selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #100 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 09:38:24 pm » |
|
Triều đại quân chủ nào, Tự nghĩ thầm, xưa nay cũng chỉ tồn tại được hai, ba trăm năm. Thăng Long thì cằn cỗi, sinh khí không còn, chỉ độc mưu mô mua danh chuộc lợi lòng vòng trong đám quan chức. Phú Xuân lại buông tuồng, xa hoa, cũng theo vết xe đổ mà đi. Trong khi đó, hàng dân xiêu tán, nghề nông không còn khả năng nuôi miệng, chỉ còn đường Nam tiến. Nhưng đất đai từ Bố Chính đến Phú Yên chẳng được mầu mỡ, dân số lại tăng lên vùn vụt, nông nghiệp thế nào rồi cũng chỉ đến mức tự cung tự cấp, tay làm hàm nhai là hết. Làm dân, rốt cuộc là không có gì. Vậy thì làm giặc là có hy vọng, hễ được thì nên vua, mà lỡ thua thì nào có gì để mất ! Thiên hạ muốn thái bình ? Thái bình sẽ chỉ có được khi hàng dân còn cái gì để mất khi bỏ đi làm giặc. Nghĩa là họ phải giàu có lên. Chỉ nghèo đói mới thành giặc dã. Muốn giàu lên, phải làm sao ? Ði tìm đất mới để làm nghề nông. Cuộc Nam tiến là sự kiện hiển nhiên, gần như là việc buộc phải làm vì lẽ tồn sinh. Nhưng không chỉ có vậy. Tự hắng giọng :
- Miền Nam đất còn rộng, người lại thưa. Ði về đó, tựa như nước xuôi xuống dưới hạ nguồn. Nhưng ta không thể chỉ dựa vào nghề nông. Ở đó, sẵn có số người Minh Hương, một ít giáo sĩ Tây dương, và thuyền bè Anh, Bồ, Hà Lan đã lui tới. Như vậy, điều kiện mở rộng thương nghiệp tương đối thuận lợi. Nền thương nghiệp đó tương trợ, thúc đẩy nền công nghiệp theo thế ỷ giốc, làm đòn bẩy đẩy cả nước tiến theo ... Huệ nhìn lên thành Phú Xuân, triền miên trong niềm suy tư, tay mân mê đốc kiếm. Trên đỉnh thành, cờ đỏ Tây Sơn đã phất phới bay. Chợt Trần Danh Kỷ cùng hai tên quân tới. Danh Kỷ vừa cười vừa nói :
- Rước Thượng công vào thành.
Huệ khẽ gật đầu, quay sang, nói vào tai Tự :
- Thầy nhìn đúng, nhưng phải cho ta thêm dăm ba năm. Dựng nước khác, dĩ nhiên. Nhưng cũng giống đánh bạc, đi buôn, ở chỗ cần có vốn. Ta hiện nay vẫn còn trắng tay nên phải đợi ...
Dẫn đầu đám cận vệ, Huệ phóng ngựa, chân thúc vào hông không thương xót, miệng mím chặt. Khi cả đoàn vào đến cửa thành, lính Tây Sơn vừa reo vừa đánh cồng, tiếng vang vọng đến tận ngả Ba Sình. Bước lên thềm vào chính điện, Huệ theo Kỷ đi thẳng đến chiếc ghế bành, mắt đảo một vòng, rồi ngồi xuống. Quay sang nhìn Kỷ, Huệ nói:
- Này, ông theo phò ta bao lâu rồi nhỉ ?
- Trình Thượng công, xấp xỉ năm năm…
- Vào đến đây rồi, ông đâu cần che dấu ai nữa. Từ nay ta phong ông là Trung Thư, lệnh ta ông truyền xuống, đừng phụ lòng ta !
Như không nhìn thấy Phạm Ngô Cầu đứng ủ rũ bên cạnh hai du binh, Huệ cất lời khen thưởng quan quân Tây Sơn, tiếng oang oang như trống trận. Vẫy tay cho điệu Cầu đến trước mặt, Huệ hỏi :
- Quân Bắc Hà từ Phú Xuân đến Bố Chính có bao nhiêu ?
- Hai vạn.
- Sai ! Còn một vạn mốt. Quân của Tiết Chế Nguyễn Lữ đã lấy Bố Chính cách đây ba ngày, có năm nghìn đã xung vào đội ngũ Tây Sơn rồi.
Huệ đứng dậy, đến bên Cầu, mắt nhìn tròng trọc :
- Bây giờ ta có để ngài đi, ngài cũng chẳng thể tụ quân chống ta được. Cho ngài về Bắc, chắc cái tội để mất Thuận Hóa khiến Chúa Trịnh chém đầu ngài. Phải chi ngài theo ta, vẫn giữ được quan tước, lại tránh cho máu đổ trên đường quân ta đi ...
Ngước mắt lên nhìn Huệ, Cầu cắn môi, khe khẽ lắc đầu, nước mắt nhỏ ròng ròng, chảy xuống đọng trên chòm râu bạc cứ tức tưởi rung lên. Nhìn theo Cầu cúi đầu uể oải bước đi, Huệ lắc đầu chép miệng. Kỷ đã làm sẵn, mở ra đọc chiếu « Chiêu An » gửi đến dân quân Thuận Hóa, kêu gọi lính Trịnh bỏ giáo qui hàng, kẻ nào muốn về quê quán thì cấp lương cho về. Nhìn tả hữu, Huệ hỏi :
- Quan Hữu quân, ông thấy tờ chiếu viết thế được chưa ?
Chỉnh ngẫm nghĩ :
- Trong chiếu chỉ nói đến diệt Trịnh, chưa đả động đến phù Lê !
- Ta lấy Thuận Hóa là đất Nam Hà từ trăm năm nay, có dính gì đến bờ cõi của nhà Lê mà phải phù ? Còn quan Tả quân nghĩ thế nào ?
Kẻ đứng bên trái là Vũ văn Nhậm, người cao lớn, râu mép lưa thưa, bước lên một bước rồi vòng tay thưa :
- Nhậm này thấy rằng có thêm chữ phù Lê cũng hay !
Huệ bật cười sang sảng, vỗ tay :
- Ta đang muốn ngao du một chuyến, thế là cũng đúng ý hai ông. Phiền nỗi là mệnh của « Vua anh » lại không cho phép !
Chỉnh nhỏ nhẹ :
- Cổ nhân có nói « Tướng ngoài, mệnh Vua có khi không cần theo ». Ra Bắc hà, Thượng công dựng công nghiệp không mấy đời có. Ấy là công lớn, nằm trong tay mà bỏ lỡ, sau đây anh hùng trong thiên hạ nghĩ thế nào ?
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #101 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 09:39:07 pm » |
|
- Vậy thì ta thêm vào hai tiếng phù Lê, «Vua anh » có bắt tội, các ông phải chịu chung với ta nhé ! Ha, ha ... Phiền Hữu quân sửa soạn, ta trù hai ngày nữa Hữu quân đem đội Tuyển Phong vượt vào cửa Ðại An, đánh lấy kho lương Vị Hoàng. Qua Thanh - Nghệ, Hữu quân tung du binh, gây thanh thế, kìm chân quân Bắc không cho điều động.
Tối hôm ấy, sau khi hội ý với Nhậm và Chỉnh, Huệ một mình bước ra mặt thành Phú Xuân. Trăng treo trên trời, tròn vành vạch như chiếc đèn lồng, hắt xuống mặt đất bóng những rặng cây vừa chứng kiến thêm một chiến tích trên mảnh đất tôi bằng máu lửa này. Hít làn gió đêm mát rười rượi, Huệ gật gù cười nhìn về phương Bắc, chặc lưỡi :
- Nước đục lắm rồi. Ai thò tay xuống trước, kẻ đó có nhiều may mắn vớ được con cá độc nhất sống trong bùn. Có lấm tay, chờ nước trong rồi lại rửa, có sao đâu !
Gọi Toàn Nhật đến, Huệ dặn :
- Võ tướng quân mang đội Tiền Kích, giả làm thường dân, đột nhập Thăng Long nằm yên đó chờ đại quân. Cần thì lại lập lại cái mẹo vừa làm ở Phú Xuân, nhưng để ý trấn giữ thế nào dẹp ngay được đám Kiêu binh ... Xưa, tướng quân đã chỉ huy chúng, nay đánh thắng chắc là chuyện dễ dàng !
Nhật vái Huệ kiếu từ, nhưng đến cửa bị gọi giật lại. Vừa cười diễu cợt, vừa thân mật, Huệ nắm vai Nhật :
- Này, anh chàng rậm râu. Mẹ ta bảo rằng Ðăng Vân đến tuổi phải gả chồng. Lẽ ra, nhà trai phải đến hỏi. Nhưng thôi, ta sẽ ghé thăm La Sơn Phu tử, ớm tiếng xem ... Ðược không ?
Nhật đỏ mặt, lắc đầu :
- Tại sao ?
- Thượng công hiểu cho - Nhật ngập ngừng - Ngày nào tôi chưa tìm ra Trọng Thức, tôi không nghĩ đến chuyện tư riêng. Vả lại ...
- Vả lại làm sao ?
- ...
- À, ta hiểu rồi. Nguyễn Thiếp vẫn coi Tây Sơn là mấy tay ấp trưởng như giặc cỏ phải không ? Ðược, được ...
Nhật bước ra, mũi chợt thoáng một mùi hương quen thuộc. Nấp sau tấm trướng, Ðăng Vân thở dài, nước mắt bỗng ứa ra ướt má. Vừa lúc đó, cánh chim ăn đêm ở đâu đập trong gió khua xào xạc, đánh thức nỗi cô đơn của kẻ mới chớm yêu nhưng chưa biết thế là rồi phải chờ, phải đợi ...
Ðứng trên lũy Thầy, bóng Huệ đổ dài, phình ra như bóng một người khổng lồ, chân đạp lên mặt đất nứt nẻ. Từ Bố Chính trở ra, năm nay lại hạn hán, dân đói đã hàng đoàn từ Nghệ An chạy vào, mắt trắng dã, thất thểu dìu nhau đi như những kẻ không hồn. Chẳng cần bắt, đám đàn ông xin xung quân, ít ra là cũng có ngày hai bữa. Ðàn bà trẻ con mất chồng, mất bố đứng nhìn, kiệt lực, khóc không thành tiếng, nước mắt ròng ròng. Tự thưa :
- Thượng công, chiếm Vị Hoàng ta sẽ đủ quân lương. Giờ chia cho dân một ít.
Hướng về phương Bắc, Huệ lạnh lùng lắc đầu, mồm lẩm bẩm : « Nhỡ quân không đủ lương thì đánh chác thế nào. Thừa hơn thiếu, có hơn không ». Nhìn khuôn mặt Huệ gồ lên, cằm bạnh ra như cằm hổ mang, mắt rừng rực lửa có mầu đỏ của máu, Tự biết có nói thêm cũng vô ích. Con người đã dầy dạn chiến trận đứng cạnh căng bật như cánh cung để phóng đến mục tiêu của mình theo đường thẳng của mũi tên bay đi, không mủi lòng quan tâm đến bất cứ gì khác sự chiến thắng. Ðánh cho chắc, thắng cho nhanh, ai chia lương cho kẻ đói để phải chấp nhận may rủi ? Bỗng nhiên, Tự xót xa và thấy mình như lạc lõng.
Từ hai hôm nay, Huệ trừng trừng nhìn ra ven biển, miệng thỉnh thoảng lại lẩm bẩm : « Lửa đâu, cháy lên ! ». Hữu quân Chỉnh có lệnh đốt lửa làm hiệu, đã cắm những chòi cao chạy dọc vào đến Bố Chính. Quay nhìn Lữ, Huệ thủng thẳng :
- Chú về giữ Phú Xuân. Ta để Huy Tự theo, hai người bàn định việc phía Nam. Ở đó, an dân là chính. Nay Chủng ở Xiêm, thế cùng lực kiệt rồi ...
Nhìn vào mắt Tự, Huệ tiếp :
- Vào Nam làm kế lâu dài là ý thầy. Còn ra Bắc, việc đầu là ta thu kho tàng Phủ Liêu làm vốn lớn. Sau, ta sẽ tạo ra cái thế dẫu có vào Ðàng Trong, lúc nào ta cũng có chính danh để trở ra Ðàng Ngoài.
Hôm sau, Huệ không đợi lửa hiệu, ra lệnh phát quân, theo đường thủy đi vào. Ði được nửa ngày, quân Tây Sơn hò reo khi nhìn thấy lửa cháy trên những chòi dọc ven biển. Quân chủ lực đến Vị Hoàng sáu ngày thì gộp lại đông đủ. Trận cửa Luộc, Huệ đánh tan quân thủy của Ðinh Tích Nhưỡng và quân bộ của Ðỗ Thế Dân. Tiến vào phòng tuyến thứ hai, Huệ chỉ huy trung quân, bất ngờ tập kích vào đội lính Trịnh đóng tại bến Thúy Ái. Không đuổi theo đám quân dưới tay Trịnh tự Quyền đã tan rã, Huệ sai Nhậm và Chỉnh tập trung chủ lực thọc mạnh vào Thăng Long.
Ðoan Nam Vương Trịnh Tông tức giận cách chức Tể Tướng Bùi Huy Bích, bắt phải ra trận đốc chiến. Nhìn một ông nghè đầu bạc run rẩy lên đường, lòng người lại nôn nao. Tông muốn ra khỏi thành lánh giặc, nhưng bồi tụng Trần Công Sán cản lại, và khuyên Tông kéo Quận Thạc Hoàng Phùng Cơ từ Sơn Tây về. Là hổ tướng, Cơ liền lấy trước năm nghìn lạng bạc để chiêu quân, gọi được hơn nghìn thủ hạ ra đóng ở hồ Vạn Xuân. Tây Sơn đổ quân đến bến Nam Dư. Cơ biết, nhưng cho phép quân nghỉ ăn cơm trưa. Thình lình hai đạo Tây Sơn từ tả hữu ập vào đánh. Cơ có tám người con đi theo, chết mất sáu, nhảy xuống chân voi cướp đường tháo chạy. Mật lệnh đưa vào, lập tức Toàn Nhật và đội du binh Tiền Kích chiếm phủ chúa Trịnh. Từ bến Tây Long, Huệ chính mình điều quân đánh vào lầu Ngũ Long, bản dinh của Trịnh Tông. Nhìn quân mình tan tóc, Tông khóc, đổi y phục, đóng khăn hình chữ đinh, kéo voi lùi ra ô Yên Phụ chạy trốn. Bước vào phủ Chúa, Huệ đi đến chiếc ngai thẳng chân đạp đổ, rồi gọi tả hữu, giọng sang sảng truyền :
- Ta ra đây là dẹp loạn nhà Trịnh. Nay mai ta vào vấn an Ðức Thượng Hoàng, dâng biểu phù chính. Từ phút này, quân binh phải nghiêm ngặt với bọn cướp bóc, phản tặc. Nhưng đối với hàng dân, cấm không được xâm phạm đến tài vật, của cải. Cái ăn, cái ở ta đã lo hết, ngay một hạt cơm của dân ta cũng cấm nuốt. Trái lệnh, ta cho phép làm giảo hình giữa chợ để hàng dân trông mà cậy vào phép nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #102 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 09:40:05 pm » |
|
Tối hôm chiến thắng Thăng Long, nghĩa là chỉ hai mươi ngày sau khi xuất quân từ Qui Nhơn, Huệ gọi con nuôi là Nguyễn Ðằng, ra lệnh cho kiểm kê, gói ghém tất cả châu báu, ngọc ngà và vàng bạc của Chúa Trịnh đã tích tụ hai trăm năm nay, cộng thêm vào với kho tàng Trịnh Sâm cướp được ở Phú Xuân cách đây trên chục năm từ tông tộc Chúa Nguyễn. Trong lúc hàng dân cũng như quan quân cựu triều còn hoảng hốt, Huệ ra lệnh cho Ðằng bí mật chở ra thuyền, mang tất cả về Ðàng Ngoài, cất ở một nơi không ai biết rõ. Ðoàn thuyền đó gồm hai mươi chiếc, hai ngày sau lẳng lặng rời bến Tây Long, có một đội du binh do Ðằng chỉ huy đi kèm để bảo vệ.
Nằm trên tấm đệm giường Chúa Trịnh, Huệ thấy như nằm trên bông, có cảm tưởng cứ bồng bềnh, không sao ngủ được. Khoác lên vai chiếc Vương bào có thêu hình một con cọp ở giữa ngực, đang nhe nanh vuốt, mắt trợn trừng như chực nhảy xổ ra, Huệ đốt một cây bạch lạp, đi khắp nơi, mắt nhìn lên những chiếc cột lim nghễu nghện trên có khắc chữ. Huệ cố đọc, nhưng chữ được chữ không, bực mình nhổ toẹt xuống thềm, bật mồm chửi tục. Bỗng có tiếng cười nhẹ sau lưng. Huệ quay lại. Một bóng đàn bà mặc toàn trắng thoắt biến vào gian phòng bên trái. Huệ gọi giật giọng :
- Ai, đứng lại !
Băng mình đuổi theo, Huệ chúi người, chân vấp vào ngưỡng cửa. Nhìn vào, vẫn không một ai. Nhưng tiếng cười lại cất lên, như gió thoảng, làm lạnh gáy. Huệ ngước lên. Bóng trắng lại chập chờn như trêu ghẹo, thoáng một cái đã lẩn vào gian sau. Huệ lồng dậy, cơn thèm xác thịt đã bị đè nén từ ngày xuất chinh bỗng nổi lên. Xông người đuổi theo, Huệ lại vấp, ngã chúi xuống. Một bàn tay mát rượi ép lên má Huệ mơn trớn, tiếng nói như từ cõi nào, văng vẳng :
- Ta đây. Chúa Chè đây. Nằm yên ... Ngoan nào !
Huệ tì tay xuống đất, tung người lên. Nhưng vô vọng. Toàn thân như tê điếng, Huệ mê đi trong mùi hương hăng hắc, trừ phần dưới cơ thể cứ rung lên bần bật như dùi đập vào mặt trống, Thở hắt, tứ chi nhũn ra, mắt hé mở, Huệ lờ mờ thấy gương mặt một người đàn bà rất đẹp, tươi cười bảo :
- Gặp mi muộn quá rồi ... Nếu ta biết thì xưa ta đã bỏ ra Ðàng Ngoài tìm mi.
Bỗng lưỡi người đàn bà thò ra, một gang tay rồi hai gang, đỏ loét, mỗi lúc mỗi dài, quấn lấy cổ Huệ xiết lại. Huệ vùng vẫy, tai nghe rành rọt từng câu :
- Cái phòng này là phòng con ta đã ở. Ðồ đạc của nó trong phòng, đâu phải trả vào đó. Mi đã ăn cướp được nhiều rồi, tham thì thâm ... Nghe rõ chưa ?
Huệ hét lên : « Rõ, rõ rồi ! », tim như sắp căng đứt. Huệ mở mắt khi Danh Kỷ lay gọi, thở phào, lấy tay lau mồ hôi, tay kia sờ xuống hạ bộ. Danh Kỷ khẽ nói :
- Thượng công la hét ầm lên, tôi vội chạy vào...
Huệ phẩy tay :
- Ðược, được rồi. Trong phòng này, đồ vật để yên không cho ai đụng vào... Thôi, đi ngủ !
Mặc Kỷ ngẩn ngơ không hiểu gì, Huệ lại bảo :
- Ông sai quân dọn cho ta cái phòng khác. Ta ngủ đất, chẳng cần phải chăn nệm gì ... Nhớ để cho ta một cái đèn dầu. Ðêm Bắc hà ngủ nhắm mắt quả thật là ... nguy hiểm ... Mà này, ông có biết Chúa Chè là ai không ?
Từ ngày Chỉnh đặt chân đến Thăng Long, bao nhiêu công việc đổ lên đầu, khiến Chỉnh cứ quay về nơi cư ngụ ở chùa Thiên Tích là quạu quọ. Sau buổi Huệ đến vấn an Lê Hiển Tông ở điện Vạn Thọ, Chỉnh phải chọn ngày lành để Huệ làm lễ triều kiến Hoàng thượng báo thiên hạ rõ nghĩa tôn phù. Nhưng triều đình nhà Lê nay chẳng còn ai. Chỉnh đi tìm những vị cựu thần, được sáu người, nhưng chỉ có bốn chịu vào triều, đều là những kẻ già nua không được việc gì. Trong buổi vấn an, Hiển Tôn ý sợ nhưng coi Huệ như kẻ cướp, mở miệng lần đầu đã nói ngay :
- Quả nhân làm vua thanh cần, giản dị, không có vật gì để biếu tặng.
Huệ trả lời như quên hẳn việc đã cướp sạch kho tàng nhà Trịnh, miệng ráo hoảnh :
- Thần vì nghĩa tôn phù mà tới đây, đâu dám kể công lao.
Quay sang Chỉnh, Huệ tiếp :
- Ðây là bề tôi cũ của bệ hạ đấy.
Chỉnh ra trước sập ngự lạy chào. Huệ lại nói :
- Người này dẫu tước lộc của bệ hạ cho chưa nhiều, nhưng lòng trung khó có kẻ thứ hai. Thần ra được đây cũng là nhờ hắn.
Biết Huệ mỉa mình, Chỉnh cắn răng, nhưng máu bốc lên mặt khi nghe Hiển Tông dụ :
- Chỉnh biết trung nghĩa, đấy là do công ông gây dựng cho.
Khẳng định mình nay không còn là kẻ bầy tôi nhà Lê, Chỉnh dập đầu tạ :
- Thật đúng như lời « bề trên ».
Lễ triều kiến vào ngày bảy tháng bảy ở điện Kính Thiên. Huệ tự đem tướng sĩ từ cửa Ðoan Môn đi vào. Sau khi lạy năm lạy, vái ba vái, Huệ dâng tờ tâu diệt Trịnh và sổ sách dân quân. Hiển Tông phong Huệ là Nguyên soái, tước Phù - Chính dực-vũ Uy-quốc công.
Về đến phủ Chúa, Huệ gọi Danh Kỷ, Văn Nhậm và Chỉnh vào, mặt mũi cực kỳ giận dữ. Huệ dang tay đập chén nước trà xuống đất, hầm hè :
- Ta đánh một trận, dẹp yên thiên hạ thì một hòn đất, một tên dân nước này là của ta, ta muốn xưng đế, xưng vương thì xưng, ai cản được. Cái chức Nguyên soái quốc công với ta là cái gì ? Muốn lấy tiếng hão để lung lạc một kẻ mọi rợ à ? Ta nhận, nhưng phải nói ra cho « đám thây ma » ở triều đình đó biết.
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #103 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 09:40:54 pm » |
|
Mặt Chỉnh tái mét, không biết Huệ định làm gì. Danh Kỷ nói nhỏ vào tai Chỉnh. Chỉnh lắc đầu, lúng túng đáp: « ... để xem, để xem sau ! ». Nhìn Chỉnh, Huệ gằn giọng :
- Việc giao dịch với triều đình nhà Lê, ta đã giao hết cho ông. Ông làm thế nào mà « đám thây ma » đó khinh ta như vậy ! Nay, ta cho đi tìm Trịnh Tông, lập lại xem họ xử ra sao.
Nói xong, Huệ quày quả bước ra sau, mặt mũi hầm hầm. Về chùa Thiên Tích, Chỉnh bóp trán suy nghĩ. Chỉnh thừa biết là Danh Kỷ chỉ nói lại bụng dạ của Huệ, không thể không bàn tính với nhau trước. Hôm sau, lính đến báo. Chỉnh vội ra cửa Tây. Lật vuông vải đậy mặt, Chỉnh nhìn kỹ, đúng là Tông. Tông tự tử, lấy đũa đâm họng rồi dùng tay tự xé cổ ra. Tuần huyện Trang, kẻ bắt Tông mang về Kinh, quì xuống thưa :
- Bẩm quan Hữu quân, muốn cứu Ðoan nam vương mà không kịp ...
Chỉnh thở dài, lẩm bẩm, rồi nhìn Trang khinh bỉ :
- Ông ăn lộc Chúa, nay phản bội, lại quay về cái bản chất cướp vặt của ông. Chỉ tội cho Lý Trần Quán, thầy ông, là kẻ nhờ ông bảo vệ Chúa. Nay Quán ra sao ?
Trang tái mặt không đáp. Chỉnh lại nhìn xung quanh, một người chắp tay thưa rằng Quán đã tự chôn sống để chuộc tội. Chỉnh nhìn vào mặt Trang, gọi lính lấy một chiếc đũa, ném xuống đất :
- Mày nhặt rồi tự xử hay bắt ta ra tay ?
Oằn người như con giun bị xéo, Trang khóc lớn, tay chắp lạy Chỉnh như tế sao. Chỉnh sai chém, rồi bêu đầu ở cửa ô, dán một tờ giấy viết rõ « Phản Chúa, hại thầy, đầu bêu ba ngày, thây phanh ra cho chó ăn. Nay thông báo cho thiên hạ. Hữu quân Nguyễn Hữu Chỉnh ». Về báo Huệ, Chỉnh lại xin tang ma trọng thể cho Tông theo đúng vương tước. Huệ gật đầu. Khi Chỉnh ra, Huệ nói nhỏ với Kỷ : « ... hắn muốn gột cái tiếng phản phúc đấy. Như vậy, hắn sắp phản ta rồi. Thế là hắn làm trúng ý ta. Từ nay, ông với bộ Lễ của triều Lê lo việc nghi thức cho ta ở Bắc Hà ».
Chỉnh sai anh em, con cháu bí mật lẻn về trấn Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương... gặp gỡ các hào trưởng và thương nhân giàu có, ý chiêu dụ về việc gây dựng lại Ðàng Ngoài. Lúc đó, súng ống gươm giáo lính Trịnh đều bị Huệ thu lại. Bọn quan quân và đám Kiêu binh nhà Trịnh đi đến đâu là hàng dân xúm lại đánh và cướp hết binh khí, của cải. Ðánh cướp cho thỏa cái uẩn ức kinh niên, chẳng ai nghĩ quân Tây Sơn là quân « nước ngoài ». Họ lại còn cảm phục vì những người lính đến từ phương Nam kỷ luật, không o ép, ức hiếp, đến một miếng nước lạnh của dân cũng chẳng dám tơ hào. Không biết Tây Sơn còn ở lại đến bao giờ, bọn phú hào phú thương nói nước đôi, chủ tâm là chờ đợi diễn biến. Chỉnh thất vọng, nói với Ðỗ Thế Long, người gốc Thanh Trì.
Long là người lanh lợi, xưa kia có tội đã từng bị giam với Chỉnh trước khi Chỉnh về dưới trướng Hoàng Tế Lý. Lúc vào Thăng Long, Chỉnh sai người thả cho Long ra khỏi ngục, mang về chùa Thiên Tích đãi như thượng khách, công việc Bắc hà có gì khúc mắc đều hỏi han. Chỉnh tâm sự :
- Nếu Chúa còn sống, chắc tôi sẽ đặt vào địa vị thanh nhàn, không để phải mất danh tộc. Bây giờ thì khó quá. Huệ ý o ép Vua bắt gả con gái cho rồi mới tính chuyện rút quân về, tôi chẳng biết còn phải làm sao.
Long nhẩn nha :
- Hắn muốn thành chàng rể, để hễ động tĩnh gì ở Bắc hà là kéo ra, tiếng là giúp bố vợ, mà thực là cướp nước ta. Còn chúa Trịnh, thì việc không phải chỉ đơn giản thế. Nước này, dẫu sao cũng là đất của cả Lê lẫn Trịnh. Xưa, cái sách « phù Lê- diệt Trịnh » cũng có cái dở. Nhà Chúa có hiếp chế Vua thật, nhưng vẫn có cái công tôn phù hai trăm năm. Ông dựa thế « nước người », nay nghiêng non lật biển được, nhưng khi Tây Sơn về thì ông tính sao. Theo chủ mới, ông phản Trịnh là chủ cũ đã để ông được phong hầu phong công, ấy là bất nghĩa. Bới lỗi ức hiếp làm lấp cái công tôn phù, ấy gọi bất nhân. Bất nhân bất nghĩa là tàn tặc, kẻ trượng phu lập thân quyết chẳng để mình vào thế đó được !
Mặt hơi tái đi, Chỉnh giả tảng nghĩ ngợi, mồm nhai bã trầu một hồi lâu, rồi đáp :
- Gây dựng là ơn riêng của một người. Cương thường là nghĩa lớn của thiên hạ. Tôi phù Lê là chống đỡ cương thường, chí nhân đại nghĩa, sao lại gọi là tàn tặc ?
Long được dịp, tiếp :
- Vua Lê vẫn đó, đã được tôn sẵn rồi, đâu có đợi ông tôn phù. Ðó là cái cớ ông đưa người ngoài tới đây, làm nhà nước như bình vàng bỗng mẻ, Chúa chết, Vua thì có cũng như không, quân quyền nằm hết trong tay giặc Quảng. Như vậy, gọi là tàn tặc vẫn còn nhẹ. Nay nếu ông xoay lại, khéo điều đình để Huệ no nê ước muốn mà rút quân, rồi ông chọn trong tôn thất họ Trịnh một người lập lên làm Chúa. Ông là phò tá cho Chúa, tạo ra cái cớ không để chàng rể nước Tây tự tiện muốn kéo quân ra là kéo... Mà bố vợ lại già rồi, lập Hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ lên là một vì vua khác, nên cái thế bố vợ - chàng rể chắc không lâu. Ðây là cái công không mấy đời có được.
Chỉnh vái tạ :
- Tôi xin nghĩ thêm.
Long ra khỏi, Chỉnh vẫy người nhà, dặn :
- Tên hắn là Long. Rồng thì phải đưa xuống nước không để sống trên cạn làm mê loạn thiên hạ được. Ðêm hôm đó, Long bị trói mang ra sông Nhị Hà, rồi chết đuối như người ta kháo lại.
Ba ngày sau buổi đại triều, Vua Lê Hiển Tông hạ chỉ dụ gả Ngọc Hân, năm nay mười sáu tuổi, cho Nguyên soái Uy - quốc công. Ngay hôm đó, Huệ sai Hình bộ thượng thư mang một tờ tâu, hai trăm lạng vàng, hai nghìn lạng bạc, hai chục tấm đoạn vào điện Vạn Thọ, xin hôm sau rước dâu ngay, ai cũng biết là cưới chạy tang vì Hoàng Thượng nay như ngọn đèn trước gió. Sáng sớm hôm sau, Huệ sai quân đệ vào tờ tâu làm lễ nghênh hôn. Quân lính Tây Sơn đứng sắp hàng, gươm giáo sáng loáng, cờ quạt đủ màu phất phới bay từ cửa phủ Liêu đến điện Vạn Thọ. Hàng dân xô nhau đi xem đứng chật như nêm cối trên đường phố, ai nấy đều mong được nhìn thấy một cuộc hôn phối không tiền khoáng hậu.
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #104 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 09:41:34 pm » |
|
Danh Kỷ tất bật, lo liệu từng li từng tí, quyết không để ai chê là nước Tây không biết lễ nghĩa. Các hoàng thân, hoàng phi và quan văn võ đều chực sẵn ở cửa điện, sắm sửa ngựa xe, để đi đưa dâu. Khi công chúa đến cửa phủ, Huệ ngồi kiệu rồng thếp vàng ra đón. Chợt có ai đó trong đám dân giã la to : « Tiếc thay cây quế giữa rừng... », ý nhắc chuyện vua Trần ngày xưa gả công chúa Huyền Trân cho Chiêm vương là Chế Mân. Huệ mím miệng, mắt quắc lên, nhưng sau lại làm như không nghe thấy. Ðưa công chúa vào cung, Huệ thết tiệc, rồi sắp hai trăm lạng bạc sai quân đưa ra tặng các vị nhà gái. Chỉnh thầm nhủ trong bụng : « ... Vàng bạc của nhà Trịnh cả. Mất con nhưng nào có được mảnh đất nào như Ô, Rí đâu ! ». Nhưng mặt mũi vẫn tươi vui, Chỉnh theo các quan về công đường bộ Lễ, đứng ra chúc mừng, khen Vua kén được giai tế, và từ nay nước An-Nam ta có được một nước dâu gia. Hiển Tông ngồi trên ngai, thều thào đáp lễ rồi nhắn: « Ta tuổi già, không thể nương tựa vào ai. Nay công chúa nương bóng hậu dinh, hầu hạ khăn lược, để cho khi hai nước thành nghĩa thông gia, đời đời hòa hiếu, ta có nhắm mắt cũng an lòng ».
Nghe Chỉnh thuật lại, Huệ chiều hôm đó ngồi xuống uống rượu với đám tả hữu, đã ngà ngà say, nói lớn :
- Hoàng thượng quả là « lão mưu đa kế ». Kẻ mọi rợ này nay bám vào cành vàng lá ngọc, thật là « thiên tải kỳ duyên ». Ha ha, em vua nước Tây làm rể Hoàng Ðế nước Nam, môn đăng hộ đối thế, hiện ở đời này đã có mấy phen ?
Bá vai Toàn Nhật, Huệ tiếp, giọng sặc mùi rượu :
- Này chú em « rậm râu », sau này xin làm rể Tây Sơn, liệu chú em có hai mươi lạng vàng, hai trăm lạng bạc không ? Ta thật ra chẳng bỏ một chinh. Ðến vũng nước đục, ra khoắng chân quậy một cái. Rồi thò tay móc lên, nào là vàng, là bạc, là châu ngọc ... và sau cùng là ... là trái tim người đẹp.
Ngượng nghịu, Nhật khẽ nói :
- Thượng công, xin thượng công ...
Cả bọn tả hữu phá lên cười, vỗ tay. Huệ lại tu rượu ừng ực, rồi lè nhè :
- A, cái trái tim đàn bà. Ha ha, nó kỳ lạ lắm. Ta ra vì loạn, về lại đèo bồng thêm một đứa gái tơ, trẻ con nó chắc bụm miệng cười ! Mặc nó, ta chỉ quen gái Nam hà, chưa biết mùi gái Bắc. Hà hà, phải thử một chuyến xem tròn hay méo...
Danh Kỷ biết Huệ đã say lắm, phất tay ra hiệu cho mọi người lui ra. Huệ lại níu Toàn Nhật, mồm rớt rãi, nói chữ đực chữ cái :
- Chú em rể « rậm râu » ở lại ... ta ... ra lệnh ... Ba đường kiếm ... Chiêu Hồn đủ bảo vệ cho An-Nam nguyên soái. Nhưng không chống được ... trái tim đàn bà đâu ...
Bước đến cửa, Chỉnh nhìn xéo, lầm bầm buông thõng một câu :
- ... Say như thế thì méo cũng thành tròn.
Nhậm nghe thấy, mắt cau lại, chẳng kiêng nể nhìn tròng trọc vào mặt Chỉnh nhưng không nói năng gì. Trong phòng chỉ còn Nhật và Huệ. Nhìn ra cửasổ, mặt trời yếu ớt lui dần, để vướng lại một thoáng đìu hiu trên những vạt cỏ ủ dột. Mùa mưa dầm bắt đầu từ mấy ngày rồi, tưới nước xuống như nước mắt thiếu phụ khóc chồng, thây bọc còn cuộn tròn trong những chiếc chiếu thâm sì ẩm ướt người ta bỏ nằm vất vưởng trên bờ bãi ven sông Nhị. Nhật đốt bạch lạp, kéo Huệ nằm lên sàng gỗ gụ, nhét chiếc gối mây dưới gáy. Huệ bỗng nắm lấy áo Nhật, mắt nhắm nghiền, mồm lẩm bẩm :
- Ðừng bỏ ta. Ta có tội tình gì An ơi !
An là con gái giáo Hiến, người thiếu nữ đã gieo vào Huệ những tình cảm trai gái khi vừa lớn để biết yêu. Thuở đó, Huệ mới mười bốn. An hơn Huệ một tuổi, đã nhuộm răng và biết ăn trầu, tóc để dài chấm vai, lưng ong, lúc đi quần phủ trên đất lượn lờ như là bay là nhẩy. Dù đi học, Huệ chẳng coi chữ nghĩa ra gì, mặc dầu không nói nhưng giáo Hiến cũng biết. Trong số học trò, Huệ lại sáng dạ nhất nhưng rất lười. Hễ có dịp, Huệ chòng ghẹo bạn đồng môn, thường đầu têu dẫn đi phá làng phá xóm. Một hôm, đối tượng của những trò nghịch ngợm là An. Bọn học trò đố nhau đứa nào sẽ thành giai tế của thầy. An nghe biết, chỉ mỉm cười, đùa bảo một đứa hiền lành :
- Ðứa nào biết thầy muốn gì, tao sẽ gọi bằng chồng. Mỗi đứa chỉ nói được một lần, và cố mà viết ra giấy, chữ xấu không được tính.
An thường giúp cha chấm quyển học trò, bụng chỉ muốn ép chúng tập viết cho đẹp, chẳng có hậu ý gì. Ðến ngày, mỗi đứa kèm vào tập quyển một tờ giấy nét chữ nắn nót. Giáo Hiến bắt được, truy ra việc An đùa, quẳng lên chõng hai tờ. Tờ thứ nhất, viết « Giết quyền thần Trương Phúc Loan » ký tên Huệ. Tờ thứ nhì, ghi vỏn vẹn « Thầy muốn cho chị An được sống hạnh phúc ». Giáo Hiến mắng con, song lại bảo « Huệ nó nói đúng điều ta muốn ». Hiến thâm thù Loan, vì người tri kỷ mình là quan Nội hữu Trương Văn Hạnh đã bị Loan hãm hại giết chết. Vì thế, Hiến phải bỏ Phú Xuân chạy về An Thái mở trường dạy học.
Vo viên tờ giấy Huệ viết, giáo Hiến bỏ vào mồm nuốt đi. Sau đó, trong liền hai năm, giáo Hiến giảng riêng cho Huệ một số binh thư, không bắt học những tứ thư ngũ kinh như mọi đứa trẻ khác. Huệ nghe giảng đến đâu, chẳng những nhớ mà còn tự mình sáng tạo ra những phương thức như thuật yểm kích và lối đánh vu hồi. Thấy cha mình đặc biệt lưu tình Huệ, cô thiếu nữ An không khỏi băn khoăn vì trò đùa năm nọ. Nhưng tờ giấy viết « ... cho chị An được sống hạnh phúc » ám ảnh An, bắt An hỏi hạnh phúc là gì, câu hỏi phần đông người thế gian này trốn tránh. An tất nhiên chưa biết kẻ nào đã viết câu đó mà không để tên lại, vì nào An có biết tờ giấy kẹp trong tập quyển của ai.
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #105 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 09:42:17 pm » |
|
Năm Huệ mười sáu, mụn nổi đầy mặt, vỡ tiếng nên mỗi lần cất giọng, ai nghe cũng giật mình. Một buổi sáng, An ra cầu ao giặt áo, bỗng linh tính có người rình mình. Nàng quay lại, bắt gặp ánh mắt tóe lửa của Huệ. Huệ mím miệng, đến cạnh An, định nói nhưng lại ấp úng, ngạc nhiên thấy lưỡi mình tê cứng, tim đập như vỡ lồng ngực. Huệ nhút nhát, nói trong cổ:
- An đang làm gì đấy ?
Hiểu rằng Huệ vừa bỏ được tiếng chị, chị An như Huệ thường gọi, An dịu dàng :
- An đang bắt bóng mình trong nước...Ðấy, cứ tan đi, rồi lại hiện ra. Xem này.
Huệ ấp úng :
- Như tiên, phải, cứ như tiên ấy...
Lần sau, Huệ lại ra cầu ao. An giặt áo, Huệ ngồi cạnh say mê, hít hơi An trong gió, rồi bỗng chụp lấy tay An. Khẽ giằng ra, An cúi đầu hỏi nhỏ :
- Còn muốn giết Trương Phúc Loan không ?
Huệ quả quyết gật đầu. An buồn rầu, nhỏ nhẹ :
- Thế thì ... có làm cho An hạnh phúc không ?
Ngạc nhiên, Huệ đớ người ra. Rồi Huệ lắc đầu. An vùng đứng dậy, nước mắt ứa ra, chạy vào nhà. Hai tháng sau, An tìm người viết tờ giấy rằng « Thầy muốn cho chị An được sống hạnh phúc ». Ðó là cậu bé hiền lành ngày xưa, nay cũng đã mười bảy. An hỏi :
- Thế nào là sống hạnh phúc ?
- Sống hạnh phúc là sống một cuộc đời bình thường. Bình thường ở chỗ sáng cũng cười, tối cũng cười. Dĩ nhiên, no thì cười, đói chắc khó. Hạnh phúc bình thường là bụng no, còn đầu thì vui.
- Không quyền uy, quan tước, danh vọng, phú quí ?
- Nhất định không !
An bỗng chép miệng, rồi cương quyết :
- Cứ cho cha mẹ đến hỏi, An xin về nhà anh.
Mấy tháng sau là đám cưới An. Hôm ấy, Huệ chạy ra hét như người hóa dại, rút dao đâm vào đùi mình, máu chảy lênh láng, kêu ầm lên :
- Chỉ vì mặt ta có mụn, chỉ vì mặt ta có mụn ... Huệ ốm liệt giường. An và giáo Hiến vào thăm. Khi đi về, An đợi giáo Hiến ra trước, kịp nói riêng với Huệ :
- Chẳng phải vì mặt Huệ mụn, mà vì Huệ không biết thế nào là hạnh phúc. Thứ hạnh phúc bình thường ...
Ðầu giờ Tuất, Huệ tỉnh dậy đòi ăn cháo. Toàn Nhật lặng lẽ nhìn, thấy Huệ đăm chiêu. Hai lần lấy vợ trước, cũng hệt vậy. Hình ảnh An, cái cầu ao, bóng nước khi hiện khi tan, rồi câu nói cuối cùng An trách Huệ không biết thế nào là hạnh phúc lại văng vẳng trong tai. Huệ bước ra lan can, mặt ngửa hứng lấy những giọt mưa hắt qua mái các. Cắn môi, nhìn vào màn đêm trắng đục, Huệ vẫn chỉ thấy một mình An, cô thiếu nữ dạo nào. Vẫn là An giằng tay không cho Huệ nắm. Vẫn là An, đã tưởng xa đi nhưng sao vẫn đấy, ám ảnh, mê hoặc, giăng những sợi tơ nhỏ nhoi nhưng bền vững giam hãm linh hồn Huệ gần hai mươi năm nay. Nhật lên tiếng :
- Thượng công thấy mình ra sao ?
Nhìn thẫn thờ vào khoảng không, Huệ gạt tay, đáp :
- Ta không sao, chắc vui nên quá chén.
Niềm vui của Thượng công - Nhật nghĩ thầm - quả là khác người. Trong giấc ngủ vùi, Huệ thỉnh thoảng co dúm người lại, rên xiết, nước mắt ứa ra, tức tưởi gọi An, An ơi ... An là ai ? Người nào mà lại có cái quyền năng làm một vị tướng bách chiến bách thắng gập người xuống lạy van ngay cả trong một giấc mơ ? Gió lạnh thốc vào. Ngọn nến lung linh cháy, soi mặt người bằng thứ ánh sáng cong đi rồi thẳng lại, khiến những đường nét chốc chốc lại gẫy vụn ra, đổ gục xuống. Lấy tấm Vương bào trên ghế, Nhật mang lại hai tay dâng lên. Huệ cầm, nhìn Nhật, rồi nhỏ nhẹ :
- Tướng quân về nghỉ. Ta phiền tướng quân nhiều rồi.
Vái Huệ, Nhật lùi ra, nhìn lại cái khối cô đơn khủng khiếp lặng lẽ đứng dậy xua tay, miệng cố mỉm cười, cái cười trông tội nghiệp.
Ngồi một mình trong ánh nến chập chờn, Huệ nhắm mắt lại, hình dung ra khuôn mặt An thuở ngồi bên cầu ao, lại tự hỏi mình thế nào là hạnh phúc. Có phải chăng là những giây phút rạo rực, tung quân vào yểm kích, tính toán đường đi nước rút của địch, công thành, phá ải ? Có phải chăng là khi thu quân lương, vàng bạc châu báu chiếm được ? Có phải chăng là chỉ một câu nói lớn, một cái trừng mắt, một lời diễu cợt mà đủ làm đám bề tôi cứng họng, thắt tim, gập đầu vâng dạ ? Ðó là, nói gọn lại, quyền uy. Nó thể hiện con người Huệ, nhưng tại sao khi diệt xong địch, chiếm xong thành, thu vào tay châu báu, quát gọi cho người ta vâng dạ, Huệ lại cảm thấy trống rỗng, để một nỗi cô đơn mênh mang ập vào làm tan đi tất cả những cái gì vừa tạo ra, biến chúng thành vô lý vô nghĩa ?
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #106 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 09:42:51 pm » |
|
Huệ lại với tay lấy rượu, tu ừng ực, để cái chất rát nóng tràn vào cơ thể mình, bốc ngược lên đầu, làm tê liệt những câu hỏi không có lời đáp. Rồi Huệ cười lên sằng sặc, nghêu ngao hỏi như có người trước mặt : « ... Này An, thế nào là hạnh phúc ? ». Chỉ tay vào bóng mình, Huệ rít lên : « ... trả lời đi, đợi gì nữa An ơi... Thế nào là hạnh phúc bình thường ? Ta có khả năng trở nên bình thường không ? Hay muộn quá rồi ! » Huệ lảo đảo đứng dậy, tay lấy chiếc roi móc trên giá vũ khí, vung một đường vòng, rồi ném xuống đất. Ngồi xuống, Huệ lại uống, rồi cởi áo ra, vai nổi lên những bắp thịt làm bằng đồng nguội. Huệ gào : « Ta hành nó cho em sướng nhé ! », rồi mím môi vớ roi đánh vòng vào lưng mình, tiếng nghe chan chát như tiếng đập áo quần sũng nước ở một bờ ao vùng An Thái. Ðánh đến mỏi tay, Huệ gục xuống, nằm xoài ra trên thềm gạch, miệng thở khò khè. Trống điểm canh dinh trại Tây Sơn vang lên trong đêm tối khiến Huệ nhổm dậy, với tay khoác chiếc Vương bào vào người, chập choạng mở cửa phòng bước ra, miệng lẩm bẩm : « Ðêm nay động phòng. Xem con ranh nó tròn hay méo ... »
Ðạp cửa, Huệ chệnh choạng bước vào, nhìn chiếc giường giải đệm trắng đặt ở giữa, xung quanh có màn rủ. Vạch màn ra, Huệ nhìn vào. Ngọc Hân không có đó. Mặt giường bỗng trải rộng ra, lăn tăn sủi sóng, như biển nhìn từ cửa Thị Nại. Huệ vặn bấc đèn lên.
Trong một góc phòng, Ngọc Hân ngồi nép vào tường, lặng yên, mắt hoảng dại nhìn Huệ, mắt con mồi bị săn đuổi vào đường cùng không còn nơi nào để ẩn nấp. Huệ lè nhè, tay vẫy. Hân thấy bụng mình thót lại, tứ chi nhũn ra, lòng trống tênh, đầu cứ mụ dần đi như vào cơn mê ngủ. Huệ tiến lại, mắt đỏ lừ lừ như mắt cọp. Thình lình, Huệ nắm vào ngực xiêm, kéo mạnh rồi xé ra, tiếng lụa nghe soàn soạt hệt tiếng dao chém. Thò tay bóp vỡ chiếc trâm cài đầu Ngọc Hân, Huệ ngẩn ngơ nhìn suối tóc chảy xuống đến ngang vai, miệng rên rỉ : « ... hạnh phúc, mi đâu hả hạnh phúc ». Ném tấm Vương bào, rồi từ từ cởi chiếc cạp quấn lưng quần, Huệ trần truồng đứng, quát Hân : « Này, nhìn đi ». Nàng công chúa mới mười sáu tuổi co dúm người, nhắm mắt lại. Huệ xé mảnh vải cuối cùng trên hạ thể Hân, xoay người Hân lại, bắt quì xuống. Hai tay nắm vào hai núm cau vừa đủ to để hái, Huệ lại rên : « ... hạnh phúc à ...». Kéo cho mông Hân chổng lên cao, Huệ thúc vào từ phía sau, vừa thúc vừa kêu : « Hạnh phúc này, hạnh phúc », mỗi lúc một mạnh, hệt như khi Huệ thúc voi vào cửa ô Trường Bản thành Thăng Long cách đây vừa năm ngày. Ngọc Hân oằn người, thét lên một tiếng nhỏ, rồi mặc cho sự đau đớn đến chảy nước mắt, nàng nghiến răng, đầu thầm nhủ lời cha dặn dò « ... nghiệp nhà Lê trong tay con ». A, cái cơ nghiệp bốn trăm năm cứ trồi cao trụt thấp cho đến khi Huệ kêu hự lên một tiếng, rồi ngả người nằm xấp mặt xuống thềm.
Ngọc Hân đợi một lát, rồi co chân ngồi dậy. Trên mặt gạch hoa trắng bóng, một vệt máu chảy từ đùi Hân xuống đọng lại. Máu đỏ màu gụ, có mùi tanh, đánh dấu phút cuối đời con gái. Ðời con gái của một thiên kim tiểu thư cành vàng lá ngọc trao vào bàn tay man dại của vị nguyên soái bách chiến bách thắng. Nàng cắn răng ghìm cơn đau đớn, nhìn sang Huệ. Lưng Huệ hằn những vệt roi rướm máu, bầm tím, hệt như vết vằn trên da hổ. Lẳng lặng nhếch mép, Hân bỗng thỏa mãn, thầm nhủ « ... ta đâu có cần chi hạnh phúc ».
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #107 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:21:29 pm » |
|
Chương 9 Bờ xa Trong cơn sóng vật vã quăng thân xác mình lên cao rồi lại quật xuống thấp, Trọng Thức gần mê man đi giữa biển nước mặn chát lều bều nổi bọt. Ðưa tay lên ngực, Thức nắm lấy phiến đá. Chàng nhắm mắt lại, tay lạnh buốt, thầm gọi tên Băng Vân. Phải chăng từ đây chàng sẽ dật dờ một mình trên nẻo dương gian, không còn một hy vọng gì tìm lại được tình yêu kia, cái tình yêu với người đàn bà sẽ muôn đời bị giam hãm giữa những phân tử lạnh tanh mang kiếp đá. Tai lại nghe tiếng cười man rợ đâu đây, rồi tiếng nổ, tiếng rú, Thức cố giằng tay nhưng sợi dây trói chàng vào cái cột gỗ trên chiếc tầu biển Bồ đào Nha giật lại, xiết vào đau nghiến. Nước tứ phía tràn vào. Lại tiếng nổ. Sàn tàu vỡ tung ra. Chàng bị bốc bổng như mọc cánh bay lên. Rồi rơi xuống. Rơi vào một khoảng đen ở đâu ùa đến, xoáy tròn chôn ốc, cắm vào cái trũng sâu không đáy. Sau bao nhiêu lâu, chàng không rõ, khoảng đen đó bắt đầu lờ mờ sáng. Nuốt ngụm nước dịu ngọt không biết ai đổ vào miệng, Thức cảm thấy sự hồi sinh đang cứ từng giọt thấm vào những tế bào rời rã. Chàng nghe như đến từ một nơi nào xa lắm dăm tiếng người. Chàng thu hết sức cất tiếng gọi. Người đỡ đầu Thức lên cho uống reo nho nhỏ “ ... tỉnh rồi. Không chết đâu ”. Thức rên một tiếng, mở mắt ra. Nhìn chung quanh, chàng mỉm cười, ra dấu rồi lại nhắm mắt lại. Ðến lúc tỉnh hẳn, chàng thấy mình nằm trong khoang một chiếc thuyền khá lớn. Một người đeo gươm đến hỏi. Chàng thều thào kể lại từ lúc bị Tây Sơn bắt cho đến khi được chiếc tầu Bồ đào Nha cứu thoát khỏi cơn bão biển. Hôm sau, chàng biết mình đang xuôi về phương Nam, trong một đoàn sáu chiến thuyền đang chạy theo chúa Nguyễn. Hỏi ra, thủy binh Tây Sơn tập kích lực lượng chúa Nguyễn đã bất ngờ vây tầu chiến Bồ, rồi dùng hỏa công đánh đắm. Khi đoàn sáu chiến thuyền này đến giải cứu thì hai chiến thuyền Tây Sơn lại tản ra, đi vòng về phía sau. Ðoàn chiến thuyền vớt được Thức và hai người Bồ, rồi tiếp tục chạy ra khơi. Tháng ba năm Quí Mão 1783, Huệ và Lữ tiến đánh Gia Ðịnh trong khi Thức bị Nhạc bắt giữ. Bộ binh Tây Sơn tiến đến Bình Thuận chỉ là nghi binh, khiến cho Nguyễn Ánh tính sai thời gian Gia Ðịnh bị tấn công. Quân bộ Tây Sơn bất ngờ lên một số chiến thuyền đã sắp sẵn ở Phú Yên, chở được voi, theo đường thủy vào cửa biển Cần Giờ. Ánh xếp đặt một khu vực hỏa công, dùng “ bè hỏa ” và “ rồng cỏ ” định phục kích để tiêu diệt chiến thuyền Tây Sơn, sai Lưu thủ Thăng và Tiên phong Túy đem kỳ binh ra nghênh chiến rồi chạy để nhử. Nguyễn Huệ chọn lúc thủy triều lên mới xuất quân, dùng sức gió và sức nước xua thuyền ào ạt tiến lên đánh thẳng vào khu vực hỏa công. Giám quân Tô, người điều khiển hỏa công của quân chúa Nguyễn, luống cuống hạ lệnh phóng hỏa. Nhưng vì ngược chiều gió và chiều nước, chính những bè hỏa công lại trôi ngược lại đốt cháy chiến thuyền Nguyễn. Quân Nguyễn cuối cùng tan vỡ rồi rút chạy dưới hỏa lực dữ dội của Tây Sơn. Gia Ðịnh không thể giữ nổi. Cánh quân chủ lực do Chu Văn Tiếp bị đánh tan hoang, bỏ chạy theo đường sang Cao Man. Nguyễn Ánh hoảng sợ, đem gia đình, năm sáu tướng lĩnh tùy tùng và không đầy một trăm lính còn xót lại chạy về Ba Giòng rồi tiến lên đóng ở Ðồng Tuyên bố trí phòng ngự. Lúc ấy, Nguyễn Lữ giao ấn Tiết Chế cho anh mình là Nguyễn Huệ, tập trung sức vào tổ chức bình định miền Nam. Huệ hoàn toàn trách nhiệm việc quân sự, đưa tượng binh lên tấn công Ðồng Tuyên. Trước sức mạnh của Tây Sơn, toàn bộ quân chúa Nguyễn tan rã, phần lớn các tướng lãnh hoặc bị bắt, hoặc chết trận. Ánh mang tàn quân cùng năm mươi chiến thuyền chạy xuống Lật Giang, qua Mỹ Tho, rồi ra cửa biển Ba Thắc. Tại đây, Thầy Liot cùng Giám Mục Bá đa Lộc và một số Thừa sai đã mang trường đạo Mặc Bắc ở Trà Vinh đến ẩn. Sau đó, Ánh lại chạy ra tận Phú Quốc, nhưng tướng Tây Sơn là Phan Tiến Thận vẫn truy kích và tiêu diệt một phần lớn chiến thuyền quân Nguyễn ở đảo Diệp Thạch. Chạy đến đảo Cổ Long, Ánh chỉ còn một tầu Tây, mười lăm chiến thuyền và hơn sáu trăm quân, lại gặp bọn Bá đa Lộc. Nhờ hai giáo sĩ Ypha Nho dẫn đường, Ánh xuất tiền mua lương thực và viết thư cầu viện Ypha Nho lúc ấy đương thống trị Phi luật Tân. Chưa kịp đi, Tây Sơn cử phò mã Trương Văn Ða mang thủy quân đến vây Cổ Long. Hai giáo sĩ Castuera và Ginestar vội vàng xuống chiếc ghe bầu vào đất liền nhưng bị quân Tây Sơn bắt lại. Ða dàn chiến thuyền thành ba vòng vây chặt Cổ Long, nhưng ngày sau bị bão lớn, thuyền phải dồn lại ghì chặt với nhau để chống đỡ gió to sóng lớn. Nhân cơ hội đó, Ánh đem tàn quân chạy trốn sang đảo Cổ Cốt. Chính trong cơn bão ấy, Trọng Thức được một tầu chiến Bồ đào Nha cứu, và mươi hôm sau, tầu đó bị thủy quân Tây Sơn đánh chìm. Lên Cổ Cốt được đúng một ngày, biển lại thấp thoáng bóng cờ đỏ giăng trên chiến thuyền Tây Sơn đuổi tới. Ánh ra lệnh cho tầu tàn quân giong buồm chạy về Thổ Châu.
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #108 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:22:12 pm » |
|
Hai ngày sau khi đặt chân lên Thổ Châu, một hòn đảo cách đất liền đến gần năm trăm dặm, Thức được lệnh gọi lên gặp Ánh. Ðó là một thanh niên tuổi trên hai mươi, người tầm thước, mặt vuông, cằm bạnh nhưng dáng mảnh khảnh, khi nói mắt vu vơ nhìn vào khoảng không, lúc nào cũng nắm tay lại như sắp đánh sắp đỡ. Ánh ngồi trên nắp một thùng thuốc súng, mặt mũi đen xạm, hốc hác, nhưng tóc vẫn búi gọn ghẽ, đầu đội mũ, đai lưng đeo một thanh kiếm ngắn. Ánh hỏi trống không :
- Mi từ đâu đến ?
Thức chậm rãi kể chuyện đi vào Ðàng Trong, bị Tây Sơn bắt, gặp bão dạt trên biển, được tầu Bồ cứu xong lại gặp thủy quân Tây Sơn đánh phá. Ánh lẳng lặng nghe, ngắt lời :
- Mi người Ðàng Ngoài vào Ðàng Trong làm chi ?
Thức thuật chuyện bị giam trong vụ án năm Canh Tý, rồi phiêu dạt đến Phố Hiến quen giáo sĩ Sieyès, và sau đó Sieyès đã dâng mình tử vì đạo ở Ða Phạn. Ánh đột nhiên xen vào :
- Mi có là thầy dòng không ?
Thức lắc đầu. Ánh liếc mắt, miệng trề xuống :
- Mi làm gì với Sieyès ?
Thuận miệng, Thức kể là mình đang tu chỉnh cuốn từ điển Việt - Pha Lang Sa - Latinh, việc còn dang dở nên muốn gặp thầy Liot để tiếp tục. Ánh lạnh lùng :
- Ta có thư cho Thầy Liot. Ta đọc, mi dịch ra tiếng Pha Lang Sa ...
Ánh im lặng mở một phong thư, chậm rãi từng tiếng :
Gởi Thầy Cai trường, tôi hiện ở Thổ Châu, thế giặc mạnh, phải tạm lánh mình, quân lương không đủ, chỉ còn dùng cho mười hai ngày. Nay sai Sùng Ðức Hầu cầm thơ và mười nén vàng, kính xin Thầy mua hộ và giúp thêm cho lương thực, nước uống ...
Thức hí hoáy viết rồi dịch. Mắt Ánh nhìn trừng trừng bất động. Thò tay cầm lấy bản dịch, Ánh vẫy tay gọi một người tùy tùng :
- Kêu thầy Tân tới gấp.
Một lát sau, một người quãng trung niên lù khù chạy tới. Ánh ngước lên, tay đưa bản viết của Thức :
- Thầy đọc ra tiếng ta cho nghe coi.
André Tân cầm, rồi dịch lại. Ánh gật gù :
- Ðược ! Hiện Thầy Cai trường Liot và trường đạo đang ở Chantabun thuộc Xiêm La. Quay sang người tùy tùng, Ánh trầm ngâm - Sai cho ta Sùng đức Hầu đi ngay. Còn mười hai ngày lương nên ta cũng không thể châàn chừ, cho quân nghỉ thêm một vài ngày rồi giong thuyền ra khơi ...
Nhìn ra biển, Ánh thở dài im lặng. Lát sau, Ánh quay sang Thức, dịu giọng :
- Còn thầy, thầy theo ta thì sẽ gặp Cai trường Liot. Muốn thế, thầy phải trả lời ta cho thật ... Nói ngoa, ta sẽ bỏ thầy cho chết đói trên đảo này !
Thức nhìn Ánh, chờ đợi, ung dung :
- Bẩm Vương công, xin cứ hỏi ...
- Thầy làm từ điển có mục đích gì ?
Khẽ ngửng lên nhìn, Thức từ tốn :
- Vương công xét cho, tầu Tây tầu Bồ đến xứ ta. Còn thuyền ta, có đến Tây đến Bồ được không ?
Ánh lắc đầu.
- Ta phải mua súng thần công châu Âu, còn người Âu có mua súng ta làm không ?
Ánh lại lắc đầu. Thức liền nói :
-Muốn học họ, phải biết tiếng họ. Làm từ điển là vì thế, để cho người mình có phương tiện học hỏi kỹ thuật Tây phương !
Ánh trầm giọng :
- Nhưng họ có thể dùng từ điển đó để đi giảng đạo Gia Tôâ của họ !
Thức nhướng mắt :
- Dám hỏi Vương công, đạo Gia Tôâ có dạy cho dân ta ăn gian nói dối, giết người cướp của không ?
Ánh lắc đầu, nhưng hỏi lại :
- Ðạo của họ chỉ độc tôn Thiên Chúa, cấm cả thờ cúng tổ tiên, rồi nay mai sẽ thay đổi trật tự vua tôi, phụ, tử ? Thế chẳng phải là rối ư ?
Thức ngẫm nghĩ rồi lựa lời :
- Thưa Vương công, nay cứ mười người ta thì đã có một giáo hữu Gia Tôâ. Ðàng Trong, họ khoảng tám vạn. Ðàng Ngoài, trên hai mươi vạn. Có hay không có từ điển, cũng là thế. Họ là giáo hữu nhưng nào lòng họ có bỏ ông bà tổ tiên đâu ! Vì thế, đâu chỉ có việc thờ cúng mà quên đi cái dụng của kỹ thuật Tây phương. Lại xin hỏi, nếu như ta có kỹ thuật đó, Vương công nào đâu còn phải cậy đến họ mua cho tầu bè, súng ống ? Kẻ hèn này nghĩ đã kỹ, lợi nhiều hơn hại, ta phải đi học Tây phương. Sau này, không nước nào, kể cả nước ta, lại có thể bế quan tỏa cảng được ! Còn như mở ra, nhưng lại tụt hậu về kiến thức, thì là đặt nước mình vào thế yếu, thế hèn, thế bị trị, dẫu rằng ta vẫn có Vua, có Quan ... Ấy là Vua, Quan với nhau như bù nhìn mà thôi, còn trên thực tế, chính là lệ thuộc vào cái mạnh bên ngoài nó chi phối, kiềm chế, thậm chí điều hành mình ...
Ánh đưa tay ngắt lời Thức, rồi chán chường nói :
- Thầy nói thế, Chủng này không phải không hiểu. Nhưng Chủng làm thế nào được! Cơ nghiệp ông cha tiêu vong, bọn giặc Tây Sơn thì quỉ quyệt hung hãn, chúng lại bị đám quyền thần chúa Trịnh đẩy vào cái thế phải đi đầu cướp đất nhà Nguyễn, nên Chủng mới nên nông nỗi này ...
Im lặng một hồi lâu, Ánh nghiến răng, mắt lóe lên ánh căm hờn có thể làm chết sữõng những kẻ yếu bóng vía, gằn giọng :
- Ðược! Thầy nói nghe cũng được. Ta cho thầy theo để thể hiện ý nguyện thầy. Ngược lại, ta cũng xin thầy giúp cho một việc…
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #109 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:22:52 pm » |
|
Quay sang tên tùy tùng, Ánh nói nhỏ vào tai, rồi lại im lặng nhìn những đợt sóng trắng xóa vỗ vào bờ cứ ì ầm như tức giận. Một lát sau, tên tùy tùng bế một đứa con trai độ lên năm ra. Ánh ôm lấy đứa bé, rồi đột nhiên ngửa mặt lên trời, hú lên một tiếng dài như tiếng một con thú ở bước đường cùng. Nước mắt lã chã rơi ướt nhòa mặt mũi, Ánh ngào nghẹn quát nhỏ:
- Thầy sẽ cùng con ta sang Pháp lan tây, đi không biết bao lâu, nhưng chắc sẽ về ... Ta sẽ ủy thác nó cho thầy ... Phụ ta, thì dẫu thầy có xuống hỏa ngục ta cũng sẽ xuống theo tự tay bỏ thầy vào vạc dầu.
Ngưng nói, Ánh nhìn thằng bé co người lại vì sợ, lẩm nhẩm :
- Ta phải cầu viện người, con ạ. Nhưng nhất định là ta không bao giờ vì thế mà mất ta đâu ! Cha con ta sẽ xa cách, nhưng để một ngày chính ta sẽ bêu đầu thằng Huệ thằng Nhạc, lấy sọ chúng nó làm bô nước tiểu, đái vào mười năm để trả cái thù ly biệt này !
Quay sang Thức, Ánh lấy lại bình tĩnh :
- Ta sẽ mang thầy giới thiệu cho cố Bá đa Lộc. Nhưng thầy coi chừng, ông ta sẽ thử thách thầy. Nếu thầy chỉ nói là thầy tìm cách học hỏi Tây dương thì chắc không xong đâu ! Tốt nhất là thầy ít nói, và tỏ ra ngoan đạo. Từ nay, thầy học Kinh E-van cho thuộc. Thầy Tân sẽ giám thị việc học Kinh này. Học không xong thì thầy biết đấy, thầy chỉ còn đường đi chầu hà bá mà thôi ! Trong ba anh em nhà Tây Sơn, Nguyễn Lữ nhỏ tuổi nhất nhưng lại thâm trầm hơn hai anh. Lữ gần gũi mẹ, chịu khó học nên năm lên mười đã đọc được Tứ Thư, chữ nghĩa khá hơn cả nhà. Năm mười lăm, Lữ quan sát gà chọi, nghĩ ra mười bảy thế võ kim kê. Trong quân, Lữ lại sáng tạo các thế trận đánh giáp lá cà, dùng sức phối hợp của các loại khí giới trường đoản khác nhau. Năm Lữ mười tám tuổi, Nhạc trao cho Lữ trách nhiệm dẫn quân vào tập kích Gia Ðịnh. Dùng yếu tố bất ngờ, Lữ đuổi chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy ra Long Hồ, rồi truy kích cho đến Bà Rịa. Tại đây, Thuần có lần phải trốn vào nhà thờ do một giáo sĩ Ypha Nho là Diego de Jumillia quản trị. Lữ bao vây, nhưng cấm quân lính không được xâm phạm đến nơi thờ phụng tôn giáo. Vây hai ngày, nghĩ thế nào Lữ cho người vào bảo Jumillia: “ Xin đừng xen vào việc của người chúng tôi ” rồi rút quân tha cho Thuần. Thuần thoát chết, gọi Ðỗ Thanh Nhân hiệu triệu cần vương, dấy được ba nghìn quân gọi là quân Ðông Sơn từ Mỹ Tho tiến về Gia Ðịnh. Phía bắc, Tống Phúc Hiệp và Lý Tài, một tướng Tây Sơn đã hàng quân chúa Nguyễn, cũng từ Phú Yên kéo về đến Trấn Biên. Lữ hạ lệnh rút quân theo đường thủy về Qui Nhơn, mang theo toàn bộ kho tàng chiếm được sau khi tiêu hủy khí giới, quân lương và đồn lũy thành Gia Ðịnh. Về đến nơi, Nguyễn Nhạc gọi Lữ vào quở :
- Sao mi tha cho thằng chó đó ?
Lữ mỉm cười rồi đáp :
- Xin đại huynh là nay tha cả hoàng tôn Dương cho đủ cặp.
Từ ngày khởi nghĩa, anh em Tây Sơn mang danh nghĩa phò hoàng tôn Dương chống lại quyền thần Trương Phúc Loan, đã lưu Dương lại Qui Nhơn đãi như thượng khách. Nhạc nghe Lữ nói, lắc đầu không ưng ý. Lữ lại nhắc : “ ... Lý Tài bỏ ta, gặp Nguyễn Phúc Dương chắc thế nào rồi cũng có sự quấy quá ”. Huệ nói vào nhưng Nhạc gầm gừ, nhất định không nghe.
Ðêm hôm đó, Huệ bảo Lữ “ ... có chi thì ta chịu ” rồi thả cho Dương vào Phú Yên. Tháng mười năm Bính Thân, Dương liên lạc với Lý Tài vốn đã quen biết nhau khi cùng ở Qui Nhơn. Quả nhiên, Lý Tài tiến quân về Gia Ðịnh uy hiếp khiến Ðỗ Thành Nhơn phải chạy về Ba Giòng. Tài lại ép Nguyễn Phúc Thuần nhường ngôi chúa cho Dương. Thuần và bọn cháu là anh em Nguyễn Ánh trốn về Ba Giòng. Không may, Thuần bị bắt lại. Như vậy, đúng theo dự tính của Lữ, quân chúa Nguyễn chia thành hai phe. Phe Lý Tài và quân Hòa Nghĩa ủng hộ Dương được dịp tự xưng là Tân Chính Vương, chống với phe Ðỗ Thành Nhân và quân Ðông Sơn vẫn trung thành với Thuần, nay được Dương phong làm Thái Thượng Vương nhưng không có quyền hành chi cả. Nhạc nghe tin quân chúa Nguyễn đánh lẫn nhau, hể hả lắm, ôm Lữ bảo: “ ... mi vậy mà thâm ”. Năm sau, Nhạc kêu ầm lên là thấy rồng bay từ cửa Thị Nại vào Qui Nhơn, tự mình lên ngôi, xưng là Thái Ðức Hoàng Ðế, rồi phong cho Lữ làm Tiết Chế coi tất cả việc quân. Vẫn còn bực Huệ về việc không nghe lời mình, Nhạc chỉ cho phong Huệ chức Long Nhượng tướng quân. Vỗ vai Lữ, Huệ phá lên cười, tay chỉ lên mây, nói lái “ ... ta nay lại thấy rồng lộn từ Qui Nhơn ra Thị Nại ! ”.
Giải hai giáo sĩ Ypha Nho mang thư cầu viện của Nguyễn Ánh bắt được về Gia Ðịnh, Lữ thừa biết rằng dẫu thoát, Ánh chẳng còn lực lượng gì đáng kể. Huệ vắng mặt, Lữ một mình chống cằm ngồi tư lự hàng giờ, cuối cùng cho gọi hai vị giáo sĩ lên. Từ tốn hỏi về tình hình bọn Ánh và Bá đa Lộc, rồi chìa bức thư ra, Lữ nói :
- Hai vị biết, Tây Sơn chúng tôi trọng những người giáo sĩ Gia Tôâ đi giảng đạo. Xưa, chính tôi đã tha cho Nguyễn Phúc Thuần, lại xin với giáo sĩ Jumillia là đừng can thiệp vào nội bộ chúng tôi. Ngày nay - Lữ nhướng mắt lên, chậm rãi - Hai vị cầm thư này thì không thể nói như Giáo sĩ Jumillia là vì tấm lòng người Gia Tô nhân đạo ... Tôi phải xử hai vị thế nào đây ? Chúng tôi có thể cho voi dầy hai vị, ngựa xé hai vị, hay là giảo hình tùng xẻo hai vị. Tiếc thay, hai vị không thể cho rằng mình tử vì đạo để chết yên ổn ... Hai vị chết vì a tòng với bọn giặc phản loạn chống Hoàng đế nước tôi !
Giáo sĩ Castuera và Ginestar run bắn lên, mặt tái nhợt. Ginestar sợ quá, nhũn chân ngã khuỵu xuống, không đứng lên được, ú ớ nói như mê sảng. Lữ phẩy tay cho lôi bọn họ ra, dặn chỉ giam lại.
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
|