Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:27:08 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử  (Đọc 69054 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #20 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2008, 01:23:02 am »

Chương V : MƯỜNG PHĂNG






Phần 4


   Ngay sau khi địch vừa nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, một tờ báo Thụy Điển, tờ Expressen, phỏng vấn Bác về tình hình chiến tranh Đông Dương. Bác trả lời: "Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do Pháp gây ra. Nhân dân Việt Nam phải cầm vũ khí chiến đấu 7, 8 năm nay chống kẻ xâm lược... Nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa san sàng tiếp nhận ý kiến đó". Đây không chỉ là lời đáp chính trị hay ngoại giao. Bác lúc nào cũng mong muốn hòa bình. Người không bỏ lỡ một cơ hội nào có thể đem lại hòa bình. HỒ Chí Minh là một nhà thương lượng có nguyên tấc, và biết điều. Người không bao giờ đòi hỏi ở đối phương cái mà dân tộc mình chưa thể có ngay. Người chấp nhận sự chờ đợi. Nhưng kẻ địch chưa hề đáp lại. Cả lần này cũng vậy.
  Chỉ còn nửa tháng nữa, ngoại trưởng bốn nước Liên Xô, Anh, Mỹ, Pháp sẽ gặp nhau ở Bức lanh để ra thông báo cuộc họp bàn về vấn đề "lập lại hoà bình ở Đông Dương" tại Giơnevơ vào tháng Tư tới. Có thể người Pháp đặt kỳ vọng vào kế hoạch Nava. Họ muốn ngồi vào bàn thương lượng trên thế mạnh. (Sau này, chúng ta mới biết chính Nava đã yêu cầu Chính phủ Pháp chỉ đặt vấn đề thương lượng khi đã giành được một thắng lợi quyết định trong chiến tranh Đông Dương). Mới ngày hôm trước, đại tướng Mỹ Ô đanien (O Daniel),một người có trách nhiệm đôn đốc giám sát việc thực hiện kế hoạch Nava, trực tiếp lên Điện Biên Phủ kiểm tra, đã ngỏ ý hài lòng về tổ chức phòng ngự ở đây. Mỹ đã trở thành trở ngại lớn nhất cho cuộc đấu tranh giành độc lập thống nhất của ta... Tôi bỗng thấy cần có ngay một cái gì đó ở Điện Biên Phủ...
  Tôi gọi dây nói cho Bộ tư lệnh Pháo binh. Sau khi chúc tết đơn vị, tôi hỏi về tình hình sơn pháo. Đồng chí Đào Văn Trường, quyền tư lệnh trưởng, báo cáo khác với lựa pháo quá nặng nề, các khẩu đội sơn pháo đều đã vào vị trí, và bố trí xong những trận địa giả để đánh lạc hướng quân địch khi phát hỏa. Tôi hỏi tiếp:
  - Có định làm gì để chào mừng năm mới không ?
  - Báo cáo: Anh em sẵn sàng.
  - Được Cho bắn vào sân bay.
  - Rõ. Nhưng xin chờ tới lúc trời tan sương.
  - Đồng ý. Nhắc anh em chuẩn bị đầy đủ. Ngắm thật chính xác mới bắn. Đã bắn là trúng!
  * 10 giờ, biển sương trên cánh đồng Mường Thanh mới tan Sân bay hiện ra lỗ lộ với tám chiếc khu trục Hen cát, hai máy bay thám thính Moran, và hai máy bay vận tải đakôta. Trong phút chốc, 10 trái đại bác 75 ly giội trúng sân bay. Một chiếc Moran bốc cháy, một số chiếc khác trúng đạn. Bộ chỉ huy Mặt trận quyết định tặng thưởng cho đại đội pháo binh vừa lập công tấm huân chương đầu tiên của chiến dịch.
  Những phát pháo nã vào sân bay đã làm quân địch điên cuồng. Chúng chưa tìm ra cách nào để loại trừ hiểm họa đã thực sự xuất hiện, từ nay thường xuyên lơ lửng trên đầu. Mồng 2 Tết, Đờ Cát dùng máy bay rải truyền đơn thách thức ta tiến công vào Điện Biên Phủ.
Phải chăng đây là một cách giải quyết của địch? Địch mong ta sớm lao vào cái bẫy đã được chuẩn bị kỹ ! Sự im lặng lúc này là cách trả lời tốt nhất của chúng ta. Trong những ngày đầu Xuân, tôi nhận được điện rồi thư trả lời của Bác và Trung ương, nhất trí cho rằng "quyết định thay đổi cách đánh như vậy là hoàn toàn đúng". Trung ương Đảng và Chính phủ sẽ động viên toàn dân dốc sức chi viện cho Điện Biên Phủ tới khi giành toàn thang. Hội đồng Cung cấp Trung ương đã được thành lập, do Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp làm chủ tịch, sẽ chỉ đạo các địa phương huy động nhân vật lực phục vụ tiền tuyến. Mồng 3, mồng 4 Tết, tin chiến thắng của bộ đội ta và bộ đội bạn tại lưu vực sông Nậm Hu dồn dập bay về. Nửa đêm về sáng ngày mống 5 Tết, tôi từ sở chỉ huy đi thăm pháo binh. Đây là cuộc xuất hành đầu năm của tôi.
  Trời tối đen. Sương giá phủ khớp rừng núi. Cán bộ của đại đoàn 351 tập hợp ven một quả đồi, hình như đã chờ đợi từ lâu. Mọi người vỗ tay hoan hô quên cả giữ bí mật. Tôi nhìn anh em ngồi trong bóng đêm, rồi nói :
  - Trong khi các đồng chí chuyển pháo ra thì đơn vị bạn đã tiến đến gần sông Mê Công, đánh tan 17 đại đội địch. Bây giờ các đồng chí còn thắc mắc không?
  Mọi người vui vẻ cười ồ. Tôi chúc mừng năm mới, rồi nói chuyện với anh em tới khi trời sáng. Hai cán bộ lựu pháo và cao pháo đứng lên hứa hẹn sẽ làm công sự thật vững chắc, và quyết tâm giành thắng lợi ngay trong trận đánh đầu tiên. Cũng ngày mồng 5 Tết, Bộ chỉ huy chiến dịch triệu tập hội nghị cán bộ ở Mường Phăng quán triệt phương châm tác chiến mới và tiến hành công tác chuẩn bị chiến đấu. Vùng trời Điện Biên Phủ vắng hẳn tiếng máy bay. Hầu hết lực lượng không quân vận tải và một phần không quân chiến đấu đã bị hút sang Thượng Lào.
  Cuộc họp đầu Xuân thiếu mặt đại đoàn 308 đang trên đường truy kích địch. Tôi thay mặt Tổng quân ủy chúc Tết toàn quân:
  - “Sang năm mới thu nhiều thắng lợi mới", và biểu dương những đơn vị đã kéo pháo ra an toàn. Tôi thông báo với hội nghị, Trung ương và Bác đã phê chuẩn chủ trương tác chiến mới của Đảng ủy chiến dịch, hậu phương sẽ dốc sức chi viện cho tiền tuyến tới khi giành toàn thắng.
  Tin chiến thắng trên các chiến trường Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào, Tây Nguyên, trung du, đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ đã mang lại sự phấn khởi cho hội nghị. Trong hai tháng qua, chúng ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 20.000 quân địch, giải phóng nhiều vùng đất rộng lớn có ý nghĩa chiến lược, buộc địch phải đối phó khắp nơi. Các chiến trường hậu địch trên cả nước đều đẩy mạnh chiến tranh du kích làm cho địch không đủ lực lượng để tiến hành bình định. Địch cũng không còn khả năng mở một cuộc tiến công lớn ra vùng tự do...
Câu hỏi lớn đặt ra là ta sẽ làm gì để giành thắng lợi trên mặt trận chính Điện Biên Phủ?
  * Quân địch ở Điện Biên Phủ hiện có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, gồm phần lớn là quân tinh nhuệ bậc nhất của đạo quân viễn chinh, 2 tiểu đoàn pháo 105 ly (24 khẩu), 2 tiểu đoàn súng cối 120 ly (20 khẩu), 1 đại đội pháo 155 ly (4 khẩu), 1 .đại đội xe tăng 18 tấn (10 chiếc). Lực lượng không quân thường trực tại sân bay Mường Thanh có: 7 khu trục, 5 trinh sát, 4 máy bay vận tải và 1 trực thăng. Ngoài ra, địch sẽ dành 2/3 lực lượng máy bay ném bom, máy bay tiêm kích toàn Đông Dương, và 100% máy bay vận tải để yểm trợ trực tiếp cho Điện Biên Phủ trong trường hợp bị tiến công. Tổng số quân địch tại Điện Biên Phủ khoảng 12.000 người.
  * Lực lượng ta có 9 trung đoàn bộ binh, gồm 27 tiểu đoàn, 1 trung đoàn sơn pháo 75 ly (24 khẩu), 2 tiểu đoàn lựu pháo 105 ly (24 khẩu), 4 đại đội súng cối 120 ly (16 khẩu), 1 trung đoàn cao xạ pháo 37 ly (24 khẩu), và 2 tiểu đoàn công binh. So sánh lực lượng bộ binh, ta hơn địch về số tiểu đoàn (27/12), nhưng quân số mỗi tiểu đoàn của ta chỉ bằng 2/3 quân số tiểu đoàn địch, và trang bị yếu hơn nhiều. Về lực lượng pháo yểm hộ trực tiếp cho bộ binh, ta hơn địch về số lượng (64/48 khẩu), nhưng lực lượng đạn pháo dự trữ của ta rất hạn chế. Ta hoàn toàn không có xe tăng, và chỉ có 1 trung đoàn cao xạ 37 ly để đối phó với toàn bộ không quân địch.
  Bài toán cũ về so sánh lực lượng lại xuất hiện: một lần nữa, ta không có ưu thế binh lực trước kẻ địch. Ngay về số lượng bộ binh đơn thuần, ta cũng không hơn địch bao nhiêu, thông thường, phía tiến công phải có lực lượng từ 5 lần trở lên đông hơn phía phòng ngự. Hầu hết các đơn vị chủ lực của ta đã được tung ra chiến trường. Lúc này, ta chỉ còn để lại 1 trung đoàn của 304 để bảo vệ hậu phương chiến dịch và khu căn cứ. Chúng ta vẫn ở vào thế yếu đánh mạnh. Tuy nhiên, lợi thế của ta ở Điện Biên Phủ khá rõ: Ta chủ động tiến công, địch bị động phòng ngự; ta là lực lượng bao vây, địch là lực lượng bị bao vây. Lợi thế này cho phép ta tự quyết định: đánh hoặc không đánh, lựa chọn địa điểm, thời gian mở cuộc tiến công. Đánh hay không đánh, đều có lợi cho ta. Nếu kìm giữ những lực lượng cơ động chủ yếu của địch một thời gian dài ở Điện Biên Phủ cho các chiến trường tiêu diệt địch, thì ta đã giành được một thắng lợi lớn trong Đông Xuân này.
  Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm ba phân khu yểm hộ lẫn nhau. Mỗi cứ điểm đều có khả năng phòng ngự độc lập. Nhiều cứ điểm được tổ chức lại thành cụm cứ điểm, gọi là "trung tâm đề kháng theo kiểu phức tạp", có lực lượng cơ động, hỏa lực của mình, hệ thống công sự vững chắc, chung quanh là hào giao thông và hàng rào dây thép gai, khả năng phòng ngự khá mạnh. Mỗi một phân khu gồm nhiều trung tâm đề kháng kiên cố như vậy. Mỗi trung tâm đề kháng, cũng như toàn bộ tập đoàn cứ điểm, đều có hệ thống công sự nằm chìm dưới mặt đất, hệ thống công sự phụ (hàng rào, bãi dây thép gai, bãi mìn), hệ thống hỏa lực rất mạnh.
   Phân khu trung tâm là bộ phận quan trọng nhất, tập trung hai phần ba lực lượng của địch (8 tiểu đoàn, gồm 5 tiểu đoàn chiếm đóng và 3 tiểu đoàn cơ động), có nhiều trung tâm đề kháng yểm trợ lần cho nhau, bao bọc lấy cờ quan chỉ huy, các căn cứ hỏa lực và căn cứ hậu cần, đồng thời bảo vệ sân bay. Phía đông phân khu có cả một hệ thống cao điểm rất lợi hại, đặc biệt là những ngọn đồi A1, C1, D1 E1. Những cao điểm này giữ vai trò trọng yếu trong việc bảo vệ phân khu.
Ở phía bắc, có phân khu bắc, gồm các trung tâm đề kháng: Đồi Độc lập, Bản Kéo. Đồi Độc lập có nhiệm vụ án ngữ phía bắc, ngăn chặn con đường từ Lai Châu về Điện Biên Phủ. Trung tâm đề kháng Him Lam, tuy thuộc khu trung tâm, nhưng cung với các vị trí Đồi Độc lập, Bản Kéo là những vị trí ngoại vi đột xuất nhất của địch, án ngữ phía đông bắc, ngăn chặn cuộc tiến công của quân ta từ hướng Tuần Giáo vào. Ở phía nam, là phân khu nam, còn gọi là phân khu Hồng Cúm, có nhiệm vụ ngăn chặn quân ta tiến công từ phía nam lên, đồng thời giữ đường liên lạc với Thượng Lào.
  Hỏa lực pháo binh được bố trí thành hai căn cứ: một ở Mường Thanh, một ở Hồng Cúm, có thể yểm trợ lẫn cho nhau, và cho tất cả các cứ điểm khác mới khi bị tiến công. Ngoài hỏa lực chung của tập đoàn cứ điểm, mỗi trưng tâm đề kháng còn có hỏa lực riêng, bao gom nhiều súng cối các cỡ, súng phun lửa, và các loại súng bắn thẳng bố trí thành hệ thống vừa tự bảo vệ, vừa yểm hộ cho những cứ điểm chung quanh.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Sáu, 2008, 01:34:04 am gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #21 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2008, 01:41:22 am »

 
Chương V : MƯỜNG PHĂNG





Phần 5


   Điện Biên Phủ có hai sân bay. Sân bay chính ở Mường Thanh và sân bay dự bị ở Hồng Cúm, nối liền với Hà Nội, Hải Phòng bằng một cầu hàng không, trung bình mỗi ngày có gần 100 lần chiến máy bay vận tải tiếp tế khoảng 200 - 300 tấn hàng, và thả dù khoảng 100 - 150 tấn. Cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ sẽ điện ra trên cả địa hình đồi núi và đồng bằng. Những cứ điểm nằm trên dãy đồi phía đông, tạo thành bức bình phong chc chở vững chắc cho khu trung tâm.
  Từ lâu, người ta đã nói tới vai trò của một đồn nhỏ bé đặt ở một vị trí hiểm trở, cũng như nhiều đồn như vậy được nối liền với nhau ở vùng rừng núi trong chiến tranh. Claudơvít, nhà lý luận quân sự kinh điển, mặc dù đã nhấn mạnh vào những nhược điểm cơ bản của một cuộc chiến tranh phòng ngự tuyệt đối, ở vùng rừng núi, cũng đã viết: "Đương nhiên, phải thấy là một số lớn những đồn như vậy được xây dựng sát bên nhau, tạo thành một mặt trận co sức mạnh to lớn, hầu như không thể công phá được" Mọi cuộc tiến công của bộ đội ta trên cánh đồng đều phải vượt qua hỏa lực máy bay, đại bác, xe tăng, và sự phản kích của quân cơ động, kể cả quân dù, trước khi đối đầu với hởa lực bần thẳng, hàng rào dây thép gai và bãi mìn của bản thân cứ điểm. Nhiều nhân vật cao cấp của cả Pháp và Mỹ tới thăm Điện Biên Phủ, đều đánh giá đây là một “pháo đài không thể công phá".
  Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để tạo nên một bước ngoặt mới trong chiến tranh, trước khi đế quốc Mỹ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương. Ta cần tính đến trường hợp trận đánh kéo dài tới mùa mưa, hậu cần sẽ giải quyết thế nào? Nhưng trước mắt, vấn đề quyết định lả phải tìm ra cách đánh thích hợp với trình độ của bộ đội, khoét sâu vào những nhược điểm cơ bản của địch, hạn chế tới mức thấp nhất sức mạnh phi pháo, và phát huy tới mức cao nhất khả năng tác chiến của bộ đội và tính năng các loại vũ khí của ta. Chúng ta đã nhìn thấy hai nhược điểm lớn của "con nhím Điện Biên phủ.
  * Trước hết là tính cứng nhấc và thụ động của hệ thống phòng ngự bằng tập đoàn cứ điểm mà quân địch đã lựa chọn. Tập đoàn cứ điểm là một kết cấu chặt chẽ của nhiều cứ điểm, nhưng trong thực tế, vẫn là những cứ điểm tách rời. Quân địch ở đó tuy đông, nhưng khi một cứ điểm bị tiến công thì lực lượng đối phó chủ yếu vẫn là lực lượng của bản thân cử điểm, cộng thêm với sự yểm trợ hỏa lực từ xa, và sự can thiệp của một lực lượng quân ứng chiến không đông mà ta co điều kiện để hạn chế. Nhược điểm này cho phép ta tập trung sức mạnh tiêu diệt từng cứ điểm do ta lựa chọn, vào thời gian thích hợp.
  * Thứ hai là tính cô lập của bản thân "con nhím Điện Biên Phủ. Điện Biên Phủ nằm chơ vơ giữa vùng rừng núi mênh mông đã hoàn toàn giải phóng, rất xa những căn cứ hậu phương, nhất là những căn cứ không quân lớn của địch, mọi việc tăng viện và tiếp tế đều phải dựa vào đường không. Nếu đường không bị hạn chế hay cắt đứt nó sẽ nhanh chóng mất sức chiến đấu. Khống chế sân bay, hoặc cắt đứt sân bay Mường Thanh không còn là điều khó khăn với bộ đội ta hiện nay.
  Do đó, ta đã nhọn cách "đánh chắc tiến chắc". Thay vì một cuộc tiến công vào toàn bộ tập đoàn cứ điểm, ta sẽ xây dựng trận địa bao vây, chia cắt quân địch, đưa pháo vào những vị trí an toàn, đặt các cứ điểm trong tầm bân, khống chế sân bay, tiếp đến sẽ tiến hành một loạt trận công kiên, tiêu diệt từng trung tâm đề kháng, bắt đầu từ tiêu diệt phân khu bắc, mở đường đưa bộ đội vào cánh đồng Mường Thanh, cắt đứt sân bay, tiến tới bóp nghẹt con nhím Điện Biên Phủ. Cách đánh này phù hợp với trình độ bộ đội ta, cho phép ta khoét sâu những nhược điểm của địch, biến ưu thế về binh khí kỹ thuật của địch trên chiến trường thành ưu thế áp đảo của ta trong từng trận đánh quyết giành thắng lợi.
  Tôi trình bày bản báo cáo "Tích cực hoàn thành công tác chuẩn bị tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Đảng ủy dự kiến chiến dịch sẽ phát triển qua ba bước. Bước 1, hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, gồm làm đường đưa pháo vào trận địa vững chắc, xây dựng trận địa bao vây và tiến công, chuẩn bị hậu cần chiến dịch. Lấy viện xây dựng trận địa pháo làm chuẩn về thời gian khi nào pháo đả chiếm lĩnh các trận địa bân, coi như công tác chuẩn bị cơ bản hoàn thành. Bước 2, tiêu diệt các trung tâm đề kháng ở ngoại vi, thắt chặt trận địa tiến công và bao vây, thu hẹp phạm vi chiếm đóng, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, khống chế sân bay, hạn chế đi tới triệt hẳn nguồn tiếp tế và tiếp viện của tập đoàn cứ điểm. Bước 3, khi điều kiện đã chín muồi, chuyển sang tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ.
  Để tiến hành công tác chuẩn bị, Đảng ủy đề ra một số công việc phải thực hiện ngay:
  - Tổ chức đường cơ động cho lựu pháo.
  - Tổ chức trận địa lựu pháo thật kiên cố.
  - Xây dựng trận địa tiến công và bao vây.
  - Chuẩn bị sức khỏc cho bộ đội, quân số chiến đấu, chiến thuật, k thuật (nhất là xây dựng trận địa và hiệp đồng bộ pháo).
  - Chuẩn bị công tác cung cấp.
  Mọi công tác chuẩn bị cần hết sức giữ bí mật, tránh địch gây cản trở, và tạo thế bất ngờ khi chiến dịch mở màn. Trước mắt, phải tổ chức các chốt bảo vệ khu vực trú quân thật vững chắc, đề phòng địch đánh ra. Qua cuộc họp, tôi mới biết không phải mọi người đều thắc mâc khi được lệnh kéo pháo ra. Có những người thở phào nhẹ nhõm như cất được gánh nặng, vì đã nhận thấy những khó khăn mà mình chưa biết giải quyết ra sao.
  Mọi người đều thực sự phấn khởi sau khi nghe phổ biến phương án tác chiến mới. Chúng tôi cùng nhau liên hoan chào mừng Xuân mới. Đoàn văn công Tổng cục Chinh trị và đoàn văn công vừa đi dự đại hội Liên hoan Thanh niên và Sinh viên thế giới ở Bucarét, từ đầu chiến dịch đã đi sát các đơn vị tại hỏa tuyến phục vụ liên miên, tối nay lại trở về Mặt trận bộ cùng vui Tết với hội nghị. Lần đầu, giữa núi rừng và ngay tại mặt trận, chúng tôi được xem những điệu múa lượn, múa quạt, múa sạp đầy màu sâe, duyên dáng, đậm đà hương vị quê hương.
  Mỗi lần đi chiến dịch, tôi lại trở về "ngôi nhà" quen thuộc. Nó cũng giống như phần lớn những ngôi nhà của các cơ quan ở Việt Bắc trong kháng chiến, chỉ khác là ở mặt trận nó được thu nhỏ tới mức tối thiểu, đung hơn là một cái lán. Vật liệu gồm cây, tre, luồng, lá móc, lá gồi kiếm được tại chỗ. Giữa nhà co một chiếc bàn, mặt bàn đủ rộng để trải bản đồ. Hai bên, là hai ghế dài, mặt ghế thường ghép bằng những cây vầu bổ đôi. Hai đầu nhà có hai chiếc giường giát nứa, một của tôi, một của đồng chí vệ sĩ. Không biết ai là người đầu tiên nghĩ ra kiểu nhà này. Nó đã ổn định tới mức không cần có sự cải tiến nào. Ngôi nhà lần này nằm bên sườn núi Mường Phăng, có những cây dẻ cao vút. Mường Phăng, tiếng Thái có nghĩa là "bản lạnh". Khí hậu nơi núi cao quanh năm có sương, mây, mát mẻ, trong lành. Những cây lan rừng nở hoa không rực rỡ nhưng có một mùi hương đặc biệt, khi thì thoang thoảng đến bất chợt, chú ý tìm không thấy, khi thì nồng nàn. Chiến dịch nào cá đồng chí đi trước chọn địa điểm sở chỉ huy cũng cố gắng tìm nơi có cảnh đẹp Nhưng ở đây, ngoài cảnh đẹp, chỉ cần trèo lên đỉnh núi phía sau, là nhìn thấy cánh đông Mường Thanh và tập đoàn cứ điểm của địch. Hạnh phúc lớn nhất đối với người cầm quân là được ở bên bộ đội ngay tại mặt trận.
  Một nhà lý luận kinh điển về quân sự đã nói: một mệnh lệnh của người chỉ huy nếu phải qua nhiều nấc thang mới tới được người lính, thì hiệu lực chỉ huy cũng giảm theo với những nấc thang đó. Ớ sát bộ đội tất nhiên là cần thiết, nhưng được nhìn tận mắt chiến trường, điều đó theo tôi cũng rất có ý nghĩa, vì nó gợi cho mình nhiễu suy nghĩ. Hễ có thời gian, tôi lại lên đỉnh núi, dùng ống nhòm quan sát trận địa, cảm thấy nhứ mình đang được ở chiến hào, bên cán bộ và chiến sĩ. Cơ quan tham mưu, chính trị cũng tụ tập quanh đây. Những dãy lán, mái lợp cỏ tranh, nằm rải dọc theo con suối. Bảo vệ cho sở chỉ huy vẫn chỉ có một lực lượng cảnh vệ nhỏ. Anh em trèo lên những cây cao quan sát từ xa người ra vào. Các chuyên gia bạn lần đầu sang ta đều nhận xét là ở Việt Nam kẻ định có những phương tiện và vũ khí hiện đại, nhưng công tác bảo vệ những cơ quan đầu não của ta quá sơ sài. Để bảo đảm an toàn ở hậu phương cũng như mặt trận chủ yếu vẫn là náu kín dưới tán cây rừng, và dựa vào dân. Đảng ủy Mặt trận cùng các cán bộ lãnh đạo chia nhau đi các nơi xúc tiến công tác chuẩn bị.
  Từ trước Tết, anh Lê Quang Đạo, cục trưởng Cục Tuyên huấn, đã xuống 308, anh Nguyễn Thanh Bình, phó chủ nhiệm cung cấp tiền phương, đã sang chiến trường Thượng Lào. Anh Lê Liêm xuống các đơn vị theo dõi việc phổ biến chủ trương "đánh chắc tiến chắc". Anh Hoàng Văn Thái cùng một số cán bộ tham mưu, pháo binh, công binh đi dọc các dãy núi Pú Hồng Mèo, Pú Tà Cọ tìm đường cơ động pháo và trận địa pháo.
  Chúng ta đã nhận thấy không thể tiếp tục kéo những khẩu pháo nặng hai tấn lên núi bằng tay, và bố trí trận địa pháo trên những địa hình trống trải trong một trận đánh dài ngày. Cần phải có đường cho xe kéo pháo vào trận địa; trận địa pháo phải được cấu trúc vững chắc, đủ sức chịu đựng những trận oanh kích của máy bay và pháo binh nếu chẳng may bị lộ. Làm được điều này không dễ dàng. Tập đoàn cứ điểm nam trong một lòng chảo, chung quanh là núi cao trên dưới 1.000 mét. Những ngọn núi lớn khống chế được sân bay Mường Thanh đều ở cách xa từ 10 đến 12 kilômét. Nếu đặt pháo ở sườn núi bên ngoài lông chảo thì mục tiêu cũng ở ngoài tầm bân. Chúng ta buộc phải bố trí pháo ở sườn núi bên trong lòng chảo. Đây lại chính là điều nằm trong sự tính toán từ trước của địch. Viên chỉ huy pháo binh ở Mường Thanh đã cam kết với Na va chỉ cần sau ba phát pháo của Việt Minh, hỏa điểm sẽ lập tức bị dập tắt Ta đã biết khả năng của quân Pháp trong những cuộc phản pháo.
  Lúc này chúng ta rất cần một tấm bản đồ chính xác về Điện Biên Phủ. Từ đầu chiến dịch, các đơn vị quân báo, trinh sát ở mặt trận đã nhận lệnh phải tìm mọi cách đoạt bản đồ của địch. Sau này mới biết không riêng ta mà cả bộ tham mưu pháp cũng rất lo lắng vì những tấm bản đồ cũ có nhiễu sai sót sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng hỏa lực không quân, đặc biệt là pháo binh. Người Pháp đã phải dùng máy bay để chụp bản đồ Điện Biên Phủ.
  Ngày 28 tháng 12 năm 1953, một số chiến sĩ quân báo của 308 do đại đội trưởng Kim Giao chỉ huy, gan dạ phục kích tại một bản gần đồi Độc Lập, nơi quân địch thường tới tuần tiễu và nghiên cứu chuẩn bị lập một trung tâm đề kháng mới. Họ đã nằm tại đây từ nửa đêm. Trời sáng một lúc, nghe có tiếng ôtô. Và sau đó quân Pháp xuất hiện. Một toán địch đi tới gần trận địa. Chiến sĩ trinh sát Trần Mạnh Phấn phát hiện một sĩ quan to béo đeo lon trung tá, cầm trong tay chiến cặp đựng tài liệu Phấn nhả một băng tiểu liên hạ gục viên sĩ quan, xông tới giành lấy chiếc cặp, rồi cả toán rút lui. Họ đã gặp may. Đó chính là trung tá Guýt (Guyth), tham mưu trưởng của Đờ Cát. Trong cặp có nhiễu tài liệu quan trọng và một bản đồ về cấu trúc của tập đoàn cứ điểm. Nhưng đây chỉ là một sơ đồ, chưa phải tấm bản đồ chính xác mà pháo binh đang cần.
  Đầu tháng 2 năm 1954, tôi nhận được báo cáo, đại đội 42 thuộc tiểu đoàn 426 của Bộ đã lấy được một tấm bản đồ của địch chụp bằng máy bay. Sự kiện này đã được Béena Phấn ghi lại: "Ngày 1 tháng 2 năm 1954, hồi 15 giờ 30, tiểu đoàn Thái số 2 đang tiến về cao điểm 628 nhằm mục đích phát hiện trận địa pháo của địch thì bị một loạt đạn dữ dội quét vào cuối đội hình. Trung úy Negơrơ (Nègre) cùng với 16 binh lính gục ngã ngay tại trận địa. Sau đó một trận đánh giáp lá cà diễn ra. Nhờ sự can thiệp nhanh của một đơn vị dù, mà tiểu đoàn này tránh khỏi bị tiêu diệt. Những thiệt hại về sinh mạng đã là một đòn nặng, nhưng cộng vào đó còn một đòn khác mang điềm dữ hơn nhiều. Trong người trung úy Negơrơ, có một tấm bản đồ 1/25.000 mới in về thung lũng Điện Biển Phủ mà quân đội vừa kịp dựng lại từ những bức ảnh do máy bay chụp được. Có tấm bản đồ này, Việt Minh sẽ co điều kiện hiệu chỉnh đường bắn pháo binh của họ với độ chính xác cao nhất".
  Đồng chí Phần, trinh sát viên lập công, được tặng thưởng ngay huân chương chiến công hạng ba.
  Tấm bản đồ lập tức được gửi về hậu phương nhân bản để kịp thời phục vụ chiến dịch. Nhưng lúc này, đoàn cán bộ điều tra vị trí đặt trận địa pháo và vạch những tuyến đường cho xe kéo pháo, mới chỉ có trong tay tấm bản đồ 1/100.000 thiếu rất nhiễu chi tiết, và mấy chiến ống nhòm, la bàn. Họ vừa đi vừa mở đường, quan sát địa hình, ước tính đố dốc, bổ sung những ngọn núi, con suối không có trên bản đồ. 6 trục đường được vạch ra qua nhiều vùng đồi núi cao nối liền từ phía động sang phía bắc Mường Thanh. Những khẩu pháo đặt ở đây có thể bắn tới mục tiêu xa nhất là Hồng Cúm.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #22 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2008, 01:50:32 am »

Chương V : MƯỜNG PHĂNG





Phần 6

  Ngoài trung đoàn công binh 151 làm nòng cốt, phần lớn các đại đoàn 812, 316 và trung đoàn 675 được huy động vào nhiệm vụ làm đường cơ động pháo. Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn dẫn đầu đơn vị mở lối tiến vào rừng sâu nhận cọc dấu, và bổ những nhát cuốc đầu tiên. Công binh phải làm những cây cầu vượt suối có sức chịu đựng 10 tấn, bảo đảm cho xe qua lại trong mùa mưa lũ. Nhiều vấn đề nảy sinh. Có những chỗ ngoặt theo yêu cầu của pháo binh phải mở rộng 12 mét, nhưng mới tính mở rộng 6 mét thì thành vại đã cao tới 20 mét! Một lần, tôi được báo cáo: một tuyến đường sắp hoàn thành thì gặp dãy núi đá nằm chắn ngang! Anh Hoàng Văn Thái phải tới tận nơi trực tiếp giải quyết những vấn đề này.
  Việc tìm trận địa cho pháo cao xạ cũng gặp khó khăn. Chỉ huy trung đoàn cao xạ báo cáo: trên những địa hình hiện tại, nếu căn cứ vào bài học ở nhà trường, thì chỉ đạt được một trong tám điều kiện phải có để thiết lập một trận địa pháo cao xạ, là: "không gần đường dây cao thế quốc gia". Tôi đã nói: "Đúng là các đồng chí có khó khăn, nhưng cũng đừng lệ thuộc hoàn toàn vào những quy tắc đã học ở nhà trường. Phải cố gắng phát huy tinh thần sáng tạo của quân đội nhân dân, của pháo binh cách mạng Việt Nam". Chỉ sau hơn hai chục ngày lao động khẩn trương, cả sáu tuyến đường cơ động pháo, dài 70 kilômét, đã hoàn thành. Khi trận Điện Biên Phủ kết thúc, đoàn tù binh đi qua những con đường này về trại tập trung, đã nhận xét: "Riêng với việc làm được những trục đường này, các ông cũng đủ thắng chúng tôi rồi !".
  Việc xây dựng các hầm pháo tốn khá nhiều công sức. Hầm pháo nằm sâu trong lòng núi, có công sự bắn, công sự ẩn nấp riêng, đủ rộng để pháo thủ thao tác dễ dàng khi chiến đấu. Nấp hầm dày trên 3 mét, gồm nhiều lớp gỗ, đất, xen với những lớp bó trúc, đủ sức chịu đựng pháo 105 ly. Cạnh hầm pháo, là hầm chỉ huy và hầm chứa đạn. Cứ bốn khẩu đội, lại có chung một hầm làm nơi hội họp hoặc vui chơi. Nối liền các hầm pháo là hào giao thông khá rộng và sâu, có rãnh thoát nước và hố tránh bom napan. Lại có đường hào nối từ trận địa pháo về tuyến cung cấp, nơi có đủ hầm ăn, hầm ở, hầm thương binh, hầm nấu ăn, hầm giấu xe... Bên mỗi trận địa thật đều có một trận địa giả để thu hút bom đạn địch. Đào một hầm pháo trung bình phải moi từ lòng núi khoảng 200 tới 300 khối đất đá, rồi đổ toàn bộ lên nấp hầm. Gỗ lát nóc hầm có đường kính từ 30 phân. trở lên. Toàn bộ số gỗ này phải lấy từ xa, khoảng 9 - 10 kilômét, đưa về để không làm lộ trận địa. Một khối lượng công trình khổng lồ ! Có những chiến sĩ một ngày phải bổ tới hai, ba ngàn nhát cuốc. Tất cả những lưỡi xẻng, lưỡi cuốc đem ra dùng đều mòn vẹt. Các trận địa lựu pháo được bố trí cách khu trung tâm Mường Thanh khoảng 7 kilômét, và cách các vị trì ngoại vi 4 - 5 kilômét. Do đó, không những cần phải ngụy trang toàn bộ công trình trước con mắt xoi mói của máy bay trinh sát mà còn phải không để cho quân địch ở các vị trí ngoại vi nghe được tiếng nổ mìn phá đá, chặt cây, đào đất. Công trình chuẩn bị trận địa pháo chu đáo đã làm viên chỉ huy pháo binh của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn thất vọng ngay sau khi trận đánh bắt đầu Y đã tự kết liễu đời mình bằng một trái lựu đạn. Trong thời gian pháo thủ đánh vật với hầm hào, các chiến sĩ quan trắc, thông tin cũng lăn lộn với đèo dốc, sương mù, đêm tối và bom đạn để hoàn thành việc đo đạc, lập tọa độ các mục tiêu, và nối mạng dây thông tin dài hơn 60 kilômét của riêng trung đoàn lựu pháo. Có những đồng chí đã hy sinh trong thời gian chuẩn bị.
  Để bảo đảm thực hiện phương châm "đánh chắc tiến chức" thành công, việc xây dựng trận địa bao vây và tiến công có tính quyết định. Công việc này rất mới mẻ. Trận địa chiến hào của ta không có vật chướng ngại bảo vệ, như dây thép gai, bãi mìn, nhưng nó phải bảo đảm điều kiện cho các hoạt động chiến đấu, cũng như mọi sinh hoạt bình thường và lâu dài của bộ đội. Nó không chỉ giúp cho bộ đội tiếp cận các vị trí địch dưới bom đạn, cả ban đêm và ban ngày, mà còn là nơi cơ động pháo, vận chuyển thương binh. Nó là cả một hệ thống hầm, hào lớn, nhỏ phức tạp vừa mang tính tiến công, vừa mang tính phòng ngự, đặc biệt là có chiều dài cả trăm kilômét. Trong đợt đầu, chúng ta xây dựng một đường hào trục chung quanh cánh đồng Mường Thanh) và đường hào tiếp cận những trung tâm đề kháng bảo vệ tập đoàn cứ điểm ở phía bắc.
  Các cố vấn Trung Quốc giới thiệu với chúng ta kinh nghiệm của bạn trong chiến dịch Hoài Hải. Tại đây, giải phóng quân đã đào những đường hào cho pháo và ô tô vận động dưới những trận oanh kích của địch. Các đồng chí cũng nhắc đến kinh nghiệm chiến đấu đường hầm ở Triều Tiên. Quân chí nguyện Trưng Quốc và quân đội Triều Tiên đã kiến thiết những đường hầm trong lòng núi tuyệt đối an toàn trong những trận đấu pháo với địch.
  Anh Thái tổ chức cho một đơn vị công binh đào thực nghiệm trên cánh đồng gần sở chỉ huy Mường Phăng để rút kinh nghiệm. Tôi cùng đồng chí Cố vấn Mai Gia Sinh trực tiếp theo dõi việc đào trận địa chiến hào của một tiểu đội theo những yêu cầu Bộ chỉ huy Mặt tràn đã đề ra. Sau đó, Ban tham mưu Mặt trận ra chỉ thị hướng dẫn cho các đơn vị kích thước tiêu chuẩn cán loại hầm, hào và năng suất khối lượng đất đào trong một ngày. Cơ quan tham mưu mặt trận cử cán bộ xuống các đại đoàn để chỉ đạo xây dựng trận địa.
  Chung quanh Điện Biên Phủ bắt đầu xuất hiện một công trường khổng lồ. Những con đường cơ động pháo nhanh chóng hiện ra dưới rừng cây, hoặc dưới dàn ngụy trang không đổi màu. Rất nhiều chiến hào từ núi cao đổ xuống cánh đồng, không ngừng mọc thêm những nhánh mới, không ngừng lan rộng.
  Từ đầu chiến dịch, công tác chính trị đã được tiến hành rất tốt. Dọc đường hành quân, chúng ta đã giải quyết cho bộ đội tư tưởng muốn về đánh đồng bằng, bằng cáeh giáo dục phương châm "Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt của Trung ương. Những lúc bộ đội tưởng về xuôi lại hóa lên ngược, đang đi được lệnh dừng, đang dừng được lệnh đi nhanh, anh em không thắc mắc nhiều. Cuối cùng, mọi người đều xác định: "Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi"I. Trên con đường dài tới mặt trận, mặc dù luôn luôn bị máy bay địch cản trở, tinh thần bộ đội không hề xao xuyến, rất ít người rơi rớt dọc đường. Đây là một cuộc hành quân chiến dịch tốt nhất từ xưa tới nay.
Công tác chính trị lúc này triển khai một cánh sâu rộng. Trước tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có, chúng ta đã xây dựng cho bộ đội một quyết tâm chiến đấu rất cao. Cán bộ, chiến sĩ đã thấy được chỗ mạnh, chỗ yếu của địch, những điều kiện tất thắng của ta. Ý nghĩa to lớn của chiến dịch thấm tới từng người: "Tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch, đập tan kế hoạch Na va, đánh bại âm mưu kéo dài chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp - Mỹ, mở ra một cục diện mới cho kháng chiến". Những khẩu hiệu của chiến dịch đã trở thành niềm quyết tâm của mọi người :
  - Tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ!
  Địch cố thủ, kiên quyết đánh!
  Địch bỏ chạy, kiên quyết truy!
  Địch tăng cường, kiên quyết diệt!...
  Đợt học tập mới đã giúp mọi người nhận thấy sự chính xác của phương châm tác chiến "đánh chắc tiến châm" trên cơ sở so sánh mọi khó khăn, thuận lợi của ta và địch. Tổng quân ủy gửi thư hiệu triệu toàn thể cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ Trung ương Đảng đã trao. Nhân ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân 22 tháng 12 năm 1953, Bác đã trao cho mỗi đại đoàn, mỗi quân khu một lá cờ "Quyết chiến Quyết thắng" làm giải thưởng luân lưu. Các chi bộ đều mở hội nghị xác định thái độ đảng viên, kêu gọi đảng viên dẫn đầu trong chiến đấu, cắm bằng được lá cờ của Bác trên nóc sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm. Lá cờ Quyết chiến Quyết thắng đã trở thành một biểu tượng thiêng liêng trong chiến dịch, ngọn đuốc dẫn đường đi tới chiến thắng trong mỗi trận đánh.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #23 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2008, 02:03:29 am »

Chương VI : CON NHÍM ĐIỆN BIÊN PHỦ



Phần 1

  Thời gian đầu, việc xây dựng công trình phòng ngự ở Điện Biên Phủ do đại đội công binh của binh đoàn không vận số 2 chịu trách nhiệm. Công việc chủ yếu của linh công binh là sửa chữa đường băng sân bay và bắc cây cầu gỗ qua sông Nậm Rộm nối liền sân bay với làng Mường Thanh và đường 41. Năm ngày sau khi quân Pháp nhảy dù, chiến đakôta đầu tiên hạ cánh xuống sân bay. Những tiểu đoàn dù tự xây dựng công sự phòng thủ bịt con đường phía bắc, từ Lai Châu xuống, cũng như phía tây - nam, từ Lào sang, ngăn không cho bộ đội ta tiếp cận sân bay, và trên những mỏm đồi phía đông sau này là trung tâm đề kháng êlian (Eliane). Cấu trúc tập đoàn cứ điểm mới được phác họa trên những nét lớn.
  Việc xây dựng công trình phòng ngự lâu dài chỉ thực sự bật đầu khi bộ chỉ huy Pháp biết tin những đại đoàn chủ lực của ta đang vận động lên Tây Bắc. Ngày 4 tháng 12 năm 1953, tiểu đoàn công binh số 31 được đưa lên Điện Biên Phủ thay thế đại đội công binh dù. Công việc trước tiên của tiểu đoàn là dùng ghi sân phủ toàn bộ 6.000 m2 đường băng cho máy bay vận tải hạng nặng hạ cánh. Những tấm ghi này có thể thay thế hữu hiệu đường băng bê tông trong một thời hạn nhất định.
  Những ngày sau đó là cuộc không vận tăng viện Ồ ạt cho Điện Biên Phủ. Một số đơn vị dù được đưa về Hà Nội làm lực lượng dự bị và thay thế bằng những đơn vị lê dương thích hợp với cuộc chiến đấu phòng ngự hơn. Pháo không giật và những khẩu pháo 105 kém chất lượng chuyển từ Lào sang thời kỳ đầu cũng được thay thế bằng pháo 105, 155 và cối 120, nhiều khẩu mới nhận của Mỹ.
  Ngày 16 tháng 12 năm 1958, Đờ Cát ra lệnh cho tất cả các đơn vị phải củng cố vị trí chống được pháo 105 của đối phương. Muốn vậy, nắp hầm phải có hai lớp khúc gỗ đường kính 15 xăngtimét cánh _nhau một mét đất được lèn nhặt, bên trên co những bao tải đất để chống mảnh nổ. Việc bảo vệ một tiểu đội chiến đấu chống lại pháo 105 cần tới 30 tấn nguyên liệu. Xuyđơra (Sudrat), chỉ huy tiểu đoàn công binh, tính toán muốn xây dựng một công trình phòng ngự cho 12 tiểu đoàn ở Điện Biên Phủ phải có 36.000 tấn vật liệu. Quân Pháp ra lệnh phá nhà sàn của dân thu được 2.200 tấn gỗ tốt. Cuộc không vận tăng viện cho Thượng Lào thu hút phần lớn máy bay vận tải. Cuối cùng, bộ chỉ huy Pháp chỉ đáp ứng được con số tối thiểu: 8.000 tấn; trong đó, có 3.000 tấn dây thép gai, 510 tấn ghi lát cho sân bay chính ở Mường Thanh và sân bay dự bị ở Hồng Cúm, 44 tấn cấu kiện xây dựng một chiếc cầu Bailey, 70 tấn gồm 5 chiến xe ủi đất, 4,5 tấn thép, 130 khối gỗ và 30.767 trái mìn các loại. Theo Xuyđơla, số vật liệu này chỉ đủ cho trận địa phân khu trung tâm, trung tâm truyền tin và phòng X quang trong bệnh viện dưới lòng đất, số còn lại phải do các đơn vị tự xoay xở bằng cách thu thập tại chỗ ! Tập đoàn cứ điểm hình thành với ba phân khu: phân khu trung tâm, phân khu bắc, và phân khu nam.
  Phân khu trung tâm nằm chung quanh sân bay Mường Thanh, co năm trung tâm đề kháng: Huy ghét (Huguettc gồm một số cứ điểm nằm ở tây sân bay, hữu ngạn sông Nậm Rộm; Clôđin (Claudine), gồm những cứ điểm nằm ở nam sân bay, hữu ngạn sông Nậm Rộm; êlian (éliane), gồm những cứ điểm ở phía đông phân khu trung tâm, tả ngạn sông Nậm Rộm; đôminích (Dominique), gồm những cứ điểm ở đông sân bay, tả ngạn sông Nậm Rộm; và êpéeviê (Epervier), cơ quan sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm. Hai phần ba quân địch cùng với trên 30 cứ điểm liên kết với nhau thành một khối rắn chắc quanh sân bay và dãy đồi ở phía đông cánh đồng. Đây sẽ là nơi quyết định thành bại của trận đánh. Một trung tâm đề kháng không nằm trong phân khu trưng tâm nhưng lại gắn liền với nó là Bêatơtixơ (Béatrice), gồm những cứ điểm ở bằc phân khu 2,5 kilômét, có nhiệm vụ ngăn chặn quân ta từ Tuần Giáo tiến vào theo đường 41. Để bảo vệ cho phân khu trung tâm từ xa ở hướng bâc trên con đường tử Lai Châu về, có phân khu bâe, gồm hai trung tâm đề kháng: Gabơrien i ư urielle), nằm cách xa phân khu trung tâm 4 kilômét, và An nơ Mai (An nc Marie), nằm gần sân bay Mường Thanh. Để bảo vệ phân khu trung tâm ở phía nam có phân khu Idaben (Isabelle) nằm cách phân khu trung tâm 5 kilômét trên con đường sang Thượng Lào. Idaben với trên hai ngàn quân và một sân bay cùng với phân khu trung tâm Mường Thanh co thể ứng cứu, chi viện cho nhau bằng hỏa lực và bộ binh khi bị tiến công.Bộ chỉ huy Pháp đưa tới sân bay Mường Thanh 6 máy bay trinh sát và một phi đội máy bay ném bom - tiêm kích, do thiếu tá Ghêranh (Jacques Guérin) chỉ huy. Quân Pháp đã xây dựng những nơi trú ẩn cho máy bay khi không làm nhiệm vụ.
  Đấu tháng Mười hai, Đờ Cát thấy cần phải có những xe tầng hạng nhẹ cho Điện Biên Phủ, 10 trong số 18 chiếc M.24 Chaffec của Hoa Kỳ mới viện trợ, được chuyển tới Điện Biên Phủ bằng một cầu hàng không đặc biệt gồm năm chiến máy bay C.47 và hai máy bay vận tải Bristol của Anh.
  Mặc dù biết ta không có máy bay, nhưng thiếu tá Vôn (Vaughn), cố vấn Mỹ ở tập đoàn cứ điểm, khuyên Đờ Cát nên yêu cầu Hà Nội chuyển cho mình loại trọng liên cao xạ 12,7 ly bốn nòng; anh ta nói mình đã chứng kiến những khẩu súng này biến những đợt tiến công của quân địch thành những mảnh vụn trên chiến trường Triều Tiên. Và Đờ Cát đã được đáp ứng.
  Đã tới lúc nên điểm diện những nhân vật và những đơn vị liên quan trực tiếp đến sự thành bại ở Điện Biên Phủ. Nhiều người trong cơ quan chỉ huy Pháp ở Đông Dương gọi Điện Biên Phủ là "trận đánh của Tổng chỉ huy" (la bataillc du Généchef). Đúng là không có Nava thì không có việc đưa quân lên Tây Bắc trong đông Xuân 1953-1954. Nava cũng tự nhận là tác giả con nhím Điện Biên Phủ và mình chịu trách nhiệm về nó. Do đó, mọi quyết định lớn ở Điện Biên Phủ đều thuộc quyền tổng chỉ huy. Theo báo Time, một quan chức cao cấp ở Oasinhtơn đánh giá "Nava là một người can đảm, kiên quyết và giầu tưởng tượng. Ông ta biết nghề nghiệp của mình, có bản lĩnh quân sự và chính trị hạng nhất... Ông ta đứng đầu một kíp mới có vẻ như xuất sắc".
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #24 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2008, 10:40:35 am »

Chương VI : CON NHÍM ĐIỆN BIÊN PHỦ





Phần 2

  Cônhi là người trực tiếp với trận đánh. Cônhi lúc đầu không tán thành cuộc hành binh Castor, sau đó lại rất đồng tình với việc xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm "kiểu Nà Sản" để giành chiến thắng. Lực lượng ở Điện Biên Phủ, trừ ba tiểu đoàn ở Lai Châu chuyển về, đều lấy từ đồng bằng Bắc Bộ. Cônhi đã làm tất cả những gì có thể làm được cho canh bạc này.
  Tướng Gin là người đã chỉ huy tập đoàn cứ điểm Nà Sản và đánh chiếm Điện Biên Phủ nhưng không có vai trò gì lớn trong trận đánh. ông ta đã khôn ngoan viện lý do mình là sĩ quan dù không thích hợp với nhiệm vụ để sớm rút khỏi sân khấu. Một số người được gợi ý đảm đương trọng trách này đã từ chối, vì không muốn sự nghiệp của mình sẽ tiêu ma, Cuối cùng, cả Cônhi và Nava thống nhất chọn Đờ Cát. Sau cuộc chiến, qua lời khai của tù binh cũng như qua sách báo phương Tây, chúng ta có điều kiện hiểu thêm về những nhân vật chủ chốt của tập đoàn cứ điểm.
  Đờ Cát (Christian Maric Ferdinand de la Croix de Castries), chỉ huy trưởng, 52 tuổi, được biết đến trong quân viễn chinh vì nguồn gốc quý tộc của mình và lòng dũng cảm. Đờ Cát tham gia nhiều trận đánh ở Pháp, Đức, Ý, và Đông Dương. Tháng 4 năm 1940, với 60 binh lính, Đờ Cát đã cầm cự suốt ba ngày với một tiểu đoàn quân Đức và chỉ chịu trở thành tù binh khi đã bị thương và bắn hết đạn. Đờ Cát ba lần trốn khỏi trại giam, và thành công lần cuối bằng cách cùng với hai mươi sĩ quan khách đào một đường hầm. Đờ Cát đã vượt một chặng đường dài đầy khó khăn từ Đức trở về Pháp rồi đến với lực lượng kháng chiến Pháp ở Bắc Phi.
Riêng với những thành tích này Đờ Cát đủ xứng đáng được lựa chọn làm người chỉ huy một công trình phòng ngự quan trọng. Đờ Lát đờ Tátxinhi đã chỉ định Đờ Cát sang Đông Dương lần thứ hai, và trao nhiệm vụ chỉ huy Khu Nam đồng bằng Bắc Bộ. Nava đã biết Đờ Cát trước đó hai mươi năm ở tập đoàn quân 1, khi Đờ Cát còn là sĩ quan hậu cần, và sau đó là đại đội trưởng trong binh đoàn thiết giáp Ma rốc thứ ba (3è Spahis Marocain) của Nava trong chiến dịch Alsace.
  Có người hỏi Nava vì sao lại trao quyền chỉ huy Điện Biên Phủ đáng lẽ phải là một viên tướng, cho một đại tá? Nava trả lời: cả tôi lẫn Cônhi đều không trông lon mà xét người nên cũng chẳng sùng bái gì lâm mấy ngôi sao cấp tướng. Tôi khẳng định: trong số các chỉ huy được lựa chọn, không ai có thể làm giỏi hơn Đờ Cát ?".
  Một nhân vật thứ hai giữ vai trò quan trọng tại tập đoàn cứ điểm là Lănggơle. Sau cuộn chiến, nhiều người nói Lănggơle mới thực sự là người chỉ huy ở Điện Biên Phủ, tuy về chức vụ, ông ta chỉ là phó của Đờ Cát. Lănggơle được coi là dũng cảm và quyết đoán trong chỉ huy, đã cùng với binh đoàn không vận số 2 của mình nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Hai nhân vật này đều là những sĩ quan chuyên nghiệp khá điển hình trong quân đội Pháp, nhưng lại có những xuất xứ và cá tính trái ngược nhau.
  Đờ Cát thuộc một dòng họ có quá trình binh nghiệp lâu đời, ông cha đã nhiều người làm tướng, có người làm tới thống chế, bộ trưởng hải quân. Lănggơle chỉ là một người dân của xứ Brơtanhơ (Bretagne) nghèo nàn ở miền tây nước Pháp. Nhưng Đờ Cát lại xuất thân từ một lính ky binh thực thụ, sau đó được đưa đi đào tạo thành sĩ quan Lănggơle trái lại, là một sĩ quan được đào tạo cơ bản từ đầu tại trường quân sự Saint Cyr nổi tiếng. Đờ Cát luôn luôn tỏ ra nhẹ nhàng, lịch thiệp, sống cách biệt với cấp dưới. Lănggơle thính sống cô độc, nói năng cục cằn, hay cáu kỉnh, nhưng lại rất gắn bó với binh lính.
  Bigia (Marcel Mauricc Bigeard), chỉ huy tiểu đoàn dù thuộc địa số 6, có lẽ là nhân vật tiêu biểu nhất của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Bigia nổi tiếng là một viên chỉ huy bất trị, hay cãi khi cấp trên ra mệnh lệnh không hợp ý mình, nhưng lại biết ứng phó khi gặp khó khăn trong chiến đấu. Bigia thường nói với binh linh: "Hãy tập nhìn thẳng vào cái chết. Người ta sinh ra anh để mà chết. Hãy đi đến nơi cái chết đang chờl. Nhiều bạn bè không chịu được Bigia, nhưng y lại được binh lính mến phục. Bigia nhanh chóng trở thành chỉ huy phó của khu trung tâm tập đoàn cứ điểm. Bigia và tiểu đoàn dù 6 không xa lạ với bộ đội ta. Ở Nghĩa Lộ trong chiến dịch Tây Bắc , trung đoàn 165 đã đánh đuổi tiểu đoàn này đến bờ sông Đà, sau đó nó phải trở về Hà Nội để củng cố. Bigia là nhân vật trực tiếp chạm trán với bộ đội ta ở Điện Biên Phủ trong những trận phản kích quyết liệt. Một thời gian sau Điện Biên Phủ, Bigia trở thành bộ trưởng Quốc phòng Pháp.
Cả ba viên sĩ quan này đều tới Đông Dương rất sớm.
  Đờ Cát có mặt từ năm 1946, chỉ huy một đơn vị cơ giới nhẹ, co tiếng là sục sạo giỏi. Lănggơle đã chiến đấu với Vệ quốc đoàn và Tự vệ trên đường phố Hà Nội mùa Đông năm 1946, đã ở biên giới Việt - Trung, Trung Bộ, Thượng Lào. Bigia tới Sài Gòn từ thời tướng Lơeléc, tháng 10 năm 1945, và suốt tám năm chưa hề rời chiến trường. Bi gia đã dành nhiều thời gian tìm hiểu cánh đánh của ta. Sau khi nhận chức ngày 8 tháng 12 năm 1953, Đờ Cát đã bật tay vào việc, xây dựng công trình phòng ngự lâu dài, và yêu cầu nâng quân số tập đoàn cứ điểm lên 12 tiểu đoàn gồm những đơn vị co chất lượng. Cônhi đã nhanh chóng đáp ứng yêu cầu này Trừ 2 tiểu đoàn bộ binh Thái và 1 tiểu đoàn dù ngụy là người bản xứ, do những sĩ quan Pháp chỉ huy, số còn lại đều là những đơn vị âu Phi được lựa chọn trong các binh .đoàn cơ động, gồm 5 tiểu đoàn bộ binh và dù lê dương, 4 tiểu đoàn Bắc Phi. Tất cả đều là những đơn vị có truyền thống lâu đời hoặc đã được thử thách nhiều trong chiến đấu và có chỉ huy tốt. Tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 3 của bán lữ đoàn lê dương thứ 13 (13è DBLE) được coi là một trong những đơn vị huyền thoại của quân đội Pháp, chưa hề thua trận kể cả những ngày đen tối trong đại chiến thế giới lần thứ hai.
  Bộ đội ta đã từng chạm trán với bán lữ đoàn này trong chiến dịch Hoà Bình và những trận càn quét lớn ở đồng bằng Bắc Bộ. Tiểu đoàn 1 trung đoàn bộ binh lê đương số 2 (112 REI), tiểu đoàn 3 trung đoàn bộ binh lê dương số 3 (313 BEI) là những tiểu đoàn mạnh gồm phần lớn binh lính người Đức nhưng cũng có cả người ý, người Tây Ban Nha, người Nam Tư. Tiểu đoàn dù lê dương số 1, tiểu đoàn dù xưng kích số 8 thuộc binh chúng con cưng mà người Pháp rất tự hào, vẫn được dùng để quyết định chiến trường. Chúng được chọn làm lực lượng phản kích của tập đoàn cứ điểm. Các đơn vị lê dương vốn được coi là nòng cốt của quân đội viễn chinh.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Sáu, 2008, 10:42:09 am gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #25 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2008, 10:51:13 am »

Chương VI : CON NHÍM ĐIỆN BIÊN PHỦ




Phần 3


 Tiểu đoàn 2 trung đoàn bộ binh Angiêri số 1 (2/1 RTA), tiểu đoàn 3 trung đoàn bộ binh Angiêri số 3 (3/3 RTA), tiểu đoàn 5 trung đoàn bộ binh Angiêri số 7 (5/7 RTA), tiểu đoàn 1 trung đoàn bộ binh Marốc số 4 là những đơn vị tin cậy từng tham gia những trận đánh ở Nam Bộ, Trung Bộ, đồng bằng Bắc Bộ và ở Lào. Tiểu đoàn Thái số 2 (BT 2), tiểu đoàn Thái số 3 (BT 3) là những lực lượng đã được thử thách tại Nghĩa Lộ và Nà Sản.
  Xuất thân từ pháo binh, Cônhi rất coi trọng hỏa lực. Từ thời Napôlêông, nước Pháp đã tự hào về pháo binh. Người ta quyết định chọn cho Đờ Cát một viên phó chỉ huy đặc trách pháo binh. Đó là đại tá Pirốt (Charles Piroth). Pirốt đã mất cánh tay trái trong một trận đánh tại Ý năm 1943, và vẫn được giữ lại trong quân đội vì những kinh nghiệm chuyên môn giỏi của mình. Theo ý kiến của Cônhi, chàng pháo thủ Pirốt là sự bổ sung tuyệt vời cho kỵ sĩ Đờ Cát. Những đơn vị pháo binh giỏi được điều lên Điện Biên Phủ. Đó là tiểu đoàn 3 trung đoàn pháo thuộc địa thứ 10 (3110è RAC), một đơn vị pháo phối thuộc với bán lữ đoàn lê dương thứ 13. Tiểu đoàn thứ hai thuộc trung đoàn pháo thuộc địa thứ tư (4è RAC), trung đoàn pháo kỳ cựu nhất của Pháp ở châu á, đã có mặt tại Bắc Kỳ từ những năm 1883-1885 và trong- cuộc xâm lăng vào Trung Quốc năm 1890 ở Thiên Tân, Bắc Bình. Trọng pháo 155, loại pháo lớn nhất của quân đội Pháp tại Đông Dương, được đưa lên Điện Biên Phủ. Ngoài hai tiểu đoàn pháo rất đáng tin cậy, còn có ba đại đội cối hạng nặng 120, mặc dù bắn không xa và không thật chính xác, nhưng với cách bắn cầu vồng co thể phá hoại các giao thông hào của đối phương. Loại pháo này được trang bị cho các trung tâm đề kháng trọng yếu.
  Theo cách đánh giá của phương Tây thì khu trung tâm tập đoàn cứ điểm chỉ rộng khoảng 2,5 kilômét vuông đã có tới 12 khẩu 105, 4 khẩu 155, 24 khẩu cối 120 và 81 và một số dự trữ đạn dược đồ sộ (tương đương từ 6 đến 9 cơ số đạn trước trận đánh) là quá mạnh.
Một điều chúng ta còn ít chú ý là ngay từ đầu bộ chỉ huy Pháp đã không coi căn cứ bộ binh - không quân Điện Biên Phủ là một điểm ngăn chặn đơn thuần; quân Pháp không phòng ngự một cách bị động chờ bộ đội ta tới tiến công. Mười ngày sau khi nhảy dù xuống Mường Thanh, ngày 30 tháng 11 năm 1953, Cônhi chỉ thị cho binh đoàn đồn trú phải tiến hành ngay những cuộc hành binh thọc sâu vào phía sau đối phương, bắt liên lạc với những đơn vị biệt kích tại Tây Bắc, hỗ trợ cho lực lượng này đẩy mạnh các hoạt động quấy rối. Pháp chủ trương đưa cuộc chiến vào hậu phương ta để bảo vệ cho khu vực mới chiếm đóng. Bécna Phôn đã ghi lại một cách khá đầy đủ những hoạt động giải tỏa của Đờ Cát trong thời gian này. Đầu tháng 12 năm 1954, tiểu đoàn dù xung kích số 8 do Tua rê chỉ huy, được tăng cường một đại đội ngụy Thái tiến lên phía bậc. Chúng hành quân hai ngày lên tới Mường Pồn và dãy núi Pha Thông không gặp trở ngại.
Trong khi đó, tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 của Xukê (Souquet) và một bộ phận của tiểu đoàn 2 trung đoàn dù tiêm kích số 1 (211 RCP) của Brêsinhắc (Bréchignac) tiến thẳng theo đường 41 về phía đông. Những tên lính dù đi nghênh ngang, không đề phòng gì nhiều vì chúng tin là chưa đơn vị nào của ta kịp có mặt ở vùng này. Ra khỏi Mường Thanh chưa đầy 5 kilômét, bất thần một loạt đạn súng cối và lựu đạn giáng xuống giữa đội hình đại đội 1. Chỉ trong ít phút trung đội đi đấu bị loại khỏi vòng chiến đấu. Tiếp đó là những đợt xung phong liên tiếp của bộ đội ta. Đôi bên chiến đấu giáp lá cà bằng lưỡi lê dao găm, lựu đạn. Nhờ có những loạt đạn pháo từ Mường Thanh, đại đội 1 thoát khỏi bị tiêu diệt 14 lính dù chết, 26 người khác bị thương nam la liệt trên mặt đất. Cuối cùng, quân địch phát hiện ra kẻ gieo tai họa là tiểu đoàn 888 của trung đoàn 176 đại đoàn 316. Cônhi tới xem xét, quyết định lập ngay một cứ điểm trên mỏm 506 bên đường 41, phía tây bản Him Lam 300 mét.
  Những ngày tiếp theo, những cuộc hành binh khác lại tiếp tục với quân số lớn hơn. Nhưng chúng vẫn rơi vào những trận địa phục kích của ta, buộc phải rút lui sau khi binh đoàn biệt kích không vận hỗn hợp của Tây Bắc từ Lai Châu rút chạy về Điện Biên Phủ bị tiêu diệt, Đờ Cát quyết định phải bắt liên lạc với lực lượng của Crevơcơ từ Lào tiến sang. Cánh quân này bị những đơn vị của trung đoàn độc lập 148 chặn đánh đã dừng lại ở Sốp Nạo.
  Ngày 21 tháng 12 năm 1953, binh đoàn không vận số 2, do chính Lănggơle chỉ huy, tiến về phía tây Điện Biên Phủ. Tới Mường Khoa, lực lượng này chạm phải tiểu đoàn 920 của 148. Cuộc chiến đấu diễn ra suốt ngày. . Và nó còn tiếp diễn gay gắt hơn trên đường đi.
Ngày 23 tháng 12, hai cánh quân của Lănggơle và Crevơcơ gặp nhau tại Sốp Nạo sau đó, Lănggơle quay về Điện Biên Phủ. Sợ vấp trung đoàn 148 một lần nữa, Lănggơle phải mở một con đường mới xuyên rừng. Để giữ bí mật, máy bay không thả dù tiếp tế dọn đường. Mặc dù đã vứt bỏ lại tất cả những trang bị nặng, binh lính vẫn phai trải qua một cuộc hành quân cực kỳ bi đát vừa đói vừa khát, chui lủi giữa rừng sâu rậm rịt, đầy muỗi vắt. Ngày 26 tháng 12, cả bọn reo lên khi nhìn thấy Điện Biên Phủ. Nhưng vẫn chưa kết thúc. Một phát súng lẻ loi không biết từ đâu xuất hiện, quật ngã vĩnh viễn một tên lính dù... Lănggơle rút ra kết luận: không thể có ảo tưởng thiết lập quan hệ thường xuyên giữa vùng rừng núi cực kỳ hiểm trở với bất cứ một vị trí nào ở gần nhất trên đất Lào. Chiến thuật thọc sâu vào hậu phương ta đã chấm dứt với cuộc hành binh sang Thượng Lào của Lănggơle.
  Đờ Cát vẫn trung thành với chủ trương đẩy những hoạt động của bộ đội ta ra xa tập đoàn cứ điểm chừng nào hay chừng ấy, chuyển sang những cuộc hành binh tuần tiễu ở phạm vi hạn chế chung quanh Mường Thanh nhằm phát hiện sự hiện diện của quân ta, những vị tri trú quân, đặc biệt là những trận địa pháo.
  Cuối tháng Mười hai có những dấu hiệu đối phương đã tiến đến quá gần. Ngày 28, viên trung tá tham mưu trưởng của tập đoàn cứ điểm chết vì một tràng đạn tiểu liên cách Bản Kéo vài trăm mét. Ngày 29, tiểu đoàn 3 của bán lữ đoàn lê dương thứ 13 vừa ra khỏi bản Him Lam đã bị hỏa lực của ta chặn lại. Cùng lúc, một tiểu đoàn bộ binh Bắc Phi từ Hồng Cúm đi ra khỏi khu trung tâm đề khảng vài kilômét cũng vấp phải một trận địa của ta. Đờ Cát biết mình đã bị đối phương bao vây khá chặt, cần gấp rút chuẩn bị cho trận đánh phòng ngự, và phải tiến hành ngay những cuộc hành binh giải tỏa.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #26 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2008, 11:05:42 am »

Chương VI : CON NHÍM ĐIỆN BIÊN PHỦ





Phần 4

  Ngày 31 tháng 1 năm 1954, lần đầu đường băng sân bay và những cứ điểm ở Êlian vả Đôminích bị oanh tạc bằng những trái đạn sơn pháo 75. Một máy bay nằm trên đường băng bị trúng đạn. Quân địch phát hiện có ít nhất hai trận địa pháo nằm trên những cao điểm ở ngay bên trong thung lũng. Tiểu đoàn Angiêri số 5 và tiểu đoàn ngụy Thái số 3 đượm lệnh xuất phát từ Gabơrien tiến về cao điểm 633, nằm cách đồi Độc lập không đầy 1 kilômêt về phía bắc.
Quân địch bị đặt trước hai luồng đạn liên thanh bắn chéo cánh sẻ của những lực lượng ẩn náu ngụy trang rất kỹ buột phải lùi xuống. Buổi sáng địch mở liên tiếp nam đợt tiến công nhưng đều thất bại. Chúng gọi pháo bắn và máy bay thả bom xuống trận địa của ta. Buổi chiều, quân địch lại mở tiếp hai đợt tiến công. Tại đây ta chỉ có một trung đội của đại đội 915 thuộc tiểu đoàn 542 trung đoàn 165 (312), với 27 người do trung đội trưởng Trần Độ chỉ huy. Mặc dù chưa có nhiều kinh nghiệm đánh phòng ngự, nhưng với quyết tâm không để quân địch lọt vào khu vực trận địa pháo và sở chỉ huy trung đoàn ở gần đó, nhiều chiến sĩ đã bị thương vẫn tiếp tục chiến đấu đánh lui quân địch. Buổi chiều chúng phải rút lui với những thiệt hại nặng nề. Trung đội được Bộ chỉ huy chiến dịch tặng huân chương. Cao điểm 633 từ đó được gọi là đồi 75.
  Ngày hôm sau, tiểu đoàn dù lê dương số 1 tiến về phía đông Mường Thanh, tới dãy cao điểm nằm cách tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 5 kilômét. Chúng tiến lên cao điểm 781, một trong những trái đồi được bộ đội ta đặt tên là Đồi Xanh vì màu cỏ cây xanh mướt. Chúng vấp phải trận địa phòng ngự của đại đội 925 tiểu đoàn 255 trung đoàn 174 (316). Hỏa lực mạnh của ta làm cho đại đội đi đầu chết và bị thương một số tên phải lùi xuống địch dùng pháo 105 và cối 120 ly bắn dồn dập, và cho một đại đội men theo sườn phía nam tiến lên đỉnh đồi. Ở đây có trận địa một tiểu đội do tiểu đội trưởng Đinh Văn Niết chỉ huy. Tiểu đội dùng tiểu liên và súng trường chống cự với quân địch. Những tên lính dù đầu tiên tới gần mép hào bị tiểu liên của Niết bắn gục. Số đi sau dính lựu đạn của tiểu đội. Tuy nhiều tên bị thương vong, nhưng thấy lực lượng ta ít, địch tiếp tục từ hai phía xông lên. Trong lúc trận địa có thể bị mất, Hoàng Văn Nô, một chiến sĩ người Nùng mới hai mươi tuổi nhảy khỏi giao thông hào dùng lưỡi lê đâm chết một tên địch, và đâm tiếp một tên khác. Hành động của Nô cổ vũ cả tiểu đội. Tất cả các chiến sĩ khác cùng nhảy vọt ra khỏi hào lao vào quân địch với những chắc lưỡi lê tuốt trần. Hoảng sợ trước lối đánh quyết liệt của ta, địch quay đầu tháo chạy. Tiểu đội Niết đuổi theo. Hoàng Văn Nô lần thứ năm lao tới một tên địch to lớn gấp rưỡi mình. Một tên chạy phía trước ngoái lại nhả một băng tiểu liên ngăn chặn những người truy đuổi. NÔ ngã xuống với chiếc lưỡi lê đã cắm sâu vào ngực tên địch khi trận đánh đã kết thúc.  Trong trận này, một tiểu đội của ta đã đánh lui một đại đội địch. Chúng bỏ lại trên Đồi Xanh gần hai chục xác chết. Ta đã bắt địch phải chịu đựng cái chết khiếp sợ nhất: chết vì lưỡi lê ! Chiến sĩ Hoàng Văn Nô được Bộ chỉ huy chiến dịch truy tặng danh hiệu duy nhất trong chiến tranh: "Dũng sĩ đâm lê".
  Quân địch đã phát hiện ra pháo ta không nằm ở sườn núi phía sau như dự đoán, mà nằm một cách thách thức ở sườn núi đối diện với Điện Biên Phủ, trực tiếp đe dọa nhiều cứ điểm bằng đạn bắn thẳng. Những khẩu pháo này đã được ngụy trang rất kỹ. Những trận phản pháo cũng như các loại máy bay B.26, Bearcat đã tỏ ra bất lực trong việc loại trừ chúng. Bộ chỉ huy Pháp trao nhiệm vụ cho tất cả các đơn vị tiến hành những cuộc hành binh trinh sát phải làm bằng được việc này.
  Ngày 6 tháng 2 năm 1954, Lănggơle chỉ huy một lực lượng gồm binh đoàn không vận số 2, tiểu đoàn Thái số 2, tiểu đoàn bộ binh Ma rốc số 1, một đơn vị lê dương súng phun lửa và một trung đội công binh mang theo rất nhiễu chất nổ, tiếp tục mở cuộc tiến công lên cao điểm 781. Địch tiến quân rất thận trọng. Chúng đi theo đường 41 về phía đông, tới bản Him Lam, bố trí tiểu đoàn dù lê dương 1 ở đây làm lực lượng dự bị và bảo đảm đường rút lui, rồi cho toàn bộ lực lượng vòng lại theo hướng đông nam mở cuộc tiến công. Chúng không gặp trở ngại gì dọc đường. 11 giờ 15, tiểu đoàn Ma rốc đi mở đường lên gần tới đỉnh đồi cháy, nằm trước cao điểm 781, báo cáo Về Vẫn không thấy bóng dáng Việt Minh. Chúng chưa biết đã tới gần trận địa của tiểu đoàn 439 trung đoàn 98 (316). Tiểu đội tiền tiêu chờ những tên lính Ma rốc đến cách 30 mét mới bất thần nổ súng. Mười tên địch bỏ xác tại chỗ. Tiểu đội tiếp tục đánh lui hai đợt xung phong nữa của địch rồi mới rút về trận địa chính trên cao điểm. 13 giờ, đại đội 3 và đại đội 4 Marốc bị tiến công. 13 giờ 45, đến lượt tiểu đoàn Thái. Các đơn vị này bị đóng đinh tại chỗ. Riêng đại đội Ma rốc số 1, nhiều lần liều chết vượt qua những luồng đạn súng máy dày đặc xông lên cao điểm 781. Nhưng phòng bị liên tiếp đánh lui. 16 giờ 30, Lănggơle phải ra lệnh rút lui về Him Lam. Cả đoàn quân kiệt sức khi trở lại vị trí.
Theo báo cáo của tiểu đoàn 439 thì ngày hôm đó ta diệt được hơn 60 tên địch. Nhật ký hành quân trong ngày của Pháp ghi cụ thể hơn: 93 người chết, trong đó có 3 sĩ quan và 12 hạ sĩ quan. Riêng tiểu đoàn Ma rốc chết 10 người, bị thương 50 người, trong đó có những người bị trúng đạn pháo của Pháp bắn yểm hộ quá gần, mất tích 5 người. Đại úy Phaxti (Faisti) bị thương và chết ngay 11 tháng 21 .
Những cuộc không vận tăng viện cấp tốc cho Thượng Lào đã thu hút hầu hết khả năng của không quân vận tải. Số lượng đồ tiếp tế hàng ngày cho Điện Biên Phủ giảm sút ghê gớm. Đờ Cát dằn dỗi với Cônhi là với tình hình đạn dược, lương thực như hiện nay, cấn đình hoãn những cuộc tiến công thăm dò ra vùng phụ cận tập đoàn cứ điểm. Cônhi coi đó là điều không thể chấp nhận. Nava không biết giải quyết ra sao. Ngày 2 tháng 2 năm 1954, Nava gợi ý Cônhi nên rút quân số của tập đoàn cứ điểm từ 12 xuống 9, thậm chí 6 tiểu đoàn. Cônhi kịch liệt phản đối, với lý do dù 308 đã sang Lào nhưng ở Điện Biên Phủ đối phương vẫn còn một số lực lượng gấp đôi quân đồn trú, những hoạt động giải tỏa trong thời gian qua của Đờ Cát ra vùng chung quanh đều bị chặn đứng. Cônhi cho rằng nếu muốn giảm bớt lực lượng quân đồn trú thì tốt hơn cả là rút hết khỏi thung lũng Mường Thanh.
  Đờ Cát một mặt ra sức củng cố trận địa phòng ngự, một mặt tiếp tục huy động lực lượng bộ binh, có pháo binh và xe tăng yểm hộ, tiến hành liên tiếp những cuộc hành bỉnh trinh sát ra vùng chung quanh cố tìm cách loại trừ những 1 khẩu sơn pháo đã xuất hiện.
Về phía chúng ta, điều quan trọng là phải giữ bí mật công tác xây dựng trận địa đang khẩn trương triển khai không xa quân địch, đồng thời sẵn sàng đánh địch nếu chúng rút lui Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định chỉ sử dụng những đơn vị nhỏ, lợi dụng địa hình, địa vật và công sự, kiên quyết đẩy lùi những cuộc tiến công.
  Đại đoàn 316 đã biến khu vực Đồi Xanh gồm nhiều cao điểm 781, 754, 518, 502... thành một bức thành ngăn cảnh đồng Mường Thanh với dãy núi Tà Lũng ở phía trong, nơi bộ đội ta đang triển khai xây dựng trận địa.
Các đơn vị phòng ngự rút kinh nghiệm những trận đầu tiên, xây dựng trận địa theo thế liên hoàn, củng cố công sự chắc chắn có mái che chống lại pháo địch. Về mặt chiến thuật không dàn mỏng lực lượng, chỉ để một bộ phận phòng ngự ở phía trước kết hợp với lực lượng cơ động mạnh sẵn sàng phản kích.
  Ngày 11 tháng 2, Lănggơle tung ra một cuộc hành binh nhằm mục đích quét sạch tuyến cao điểm ở phía đông, nơi bị nghi là có những trận địa pháo binh và cao xạ của ta. Lực lượng gồm ban tham mưu của binh đoàn không vận số 2, tiểu đoàn dù lê dương số 1, tiểu đoàn 3 trung đoàn lê dương số 3, tiểu đoàn 3 trung đoàn Angiêri số 3, hai trung đội xe tăng, một bộ phận công binh, một đại đội của tiểu đoàn dù xung kích số 8 và một đại đội ngụy.
  Tiểu đoàn bộ binh Angiêri sô 3 đi theo đường 41 vòng về phía con đường mòn ở phía đông chiếm cao điểm 477 và tiến đến cao điểm 781. Tiểu đoàn lê dương dù 1 chiếm cao điểm 670 để có thể tiến sang cao điểm 781 tiếp theo tiểu đoàn Angiêri số 3. Tiểu đoàn 3 lê dương tiến lên cao điểm 700. Ở các hướng quân Pháp đều bị chặn đánh bằng những hỏa lực rất mạnh hoặc những trận phản kích tạt sườn. Bản tổng kết của Pháp trong ngày 11 tháng 2: "Phía Pháp: chết 5, bị thương 40, mất một khẩu súng; phía Việt Minh: chết 2".
Ngày 12, lúc 7 giờ, cuộc hành binh tiếp tục với những chiến xa mở đường. Một mũi tiến công hướng lên phía đông bắc nhắm vào trận địa phòng ngự của 312.
  Sự yểm trợ của những máy bay ném bom B.26 đã cổ vũ tinh thần của đoàn quân. 10 giờ, đại đội 2 Angiêri tới được sườn phía đông cao điểm 674, nhưng nó đã bị chặn đứng tại chỗ cho tới buổi chiều. Mặc dù bị pháo bắn phá rất dữ dội, đối phương vẫn trụ vững trong những công sự trên đồi 674 ngăn chặn có hiệu quả mọi đợt tiến công. 15 binh lính chết và bị thương. 16 giờ, tiểu đoàn 3 Angiêri đóng ở bản Khe Chít được lệnh đưa đại đội 10 đi đón những lực lượng tham chiến quay về...Trong thực tế, ngày hôm đó trên cao điểm cao 674 ta chỉ có một tiểu đội do đồng chí Mai chỉ huy cùng với năm chiến sĩ quân báo của trung đoàn 141. Họ đã đánh lui bốn đợt xung phong của quân địch.
  Theo Bécna Phận thì từ ngày 6 tháng 12 năm 1953 đến 13 tháng 3 năm 1954, Đờ Cát đã huy động già nửa lực lượng của tập đoàn cứ điểm vào những cuộc hành binh giải tỏa. Tác giả viết: "Chiều ngày 5 tháng 2 năm 1954, tại sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm cũng như ở Hà Nội, người ta tiến hành một bản thống kê nặng nề. Theo những bản kê mới nhất từ Điện Biên Phủ gửi về, thiệt hại của binh đoàn đồn trú từ 20 tháng 11 đến 15 tháng 2 đã lên tổng số 32 sĩ quan, 96 hạ sĩ quan và 836 binh lính, tương đương với 10% số sĩ quan và hạ sĩ quan và 8% binh lính ở thung lũng. Nói cách khác, số tổn thất của người Pháp tương đương với một tiểu đoàn bộ binh nhưng số cán bộ là của hai tiểu đoàn. Trong tổng số này còn chưa tính đến số thiệt hại của các đơn vị trong cuộc hành binh “Pollux".

Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #27 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2008, 11:13:39 am »

Chương VI : CON NHÍM ĐIỆN BIÊN PHỦ





Phần 5


   Người Pháp đã thất bại trong chủ trương đưa cuộc chiến ở Tây Bắc vào sâu trong hậu phương ta và đẩy nó ra xa tập đoàn cứ điểm. Nava đã thú nhận trong cuốn hồi ký của mình: "Trong thời gian này, đại tá Đờ Cát thực hành những trận chiến đấu mạnh mẽ có tính thăm dò xung quanh Điện Biên Phủ. Ở khắp nơi, quân Pháp đều vấp phải những đơn vị bộ đội vững vàng và phòng ngự rất giỏi của địch. Chúng ta bị thiệt hại khá nặng nề. Rõ ràng là vòng vây chung quanh tập đoàn cứ điểm không hề bị rạn nứt".
  Từ thắng lợi của những Phân đội nhỏ và rất nhỏ của ta trong chiến đấu phòng ngự có công sự ở vùng rừng núi chống lại quân địch đông hun gấp bội, có thể dự đoán trước khó khăn trong những trận đánh vào các cao điểm của địch sau này. Tuy nhiên, từ cuối tháng Hai, con nhím Điện Biên Phủ đã sấn sàng đi vào trận đánh quyết định.
  Điện Biên Phủ đã thực sự trở thành một tập đoàn cứ điểm khổng lồ. Màu xanh của cây cỏ, đồng lúa đã hoàn toàn biến mất nhường chỗ cho màu đỏ sậm nhức nhối pha với màu chì dữ dội của đất và dây thép gai, nhung nhúc những hầm hào, ụ súng chuẩn bị khạc lửa. Những con đường mới xuất hiện, trên đó hàng ngàn con người, xe vận tải, xe tăng, xe ủi đất luôn luôn qua lại làm vẩn lên những đám bụi mầu hồng. Những trung tâm đề kháng có bãi mìn bao quanh, gồm mìn "cổ điển", mìn "nhảy” sẵn sàng tiêu diệt những đợt xung phong của bộ binh khi họ vừa chạm tới hàng rào. Hơn thế, công binh đã chôn giấu bên sườn núi dựng đứng những thùng đựng bốn mươi lít "nagel", khi chảy ra sẽ thành những làn sóng lửa biến những người tiến công thành bó đuốc sống. Những vị trí chủ yếu đều được trang bị súng có kính ngắm điện tử (fusils à lunette électronique) có thể phát hiện kẻ địch đang tiến gần trong cả những đêm trời tối đen. Binh đoàn đồn trú vẫn tin rằng sức mạnh của con nhím Điện Biên Phủ cùng với sức mạnh không quân Pháp, những tàu sân bay Mỹ trên biến Đông, sẽ phát huy toàn bộ hiệu lực tàn phá khi những người lính Việt Minh bé nhỏ ẩn náu trong rừng xanh bắt đầu xuất hiện. .
  Nava và Cônhi không ngừng có mặt ở Điện Biên Phủ. Từ sau khi mở cuộc hành binh Caxto, Nava đã lên Điện Biên Phủ 9 lần, Cônhi 11 lần. Người ta nói rất hiếm có một vị trí nằm sâu trong trận tuyến của đối phương lại thu hút sự chú ý của nhiều nhân vật dân sự và quân sự quan trọng đến như vậy Từ tháng 1 năm 1954, cuộc thăm viếng Điện Biên Phủ bát đấu. Khi thì Nava, khi thì Cônhi, có lúc cả hai người phải tháp tùng khách. Đó là Bộ trưởng Quốc phòng Plêven (Pléven), Bộ trưởng các quốc gia liên kết Mác Giảckê, Bộ trưởng Chiến tranh Đờ Sơvinhê (De Che igné), Tổng tham mưu trưởng Êly... và các tham mưu trưởng Lục quân, Không quân, Hải quân... Không chỉ có người Pháp. Trong số khách nước ngoài, thì người Mỹ có mặt sớm nhất. Đó là trung tướng Tơrapnen (Trafnell). Ông ta đến ngày 14 tháng 1 năm 1954, là nhân vật thứ ba tới thăm Điện Biên Phủ. Điều đó nói lên sự quan tâm của Mỹ đối với Điện Biên Phủ không kém gì Pháp. Ngày 2 tháng 3, một nhân vật Mỹ quan trọng có mặt: đó là đại tướng Ô đanien, chỉ huy lực lượng bộ binh Mỹ ở Thái Bình Dương, cũng là người cầm đầu phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ ở Đông Dương. Tổng thống Mỹ Aixenhao đã nhận được từ Ô đanien những lời báo cáo ấm lòng.
Còn có cả những quan chức người Anh: Sác Lôoen (Charles Loewen), Tư lệnh - quân đội Anh - Ấn ở Viễn Đông, Mắc đônan (Mc Donald), Tổng cao ủy Đông Nam Á Xia Xtiuớt (Sir Stewart cố vấn. Mắc đônan tới Điện Biên Phủ ngày 6 tháng 3 khi đường băng sân bay đã bị đe dọa. Người Anh muốn tỏ ra không thờ ơ với cục diện Điện Biên Phủ.
  Đờ Cát biết cách đón tiếp khách. Hàng rào danh dự tại sân bay là những người lính Ma rốc quấn khăn trắng toát lạ mắt. Đờ Cát tự mình lái xe đưa khách đi thăm những trung tâm đề kháng ngoại vi, thường là Bêatơrixơ, nơi có những ngườt lính lê dương của bá n lữ đoàn lê dương thứ 13 lừng danh. Khách được mời chứng kiến một vài hình ảnh của Điện Biên Phủ trong chiến đấu: khi là sự thao tác thành thạo của những pháo thủ Angiêri tại một trận địa pháo, khi là một cuộc tuần tra của một đơn vị lê dương dù, khi là sự khởi động những chiếc xe tăng M.24 Mỹ mới ra lò...
  Niềm tin vào chiến thằng ở phương Tây được nhân lên qua những chuyến thăm viếng, thực sự là những lần kiểm tra. Dường như muốn làm dịu sự lạc quan quá sớm này, ngày 2 tháng 3, trong một cuộc họp kín tại Sài Gòn, tướng Băng đã lưu ý cấp trên của mình là Plêven và Đờ Sơvinhê không nên có "ảo tưởng thuần túy" Điện Biên Phủ là nơi tiêu diệt quân đoàn tác chiến Việt Minh trong nay mai, vì từ nay tới 15 tháng 4, tập đoàn cứ điểm sẽ trở thành một đấm lầy bị những trận mưa do gió mùa nhấn chìm. Mối bận tâm của người Pháp lúc này chỉ là lúc nào con nhím Điện Biên Phủ sẽ nghiền nát được đội quân chủ lực của đối phương !
Cuộc kiểm tra của Ô đanien mở đầu cho hàng loạt cuộc kiểm tra khác của nhiều sĩ quan Mỹ. Một sĩ quan không quân và hai sĩ quan bộ binh Mỹ đã ở ngay tại Điện Biên Phủ cho tới khi trận đánh bắt đầu. Đại úy phi công Rôbớc Loi (Robert M. Lloyd) nhận nhiệm vụ của không lực Thái Bình Dương nghiên cứu ảnh hưởng pháo cao xạ Việt Minh đối với không quân Pháp. Hai trung tá Unơ (M. Wohner) và Ria Hiu (Richard F.Hill) theo dõi việc chuẩn bị chiến đấu ở đồn tiền tiêu Bêatơrixơ. Từ đầu tháng 3 năm 1954, sau cuộc viếng thăm của những nhân vật cao cấp là cuộc viếng thăm của các chuyên gia cấp dưới nhằm hoàn tất việc chuẩn bị đối phó với trận đánh sắp bắt đầu.
Sau này, qua các sách báo phương Tây, xuất hiện nhiều lời chê bai đề cập tới những thiếu sót của công trình phòng ngự Điện Biên Phủ, nhưng trước khi trận đánh nổ ra thì chỉ có những lời khích lệ. Nhiều người gọi Điện Biên Phủ là Vécđoong (Verdun) của Pháp trong chiến tranh Đông Dương. Chính Na va đã viết: "Chưa có một quan chức dân sự hoặc quân sự nào đến thăm (bộ trưởng Pháp và nước ngoài, những tham mưu trưởng của Pháp, những tướng lĩnh Mỹ) mà không kinh ngạc trước sự hùng mạnh của nó cũng như không bày tỏ với tôi tình cảm của họ".
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Sáu, 2008, 11:16:15 am gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #28 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2008, 11:36:29 am »

Chương VII : THẾ TRẬN HÌNH THÀNH



Phần 1

  Ngay sau khi thấp thuận đề nghị thay đổi phương châm tác chiến ở Điện Biên Phủ, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị "Toàn Đảng, toàn dân tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến,. Việc huy động toàn bộ sức người, sức của ở hậu phương phục vụ cho tiền tuyến mang một quy mô mới. Hoạt động chiến đấu của ta lần này trên khai trên một phạm vi rộng lớn hầu khắp các chiến trường Đông Dương. Những kinh nghiệm về công tác hậu cần chiến dịch được rút ra sau mỗi mùa khô từ khi bộ đội ta bắt đầu đánh lớn cuối năm 1950, đều được vận dụng trong Đông Xuân 1953-1954.
  Hội đồng Cung cấp mặt trận thành lập ở trung ương do anh Phạm Văn Đồng làm chủ tịch, anh Nguyễn Văn Trân, Tổng thanh tra Chính phủ, làm phó thủ tịch. Không riêng ở trung ương mà các địa phương cũng thành lập Hội đồng Cung cấp mặt trận của liên khu, của tỉnh do đồng chí chủ tịch Uy ban hành chính kháng chiến trực tiếp chịu trách nhiệm. Cônhi tác hậu cần chiến dịch lần đầu được phân thành hai tuyến: tuyến hậu phương và tuyến chiến dịch. Tuyến hậu phương do Tổng cục Cưng cấp và Hội đồng cung cấp mặt trận trung ương, Liên khu Việt Bắc, Liên khu 3 và Liên khu 4 đảm nhiệm, chuyển hàng từ Việt Bắc tới Ba Khe, từ Liên khu 3, Liên khu 4 tới Suối Rút. Tuyến chiến dịch do Tổng cục Cung cấp tiền phương và hội đồng cung cấp mặt trận khu Tây Bắc chịu trách nhiệm, đưa hàng từ Ba Khe, Suối Rút lên Điện Biên Phủ. TỔ chức mới này cho phép bộ phận cung cấp tiễn phương tập trung toàn bộ sức lực lo công việc ở phía trước.
Ngay sau khi có nghị quyết, các đồng chí ở cơ quan trung ương chia nhau đi các nơi. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh vào Thanh Hóa, tỉnh có tiềm năng nhất, bàn bạc với tỉnh ủy việc huy động nhân lực, vật lực phục vụ chiến dịch. Đồng chí Nguyễn Văn Trân lên Sơn La, nơi tiếp giáp giữa tuyến hậu phương và tuyến chiến dịch, trực tiếp chỉ đạo. Đồng chí Trần Lương, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, được cử làm chính ủy hậu cần chiến dịch. Trước đó, đồng chí Đặng Kim Giang, Phó chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, đã được cử làm chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp tiền phương. Các cục trưởng của Tổng cục Cung cấp đều lên đường phục vụ chiến dịch. Mỗi người ngoài công việc chỉ đạo ngành chuyên môn của mình, còn được phân công phụ trách một tuyến hậu cần chiến dịch. Cục trưởng Vận tải Đinh Đức Thiên phụ trách công tác vận chuyển hàng đoạn đường 41 từ Sơn La lên Tuần Giáo. Cục phó Vận tải Vũ Văn Đôn chịu trách nhiệm việc vận chuyển từ Tuần Giáo đến Nà Tấu, kilômét 62. Cục trưởng Cục Quân nhu Nguyễn Thanh Bình vừa làm phó chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp tiền phương, vừa đặc trách công tác vận chuyển tại hỏa tuyến, từ kilômét 62 tới các đơn vị. Đồng chí Nguyễn Văn Nam, cục trưởng Cục Quân khí cùng đồng chí Bằng Giang, tư lệnh Quân khu Tây Bắc, bảo đảm tuyến vận chuyển trên sông Nậm Na.
  Hơn 300 cán bộ đang làm công tác phát động quần chúng đấu tranh cải cách ruộng đất, được tăng cường cho công tác hậu cần mặt trận. Bộ máy hậu cần chiến dịch lên tới 3.200 người, dân công tuyến chiến dịch có lúc huy động hơn 30.000 người.
  Ở Tổng cục Cung cấp tại hậu phương, anh Trần Đăng Ninh mắc bệnh hiểm nghèo phải đi điều trị, suốt thời gian chiến dịch chỉ còn lại anh Trần Hữu Dực, Phó chủ nhiệm Tổng cục. Đêm đêm, anh Dực thường cùng cán bộ cán cơ quan giúp việc giao ban đôn đốc công tác đưa hàng ra tiền tuyến đến 2, 3 giờ sáng. Những đêm công việc gặp trục trặc, hầu hết cán bộ chủ chốt đều được cử ra mặt đường kiểm tra và giải quyết khó khăn tại chỗ. Có lần Đèo Cà (Bắc Giang) bị máy bay đánh tắc nhiều ngày, từ cán bộ đến chiến sĩ, nhân viên văn phòng, y tá... đều được huy động đi sửa đường, ở cơ quan chỉ còn lại anh Dực và đồng chí thư ký giúp việc.
  Sức sống của chế độ mới được thử thách. Công tác chi viện tiền tuyến lần này chứng minh những thành tựu xây dựng qua tám năm kháng chiến. Hậu phương không chỉ đáp ứng tới mức cao nhất yêu cầu về người, về của cho tiền tuyến mà còn sẵn sàng chiến đấu để tự bảo vệ nếu địch đánh tới trong thời gian bộ đội đang ở mặt trận. Nhân dân các tinh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình được phân công phục vụ cho những chiến dịch Trung, Hạ Lào. Riêng mặt trận này đã huy động tới 54.000 dân công, với gần hai triệu ngày công, trên hai ngàn xe đạp thồ và một ngàn rưởi thuyền. Trên miền Bắc, Thanh Hóa trở thành tỉnh cung cấp chính cho chiến dịch. Ban tham mưu chiến dịch dành nhiều thời gian làm việc với cơ quan cung cấp, xác định những yêu cầu mới về lương thực, đạn dược. Nhu cầu bảo đảm vật chất dự kiến ban đầu là 434 tấn đạn, 1.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm khô, lúc này đã tăng gấp ba ! Riêng về gạo, cần tới trên 20.000 tấn. Rút kinh nghiệm chiến dịch trước, ta chủ trương tranh thủ tối đa việc huy động lương thực, thực phẩm tại địa phương, và sừ dụng phương tiện vận chuyển cơ giới.
  Phần lớn Tây Bắc đã được giải phóng tử cuối năm 1952. Bốn cánh đồng Mường Thanh, Mường Lò, Mường Thanh Mường Tấc là những vựa lúa lớn. Ta dự định huy động tại Tây Bắc 6.000 tấn lương thực. Số lương thực này nếu đưa từ xa tới sẽ phải huy động nhiều gấp ba, bốn lần. Đồng bào các dân tộc vừa thu hoạch vụ mùa, sôi nổi hưởng ứng nộp thóc và đi dân công. Nhưng việc xay giã thóc thành gạo ở Tây Bắc lại thành một trở ngại lớn. Người dân miền núi xưa nay chỉ quen dùng cối nhỏ, giã chóc bằng sức nước suối, cả ngày mới được một cối gạo từ 3 đến 5 kilôgam ! Cơ quan hậu cần chiến dịch phải tìm những người thợ giỏi ở miền xuôi hưởng dẫn cách đóng cối, sử dụng cả một đoàn dân công tỉnh Vĩnh Phúc cùng tham gia xay thóc, giã gạo với đồng bào địa phương.
  Bộ tham mưu của quân đội viễn chinh đã tính toán khá chính xác khả năng vận chuyển tiếp tế của ta cho những chiến trường xa hậu phương. Trong chiến dịch Tây Bắc, lương thực từ hậu phương đưa ra mặt trận bằng dân công gánh bộ, tới nơi chi còn nộp kho được 8% ! So với chiến dịch Tây Bậc thì tuyến đường cung cấp lần này còn xa hơn nhiều.
  Mấy năm qua ta đã thấy rõ vai trò của hạ tầng cơ sở, của những tuyến đường trong chiến tranh mỗi lần mở chiến dịch lớn. Chúng ta đã khôi phục và mở rộng 4.500 kilômét đường, trong đó có trên hai ngàn kilômét cho xe cơ giới Bắt đầu mở chiến dịch ta mới sửa những tuyến đường Tuần Giáo - Lai Châu, đoạn đường 41 Tuần Giáo - Điện Biên Phủ (sau này được gọi là đường 42). đặc biệt, đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ dài 89 kilômét, nhỏ hẹp, nhiều đoạn sụt lở, hơn một trăm cầu cống đều hư hỏng, giờ phải mở đủ rộng không chỉ để chạy xe vận tải mà còn dùng cho xe kéo pháo. Khi chuyển sang đánh chắc tiến chắc lại xuất hiện thêm một yêu cầu mới là làm đường vận chuyển pháo bằng Ô tô từ kilômét 62 vào trận địa, dài gần bằng đoạn đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ, qua địa hình rừng núi cực kỳ hiểm trở. Trong thế chiến lấn thứ hai, ở Miến Điện, quân đội Mỹ với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại phải mất 18 tháng mới xây dựng gấp rút xong một con đường dài 190 kilômét (Ledo Road) trong điều kiện không bị kẻ địch cản trở. Chúng ta chỉ có một thời gian rất ngắn để xây dựng 160 kilômét đường ở ngay mặt trận dưới sự đánh phá thường xuyên của máy bay, đại bác, mà trong tay chỉ có xẻng, cuốc, và một ít thuốc nổ !
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #29 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2008, 11:47:39 am »

Chương VII : THẾ TRẬN HÌNH THÀNH





Phần 2



  Bảo vệ được những con đường trong chiến tranh còn là điều khó khăn hơn. Các tuyến đường vận chuyển chủ yếu trong chiến dịch đều quá đài. Tuyến Thanh Hóa - Điện Biên Phủ, gần 600 kilômét. Tuyến Lạng Sơn - Điện Biên Phủ, 800 kilômét. Bộ tham mưu Pháp đã tìm được “40 điểm có thể cắt đứt, tạo ra hiệu quả lớn". Chúng tính đến cả cách dùng mưa nhân tạo để phá đường. Ở hậu phương, địch đánh rất mạnh vào những trọng điểm: đèo Giàng, từ Cao Bằng xuống, đèo Cà, từ Lạng Sơn về, đèo Khế từ Thái Nguyên sang Tuyên Quang, để triệt nguồn tiếp tế của ta ngay từ gốc. Những trận oanh tạc không chỉ nhắm vào đèo núi cao mà còn chú trọng cả những đoạn đường nằm trên cánh đồng thấp để biến nó thành vũng lầy rất khó sửa chữa. Bác Hồ trực tiếp đi kiểm tra một số nơi địch thường xuyên đánh phá. Bác gặp gỡ nói chuyện, động viên anh chị em thanh niên xung phong và dân công bám trụ ở đèo Khế. Trên tuyến chiến dịch, máy bay địch đánh phá án liệt các đèo Lũng Lô, Pha đin và những đầu mối giao thông Cò Nòi, Tuần Giáo ngăn không cho gạo, đạn tới được các đơn vị ở mặt trận. Có ngày, chúng ném xuống Cò Nòi 300 trái bom, Pha đin, 160 trái, gồm bom phá, bom napan, bom nổ chậm.
  Theo đề nghị của tham mưu, tôi đồng ý điều hai tiểu đoàn cao xạ pháo 37 tại mặt trận về phía sau, cùng với các tiểu đoàn phòng không 12,7 ly bảo vệ những đoạn xung yếu trên đường 41. Nhưng lực lượng phòng không của ta, dù đã tăng cường, chỉ hạn chế được một phần những cuộc oanh kích. Để duy trì sự thông suốt cho cát tuyến đường vẫn là công binh, thanh niên xung phong, dân công thường xuyên bám sát các trọng điểm, chờ máy bay địch ngừng hoạt động lại lao ra mặt đường phá bom nổ chậm, bom bươm bướm, san lấp nhanh những hố bom cho xe Ô tô và dân công vượt qua. Toàn bộ lực lượng vận chuyển cơ giới của quân đội, gồm 16 đại đội, với 534 xe Ô tô vận tải, đều tập trung phục vụ chiến dịch.
  Ta chủ trương vận chuyển bằng phương tiện cơ giới là chính nhưng không quên khai thác sử dụng những phương tiện vận chuyển nửa thô sơ và thô sơ: xe thồ, xe ngựa, xe trâu, xe cút kít, xe quệt, bè mảng... Xe đạp thồ được huy động tới mức tối đa, số lượng lên tới 20.000 xe. Mỗi xe thồ lúc đầu chở 100 kilôgam, .sau đó nâng lên 200, 300. Một dân công Phú Thọ, anh Ma Văn Thắng, chở được tới 352 kilôgam. Năng suất xe đạp thồ cao gấp hơn mười lần dân công gánh bộ; gạo ăn dọn đường cho người chuyên chở cũng giảm đi bằng ấy lần. Tính ưu việt của xe thồ còn ở chỗ có thể hoạt động trên những tuyến đường mà xe Ô tô không thể đi được. Chính phương tiện vận chuyển này đã gây nên bất ngờ lớn với quân địch, làm đảo lộn những tính toán của chúng trước đây.
  Ta chú trọng khai thác nhưng tuyến đường sông. Một đơn vị công binh được đưa về phía Lai Châu khai thông dòng sông Nậm Na. Đây là một tuyến tiếp tế khá quan trọng, nhưng cho tới lúc này chưa khai thác được bao nhiêu, vì trên sông có quá nhiều ghềnh thác hung dữ. Chúng ta đã có kinh nghiệm khắc phục ghềnh thác trên sông Mã trong chiến dịch Thượng Lào, chuyển lựu pháo từ Vân Nam về trên sông Hồng. Tại đây đã xuất hiện người anh hùng phá thác Phan Tư. Sau một thời gian phá thác bằng thuốc nổ, trọng tải các mảng tăng lên gấp ba, số người điều khiển mảng từ ba, bốn người, rút xuống còn một người. Những cô gái dân công Thanh Thủy, Phú Thọ, thời gian đầu còn rất sợ thác, nay đã mỗi người điều khiển một mảng xuôi dòng sông Nậm Na. Mảng từ Ba Nậm Cúm cập bến Lai Châu mỗi ngày một nhiều. Riêng tuyến đường này trong chiến dịch đã vận chuyển được 1.700 tấn gạo do Trung Quốc viện trợ. Chúng ta còn mở thêm tuyến Mường Luân - Nà Sang ở phía nam Điện Biên Phủ. Tuyến này có nhiệm vụ khai thác nhân lực, vật lực ở thượng nguồn sông Mã, bảo đảm cung cấp cho trung đoàn 57 ở Hồng Cúm, và tiếp nhận thương binh ở hưởng này chuyển về bệnh viện Sơn La.
  Tại hỏa tuyến, những nơi các phương tiện giao thông cơ giới không thể sử dụng, vẫn phải dùng dân công gánh bộ là chủ yếu. Những con đường ra mặt trận nằm giữa những hố bom lở loét, cây cỏ xác xơ, ban ngày vắng lặng, im lìm, như sống lại khi mặt trời vừa xuống núi. Những đoàn người nối nhau đi như nước hướng về tiền tuyến, đâu đâu cũng vang lên tiếng hò, câu hát nói lên quyết tâm vượt mọi khó khăn và tình cảm dành cho những người đang chiến đấu ở mặt trận. Ngày 9 tháng 2 năm 1954, một đại đội dân công chẳng may trúng bom ở Tuần Giáo. Sau khi chôn cất những anh, chị hy sinh, mọi người lại hăng hái tiếp tục quang gánh lên đường quyết hoàn thành nhiệm vụ để trả thù cho những người đã nằm xuống.
  Mười ngày đầu tháng 2 năm 1954 dồn dập những tin vui. Bộ đội Liên khu 5 đã chiếm thị xã  Kon Tum, giải phóng cả vùng bắc Tây Nguyên. Trung đoàn 148 và bộ đội Pa thét Lảo chiếm thị xã Phông Xa Lỳ, giải phóng toàn bộ tỉnh Phông Xa Lỳ rộng 10.000 kilômét vuông, đưa vùng giải phóng ở Thượng Lào tới sát biên giới Trung Hoa. Tại Hạ Lào, tiểu đoàn 436 và lực lượng vũ trang của bạn đã giải phỏng toàn bộ cao nguyên Bôlôven, trong đó có tỉnh Atôpơ, rộng gần 20.000 kilômét vuông. Na va lại phải điều lực lượng xuống Hạ Lào tổ chức những cụm cứ điểm bảo vệ các thị xã Xaravan và Pắc Xế.
  Tại Tây Nguyên, sau khi giải phóng. tỉnh Kon Tum, bộ đội Liên khu 5 truy kích quân địch rút nhạy về Plây Cu trên chặng đường dài 200 kilômét, tiến đến sát đường 19. Ngày 18 tháng 2 năm 1954, trung đoàn 80 tiến công cứ điểm Đắc đoạ, nam Kon Tum 15 kilômét, loại khỏi vòng chiến đấu hai đại đội địch. Cùng thời gian đó bộ binh và đặc công tập kích vào các cơ sở kho tàng, cơ quan chỉ huy địch trong thị xã Plây Cu.
  Chiến thắng của ta đã giải phóng một địa bàn chiến lược quan trọng ở bắc Tây Nguyên rộng 16.000 kilômét vuông, với 20 vạn dân, phá thế uy hiếp của địch đối với phía sau lưng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi. Vùng tự do từ ven biển Quảng Nam, Quảng Ngãi đến biên giới Việt - Lào, đã nối liền với vùng giải phóng tây nam Bôlôven của nước bạn.
  Trước tình hình Tây Nguyên bị uy hiếp nghiêm trọng, Nava buộc phải ra lệnh cho Đờ Bô pho (De Beaufòrt) tạm ngừng cuộc chiến đấu ở đồng bằng Liên khu 5, rút một số đơn vị lên tằng cường cho Plây Cu, và điều chỉnh lại lực lượng ở miền nam Trung Bộ. Quân Pháp được bố trí thành hai khối lớn. Khối thứ nhất ở Tây Nguyên, 24 tiểu đoàn, có nhiệm vu bảo vệ Plây Cu, và đề phòng ta tiến xuống phía nam đánh vào cao nguyên Đắc Lắe. Khối thứ hai ở đồng bằng, 16 tiểu đoàn, bảo vệ thị xã Tuy Hòa, những vị trí mới chiếm đóng ở Phú Yên, và làm lực lượng dự bị ở Nha Trang, Ninh Hòa. Với cách bố trí mới này, có thể thấy Nava đã chuyển sang dành ưu tiên số một cho việc đối phó với ta trên vùng rừng núi Tây Nguyên. Tuy nhiên, ông ta vẫn chưa từ bỏ kế hoạch Átlăng.
  Ở đồng bằng Bậc Bộ, từ hạ tuần tháng 12 năm 1953, Liên khu ủy Bộ tư lệnh Liên khu 3, và Khu ủy, Bộ tư lệnh khu Tả Ngạn họp bàn xác định phương hướng, chủ trương tiếp tục tiến công địch trên toàn địa bàn. Hội nghị cán bộ đảng Liên khu 3 đề ra 4 mục tiêu:
  - Tập trung lực lượng của liên khu cùng đại đoàn 320 tiến công đập tan phòng tuyến Sông Đáy, mở rộng vùng tự do liên khu nối liền với các khu du kích sau lưng địch ở đồng bằng.
  - Triệt để đánh phá giao thông vận tải, uy hiếp hậu phương địch, ngăn chặn tiếp tế cho Điện Biên Phủ và cảc chiến trường khác.
  - Tích cực phá kế hoạch bắt lính phát triển ngụy quân, đẩy mạnh công tác binh vận làm tan rã hàng ngũ quân địch.
  - Động viên mọi lực lượng tập trung sức người, sức của chi viện cho chiến trường chính Tây Bắc - Điện Biên Phủ và các chiến trường khác.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Sáu, 2008, 11:57:49 am gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM