôn thể?

Tôi bật cười:

- Ừ, để mình còn kêu cả bày chim tới chơi với mình nữa chớ?

- Anh Quyết nhớ ở đồng Phước-kiển anh dạy em kêu chim không?

- Nhớ chớ sao lại không.

Biếc cười khoe:

- Em cũng kêu chim được

- Thiệt à?

- Em kêu được cả bầy tới. Trao trảo, dòng dọc, áo già gì em kêu cũng được hết. Mấy con bạn của em nó phục lăn.

- Giỏi quá ha, vậy bữa nào kêu thử anh coi!

- Được rồi, bữa nào em kêu cho anh coi. Bây giờ em về đây ...

- Khoan, lại đằng khâu đội anh một chút. Mấy đứa nó nấu chè, biểu mời em với anh Ba Đấu, nhưng anh Ba Đấu sao đi lâu quá không thấy về. Thôi mình đi đi!

Tôi không cho Biếc từ chối, nắm tay Biếc kéo đi luôn tới nhà khẩu đội tôi ở. Mới bước vô đã thấy Khởi thò đầu ra:

- Trời, đi đâu mà tôi kiếm hoài không thấy, chè chín lâu rồi. Mời chị Biếc vô ăn chè với tụi tôi. Nghe anh Quyết nhắc chị hoài, bữa nay mới gặp ...

Khởi đón tiếp Biếc một cách hồ hởi. Cần khệ nệ bưng nồi chè ra. Thím Sáu chủ nhà, người đàn bà trạc ngoại bốn mươi lăng xăng phụ dọn chén, vui vẻ giục Biếc:

- Ngồi xuống cháu. Hồi hôm qua, thấy đội thanh niên xung phong của mấy cháu về, cô bác bàn tán dữ lắm nghe, cô bác nói phen này tới con gái cũng ra trận thì thằng Mỹ hết thời. Đánh giặc với con gái thì ê cái mặt, quá!

Biếc cười đáp:

- Dạ thưa thím, tụi cháu có cầm súng như mấy anh đây đâu. Tụi cháu làm phận sự vác đạn tải thương thôi!

- Úy, vậy tui cho là còn hơn cầm súng đó chớ. Mấy chú thanh niên đây cầm súng còn bắn nó được, chớ mấy cháu lo vác đạn khiêng thương binh nguy hiểm hơn nhiều chớ!

Tôi nghĩ thím Sáu chủ nhà nói phải. Từ hôm kia, khi đội nữ thanh niên xung phong về, tôi cũng đã chợt có ý nghĩ như thím. Trên chiến trường, từ nay sẽ có thêm những cô gái trẻ như Biếc đem đời mình tiếp lửa và chia phần máu đổ. Trong số các cô, có người cũng có súng có lựu đạn, nhưng hầu hết chỉ có tấm ni-lông choàng và cái võng buộc gọn bên lưng. Sao tránh khỏi rồi đây có lúc mình với anh em phải đau lòng vì các cô sẽ đổ máu cho mình, sẽ chết cho mình. Thiệt ra không phải cho riêng mình mà là cho thắng lợi chung. Nhưng mà những giọt máu tươi hồng của họ sẽ chảy xuyên tim mình.

Chúng tôi xúm lại ăn chè. Thím Sáu không thiết ăn cứ lo bưng cái thố đựng nước cốt dừa múc chan thêm vào từng chén chè đậu xanh của chúng tôi. Bưng chén chè đậu xanh nước dừa béo đậm lên ăn, tôi thấy sự ngon thời đã đành, mà còn có sự đủ đầy, thấy bây giờ mình không thiếu gì hết. Cao hứng lên, tôi còn vào nhà đem cây kèn và chiếc nón sắt Mỹ ra khoe với Biếc:

- Đây nè, trận rồi anh lấy được của tụi nó nè!

Biếc cầm cây kèn coi. Tôi đội cái nón sắt lên đầu. Khởi la lên:

- Anh Quyết đội nón sắt coi găng thiệt!

Tôi khoái chí, vươn vai bỏ bước đi rảo rảo quanh nhà. Mọi người, cả Biếc lẫn thím Sáu đều cười rộ. Được thể, tôi với cây kèn nơi tay Biếc, rùn chân làm điệu bộ và thổi toe toe. Mọi người lại cười ầm lên. Tếu một chút, tôi lột nón xuống, dơ cây kèn lên nói giọng tiếc rẻ:

- Cây kèn này mai phải nộp lên tiểu đoàn rồi!

Cần nói:

- Hồi nãy có anh Lắm tới coi mặt cây kèn. Anh nói Ban Chỉ huy tính giao ảnh thổi kèn trận.

- Bộ thằng Lắm biết thổi kèn à?

- Nghe ảnh nói biết chút chút thôi, nhưng anh sẽ tập thôi cho được. Coi bộ ảnh ham cây kèn lắm!

- Vậy thì hay. Tao chỉ sợ không ai biết thổi, chớ thằng Lắm mà dám lãnh thì chắc thế nào nó cũng mầy mò thổi được.

Hôm sau, Lắm đến đưa cho tôi một mảnh giấy của anh Dũng để nhận cây kèn. Tôi sốt sắng lấy cây kèn giao cho Lắm và hỏi:

- Trên giao cây kèn này cho mày thôi hả?

Lắm gật đầu. Tôi lại hỏi:

- Mày biết thổi hồi nào tài quá

- Tao đâu có biết thổi. Có thổi bậy bạ chơi chớ đâu có thổi thành bài bản.

- Vậy hả?

- Ờ, nhưng để tao thổi thử cho mấy thằng bây nghe sơ qua rồi tụi bây nhắm coi tao có thổi được không nghen! Nói thiệt ,tình tao lãnh thôi chớ tao cũng hơi ngán.

Tôi nói:

- Ừ, thì cứ thổi thử nghe coi!

Khởi và Cần cũng xúm lại bảo Lắm thổi. Lắm vẫn còn ngần ngại.

- Tao thổi tầm bậy không hè!

- Kệ, cứ thổi đi!

Bấy giờ Lắm mới chịu đưa kèn lên miệng thổi nhấp, và thử bấm nút kèn. Nét mặt Lắm bỗng trở nên nghiêm trang. Lắm bắt đầu thổi một điệu tôi không biết là điệu gì nhưng nghe cũng ngồ ngộ. Tôi vỗ tay bốp bốp la lên:

- Khá quá, thổi vậy là ngon lành quá rồi!

Lắm hạ kèn xuống, giải thích:

- Tụi bây biết tao thổi bài gì không, đó là bài kèn chào mở màn của gánh hát. Tao học được bài đó là nhờ lúc đi theo làm quân cho một gánh hát. Sở dĩ tao phải theo gánh hát làm quân là vì tao bị lính đập bể thùng cà rem, chớ trước đó tao đi bán cà-rem.

Cần cũng khen:

- Anh Lắm thổi khá lắm!

- Thì tao cũng biết thổi chút đỉnh. Ngặt mấy bài của gánh hát đó đâu xài được. Để rồi tao tập thổi mấy bản mới như "Tiểu đoàn 307", "Tiến-binh", "Giải phóng miền Nam" v,v ... Chắc thế nào tao cũng mò thổi được.

- Ừ, ráng lên nghen Lắm. Tôi nói - Ráng thổi cho ngon, ra trận mầy thổi sao cho anh em mình nhảy lên rượt tụi nó chạy thấy bà hết cho tao!

Lắm gật đầu

- Phải ráng chớ, thôi kèn đâu phải chuvện giỡn.

Tao hứa với tụi bây, hễ tao mà thổi là tao thổi thúc cho tụi bây nôn ruột có cục, thằng nào cũng phải nhảy dựng lên hết trọi!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #55 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2011, 10:54:53 pm »

                                Tiếp theo :


Lắm nói thế rồi lại rờ rẫm mân mê cây kèn, khen cây kèn Mỹ nầy tốt hơn kèn của gánh hát nhiều. Tôi đưa mắt nhìn Lắm mà mường tượng hồi Lắm đi bán cà rem và làm quân trong gánh hát. Tôi cũng không dè ngày trước Lắm đã trải qua những nghề đó. Tụi nhỏ làm nghề bán cà-rem thì tôi biết nhiều. Mấy đứa trên chợ Xà-bang đứa nào đi bán cà-rem cũng lem luốc, vất vưởng, và đứa nào cũng lì lợm. Tôi dòm mặt Lắm thấy cững có nét đó. Mặt Lắm sạm nắng, hơi bị rỗ huê, có lẽ là bị một trận đậu mùa may mà không chết. Ở trên gò má của Lắm có một vết thẹo dài cỡ ngón tay. Nhìn vết thẹo ấy, tôi cứ nghĩ tới vết thẹo của thằng Hoành và Bảy Vàng đánh tôi. Ngồi im một chốc, tôi hỏi Lắm:

- Hồi đó mày đi bán cà-rem ở chợ nào?

- Ở chợ Cấp.

- Tại sao lính nó đập bể bình cà-rem của mày?

- Tại tao đánh lính, khi lính đánh mấy thím mấy chị kéo đi đấu tranh. Tụi lính lột quần áo của mấy chị nữa. Vậy là tụi tao nhào vô tiếp mấy chị đó, xô xát kịch liệt lắm. Một thằng phang dùi cui trúng bình cà-rem tao bể cái rốp. Tao thấy vậy là tiêu hết sự sản rồi, bình cà-rem mà bể thì thấy chết đói rồi. Nhưng tao nghĩ bình còn hàn gắn gì được, nên tiện thể tao vác bình đập luôn

vô mặt thằng quân cảnh đương nhào tới.

- Nó té không? - Tôi hồi hộp hỏi.

- Thằng quân cảnh đó té bật ngửa trên mình mấy chị. Mặt nó bị miểng kiếng bình cà-rem ghim bấy, máu chảy ròng ròng. Tụi bây biết khi nó té lên người mấy chị rồi mấy chị đó làm sao không. Mấy chị hè nhau, kẻ nắm tay, người nắm chân thằng quân cảnh liệng nó cái ạch khỏi chỗ đó chừng bốn thước. Mấy chị đó cũng dữ dằn thiệt!

- Phải dữ chớ! - Tôi nói xôm vô, và hỏi: - Cái thẹo ở gò má mầy phải là bị trong trận đó không?

Lắm đáp cụt ngủn. Rồi đưa tay lên rờ rờ vết thẹo trên má, Lắm day mặt ngó đi chỗ khác. Hình như Lắm hơi muốn tránh trả lời câu hỏi của tôi. Thành ra tôi cũng không hỏi nữa. Bỗng lát sau, Lắm đặt cây kèn xuống bộ vạt, dòm chúng tôi mà hỏi:

- Tụi bây hồi nhỏ tới lớn có khi nào bị đói chưa?

Tôi đáp:

- Có chớ sao không, như tao nè, hồi tao bỏ nhà Bảy Vàng vô rừng Hắc-dịch kiếm bộ đội, tao đói phải nhổ ngải ré ăn cầm hơi.

- Không, tao không nói cái cảnh đói đó, tao muốn nói cái cảnh mình bị đói nhăn răng mà ở chung quanh mình tụi nó ăn uống nhậu nhẹt no nê. Nghĩa là tụi nó dư cơm thừa thịt cũng không cho mình. Mấy đứa bay ở ruộng không biết chớ ở chợ thì vậy. Lần đó tao bị đói liền mấy bữa không có một hột cơm vô bụng. Đi bươi mấy đống rác tưa tay hết cũng không có gì ngoài miếng hư

miếng thúi của người ta bỏ đi. Năm đó tao mười lăm tuổi, tội nhứt là có một thằng nhỏ đi theo tao. Nó mới lên chín tuổi, tên là thằng bé Tư. Ba má thằng bé Tư bị chết ở Phú-lợi, bỏ nó ở ngoài cầu bơ cầu bất. Thằng bé Tư theo tụi tao hồi nào tao cũng không hay, chỉ nhớ đâu dêm đó tụi tao ngủ ở hè phố, khuya thức dậy thấy nó nằm co kế bên. Kể từ đó nó theo tụi tao luôn. Tụi tao đói đã đành, ngặt thấy thằng nhỏ đói thiệt tội, nên tao mới liều mạng. Nói tụi bay đừng cười, tao đã đi giựt bánh mì. Không phải tao giựt của mấy cha đẩy xe bán bánh mì xá-xíu ở mấy góc đường đâu. Tao giựt tại lò làm bánh mì cho Mỹ. Cái lò bánh mì đó sáng nào cũng chất bánh cho xe Mỹ tới chở đi. Sáng sớm tao tới đó đợi sẵn. Mấy bữa trước tao dọ thì thấy không có Mỹ theo xe, nên không đề phòng. Lúc người trong lò vừa chất bánh lên xe, tao nhảy tới giựt bốn cái chạy liền. Đang chạy tao nghe tiếng la ó sau lưng. Nhưng tao biết người ở lò có la gì thì la chớ lấy bánh mì của Mỹ nọ cũng không rượt nột, thành ra tao vẫn ôm chặt bốn ổ bánh mì mà chạy. Bỗng tao thấy có cái gì cào sượt qua má, rồi tiếp đó nghe một tiếng nổ. Nhưng tao vẫn chạy. Lọt vô tới ngõ hẻm, tao nghe đau rát gò má, và máu chảy nhễu xuống. Không còn có tay nào rảnh để chùi máu, tao cứ để vậy mà chạy. Về gặp tụi nó, tao đưa bốn ổ bánh, rồi cởi áo chùi máu trên mặt. Tụi nó la lên hỏi sao vậy, tao nói không biết. Thiệt tình khi ấy tao cũng không biết tại sao lại bị thương ở gò má. Lát sau mới biết ... Lát sau, tụi nó thả ra phố, nghe bà con bàn tán về chuyện của tao. Họ nói vừa rồi có một thằng nhỏ giựt bánh mì chạy, hai thằng Mỹ ngồi trên xe ăn cá với nhau gì đó rồi rút súng bắn theo. Thằng bắn không chết tao nên phải thua thằng Mỹ kia một chai Uýt-sky.

Kể xong, Lắm nói thêm:

- Đó cái thẹo của tao là vậy đó. Tụi bây nghĩ coi, lấy của nó mấy ổ bánh mì là nó có dịp rút súng bắn mình như giỡn chơi.

Tôi lặng im mãi hồi sau nói với Lắm:

- Có khi mình không lấy của nó cái bánh nào, nó cũng xài với mình cả trăm trái bom, cả ngàn trái pháo. Mầy không thấy chú Chín Thắng à, chú lo mần ruộng chớ mắc mớ gì nó mà nó liệng bom đìa chôn hết sạch vợ con chú. Mầy giựt có mấy ổ bánh của nó, chớ có giựt cả ngàn kho bánh của nó cũng chưa bù đủ những thứ nó giựt, nó phá hại mình. Tại nó qua đây mình mới đói. Thử hỏi ai bắt ba má thằng bé Tư nhốt vô trại Phú- lợi để cho thằng bé Tư đói, không thằng Mỹ thì thằng nào?

- Tới chết tao cũng không quên mấy ổ bánh mì với cái thẹo ở má.

- Đâu phải chỉ có mày, tao cũng có mấy cái thẹo ...

Lắm ngó trân vào giữa trán tôi, tính hỏi, nhưng vừa lúc ấy anh Ba Đấu bước vô. Anh hỏi Lắm:

- Tới lấy cây kèn hả?

- Dạ.

- Thôi, xách cây kèn về đi, về có chuyện gấp đó!

Lắm mới cầm cây kèn lui ra, bỗng nhớ điều gì, Lắm chợt dừng lại. Anh Đấu hỏi:

- Gì nữa đó?

- Hôm rồi em thấy cây kèn có lá cờ?

Tôi cười khì bảo:

- Lá cờ số Một Đỏ của tụi nó đó hả, tao xé vụt rồi!

Anh Đấu ngó Lắm hỏi:

- Em đòi lá cờ đó để làm gì?

- Không ...

Lắm lúng túng đáp. Không biết nghĩ sao, anh Đấu lại bước theo:

- Em muốn có một lá cờ cho cây kèn của em phải không?

- Muốn chớ, chắc phải có một lá cờ Mặt trận coi mới xôm chớ anh!

Anh Đấu gật đầu hứa:

- Được rồi, anh sẽ đảm bảo có một lá cờ cho em treo kèn.

Vào nhà, anh Đấu gọi khẩu đội chúng tôi lại phổ biến:

- Chiều nay hành quân. Chuyến này mình sẽ đi xa. Từ đây tới chiều, tiểu đoàn huy động đi gặt lúa hết dứt cho bà con, lệnh là phải gặt cho xong trước khi đi. Khẩu đội mấy em cho hai đứa đi, Quyết ở lại anh phổ biến thêm, đồng thời chuẩn bị các thứ.

Khởi và Cần mượn lưỡi hái của thím Sáu rồi đi ngay.

Anh Đấu báo cụ thể cho tôi biết chuyến này sẽ hành quân ra tới vùng biển, vừa đi vừa đánh phá các ấp chiến lược dọc đường, yểm trợ cho đồng bào nổi dậy. Tôi hỏi mấy giờ hành quân, anh bảo đúng ba giờ chiều. Anh còn cho tôi biết lần này có cả đại đội thanh niên xung phong cùng đi. Tôi phấn khởi quá, vì lần này cả tôi lẫn Biếc sẽ có dịp nhìn thấy biển.

Anh Đấu vừa đi khỏi, tôi lập tức lo thu xếp đồ đạc, súng đạn của khẩu đội và quét tước nhà cửa. Thím Sáu chủ nhà hỏi tôi:

- Hồi nãy anh Ba chỉ huy tới nói gì với mấy chú vậy?

- Dạ ảnh kêu tụi cháu đi gặt lúa cho bà con.

Thím Sáu hỏi gặng:

- Mấy chú sắp đi phải không?

Tôi thấy trước sau gì lát nữa cũng phải báo cho thím Sáu biết, nên gật đầu:

- tụi cháu chiều nay phải đi rồi thím!

- Đó thấy chưa, tui biết mà, vậy mà mấy chú cứ dấu tui, bí mật gì dữ vậy. Trời đất ơi, chiều đã đi rồi mà bây giờ còn đi gặt lúa. Mấy chú lo đi đánh giặc chớ có phải lo đi gặt lúa cho dân sao, bộ dân cùi hết rồi sao?

Tôi nhỏ nhẻ cười giải thích:

- Đâu phải, cô bác gặt nhất định là giỏi hơn tụi cháu quá đi chớ. Ngặt cái là phải gặt gấp, tụi cháu sợ cô bác gặt không kịp thì thằng giặc nó đã ra tay. Sợ nó liệng bom xăng đốt lúa thì mùa này cô bác hụt ăn mà tụi cháu tức nhiên cũng hẻo.

Thím Sáu chép miệng ngồi lặng thinh. Lát sau, chợt thím rút xổm một gối chân lên, kéo khăn xỉ mũi rèn rẹt.

Thím vừa khóc vừa nói:

- Từ rày mấy chú về tui không cho đóng ở nhà tui nữa. ở luôn thì cho, chớ ở đôi ba bữa rồi đi kiểu này thì thôi ...

Tôi ngó thím Sáu cười. Thím Sáu làm mặt giận vậy đó chớ rất thương chúng tôi. Quả nhiên thím sụt sịt khóc một chút rồi lẳng lặng đứng dậy đi xuống bếp, rồi ra ngoài vườn. Hồi sau, tôi bỗng nghe tiếng vịt kêu cạp cạp đập cánh phành phạch. Tôi bỏ chổi chạy ra, thấy thím Sáu đứng trên bờ mương dừa, tay cầm cây sào tre dài quơ đập một con vịt xiêm lúc ấy đã bị thương bì bạch chạy lết lên mé mương. Thấy vậy, tôi vội vàng chạy sang bờ mương bên kia, nhảy xuống chộp cánh con vịt. Con vịt thiệt nặng mà hãy còn tơ. Tôi xách vịt đưa thím Sáu nói:

Con vịt còn đương lớn, thím mần thịt nó uổng quá!

- Uổng, uổng cái gì, mần cho mấy đứa bây ăn tao có lỗ lã đâu mà sợ!

Thím lại chép miệng:

- Hôm rày mấy đứa ở đây ăn cực quá, hết cá sặt nấu chua lại cá sặt kho mắm. Sao, chú nhắm ba chú ăn con vịt nầy đủ sức không?

- Con vịt nặng lắm, chắc phải gần ba kí, tụi cháu ăn gì hết!

- Sức vóc ba chú mà ăn không hết con vịt. Chú nói vậy thành ra giông giống như tụi nó bảo ba anh bộ đội Vi-cộng leo lên một nhánh đu đủ mà nhánh đu đủ không rớt. Thôi, để tui bắt thêm vài con cá lóc bự nữa. Tui tính vầy: vịt nấu cháo, còn cá lóc nướng trui, được không?

Thím Sáu nói rồi là bắt tay nấu nướng ngay. Bây giờ thím không sụt sịt khóc nữa. Bây giờ thím bận rộn lo sao cho chúng tôi kịp ăn một bữa ngon trước khi đi.

Hôm rồi, khẩu đội chúng tôi đã giúp đào một cái hầm rất chắc chắn cho mẹ con thím. Từ ngày chồng mất, thím làm ruộng vất vả, luôn hụt công cấy thiếu công cày. Mùa này lúa đang chín tới thì xảy ra trận Mỹ càn, bị hư hao chút ít, còn bao nhiêu đã được anh em khẩu đội tôi gặt gánh về hết từ hôm qua. Thím bảo chúng tôi rằng mười mấy năm về trước cũng có anh em bộ đội về đóng ở nhà mình, làm lụng giúp đỡ mình y như chúng tôi. Đó là lớp cha chú chúng tôi, là những chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn. Sau hòa bình, thím gặp toàn lính ngụy tới phá tán, không rượt gà thời bắt heo, đàn bà có tuổi như thím thấy bóng chúng cũng đều phải lánh xa. Cho mãi tới vài năm gần đây thím mới gặp lại bộ đội của mình, bộ đội giải phóng. Thím nói cái tên thì khác, nhưng coi y như anh em Vệ Quốc Đoàn.

Tánh thím Sáu hay mủi lòng, thấy chúng tôi mặc quân phục may toàn bằng vải bồng bột nhuộm pin, thím cũng ứa nước mắt. Biết chúng tôi quanh năm ăn cực, từ bữa về đóng ở nhà thím, thím không để chúng tôi nấu ăn riêng. Bữa cơm nào thím cũng lo cho chúng tôi có tô canh, miếng cá. Vậy mà thím vẫn chưa thiệt mát bụng. Bây giờ thì thím hết lòng lo nấu nướng bữa chiều nay sao cho ngon cho kịp. Thím nhậm lẹ bắt nước làm vịt. Thím chỉ sợ làm không kịp, giả dụ như đang nấu cháo thì có lệnh hô đi. Nhưng rồi mọi việc đều đâu vào đấy. Lúc Cần và Khởi đi gặt về thì thím Sáu đã dọn cơm. Chúng tôi ăn cơm chung với mấy mẹ con thím Sáu ăn hết sức ngon, nhất là món thịt vịt chấm nước mắm gừng. Cơm nước rồi tôi thay mặt khẩu đội cảm ơn và tự phê bình với thím Sáu về một số sơ sót trong thời gian ở trong gia đình. Thím Sáu làm mặt giận, phẩy bàn tay la lên:

- Thôi đi, mấy chú khuyết điểm nhiều quá vậy thì từ rày trở lên đừng có ghé nhà tôi nữa nghen!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #56 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2011, 10:58:54 pm »

                                            Tiếp theo :


Thím nói thế rồi cười cười đi lấy những mo cau non rấp nước để gói cơm nếp cho chúng tôi đem theo.

Lúc lên đường, tôi lấy bao soong nồi buộc ràng lên bồng mình, mặc dù hôm ấy Khởi là trực nhật. Tôi bảo Khởi:

- Lát nữa mình sẽ đi qua Long-phước quê mày, soong nồi để tao mang, còn mầy vác

Tôi muốn để Khởi vác đại liên vì tôi nghĩ khi đơn vị hành quân qua xã Long-phước thì thế nào gia đình Khởi và chòm xóm cũng gặp Khởi, sẽ để ý dòm ngó, nhất hạng là tụi con gái.

Tiểu đoàn chúng tôi đến Long-phước vào lúc trời vừa tắt nắng. Bà con Long-phước kéo chật ra bên đường làng. Rồi tiếng vỗ tay vang lên ở từng chặng. Đơn vi chúng tôi lọt vào giữa một cuộc nghinh đón hình như có chuẩn bị sẵn từ trước. Tôi ngó thấy có nhiều thanh niên cầm loa ngồi trên cháng cây hô to:

- Nhiệt liệt hoan hô bộ đội đại thắng giặc Mỹ ở Long-tiên!

Thế là bà con ở hai bên đường hô theo:

- Nhiệt liệt!

Tiếng loa lại vang lên:

- Đả đảo giặc Mỹ xâm lược!

- Đả đảo!

- Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!

- Quyết tâm!

Bà con thét vang dậy hai bên đường. Từ trên có lệnh chuyền xuống: "Các đồng chí hãy hưởng ứng cùng đồng bào, với khẩu hiệu "Chúng tôi xin hứa đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!". Tôi chuyển lệnh cho Khởi, Cần. Lát sau, cả tiểu đoàn chúng tôi vừa đi vừa dơ súng lên hô vang khẩu hiệu trên, hô theo kiểu lẫy ra từng tiếng. Tôi ráng sức thét thiệt to, và tôi ngó thấy những cánh tay gầy guộc già nua của các má dơ lên sát bên tôi, những cánh tay của các ông lão, của các chị, các em nhỏ, không thiếu ai hết. Chắc cả xã đã đổ ra đường làng để hoan hô chúng tôi. Giữa lúc ấy trong tôi nghe một tiếng la ở sau lưng:

- Bớ con Hai, thằng Khởi, thằng Khởi mình đây nè!

Tôi quay lại, liền ngó thấy một ông lão tuổi trạc bảy mươi, ở trần, đầu buộc khăn xước đang bươn bươn đi theo. Khởi rấn lên kêu tôi, nói:

- Nội tôi đó, anh Quyết nhìn kỹ, thấy ông lão còn thiệt khỏe. Nước da ông săn cón, đẫm nắng, coi y như một cội tre già. Ông lão đi bươn theo Khởi, ngó nhìn Khởi bằng đôi con mắt vui mừng, sờ sững. Chòm râu bạc của ông lão chừng như cũng đang vểnh dậy một cách hể hả. Đang đi giữa hàng, Khởi cũng như tôi chẳng biết làm gì khác hơn là đi cho nghiêm chỉnh. May sao, có lệnh nghỉ từ trên chuyền xuống. Anh Sáu Dũng đi dọc theo đại đội nói thêm:

- Các đồng chí nghỉ tại chỗ nửa tiếng. Bà con ở đây có tổ chức đón tiếp, hoan nghinh mình đánh thắng Mỹ trận rồi. Vậy các đồng chí hãy trò chuyện cùng vui với bà con!

Khởi bước ra khỏi hàng. Ông lão chụp ôm lấy Khởi. Rồi vẫn giữ Khởi trong tay, ông lão cười kha kha nói với một thím đang te tái chạy tới:

- Con Hai lại đây, lại coi thằng Khởi thành giải phóng quân chánh hẩu rồi đây nè!

Thím nọ nhào lại bíu lấy Khởi, rồi đột nhiên khóc sụt sịt. Ông lão thì vẫn cười to:

- Coi mau nước mắt chưa? Ừ, thì thôi, khóc đi, mà khóc chút đỉnh thôi, để cho con nó đừng quyến luyến, để cho con nó đi được mạnh chân mạnh cẳng. Ê Khởi, mầy vác cây súng gì mà có bao cỏ bọc kỹ quá vậy?

- Dạ cây đại liên đó nội!

- Cây đại liên? Cha chả, tao cũng có nghe ... phải nó là cây đại liên thinh không?

- Dạ phải đó nội?

- Hạ xuống, hạ xuống mở bao tao coi!

Ông lão nói như ra lệnh. Thấy Khởi còn ngần ngừ, tôi bảo:

- Cứ cởi bao ra cho ông coi!

Ông lão sực dòm tôi. Nhân đó, Khởi giới thiệu tôi và Cần:

- Thưa nội, hai anh đây cùng ở khẩu đội đại liên với con. Anh Quyết đây là khẩu đội trưởng của con.

- Vậy ra hai thằng cháu cùng ở chung một tổ với thằng Khởi

- Dạ!

- Ba anh em lãnh phận sự bắn cây nầy?

- Dạ!

Khẩu súng đã được Khởi mở bao, đặt nằm chễm chệ giữa đường. Ông nội Khởi ngồi xổm, dòm ngó kỹ càng khẩu súng và hỏi tôi:

- Súng này của nước nào cháu?

- Dạ thưa nội, súng này của tụi Mỹ, tụi con đánh lấy được ở lộ Hai.

Ông lão bật cười khơ khớ. Lần này ông cười rất lâu. Tiếng cười đắc chí làm rung cả chòm râu bạc. Xung quanh ông lão và khẩu đại liên giờ đông nghịt người.

Có ba bốn cô gái cũng chen vô. Một cô thập thò gọi tên Khởi. Tiếp theo là những lời đùa nghịch:

- Anh Khởi về mà cứ làm lơ nghen!

- Ối, bây giờ ảnh có còn ngó chi tới mấy con nhà bần mình nữa đâu mày ơi!

Khỏi đâm quýnh lên, mặt đỏ rần. Chợt có tiếng một thím nào la lên:

- Mấy con nhỏ này ở đây ghẹo bộ đội hả? Dừa bẻ rồi kia kìa, không lo vô khiêng ra cho mấy chú uống đặng mấy chú còn đi!

Đám con gái cười ngả ngớn vào nhau rồi chạy đi. Lát sau các cô tới, cứ hai cô khênh một quầy dừa tươi. Thế rồi các cô vặn bẻ dừa, cầm dao yếm chém vạt. Tôi vui vẻ nhìn lưỡi dao loang loáng hoa lên chém ngọt xớt từng miếng vỏ dừa rơi xuống đất. Vạt xong trái dừa nào, các cô liền chúm tay bưng dừa lại đưa anh em chúng tôi uống. Tôi cũng được một trái. Đang khát, tôi bưng uống một hơi. Nước dừa tới đâu, tôi thấy mát khỏe tới đó.

Bỗng mấy cô to nhỏ gì với nhau, rồi một cô vụt chạy đi. Chỉ một chốc sau, cô gái này trỏ về tay cầm một cây thuốc "Ru-bi" xé ra phân phát cho chúng tôi. Lúc nhận thuốc Ru-bi của cô gái đưa cho, tôi cười nói:

- Mấy cô cho tụi tôi thứ này thì nhứt rồi còn gì, nhưng mà phải chi cô cho tôi cục thuốc rê thì tôi còn mừng dữ!

Câu nói của tôi vô tình lọt vào tai ông nội Khởi. Ông lão xây lại:

- Ừ, phải đó, thứ thuốc tây nầy lạt nhách để hút chơi bời thôi, chớ giải phóng quân là phải hút thuốc rê trảng. Con Út, con chạy ù về nhà tao lấy lại đây một "tấp" rê trảng coi, tao để trên kẹt bồ lúa!

Cô gái lại chạy bay đi. Ông lão bước tới, thong tha cầm tay tôi hỏi:

- Thằng cháu mày cho tao biết sơ qua coi thằng Khởi đánh chác có khá không, trận đánh Mỹ vừa rồi nó có giết được thằng Mỹ nào không?

Câu hỏi của ông lão tỏ ra nghiêm túc thiệt sự. Rõ ràng ông muốn tìm hiểu đứa cháu mình đã chiến đấu ra sao. Hình như đó là điều ông cần biết hơn hết trong buổi chiều gặp gỡ này. Tôi còn nhận ra trong đôi mắt già nua nhưng vẫn sáng quắc lên của ông lão - cái niềm hy vọng thiêng liêng mà chắc hẳn ông đã nuôi nấng từ lâu. Tôi nói:

- Dạ thưa nội, trước thì cháu không ở chung với Khởi. Tụi cháu mới cùng nhau đánh chung một trận, tức là trận đánh Mỹ vừa rồi. Chắc nội cũng rõ, trận vừa rồi là trận đầu tiên tui cháu đụng Mỹ. Trong trận này, Khởi đánh khá lắm!

- Khá là sao?

- Dạ nghĩa là Khởi chịu chơi, chịu đội bom pháo, cùng với mấy cháu đánh tụi Mỹ chạy thối ra đồng. Trọn ngày nó vô năm sáu lượt.

- Thằng Khởi bắn chết được bao nhiêu thằng Mỹ?

- Dạ thưa nội, cây đại liên này bắn chết khó đếm lắm. Nhưng cháu ngó thấy Khởi bắn chết ít nhất cũng một chục thằng!

- Thiệt hả, thằng cháu mày nói thiệt hả?

- Dạ, cháu chỉ lấy số ít mà nói.

- Thôi được, tao hỏi vậy để biết nó đánh chác ra làm sao đặng tao mừng. Chớ đánh Mỹ chết nhiều là công chung chớ đâu phải công riêng của đứa nào.

- Dạ Khởi nó khá, nó chịu chơi lắm!

- Vậy hả, nó chịu chơi hả? Vậy thì được. Chớ đánh Mỹ mà không chịu chơi tao bắt về cầy ruộng để nuôi đứa khác đánh!

Ông lão quay sang con dâu, tức má Khởi:

- Con Hai con chịu khó về nhà lấy lại đây cho ba chai rượu!

Người con dâu cười:

- Thôi đi ba à, bộ đội đương hành quân mà ba biểu uống rượu ...

- Ấy, kệ tao, cứ về lấy đi, về lấy đặng tao đãi tụi nó mỗi đứa một hớp thôi. Tao sẽ hỏi lịnh chỉ huy đàng hoàng, đi đi con.

Má Khởi không cưỡng lại được ý cha chồng, đành phải quay lưng về nhà. Ông lão còn dặn với theo:

- Lấy cái chai lít còn nguyên đó nghe con. Gặp con Út biểu nó đem thuốc rê lại luôn!

Khởi đứng nhích sát tôi, nói nhỏ:

- Anh Quyết thấy ông nội tôi chưa, ông già chịu chơi một cây!

Tôi gật đầu. Thiệt vậy, mới gặp nội của Khởi có một chốc mà tôi đã thấy khoái ông quá. Hèn chi Khởi nó hay nhắc tới ông nội của nó hoài. Tôi đi tìm anh Ba Đấu dắt anh lại định giới thiệu với ông lão. Nhưng mới nhác thấy ông lão, anh Đấu đã cười hỏi:

- Bác Tám còn nhớ cháu không?

Ông lão nhướng mắt dòm anh Đấu một lúc, rồi bước tới vung tay đập mạnh vào vai anh:

- Mầy là thằng Ba Đấu chớ ai. Ê, tao đâu có quên mầy. Bữa đó tại cuộc nhậu, tụi nó ngả hết, chỉ còn mình mầy ngồi với tao tới mãn cuộc chớ gì?

Anh Ba Đấu cười, cái cười như nói rằng anh vẫn nhớ. Thì ra anh Đấu đã có đóng quân ở đây, đã từng nhậu với ông già. Giờ anh sà tới, ôm lấy tấm lưng trần xám nắng của ông Tám:

- Mạnh giỏi luôn hả bác Tám

- Tao mạnh đều, không đau bữa nào, Còn tụi bây thì sao, nghe nói sau đó về trên rừng anh em bị sốt nhiều lắm phải không?

- Dạ cũng có sốt mà không sao đâu bác!

- Tại ở trển thiếu ba xị đế. Chớ có ba xị đế thì đỡ sốt rét lắm, cái đó tao nói thiệt. Ở dưới nầy bà con có ai bị gì đâu!

Anh Đấu bật cười. Ông Tám bảo:

- Nói chơi vậy chớ kỳ nầy tụi bây đánh Mỹ coi được đó. Nhưng mà đánh Mỹ một trận rồi làm phách tính kéo quân đi lướt lướt ngang qua đây chớ không thèm ghé sao?

Anh Đấu vội phân trần:

- Không phải đâu, tụi cháu gấp đi. Thấy cô bác đón tiếp tụi cháu nhiệt tình quá nên tụi cháu nán lại chơi với cô bác một chút, chớ thiệt là phải đi! Thế nào rồi tụi cháu cũng có dịp ghé đây ...

- Tao biết ... Bây giờ mấy giờ rồi, gần tới giờ phải đi chưa?

- Dạ còn chừng mươi phút nữa.

- Hay lắm, má thằng Khởi ra tới rồi kia!

Má của Khởi đã trở lại, tay ôm bọc thuốc rê, tay xách một chai lít đựng đầy rượu, trên chai úp một cái ly nhỏ. Ông già đón lấy cả hai thứ. Ông giao bọc thuốc rê cho tôi:

- Đây thằng cháu mầy cầm ít thuốc rê chia anh em hút. Thuốc của tao trồng. Còn cái vụ nầy tao thưởng cho trận đánh Mỹ của tụi bây, mỗi đứa làm một chút cho ấm bụng rồi đi!

Ông già dơ chai rượu lên. Rượu trong vắt. Từ cổ cái chai lít, rượu sủi trào lên những bọt tăm nhỏ. Ông già kề miệng cắn bựt cái nút, rót rượu vào ly. Ông cầm ly rượu đưa anh Ba Đấu, giọng của ông bỗng trở nên trang trọng:

- Làm chút đi, chú Ba. Lần nầy tui đãi mấy chú mỗi người một hớp nhỏ thôi, gọi là chút lòng già của tui gởi theo mấy chú ra nơi trận tiền đánh Mỹ. Lần sau mấy chú thắng trận ghé qua, tui đãi mấy chú một tiệc đàng hoàng. Uống đi chú, rượu np mới của ruộng nhà đó!

Tôi thấy anh Ba Đấu cảm động chớp chớp mắt, tay run run đón lấy ly rượu. Bỗng rút chân về theo tư thế đứng nghiêm, anh từ từ bưng ly rượu nhấp nhẹ một hớp rồi trao ly cho tôi. Tôi cũng đứng nghiêm uống như anh. Anh em đại đội tôi chuyển nhau uống, cho đến khi chai rượu cạn. Thay mặt cho tất cả chúng tôi, anh Ba Đấu ngỏ lời cảm ơn ông nội Khởi và hứa sẽ chiến đấu để xứng đáng với lòng mong mỏi của ông Tám cũng như của bà con. Trong lúc anh Đấu nói những lời đó, rượu tỏa ấm ran người tôi. Hôm nay tôi chỉ uống có một hớp mà chừng như say, chừng như chất men nồng có thể đưa chân tôi đi tới bất cứ nơi nào có giặc. Đành rằng rượu rất ngon, rượu nếp một trăm phần trăm, nhưng đúng như lời ông Tám nói, điều cốt tử là rượu cất lấy từ miếng ruộng nhà do cách mạng cấp cho. Rượu tỏa hương thơm của lúa nếp mới, được máu và mồ hôi giành giữ để mùa nào cũng nấu nên xôi và cất nên rượu.(Hết chương 23 )
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #57 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2011, 11:01:41 pm »

                             
CHƯƠNG HAI MƯƠI BỐN

Cả mười hôm sau, tiểu đoàn chúng tôi mới ra gần tới biển. Trong gần suốt mười ngày đêm ròng rã đó, tiểu đoàn chúng tôi xé ra từng đại đội, vừa đi vừa đánh. Hầu như đêm nào đại đội tôi cũng đánh đồn ở ấp chiến lược để yểm trợ cho bà con ở đấy vùng lên phá ấp, phá thế kềm kẹp của địch. Đánh phá xong một ấp chiến lược nào, đại đội tôi lại thu tân binh tại chỗ rồi dắt đi luôn.

Các đồn ấp chiến lược đều do bọn dân vệ đóng. Thoạt đầu nghe nói đánh dân vệ, anh em đều coi thường, cho dân vệ là thứ lính làng, chỉ cần nổ một loạt súng rồi kêu chúng dơ tay lên. Không ngờ có mấy ấp, bọn dân vệ ở đó hết sức ngoan cố. Đêm hôm nay, chúng tôi đã gặp một đồn dân vệ kiểu ấy. Vì là đồn cuối cùng nằm giáp biển nên bốn lô-cốt xung quanh đều có trung liên và đặc biệt có rất nhiều lựu đạn.

Trận đánh diễn ra trong tiếng sóng biển thét gào ở gần kề. Trung liên địch bắn sát rạt. Lựu đạn của chúng nổ không ngớt. Đánh gần nửa tiếng đồng hồ mà chúng tôi không sao tràn vô nổi. Anh Ba Đấu giận quá la lớn:

- Thằng Quyết đâu lại đây!

Tôi xách đại liên chạy tới. Anh bảo tôi:

- Em ráng bắn diệt thằng bắn "ép" ở cái cốt nầy cho anh. Em phải bắn nó ngay khi nó bắn mình mới được. Vậy em chú ý lấy sẵn mục tiêu, khi nào lỗ châu mai nó nháng lửa thì em bắn ngay vô đó cho anh!

Tôi hiểu ý anh Đấu muốn tôi hạ thằng địch đó đúng vào lúc còn ngồi xổ đạn ra. Điều này rất nguy hiểm, nhưng nếu tôi kịp tranh thủ thời cơ chính xác thì đó là lúc tốt nhất để bắn tên địch. Tôi nằm rạp sát đất, hướng mũi súng về phía lỗ châu mai, rình đợi. Bên phải tôi là Khởi, bên trái tôi là Cần. Đợt lựu đạn của địch sắp nổ dứt, anh Đấu nhắc chừng tôi:

- Đó nó sắp bắn đó!

Quả nhiên, tiếng lựu đạn vừa dứt, khẩu trung liên địch bắt đầu nháng lửa. Tôi nghiến răng, bắn ngay trên ánh lửa đó một chút. Tiếng trung liên địch ngừng bặt. Đợi một lúc, thấy chúng nín luôn, anh Đấu nói:

- Thằng đó chết rồi!

Anh em chúng tôi ùa lên. Lô-cốt thứ nhất bị diệt. Một mặt bị vỡ, ba mặt kia địch giữ không lại. Tôi xách đại liên đột nhập ngay vào cái lô-cốt bị hạ. Cần và Khởi bấm đèn. Chúng tôi thấy một thằng chết ngoẻo cổ bên khẩu trung liên Bar, còn bốn thằng khác cũng nằm chết đè lên nhau. Tôi nhảy qua xác mấy tên đó, đưa đại liên tới lỗ châu mai phía sau, hướng về đồn chính. Đây là lỗ châu mai ít khi địch dùng tới, trừ phi đồn chính ở giữa thình lình bị áp đảo. Tôi nã vào đồn có tới nửa thùng đạn. Ngay loạt đầu, tôi bắn sập chuồng cu. Địch trong đồn chạy túa ra như kiến vỡ tổ. Mấy lô-cốt còn lại lần lượt bị diệt nốt. Đồng bào ở ấp chiến lược nghe loa chúng tôi báo tin diệt đồn, bây giờ mới kéo ùa tới. Bà con chỉ cho chúng tôi bắt bọn ác ôn, đến dự cuộc tiếp nhận anh em thanh niên xung phong theo bộ đội. Tới gần sáng, khi bà con vẫn còn lo phá lô-cốt, cuốn hàng rào dây thép gai thì đại đội chúng tôi rời khỏi ấp.

Trời đã đâm mây ngang. Nghe gió và sóng biền réo dậy hù hù. Những cơn gió biển không ngớt lùa qua đội hình chúng tôi, thổi tới đám cháy thiêu đồn ở phía sau khiến lửa càng bừng cao ngọn. Trời sáng dần. Đã có thể nhận ra những dấu chân của chúng tôi in trên cát. Chợt phía trước có tiếng la:

- Tới biển rồi anh em ơi!

Tôi ngước nhìn tới trước. Trong buổi sáng rạng dần, tôi bàng hoàng và sửng sốt ngó thấy trước mặt mình ló dạng muôn ngàn con sóng nhấp nhô, nhào lượn. Ban đầu tôi còn thấy ít nhưng chẳng mấy chốc sóng lan rộng, mênh mông. Sóng biển nhảy nhót trên một vầng đỏ lòm trồi lên. Cái vầng đỏ đó tròn hệt một trái dưa hấu chín xẻ đôi. Bấy giờ tôi mới vỡ lẽ rằng đó là mặt trời. Tôi chưa từng ngó thấy một mặt trời nào cứ như đội sóng mà ngoi lên như vậy. Và toàn cảnh biển hiển hiện, xanh biếc, bao la không bến bờ làm cho tôi ngợp cả mắt. Ở gần biển là một rặng dương rì rào, ẩn hiện nhiều nóc ngói. Rất lâu sau, tôi vẫn còn ngơ ngác, nhưng nỗi nhọc mệt căng thẳng sau trận đánh cứ như được trút đi trước gió và sóng. Cảnh tượng biển hùng vĩ hiện ra trong buổi sáng đến như là một cảnh mơ đó gây cho anh em chúng tôi một ấn tượng mạnh mẽ. Sau khi đứng lại một lúc, chúng tôi đi tới mau hơn. Chúng tôi đi như chạy trên cát. Lưng áo anh nào cũng thấm ướt mồ hôi. Biển như vẫy gọi chúng tôi tới bằng những lượng sóng hồng lao xao, rối rít đằng trước. Với những đôi chân đi dép cao-su, với những bộ quân phục thô xám bê bết bùn đất chúng tôi theo anh Đấu, anh Dũng đi thẳng tới rặng dương.

Còn cách một quãng vài trăm thước, tôi thấy anh em các C bạn tới trước túa ra. Thế rồi tôi bỗng nghe có tiếng kèn thổi vang lên, đoạn mở đầu của bài "Giải phóng miền Nam".

- Trời đất, thằng Lắm thổi kèn đón mình đó anh.

Đúng là Lắm đang thổi kèn thiệt. Đàng xa kia trên bãi cát, Lắm đang dạng chân thổi cây kèn mà tôi đã lấy được hôm trước. Cây kèn sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Và cũng dưới ánh mặt trời của một ngày mới chói lọi trên bờ biển, bài "Giải phóng miền Nam" được trỗi lên hùng tráng. Kèn thổi nghe rất đúng điệu mới lạ. Mới đầu tôi chưa hẳn tin là Lắm thổi. Nhưng tôi đã ngó kỹ. Chính là Lắm đang thổi. Dứt bài, Lắm hoa cây kèn lên nữa mới hách chớ. Anh em chúng tôi chạy ùa tới khiêng Lắm, tung lên trời, hoan hô ầm ĩ. Lắm đứng giữa anh em, đỏ mặt, nói:

- Mấy anh nghe tôi thổi vậy có được không, nếu dở quá mấy anh nói thiệt, đừng để bụng tội nghiệp tôi ...

- Dở gì, thổi cỡ đó là hơn lính kèn Mỹ rồi.

- Tôi tập thổi suốt dọc đường mà!

- Vậy hả, vậy từ rày cho mày làm xếp kèn luôn. Tụi tao sẽ ráng kiếm thêm vài cây kèn nữa cho mầy lập đội lính kèn, chịu không?

Được anh em khen, Lắm vui vẻ hả�

- Để rồi tôi học thổi thêm một số bản nữa.

- Nhứt hạng là bản kèn xung phong.

- Phải rồi, yêu cầu gắt là bản đó nghe Lắm!

- Được mấy anh cứ tin tôi!

Lắm khoác kèn lên vai, chạy đến báo cáo với anh Đấu và anh Dũng:

- Tôi được lịnh mấy anh ra dắt C của anh Ba về chỗ ở D đã bố trí.

- Ở đâu có gần đây không?

- Ở ngay đây, ở vi-la đàng hoàng!

Lắm trỏ rặng dương, thấp thoáng nhô lên mái ngói của một ngôi biệt thự, nói thêm:

- Tiểu đoàn để dành cái vi-la này cho C anh, đẹp lắm. Nghe mấy ảnh nói vi-la này trước là của con Lệ Xuân ra nghỉ mát. Bây giờ đâu như dành tho tụi tướng tá ngụy ra chơi bời. Tụi em đã lục soát cái vi-la, không có thằng nào ở đó hết. Tra hỏi người ở, họ nói tháng nầy tụi nó chưa về.

Anh Sáu Dũng nói:

- Tôi có được biết về cái vi-la này rồi. Nhưng hiện nay có người ở đó à?

- Dạ có, có một người đàn bà chừng ba mươi tuổi, móng tay tô son đỏ chót. Ngoài ra còn có một cặp vợ chồng sồn sồn. Thằng cha chồng khai là quản gia, vợ khai là đầu bếp.

- Tình hình địch ở đây ra sao?

- Mấy bữa trước có tụi bảo an đóng, nhưng bị C.2 đánh chạy hết rồi. Rẻo biển nãy giờ coi như mình chiếm hết.

- Ban chỉ huy tiểu đoàn đóng ở đâu?

- Ở gần đây.

- Thôi được, bây giờ anh em vô đóng chớ gì?

- Cứ vô ở thôi, tụi em đã sục sạo cảnh giới hết trọi rồi!

Chúng tôi được lệnh kéo vào. Nghe được ở nhà tây ai cũng thích. Cho tới sáng hôm nay, anh em chúng tôi đều rất mệt. Tính ra đã chẵn mười đêm, đêm nào chúng tôi cũng chiến đấu. Hành quân và chiến đấu. Chiến đấu xong lại hành quân. Chúng tôi đi vào ngôi biệt thự trên bờ biển với bộ quân phục vải bồng bột nhuộm xám bê bết bùn đất. Có nhiều vạt áo cháy xém vết đạn. Có những ống quần bị rách toạc. Hầu như tất cả anh em chúng tôi đều bỡ ngỡ, lạ lẫm trước cái biệt thự nghỉ mát rất đỗi nguy nga ấy. Chúng tôi không phải đến đó như những khách chơi. Với ngôi biệt thự, chúng tôi đầy vẻ cách biệt, xa lạ. Náu mình dưới những cây dương liễu, ngôi biệt thự hai tầng màu hồng nhạt có giàn hoa leo rủ và những cửa sổ có vòm trông thì đẹp thiệt nhưng có vẻ đàng điếm và ẩn lậu, đúng là nơi dành cho bọn tướng tay sai tới ăn chơi.

Một người đàn bà từ trong nhà đi ra, đẹp đẽ, kiêu kỳ. Tôi đoán là người đàn bà mà Lắm nói ban nãy. Ả đến trước chúng tôi khẽ nhún mình gật đầu chào:

- Các ông đến ở đây?

Anh Dũng gật đầu:

- Phải, chúng tôi sẽ ở đây. Đây là nhà của thằng thiếu tướng Khang phải không? Chị là người gì của tướng Khang?

- Tôi ... tôi không ... là gì của tướng Khang hết!

Mắt người đàn bà vụt biến sắc. Nhưng ả cố lấy lại vẻ mặt bình thường, đưa tay đon đả mời mọc, lảng tránh câu hỏi trên của anh Dũng:

- Xin mời quý ông vào ở thôi, còn nhiều buồng rất rộng!

- Tôi đề nghị chị cho biết chị là người như thế nào của tướng Khang?

Anh Dũng lặp lại câu hỏi bằng một giọng hơi gay gắt.

- Tôi ấy à? Tôi ... tôi chỉ ở nhờ ở đây thôi!

- Chị trả lời không rõ ràng gì cả. Chúng tôi là giải phóng quân tới đây chiếm đóng cái nhà này, bởi vì đây là chỗ ăn chơi của tụi phản dân hại nước mà chúng tôi kiếm bắn tụi nó bấy lâu. May mà tụi nó không có ở đây. Còn chị là gì với tụi nó, chị phải khai thiệt. Bây giờ chúng tôi không có thì giờ, kỳ hạn cho chị nửa tiếng đồng hồ phải đến gặp chúng tôi trình báo rõ ràng về điều tôi vừa hỏi!

Anh Dũng khoát tay:

- Anh em mình vô đi. Từng B cứ lựa chỗ nào rộng rãi mát mẻ mà ở!

Người đàn bà vội vàng chuồn lên thang lầu, nhưng anh Dũng gọi giật lại:

- Nè chị kia, ở đây có chỗ tắm rửa nấu nướng chớ?

- Thưa ông có đủ ạ!

- Dẫn chúng tôi đi coi!

- Dạ vâng ạ.

Trong khi ả nọ ngoe ngoảy đi ra lối cửa hậu, anh Dũng day lại bảo tôi:

- Em với anh đi kiếm chỗ tắm rửa, kiếm coi trong nhà nó có gì ăn không, anh nghi trong nhà này thế nào cũng có đồ ăn. Cái con mẹ này anh coi bộ vó nó rồi, hoặc là vợ bé hoặc là một con điếm lưu niên mà thằng Khang nuôi để chơi bời dâm ô thôi!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #58 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2011, 11:03:43 pm »

                                 tiếp :

- Thì chắc mẻm là như vậy rồi!

- Cái con này nó thấy lính mình toàn là dân ruộng nên nó tính xí gạt, nhưng đâu có gạt nổi.

Anh Dũng và tôi đi theo ả nọ. Đầu tiên ả dắt chúng tôi ra bể tắm sau nhà. Thấy bể nước cũng lớn nhưng không thể tắm cả trăm người, anh Dũng hỏi:

- Nước này lấy ở đâu, không có máy nước à?

- Dạ có, nhưng nước đã bị cắt từ hôm có quý ông về đây, ở đây có giếng.

- Ở trên lầu có buồng tắm không?

- Dạ có ạ!

- Được rồi dắt tôi đi coi nhà bếp, đi coi kho. Chị nên nhớ là không được dấu diếm. Chúng tôi cần có gạo và thức ăn, nhưng sẽ không để cho chị đói đâu!

- Dạ vâng, thật ra em biết các anh bao giờ cũng nhân đạo, các anh đi đánh Mỹ cứu nước, phận sự của chúng em là phải ủng hộ giúp đỡ các anh đấy chứ ạ!

Tôi thầm nghĩ: "Con này gớm ghê thật. Chưa chi nó đã trổ nghề của nó ra rồi. Mới đó mà đã xưng anh anh em em với anh Dũng rồi!".

Khi ả đưa anh Dũng và tôi xuống nhà bếp thì cặp vợ chồng người quản lý từ trong cóm róm cúi chào chúng tôi như vái. Người chồng cao lêu đêu, người vợ béo mập núc ních. Hai vợ chồng là hai hình thù đối lập hẳn nhau. Anh Dũng và tôi cố nén để khỏi bật cười. Ả đàn bà diêm dúa truyền lệnh cho người quản lý:

- Chú Hai dắt ông đây đi coi kho nhé, đưa ông đến cái kho ở sau nhà ấy!

Người quản lý cúi nhẹ mình "dà" một tiếng có vẻ khép nép. Chúng tôi nhận thấy ngay cái quan hệ chủ và tớ của ả nọ và người quản lý mà ả gọi là chú Hai đó.

Anh Dũng bảo ả:

- Thôi được rồi, chị về nghỉ, để ông này dắt tôi đi coi cũng được!

- Cảm ơn ông! Ả nói nhỏ nhẻ.

Tôi lấy làm lạ, không biết ả cảm ơn anh Dũng cái gì. Con mẹ khó chịu thiệt. Hết gọi anh lại gọi ông. Có mặt kẻ ăn người ở thì gọi ông. Tôi đoán con mẹ phòng ngừa hậu họa, lúc tên tướng trở lại. Chúng tôi đi theo người quản lý bấy giờ đã rủng rẻng cầm trong tay một chùm chìa khóa. Trông bộ mặt người quản lý đứng tuổi, tôi thấy ông ta có vẻ hiền lành chớ không gian giảo. Hình như từ lúc gặp chúng tôi, ông ta vừa sợ hãi vừa vui mừng. Nỗi vui mừng của ông ta càng lộ ra rõ hơn khi ả đàn bà nọ đã đi khỏi. Hấp háy đôi con mắt thân thiện nhìn anh Dũng, ông ta giục:

- Đi anh!

- Ông thứ hai?

- Dà.

- Ông vô làm trong nhà này chắc đã lâ

Người quản lý vui vẻ đáp:

- Dạ cũng mới vài ba năm nay. Vợ tôi thì ở đây lâu hơn, vợ tôi nấu ăn ở đây, xin cho tôi vô làm chân thủ kho. Chúng tôi mới nên vợ chồng cũng từ ba năm nay. Chẳng dấu gì mấy anh, tụi tôi đôi bên đều lỡ làng, bây giờ chắp nối lại chớ không phải ăn ở với nhau từ thuở còn xuân ...

- Cái đó đâu có hề chi, ăn thua là hợp tánh ý nhau. - Anh Dũng nói.

- Vợ chồng tôi thương nhau lắm, ngặt một nỗi hợp nhau về tánh ý mà không hợp nhau về hình dong. Anh coi tôi thì ốm nhách còn vợ tôi thì mập lù!

Anh Dũng bật cười, nhưng anh vẫn nói:

- Cái đó cũng không có sao.

- Dà phải, tôi thì cũng thấy không sao chớ thiên hạ thấy nó hơi cắc cớ.

Anh Dũng lại cười. Thấy người đàn ông giữ kho có vẻ cởi mở, anh hỏi:

- Hôm nay chúng tôi tới đây, ông có ngán ngại gì chúng tôi không?

Người giữ kho chợt im. Đi thêm mấy bước ông ta đưa mắt liếc quanh, hạ thấp giọng:

- Mấy anh đã hỏi thì tôi xin thưa thiệt, dạ thiệt tình là tôi có ngán ...

- Ngán chúng tôi?

- Dà, vợ chồng tôi cầm chắc là mình làm ở trong cái nhà này thì thế nào cũng mắc tội lây. Thiệt ra tụi tôi chỉ coi kho, nấu bếp hầu hạ cho ông Khang, chớ ....

- Cứ kêu nó bằng thằng, nó là thằng ác ôn chớ ông iếc gì!

- Dà dà ... tại tôi quen miệng ... Dà, dĩ nhiên làm cho nó không ít thì nhiều, vợ chồng tôi cũng có tội với mấy anh ...

Anh Dũng mỉm cười, ngó thẳng người giữ kho:

- Vậy ông tự nhận tội vợ chồng ông coi đáng xử cỡ nào thì vừa?

Giữa lúc người giữ kho lúng túng chưa trả lời, anh Dũng cười hà hà:

- Nè, tôi hỏi thiệt ông nói tôi nghe, bộ xưa rày ở đây tụi nó nói bộ đội giải phóng tụi tôi ác ôn lắm phải không?

Người giữ kho nín thinh. Lát sau, lúc đã đi đến bậc cửa nhà kho, ông ta tra chìa khóa vào ổ khóa, nhưng chưa mở cửa, đứng ngần ngừ một chốc và nói:

- Dạ họ có nói vậy, nói Việt cộng thế này thế nọ. Nhưng tôi không mấy tin, bởi tôi có bà con trong đồng, họ lại nói khác ... Họ nói không hề có cái vụ Việt cộng chặt đầu mổ bụng ...

- Ở đây tụi nó bảo Việt cộng tới đâu là chặt đầu mổ bụng đồng bào tới đó à?

- Dà.

- Vậy từ hôm anh em chúng tôi tới đây, ông đã ngó thấy chúng tôi mổ bụng ai chưa?

- Dạ chưa, mấy anh có bắt được gần một chục người lính bảo an mà không thấy làm gì họ.

Anh Dũng nghiêm trang bảo:

- Nè ông Hai, như vậy ông đủ thấy rồi đó. Chúng tôi còn ở đây, rồi ông cứ để ý thấy thêm. Ngay cả tụi ác ôn, chúng tôi cũng không thèm mổ bụng. Cần diệt thằng nào, chúng tôi bắn ngay vô đâu thằng đó. Mổ bụng người mới là nghề của tụi nó. Ông Hai bảo là có bà con miệt đồng, vậy họ không có nói cho ông nghe tụi nó mổ bụng moi gan người đem xào ăn sao?
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #59 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2011, 11:07:40 pm »

                                 tiếp :

- Dạ tôi cũng có nghe!

- Ông nghe mà ông có tin không?

- Dạ ban đầu tôi chưa tin, về sau thì tôi phải tin, bởi tôi ngó thấy tận mắt ...

- Thấy tụi nó mổ bụng người?

- Dạ không, nhưng tôi thấy tụi lính mỗi lần đi ruồng miệt trỏng, có đem mật người về bán. Một cái mật giá một ngàn tám, có khi lên tới hai ngàn, hai ngàn rưỡi. Để đua tin đó là mật người thiệt, tụi lính có đưa kèm theo một cái lỗ tai người phơi khô. Tôi ngó thấy ở ngoài quán Nước Ngọt bữa nọ có một thằng lính vô kêu ly rượu, sau đó móc trong túi áo ra một cái mật khô, dùng lưỡi lê khứa cái mật bỏ vô ly rượu lắc lắc mà uống ...

- Ông ngó thấy vậy thì thôi tôi khỏi nói nữa!

Nhưng người giữ kho chợt ngước nhìn anh Dũng và tôi:

- Tôi nói sợ mấy anh không tin, vợ chồng tôi không làm gì khác ngoài sự coi giữ, nấu ăn cho nhà nầy, vợ chồng tôi kiếm miếng sống ...

- Tôi biết!

Anh Dũng vỗ vai ông ta ôn tồn:

- Trước khi tới ở đây chúng tôi đều biết. Lẽ ra vợ chồng chú Hai cũng đừng nên làm trong cái nhà này. Nhưng nếu ngoài công việc giữ đồ và nấu ăn, vợ chồng chú không còn làm thêm việc gì hại tới bà con thì chú cứ yên tâm. Có điều chúng tôi cần hỏi cho rõ cái chị hồi nãy là gì của thằng thiếu tướng Khang, có phải là vợ của nó không?

- Dạ, bả là ... là vợ không ... không chánh thức. Ổng có vợ lớn ở Sài-gòn, còn ở đây thì lâu lâu ổng đưa một người đàn bà về ở vậy đó. Ổng chơi bời kiểu tướng mà!

- Thôi được, bây giờ chú mở kho cho tôi coi. Chú cứ mở hết thảy các kho đồ ăn thức uống ra. Anh em chúng tôi hổm rày chiến đấu cực khổ, giờ về đóng đây cần nghỉ ngơi ăn uống lấy sức. Vợ chồng chú cần hết sức giúp đỡ chúng tôi. Chú với thím lo nấu miếng ngon miếng bổ cho thằng Khang là chỉ để cho nó chơi bời trác táng rồi bắn giết dân, còn chú thím lo cho anh em chúng tôi tức là lo cho cách mạng. Trước chú thím nấu nướng ngon một, giờ cần nấu sao ngon gấp mười!

- Dạ, vợ chồng tôi xin hết lòng. Tôi chỉ sợ mấy anh rút đi rồi, con mẹ đó nó mét lại thì tụi tôi chết ...

- Chú khỏi sợ. Tôi đã nói cho chị ta biết là chúng tôi đã tịch thu toàn bộ gia sản nhà này rồi!

Chú Hai mở toang cửa kho. Tôi ngó thấy hai gian nhà gạch ăn liền nhau, chất đầy những thùng sắt, thùng thông. Chú Hai dắt chỉ cho chúng tôi biết từng thứ. Cái kho thiệt giàu, có nhiều thứ tôi không hề biết. Mì sợi, mì ống chất đầy trong các thùng. Có ủ loại đồ hộp, với những cái tên rất lạ, anh Dũng may ra thì biết, chớ đối với tôi thì lạ hoắc. Ví dụ như gan gà, gan ngỗng vô hộp. Cá thu, cua, tôm cũng vô hộp. Rồi tới nấm, măng. Thịt đùi heo sấy khói treo lủng lẳng, bọc giấy kiếng. Vô số la-ve hộp, thuốc lá thơm các loại chứa trong các tủ đứng cao nghệu. Mà thứ nào, loại nào cũng nhiều. Tôi nghĩ bụng: "Mẹ nó, quân ác ôn tay sai cho Huê-kỳ nầy thằng nào cũng lo hết mình cho cái bao tử!". Tôi nhắc anh Dũng rằng phải lấy xài cho hết. Anh Dũng cười bảo tôi đừng lo, anh còn nghĩ tớị việc sẽ lấy đồ hộp làm lương khô cho anh em đem theo nữa. Nói tóm là tôi và anh Dũng đều nhứt trí thứ nào ăn không hết thì đem đi.

Sau khi đã dắt chúng tôi coi hết kho, chú Hai nói:

- Đồ ăn thiếu gì, mặn ngọt có đủ, ngặt là toàn đồ nguội. Mấy anh cứ việc lấy dùng hết đi, có phải của ông của cha gì tôi đâu mà tôi giữ. - Được rồi, ngoài cái kho này còn có kho nào nữa không, có gạo không?

- Có gạo và có một cái hầm rượu, mấy anh muốn đi coi không?

- Rượu gì?

- Nhiều thứ: wít-ky, cô nhát, sâm banh, rượu chát ...

- Thôi, cứ để đó. Bây giờ chú Hai về, nhờ vợ chồng chú phụ lo cơm nước cho anh em. Chắc chú cũng biết, anh em đánh đồn còn cháy đó, rồi tới đây liền có cơm nước gì đâu!

Cầm xâu chìa khóa trao cho anh Dũng, chú Hai nói:

- Dạ phần nầy xin mấy anh cứ để vợ chồng tôi lo, mấy anh cứ tin tôi. Chỉ ngại con mẹ đó ...

Nhìn anh Dũng cầm xâu chìa khóa, tôi có ý nghĩ muốn đề nghị anh Dũng bắt con nhân tình thằng tướng Khang kia đem nhốt lại. Để con mẻ khỏi dòm ngó vợ chồng chú Hai, đồng thời để chúng tôi khỏi thấy ả đủng đỉnh tới lui thêm nhức mắt.

Ngày nghỉ quân trong ngôi biệt thự là một ngày rất vui vẻ. Chúng tôi ăn mấy bữa cơm ngon lành với những thức ăn rất đặc biệt. Vợ chồng người quản lý đã tỏ ra cố gắng. Với sự tiếp sức của các anh nuôi, cặp vợ chồng ấy đã dọn cho chúng tôi những bữa ăn gồm có cá tôm của bà con xóm lưới gánh lại cho, cộng vào đấv là các thức ăn lấy trong kho ra, có cả la-ve và rượu chát. Gần hai mươi chiếc khăn trải bàn trắng có viền thêu được đem ra trải lên bàn ăn. Anh Đấu tuyên bố

- Đại đội mình trong thời gian mười ngày qua đã đánh dẹp được nhiều đồn, giải phóng nhiều ấp chiến lược đưa đồng bào vùng lên phá thế kềm kẹp của địch. Hôm nay chúng ta được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Nếu như cái nhà này của người lương thiện thì tức nhiên mình sẽ không rớ tới một hột gạo. Nhưng đây là nhà của tụi ác ôn, nên mình tịch thu và hoàn toàn xử dụng!

Anh Dũng nói:

- Anh em mình cần chú ý, trong cái nhà nầy hiện nay ngoài chúng ta ra còn có ba người: vợ chồng người quản lý và con nhân tình của thằng Khang. Vợ chồng người quản lý tuy làm trong nhà này nhưng không phải là người xấu. Chỉ có con mụ nhân tình của thằng Khang, con nầy rõ ràng là không ổn.

Tôi dơ tay có ý kiến đề nghi Ban chỉ huy cho nhốt tạm mụ ấy lại. Anh Đấu bảo:

- Cũng có thể tạm giam mụ ta lại, nhưng bây giờ cứ để theo dõi coi.

Lần đầu tiên trong đời, chúng tôi được ăn uống trên bàn trải khăn trắng tinh. Rồi sau đó chúng tôi gặp nhiều sự lạ khác. Buồn cười nhứt là lúc anh em đi tắm. Bước vô buồng tắm, chúng tôi không biết vặn chỗ nào cho ra nước.

Thế là phải gọi anh Dũng tới. Anh Dũng vặn mấy cái nút nơi tường, tức thì nước từ trong các cái giống như gương sen phun tưới như trận mưa rào. Tôi nháy Khởi nhẩy tới đè Cần xuống. Khởi vừa xông tới vừa la:

- Mấy anh ơi, thằng Cần dám là đàn bà con gái lắm, phải xét nó coi!

- Ừ, lóng này nghe đồn con gái giả trai đi bộ đội bộn, cứ kiểm tra thử?

Cần không chịu cho cởi, túm quần chòi đạp, kêu oai oái. Chúng tôi vẫn không tha. Chúng tôi cười la ầm ĩ trong buồng tắm. Cần đỏ mặt kêu:

- Thấy tui hiền, mấy anh phá tui hoài!

Thiệt là một ngày vui. Ngôi biệt thự của tên tướng ngụy đã đem lại cho chúng tôi những giờ phút giải trí, bù lại chút ít những ngày ở rừng, ở ruộng. Cho tới hôm nay, khi tôi soi mình trước một tấm gương lớn, tôi mới thấy rõ người tôi. Tôi thấy người tôi đen đúa xạm nắng dữ quá, chân thì cều, tóc tai xửng lên trông rất buồn cười. Mà chẳng riêng gì tôi, anh em chúng tôi đứa nào cũng vậy cả, ngó còn đặc mùi bùn ruộng. Bây giờ tôi mới hiểu hết cái vẻ khinh khỉnh, cái ngó liếc nửa mắt của con mụ móng tay chuốt son đỏ choét kia. Ở trong buồng tắm ra, tôi lại bắt gặp mụ với bước đi cong cớn và vẫn liếc nhìn chúng tôi một cách khó chịu. Tôi ghét quá lập tức đi kiếm anh Đấu lúc ấy đang ngồi cho chú Chín Thắng cắt tóc.

- Anh Ba à, nhốt con mụ đó lại thôi, để nó đi rễu rễu dòm ngó anh em mình hoài coi chướng con mắt quá anh!

- Nó đi đâu? - Anh Đấu hỏi.

- Thì đi vòng vo trong nhà thôi, nhưng để ý anh em mình lắm!

- Ừ, nhốt thì nhốt, đợi tao hớt tóc xong đã!

Mãi đến khi anh Đấu cho giam tạm con mụ đó lại trong một buồng trên lầu, tôi mới đỡ bực. Nhưng nỗi bực bội về mụ ta vừa mới lắng xuống thì cơn giận khác lại đến. Đó là vào lúc tôi cùng Khởi và Cần lên lầu kiếm chỗ trí khẩu đại liên. Mới bước vô một cái phòng tôi chợt ngó thấy trên tường phòng trưng bầy nhiều bức tranh coi rất kỳ cục. Toàn là tranh vẽ đàn bà con gái ở truồng, đứa đứng ưỡn ẹo, đứa nằm thuồn thuỗn. Mới ngó qua tôi đã thấy nóng mắt, liền đi kiếm một thanh cây nhảy tới đập tưới, rồi lôi hình xuống xé. Khởi và Càn cũng ráp lại xé hết mấy tấm còn lại. Tôi nói:

- Cái thằng nầy đi bắn giết đồng bào đã rồi về đây bày trò dâm ô bậy bạ. May phước cho nó là nó không có ở đây, chớ nó có ở đây thì tao thộp cổ đem trấn xuống biển liền!

Tôi trí khẩu đại liên ngay trên bệ cửa sổ của gian phòng ấy. Từ khung cửa sổ này, tầm hỏa lực đại liên có thể trấn áp bọn địch nếu chúng từ mạn Nưóc Ngọt kéo lên. Trong lúc dùng một thói quen sẵn có là cầm cổ họng cây đại liên rà rà ước lượng cự ly cao thấp, tôi ngó thấy dưới họng súng của tôi là bãi cát trắng phau mà sóng biển cứ la liếm mãi dường như còn chưa đã thèm. Biển bây giờ trở nên dịu dàng hơn, như giỡn cợt âu yếm cùng bờ bãi. Tôi cố đưa mắt kiếm tìm coi có bầy cá nược nào nhào hụp trên sóng không (những bầy cá nược mà hồi còn sống ba tôi đã kể cho tôi nghe). Nhưng tôi chẳng ngó thấy con cá nược nào cả. Trước cảnh biển đó tôi lại thấy hiện ra cảnh ba tôi mặc bộ quần áo lên phèn mốc cời, đầu buộc khăn xước, đang cùng bạn chài vần ghe bầu để ra khơi. Ấy là hình ảnh ngày xưa của người cha cố nông không còn có tấc đất cặm dùi nên phải mò ra biển cả, để rồi không đầy một tháng sau lại phải quay về nơi miệt đồng bưng, và bảo với chúng tôi rằng biển cả thiệt là dữ dằn hung hổ. Hôm nay, trước mắt tôi, là đứa con đã lớn lên, biển cả tuy lớn lao mênh mông, nhưng tôi không thấy sợ mà chỉ thấy náo nức. Quả là từ khi đặt chân tới đây, tôi ngó biển mà nức lòng trước vẻ hùng vĩ của biển, sự bao la như vô cùng vô tận của biển, bởi tôi được anh Đấu anh Dũng cho biết là biển có tuổi thọ không thua gì đất. Từ đó, tôi bỗng dưng thấy biển nó cũng cao niên và mạnh mẽ giống tợ ông Xà một trăm lẻ ba tuổi ở Chùm-đuông mà tôi hằng thán phục.

Giữa lúc sóng biển xanh gọi tôi nhớ lại ba tôi, gợi tới ông Xà thì tôi bỗng chợt thấy xa xa dưới bãi cát trắng phau có một tốp người đi về phía ngôi biệt thự chúng tôi. Ban đầu tôi ngỡ là những bà con xóm dưới. Nhưng lát sau, tôi nhận ra đó là tiểu đội nữ thanh niên xung phong. Cũng còn hơi xa, nhưng tôi trông người đi đầu giống như Biếc. Đúng là Biếc thiệt rồi. Đi trong cơn gió chiều, Biếc đi trên cát mà như thể đi trên biển xanh. Chiếc khăn rằn quàng nơi cổ Biếc bay phần phật trên nền trời lúc này cũng xanh không vướng một sợi mây nào.(Hết chương 24 )

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM