Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:39:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phan Châu Trinh  (Đọc 31819 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #30 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2011, 08:23:37 pm »

Tôi bác cái thuyết trên của Sào quân, lấy lẽ rằng người nước Nam chui núp dưới chính thể chuyên chế đã trên ngàn năm, chưa có tư cách quốc dân độc lập, dầu có nhờ cậy sức người ngoài, chỉ diễn cái trò "đổi chủ mà làm đầy tớ lần thứ hai", không có ích gì. Trong khi đó, nước Pháp dưới mắt tôi là một nước làm tiên đạo văn minh cả hoàn cầu, nay bảo hộ nước Nam, mình nhân đó mà học theo, chuyên dụng tâm về mặt khai trí trị sanh các việc thực dụng. Dân trí đã mở, trình độ một ngày một cao tức là cái nền độc lập ngày sau ở đây. Còn theo chính kiến "cậy sức người ngoài" thì nó quanh co khúc chiết, mình không tự lập, ai cũng là kẻ cừu của mình. Triều Tiên, Đài Loan, cái gương rõ ràng trước mắt, người Nhật chắc gì hơn người Pháp ? Đuổi hổ đi, rước sói về chẳng có gì hay và chỉ có dân đen là khổ.

Sào quân không nghe, cũng không nhận là phải, phủi áo ra đi làm theo ý kiến của mình. Cái giống và cái trái giữa tôi và Sào quân là thế.

- Vậy, ông sang Nhật Bản gặp Phan Bội Châu là có ý gì ?

- Như đã nói, chính kiến của tôi trái với chính kiến của Sào quân. Sào quân sang Nhật có chỗ đứng chưn, bèn phát biểu chính kiến của mình, làm sách, làm báo gửi về trong nước. Người Nam chúng tôi phần khổ với chánh sách ngược đãi của chính phủ Pháp, phần khổ bởi quan lại Nam triều chỉ biết lo vinh thân phì gia; xâu cao thuế nặng không biết kêu van vào đâu, nên họ rất đồng tình với chính kiến của Sào quân. Tôi không trách họ, chính phủ Pháp của các ngài cũng không nên trách họ, bởi họ như người bệnh cần thuốc, co lâu muốn duỗi, gặp được sách cổ động của Sào quân cổ xúy, gãi nhằm chỗ ngứa, cả nước đều hưởng ứng, một kẻ xướng, muôn ngàn người họa. Do vậy, cái chính kiến "tự lực khai hóa" của tôi bị phong triều "Đông học" che át, không xuất đầu ra được, không ai thèm nghe; thực sự trăm phần thiếu thốn mà cái tiếng trống kêu dội sẽ gây ra mối nguy hiểm cho đường tương lai của quốc dân không thể tránh được. Bất đắc dĩ, tôi mới băng mình vượt biển thẳng sang Nhật Bản, thuật rõ lẽ thiệt hơn cho Sào quân nghe, khuyên Sào quân chăm lo đào tạo lớp trẻ du học mà gác tư tưởng, hành vi "bạo động” đợi thời hội khác. Nhưng Sào quân nhứt vị cố chấp, lấy lẽ rằng một nước êm đềm trong giấc ngủ như người bệnh gần chết, nếu không gióng trống to, trương cờ lớn, thổi kèn, gõ mõ, làm như giông sấm thì không sao đánh thức giấc ngủ kia được…

Phan Châu Trinh đốt thêm điếu thuốc khác, từ tốn nói tiếp:

- Tôi ở Nhật Bản vài tháng cùng Sào quân biện cãi nhiều lần, rút cục Sào quân không nghe, tôi bèn từ về, ấy là khoảng tháng 5, tháng 6 năm 1906.

- Về nước, ông làm những gì ?

Nghe hỏi y như lời hỏi cung, Phan Châu Trinh lờ mờ hiểu được câu chuyện, nhưng việc làm của ông sáng tựa ban ngày chẳng có gì phải giấu giếm. Vả lại có sức làm thì có sức chịu, có chết cũng không thẹn với trời đất.

Phan Châu Trinh nhìn thẳng vào quan Thống soái, trả lời:

- Tôi không theo chính kiến của Phan Sào quân, cũng như Sào quân không theo chính kiến của tôi, ai làm theo sở kiến nấy. Về nước, tôi trù cùng anh em đồng chí tổ chức lập những hội công khai như học hội, thương hội, v.v… Nhưng vì sĩ phu nước Nam thuở nay chưa có cách tổ chức ấy; ban đầu mới khởi làm, không khỏi có vẻ kinh quái, những lời bàn nghị nổi lên sẽ sanh ra lắm điều ngăn trở. Vì thế nên tôi trước làm bức thư điều trần gửi lên quan Toàn quyền, quan Khâm sứ và đăng báo Tây, thuật rõ tình trạng trong nước cùng hiểm tượng Đông Dương, bản ý là cốt tỏ bày mối tâm sự, mở đường khai hóa sau này chớ không có ý gì khác, và không dè vì thế mà mang tội.

Quan Thống soái còn đang ngẫm nghĩ, Phan Châu Trinh nói tiếp:

- Tôi xem sử Âu Tây có khi anh em một nhà mà chính kiến khác nhau, huống gì là anh em bạn.

Quan Thống soái gật đầu, nói:

- Ông nói phải, chính kiến không đồng nhau, cái đó vẫn thường. Ông còn muốn nói gì nữa không ?

Phan Châu Trinh trầm ngâm một lúc rồi nói:

- Tôi ra ngoài hòn đảo này đã gần hai năm, cách xa đất liền, tin tức gì cũng mù tịt, song có nhiều bạn tù ở Bắc kỳ bị đày ra đây thuật chuyện ngoài ấy, nói biên giới phía bắc Trung kỳ thỉnh thoảng có những hành vi kịch liệt, nhà nước xử bằng nghiêm hình trọng phạt. Theo tôi, cách làm ấy là thất sách, không phải cách xử trí thích hợp, dễ gây nên mối biến loạn to. Ngài nên có tiếng nói để nhà nước xem xét lại.

Quan Thống soái gật đầu ra chiều quan tâm đến ý kiến của Phan Châu Trinh.

-Tôi vâng lệng quan Toàn quyền ra đây cốt để hỏi ý kiến ông, nên ông còn việc gì cần nói thì cứ việc nói ngay, không can ngại gì.

- Vâng, tôi lúc ở trong nước, vào Nam ra Bắc nghe thấy cũng nhiều. Dân tình chúng tôi khổ đủ bề. Các nhà đại chính trị sẵn lòng thâu thái, tôi sẽ biên chép và trình bày sau chứ trong một cuộc đàm thoại không thể nói hết được.

Quan Thống soái đứng dậy bắt tay ông.

- Ông ở lại mạnh giỏi. Tôi sẽ đạt ý của ông lên quan Toàn quyền. Có lẽ, chúng ta sẽ gặp nhau ở Sài Gòn
nay mai.

Hai người bắt tay nhau. Quan chánh tham biện cũng bắt tay chúc mừng ông và hứa sẽ đối xử tử tế với những người bạn của ông.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #31 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2011, 08:24:23 pm »

Chương 10

Đặt chân lên đất Pháp, cha con Phan Châu Trinh đều thấy ngỡ ngàng. Cuộc sống người dân, nhà cửa, phố xá, xe cộ… nói chung, những tiện nghi cần thiết dành cho cuộc sống của con người ở đây hơn hẳn ở xứ sở ông. Nếu không phát triển dân trí, không dạy người dân hiểu quyền lợi của mình thì dù có ngồi trên đống vàng cũng bị người ta phỉnh lấy hết, thậm chí còn biết ơn. Chuyện sờ sờ trước mắt, những người dân nghèo thiếu học ở quê nhà chẳng không phải vì ngu dốt mà bị bọn địa chủ, hương chức bóp nặn đến hơi thở cuối cùng đó hay sao. Biết qua đây là thất sách, nhưng ở lại quê nhà chẳng làm được gì trước sự căm ghét của quan lại triều đình lẫn quan lại cai trị thuộc địa. Phan Châu Trinh hy vọng trên đất khách quê người dựa vào hội nhân quyền đấu tranh cho những người bạn của ông ra khỏi tù, rồi gây dựng lại phong trào.

Phan Châu Trinh khẽ ngâm:

Làm trai trót gánh giang nan,

Dám nại xa xôi bỏ giữa đàng.

Coi lại chỉ còn ba tấc lưỡi,

Trải qua đã nát mấy buồng gan.

Tếch dương Ấn Độ nhì thiên hạ,

Lên tháp Ba-lê nhất thế gian.

Mượn bút Tương Như đề mấy chữ,

Thân này đành phó với gian san.  Đây chính là những suy nghĩ tâm huyết của ông chứ không phải của kẻ bất đắc chí nói càn cho sướng miệng và tự an ủi lấy mình. Ông tin ba tấc lưỡi của ông đã có ích trong lúc này. Mấy ngày qua, nhờ anh em ở hội nhân quyền do Babut giới thiệu và một số anh em người Việt ở đây có theo dõi tình hình trong nước giúp đỡ, thằng con trai của ông (Phan Châu Dật) được học bổng của trường Mondparuasse. Thế là yên một phần.

Bây giờ ngồi đây một mình với bóng đêm, Phan Châu Trinh bồi hồi nhớ lại những tháng ngày qua, nhớ vợ con, anh em, chòm xóm, bạn bè. Nghĩ lại cũng vui, vô tình ông là bậc đại khoa đầu tiên của lịch sử nước nhà nhận án tù không ngày về đến Côn Lôn và cũng là bậc đại khoa đầu tiên ở Côn Lôn được đón về đất liền ân xá. Đời là thế, khó ai biết trước chuyện ngày mai.

Những ngày ở Sài Gòn là những ngày vui. Nhiều anh em nhân sĩ Nam kỳ, kể cả không ít người lam lũ với ruộng vườn cũng đến thăm và trò chuyện.

Trong số những người đến thăm, Phan Châu Trinh quen và làm thân với anh em ông Nguyễn An Khương. Em ruột Nguyễn An Khương là Nguyễn An Cư, một thầy thuốc Bắc có tiếng một vùng. Gia đình ông Khương thuộc vào hàng khá giả ở Sài Gòn, nhưng rất có lòng với dân với nước, nhất là với những người vì nước quên thân. Khởi nghiệp chỉ là một tiệm may, nhưng bà Khương là một thợ may khéo tay và đã từng may hàng chục chiếc áo dài gấm cho vua Thành Thái trước khi đức ngài bị đày sang đảo Réunion. Sau đó,tiệm may được hai vợ chồng khuếch trương thành khách sạn Chiêu Nam Lầu. Và Chiêu nam Lầu không mấy chốc trở thành nơi chiêu hiền đãi sĩ của người Annam, nơi gặp gỡ những anh hùng hào kiệt ba miền, nơi tá túc của những nhà ái quốc miền ngoài lưu lạc vào Nam, nơi giúp đỡ phương tiện, tiền bạc cho những thanh niên yêu nước tìm cách xuất dương…

Ngoài việc trò chuyện tâm đắc với anh em ông Nguyễn An Khương, Phan Châu Trinh còn chú ý tới cô em gái chưa chồng của họ có tên là Xuyên. Cô Xuyên cũng thuộc vào loại đẹp người, mặt mày phúc hậu, biết cả chữ Hán lẫn chữ quốc ngữ, làm thơ cũng được, ấy mà không chịu lấy chồng. Nguyễn An Khương có lần muốn em mình kết duyên với Kỳ ngoại hầu Cường Để khi ông này có thời gian tá túc tại Chiêu Nam Lầu và cũng có ý thương yêu. Ông Khương còn cho biết thêm, gia đình ông hiện nay biết nấu dầu cù là cũng từ tấm lòng của cô Xuyên. Một lần có ông hoàng Miến Điện tên là Mangoon vì chống lại nhà cầm quyền Anh nên bị trục xuất khỏi quê hương mình. Ông hoàng chạy sang Sài Gòn ở khách sạn hạng sang đến khi hết tiền có người chỉ đấn Chiêu Nam Lầu và được cô Xuyên chăm sóc chu đáo. Đến ngày sắp mất, ông lấy trong người ra một túi nhỏ và bảo: "Đây là toa thuốc của hoàng gia để nấu dầu cù là. Cô hãy giữ nó. Tôi mang nó theo phòng thân khi đói khổ, nhưng bây giờ đã xong rồi. Đa tạ cô đã giúp tôi những ngày qua. Tôi không có gì đền đáp ơn cô ngoài vật phòng thân này".

Một con người tốt như thế, phúc hậu như thế… Phan Châu Trinh thở dài, cảm thương cho một kiếp người.
Ở Sài Gòn mấy ngày thì vợ và đứa con trai của ông đã được chính quyền cho vào thăm và có quyền ở lại chăm sóc sức khoẻ cho ông. Gặp lại vợ con, Phan Châu Trinh mừng lắm và tuần tự biết được thêm nhiều chuyện ở quê nhà. Nói chung, rứa là mừng. Còn người còn của. Chỉ có tội cho người bạn chí tình chí nghĩa của ông là cụ nghè Trần Qúy Cáp và những học trò. Nghe đâu có không ít gia đình khá giả mà vì con vướng vào cái án tào lao của ông mà gia đình khánh kiệt. Phan Châu Trinh thở dài, cảm thấy mình có lỗi.
Sau đó không lâu, gia đình ông được đưa về Mỹ Tho an trí, quan tỉnh trưởng Couzineau trực tiếp trông coi. Nhìn chung, không ai gây khó khăn gì cho ông, song dù có gây cũng thế. Án chết, ông đã trải qua; án nặng không ngày về ông cũng đã trải qua thì bây giờ chẳng còn loại án nào làm ông sợ.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #32 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2011, 08:25:10 pm »

Mấy lần ông đã trực tiếp nói chuyện với quan Toàn quyền và lần nào ông cũng chỉ đưa ra ba yêu cầu: thứ nhất, xử tử Phạm Ngọc Quát; thứ hai, cho ông và con trai của ông sang Pháp sinh sống để chính phủ thuộc địa và Nam triều yên tâm; thứ ba, ân xá tất cả bạn bè ông - những người bị bắt trong vụ "cúp tóc, xin xâu". Nhưng lần nào, ông ta cũng… ghi nhận. Một hôm, ông ta từ Sài Gòn điện báo cho ông biết Dương Bá Trạc được ân xá trong nay mai. Phan Châu Trinh vui lắm, liền biên thư cho anh em ngoài đảo biết. Ông không tin lòng tốt của bọn Tây thuộc địa, mà tin vào tác động của hội nhân quyền. Càng nghĩ, ông càng quyết tâm sang Pháp.

Và cha con ông được lên tàu sang Pháp cùng một lần với quan Toàn quyền Klobukowsky.

Sau một thời gian làm quen đây đó, anh em đã khuyên ông chọn một nghề để kiếm sống và đã giúp ông học nghề rửa ảnh. Và chính nghề này đã không chỉ nuôi sống ông mà còn có dư chút đỉnh để giúp đỡ lại một số anh em đồng hương khác.

Ổn định nơi ăn chốn ở đâu vào đó, Phan Châu Trinh bắt đầu thực hiện những điều đã hứa với quan Thống soái lúc ở Côn Lôn.

Ngồi trước tờ giấy trắng và nghiên mực, Phan Châu Trinh không biết bắt đầu từ đâu. Suy tới nghĩ lui, Phan Châu Trinh đành đứng dậy đi ra phố.

Phải qua mấy ngày như vậy, Phan Châu Trinh mới quyết định được rằng tiểu luận này viết sao đó phải nhằm minh oan cho các thân sĩ tham gia phong trào "cúp tóc, xin xâu", nhưng phải lên án gắt bọn quan lại Nam triều. Bên cạnh đó cũng phải nêu lên được hai quan điểm bạo động và bất bạo động để chính phủ Pháp hiểu thêm về hoàn cảnh xã hội Việt Nam ủng hộ chủ trương tân học, nâng cao dân trí, đề xướng dân quyền của ông. Suy nghĩ xong, Phan Châu Trinh bắt tay vào viết, trình bày đường lối chính trị về một nước Việt Nam mới sau khi thi hành chính sách "Liên hiệp Pháp - Việt". Về chính kiến của ông và Phan Bội Châu, ông đã trình bày nhiều lần với những người có trách nhiệm. Trước sau như một, ông không đồng ý với cách bạo động và cầu viện nước ngoài như Phan Bội Châu. Giữa Phan Bội Châu với ông là bạn. Luận về tài năng và nhân cách, ông không hề chê bai gì Phan Bội Châu, nhưng cách làm của Phan Bội Châu, ông không bằng lòng chút nào. Và ông vững tin một ngày nào đó Phan Bội Châu sẽ hiểu ông.

Trả xong "cái nợ" hứa với quan Thống soái ngày nào, nhưng Phan Châu Trinh vẫn cứ băn khoăn mãi về cái chết của người bạn hiền Trần Quý Cáp và những người còn đang chịu cảnh tù tội ngoài Côn Lôn và một số nhà tù khác trong đất liền. Phan Châu Trinh ngồi vào bàn ghi lại đầu đuôi cuộc dân biến ở miền Trung qua những thông tin mà ông đã biết. Phan Châu Trinh dẫn lại vụ việc từ đầu đến cuối theo lời kể của Huỳnh Thúc Kháng và của một số bạn bè khác, kể cả bản án do tỉnh kết mà Huỳnh Thúc Kháng đã thuê người sao chép lại lúc còn ngồi ở nhà lao Hội An.

Phan Châu Trinh ngừng bút, đọc lại và nghĩ việc trích dẫn, phân tích bản án mà bọn quan lại Nam triều xử bạn bè ông chừng đó đã đủ. Nếu không dằn được nỗi bực tức đem bản án ra trích dẫn và phân tích hết, người đọc sẽ ngán, không đạt được hiệu quả mong muốn… Phan Châu Trinh rời bàn viết, làm một vài động tác cho giãn gân cốt, rồi đi tới đi lui với nhiều nghĩ ngợi kết cấu làm sao cho chặt chẽ, cho đủ sức thuyết phục người đọc để vừa kéo bạn bè ra khỏi nơi giam cầm, vừa tố cáo chính sách cai trị của Pháp ở Việt Nam cũng như sự lộng hành của bọn quan lại Nam triều và chính kiến của mình trước những người Pháp chân chính cũng như góp phần thức tỉnh những người Việt Nam còn mê muội đắm chìm trong lề thói cũ.

Tuy viết chưa xong, nhưng Phan Châu Trinh vẫn cứ dịch ra tiếng Việt (bản thảo viết bằng chữ Hán) rồi mang đến trao đổi với anh em trong hội nhân quyền. Hầu hết anh em đều thích và nói:

- Ông có máu trạng sư trong người ông Trinh à. Nếu ông học làm trạng sư, chúng tôi tin chắc ông là một trong những trạng sư giỏi.

Ông Julles Roux, bạn thân của ông tại Pháp, vui vẻ nói:

- Ông cứ viết tiếp như những gì ông đã trao đổi với chúng tôi, và chúng tôi sẽ tìm cách phổ biến văn bản này. Bản thân tôi sẽ lãnh trách nhiệm dịch ra Pháp văn để gửi cho Toàn quyền Đông Dương hiện nay là Albert Sarraut và gửi cho Thượng thư bộ Thuộc địa Pháp, ngài Missiny. Tôi nghĩ, đây là cách làm thiết thực nhất và có tác dụng nhất của ông đối với xứ Annam.

Phan Châu Trinh phấn khởi, chia tay những người bạn tốt và hứa sẽ hoàn thành công việc này một cách tốt nhất, sớm nhất.

Trên đường về, Phan Châu Trinh ghé qua thăm con đang học tại trường Mondparuasse. Phan Châu Dật, con trai ông, được nhận học bổng và nội trú nên mỗi tuần ông chỉ được đến thăm vài lần. Nhìn thấy con lớn từng ngày, lòng ông thấy vui, quên cả nhọc nhằn nơi đất khách quê người.

Nghe con trai khoe, tháng này tuy không đứng đầu lớp nhưng vẫn được nhận bảng danh dự của nhà trường. Phan Châu Trinh mừng ra mặt, động viên con ráng học để sau này trở thành người hữu dụng cho xã hội.

Khi giã từ con, Phan Châu Trinh nói:

- Người xưa dạy rằng, biết người biết ta, trăm trận trăm thắng, con hãy nghiệm lấy.

Đường phố đã lên đèn thì cũng là lúc Phan Châu Trinh về đến nhà.

Ăn uống qua loa, nghỉ một chút, rồi Phan Châu Trinh đến phòng tối rửa ảnh.

Khi Phan Châu Trinh ngồi vào bàn viết thì đường phố đã lặng im.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #33 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2011, 08:26:11 pm »

Phan Châu Trinh nhớ lại ngày về đất liền và được tái thẩm ở Mỹ Tho, ông đã nài xin xem nguyên án, nhưng người Pháp không cho. Phan Châu Trinh kể lại và cho rằng trong đó ắt có gian tình. Phan Châu Trinh viết:

"1- Thuở ấy dân trong tỉnh xin xâu liên lụy đến thân sĩ, nên bị bắt giam từ tháng 2 đến tháng 8 mới kết án, thì cái án ấy thiệt thuộc về cái án xin xâu, nay về phương diện xin xâu thì bỏ đi hết, lại lấy việc thông mưu với Phan Bội Châu làm cớ chính. Đó là một điều gian.

2- Đã lấy việc thông mưu với Phan Bội Châu làm chính thì phải dẫn chứng sự thiệt thông mưu thế nào, nay lại dẫn ra như hội buôn, diễn thuyết, mặc đồ Tây, trường học, khai trí, trị sanh, siêng học, tiết kiệm, yêu đồng bào, các việc để làm chứng, nếu thế thì không những không tội mà lại có công. Lại bỗng nhiên xử tội chết. Đó là hai điều gian.

3- Trong án xử thân sĩ ba tỉnh Quảng Nam, Nghệ An, Hà Tĩnh đều có nói "cứ theo lời khai của danh Hạ" mà lời khai thế nào thì không nói ra, và danh Hạ thì không khi nào đem ra đối chứng cả. Đó là ba điều gian.

4- Buổi ấy quan Pháp và quan Nam đều cho thân sĩ Quảng Nam đồng tội với tôi, nên một mực theo án của tôi mà kết án. Vả lại, cho tôi là thủ phạm. Tôi đã nhờ được xét lại, cớ sao án thủ phạm được tha mà tòng phạm lại không nói đến ? Quan toàn quyền trước vì cho lỗi các quan của hai nước ở Trung Kỳ nên không xét lại. Đó là bốn điều gian (1). Vì sao mà có sự gian dối ấy ? Phan Châu Trinh phân tích kỹ càng từng điểm một, rồi nhấn mạnh đến cái chết của tiến sĩ Trần Quý Cáp. Theo Phan Châu Trinh, mới đầu quan tỉnh là Phạm Ngọc Quát xử án “lăng trì”(đốt), rồi sau đổi “trảm quyết”(chém ngay). Chém được một giờ thì có điện của quan Toàn quyền sức giải đi Côn Lôn, nhưng người đã chết làm sao sống lại được. Độc ác hơn là thây và đầu của Trần Qúy Cáp không cho người nhà nhận lãnh về chôn. Tất cả người nhà của Trần Quý Cáp thì cũng bị bắt giải ngay về Quảng Nam. Phan Châu Trinh cho là cái án chém của Trần Quý Cáp có những tám điều oan. Bởi theo luật pháp nước Nam, vô luận người nào chỉ có làm giặc hay giết người mới có việc xử ngay tại chỗ, nhưng cũng là khi lâm trận hay là khi bị bắt mà chống lại chứ không cũng để lại 3, 4 ngày xét hỏi mới kết án, còn Trần Quý Cáp thì bị chém ngay dù không vướng vào các tội ấy. Bên cạnh đó, Trần Quý Cáp không những xuất thân khoa mục mà còn đang giữ chức làm việc công, tại sao lại giết ngay ? Năm xưa, cụ phó bảng Nguyễn Duy Hiệu khởi binh chống lại người Pháp và triều đình những mấy năm (phong trào Nghĩa hội Quảng Nam), ấy mà sau khi bị bắt cũng phải giải về kinh một thời gian mới định án xử quyết.
Theo luật pháp nước Nam, người có khoa mục trừ phi làm giặc, ăn cướp, giết người thì không có phép bị tước sổ khoa mục, chớ đừng nói đến chuyện xử tử. Nếu thật tình mắc những tội trên cũng phải giải về kinh xét hỏi nhiều lần lấy chứng cứ xác thực rồi tâu lên vua định án. Thế mà Phạm Ngọc Quát lấy tay che trời.
Cũng theo luật pháp nước Nam, hễ gặp án nặng bị chém bêu đầu một vài ngày rồi cho người nhà lãnh về chôn, còn không thì cho lãnh ngay. Đằng này, giáo thọ tiến sĩ Trần Quý Cáp chẳng có tội gì lại bị chém ngay và giấu xác không cho người nhà nhận lãnh. Đúng là mọi rợ hơn cả mọi rợ.

Tại sao ?

Phan Châu Trinh cho rằng, Bố chánh tỉnh Khánh Hòa Phạm Ngọc Quát là người xảo trá, tàn nhẫn. Đường quan chậm trễ, khao khát được thăng. Nghe quan Toàn quyền Beau sức dân lập trường học cho nhiều và cho các tỉnh lập hội buôn, y ta nhanh trí lập công, giao cho Trần Quý Cáp đang làm giáo thọ khuyên dân dựng nhà học, lập hội buôn. Bản thân y ta cũng chung cổ phần vào hội buôn Bình Thuận và tính xuất tiền lập hội buôn, hội nông… Đến khi nghe dân tỉnh Quảng Nam xin xâu, những người trong các hội buôn, hội học, hội nông… bị bắt, y ta hốt hoảng sợ không khéo vì việc ấy mà mất chức nên giết ngay Trần Qúy Cáp vừa lập công vừa thoát thân. Không phải Phạm Ngọc Quát không biết luật pháp Nam triều, nhưng y nghĩ một khi giải Trần Qúy Cáp về kinh thì sẽ lộ ra việc y chỉ đạo lập ra các hội ấy, không khéo cái đầu khó mà giữ vững chứ đừng nói đến cái chức quan nho nhỏ ấy. Giết người bịt miệng là thượng sách. Và vì thế, y ta sẵn sàng giết Trần Qúy Cáp.

Phan Châu Trinh phân tích động cơ rồi dẫn chứng rằng, sau khi giết Trần Quý Cáp, Phạm Ngọc Quát được thăng làm Tuần vũ Hà Tĩnh.

Phan Châu Trinh kể tiếp tình hình nhiễu lụy oan thảm ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá và thảm trạng đi đày của các thân sĩ Hà Tĩnh, Nghệ An mà ông được nghe kể ở Côn Lôn. Thân sĩ của hai tỉnh này giao cho quan binh áp giải, trói cả chân tay không cho cựa quậy, lấy trành khiêng xuống tàu thủy rồi cũng không mở dây trói, sắp hàng trên boong tàu, mưa gió ướt lạnh cũng không chịu dời anh em đi chỗ khác. Nói chung, anh em bị đối xử tệ hơn cả đối xử với súc vật trước khi giết thịt.

Viết xong, Phan Châu Trinh chưa đưa cho anh em vội mà để đó, vài hôm sau đọc tới đọc lui nhiều lần, sửa từng chữ, từng ý. Khi khá bằng lòng, Phan Châu Trinh dịch ra tiếng Việt đưa cho Julles Roux.

Phan Châu Trinh cũng đưa một bản cho Phan Văn Trường, hiện đang làm trạng sư tại Pháp. Phan Văn
Trường đọc xong, nói:

- Đúng là văn của bậc đại khoa và là người trong cuộc mới viết được như vậy, chứ như tôi dù chữ có thấm ra da cũng chịu.

Phan Châu Trinh buồn buồn, nói:

- Khi tôi xin qua đây là muốn dựa vào hội nhân quyền để tìm tự do cho anh em đang bị giam cầm, chứ lòng không muốn chút nào. Người Pháp họ cũng mong giữ tôi ở bên này coi như một cách "đày khéo". Do vậy, tôi cố sức mình làm được những gì cần phải làm. Khi có điều kiện tôi sẽ trở về tiếp tục diễn thuyết, tiếp tục khuấy động phong trào khai trí quốc dân. Một khi mình có hiểu biết thì mới dám ngồi nói chuyện ngang hàng với người ta được, chứ ngu muội thì luôn bị người ta lừa phỉnh và luôn lấy làm sung sướng khi được làm tôi mọi cho người. Cái học ngàn đời của ta là thế.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #34 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2011, 08:27:00 pm »

Thấy Phan Văn Trường hơi ngớ người vì ý kiến khá lạ của ông, ông nói tiếp:

- Cái đầu của Khổng Minh, Bàng Thống hơn cả triệu lần cái đầu của Lưu Bị, ấy mà rất lấy làm sung sướng làm mọi cho Lưu Bị. Đời trước đó thì có Trương Lương với Lưu Bang, Phạm Tăng với Hạng Võ, và rất nhiều người trí thức khác, ngay cả ông thánh của bọn sĩ phu chúng tôi là Khổng tử cũng muốn được làm mọi cho người ta vẫn không được. Ấy mà hết lớp người này tới lớp người khác suốt ngày "tử viết… tử viết…".

Phan Văn Trường trầm ngâm một lúc rồi nói:

- Lớp người khoa bảng như các anh mà nghĩ được vậy, làm được vậy, tôi cho là hồng phúc của dân tộc chúng ta. Tôi tin một ngày nào đó, ước nguyện của các anh sẽ thành hiện thực.

Phan Châu Trinh thở dài:

- Tôi cũng tin và mong như vậy, nhất là khi có những người như anh ủng hộ.

Hai người tiếp tục nói chuyện tình hình trong và ngoài nước qua báo chí mà Phan Văn Trường đọc được và cùng thấy rằng nếu hai nguồn tri thức đông tây phối hợp nhịp nhàng thì nước Việt Nam sẽ bằng chị bằng em chứ không tủi hổ như bây giờ.

Phan Văn Trường rất qúy trọng vị phó bảng chỉ lớn hơn mình vài ba tuổi này. Xuất thân từ cửa Khổng sân Trình mà tư tưởng khá khác người, nhìn vấn đề không chút nào hời hợt. Thật lòng, trước đây ông có coi thường những người chỉ biết cắm cúi học nhão mấy cuốn sách giáo khoa cũ mềm đã có từ hàng ngàn năm để tìm mũ cao áo rộng. Từ khi báo chí nói nhiều về vị phó bảng này và sau mấy lần nói chuyện, Phan Văn
Trường rất quan tâm đến chuyện nước nhà và qúy trọng Phan Châu Trinh. Ông nói:

- Tôi hoàn toàn đồng ý với việc nâng cao dân trí của anh. Khi dân trí đã cao thì dân mình mới xóa dần được tính khôn vặt. Thôi cho rằng, chính cái tính khôn vặt ấy sẽ làm cản bước tiến của dân tộc dù chúng ta có giành được nước, giữ được cương thổ.

Phan Châu Trinh mỉm cười, đưa tay vê vê mấy sợi râu mép.

- Đó là cái hại của sách vở Trung Hoa truyền sang ta từ ngàn đời qua. Ở xứ ta từ vua quan cho đến thường dân không ai chịu nhận lỗi khi làm sai. Họ sẽ chờ một dịp thuận lợi nào đó với một vài cử chỉ, hành động nào đó được gọi là chuộc lỗi và coi như xong. Bởi sách vở ngàn đời đã dạy họ “Bế môn tư quá” (Đóng cửa suy gẫm lỗi lầm). Ai cũng thích làm quan, thích có chút chức sắc trong làng, nhưng không ai chịu khẳng định mình, mà cứ từ chối quanh co. Khi không đạt được ý nguyện thì chửi, thậm chí ghi sâu mối thù ấy trong lòng, đời mình trả không được thì dặn đời con; đời con trả không được thì dặn lại đời cháu… Và một khi được chút lợi quyền nào đấy thì hớn hở ra mặt, coi trời bằng vung. Biết đất trời to thiệt đó, song lúc ấy họ vẫn nghĩ đất trời quá chật.

Phan Văn Trường nói thêm:

- Trò chuyện với anh, tôi nghĩ ra thêm điều này. Với cái học ấy và đã hình thành nên nền văn hóa ấy thì
khó nói đến bình đẳng. Vua đã là "con trời" thì ai ai cũng phải cúi lạy, nhất nhất nghe theo dù biết điều ấy không đúng. Quan là "cha mẹ dân" thì luôn luôn có những lời dạy bảo và con cái phải nghe, dù những lời dạy bảo ấy rất ư tào lao. Chồng cao hơn trời (chữ phu cao hơn chữ thiên) nên vợ phải phục tùng dù nó ngu dại hơn mình, v.v… Một dân tộc mà con người không được bình đẳng ngay từ trong nhà thì khó mà tiến
bộ.

- Tôi cũng đồng ý với anh. Nhưng lúc này vẫn còn nhiều người cho rằng tôi là kẻ phản thầy, tôn sùng Tây phương, nịnh bợ nước ngoài. Tôi hoàn toàn cảm thông bởi họ không chịu học, không chịu đọc tân thư, suốt ngày chỉ chúi mũi vào Khổng tử viết, Mạnh tử viết… Với tôi, sùng bái ở đây chẳng qua là học những ưu điểm của phương Tây, cụ thể là những ưu điểm của người Pháp - một dân tộc biết dấy lên phong trào Ánh sáng và biết làm cuộc Cách mạng 1789ï. Chẳng lẽ ngày nào đó người Pháp thi nhau uống thuốc phiện với dấm thanh tự tử hàng loạt, ta cũng nhắm mắt học theo hay sao ? Bậy bạ hết sức ! Tôi không muốn bạo động, mà muốn tự mình mạnh lên. Dân ta không tự ngoi lên được thì trong tương lai dân ta còn bị giết, bị chết một cách vô lối nhiều hơn nữa. Không nên trách cứ, oán thán ai cả, mà phải thấy được cái sai, cái yếu của mình thì mới có khả năng vươn lên được. Chúng ta phải có cái tiền đề là làm sao cho người ta tôn trọng mình và phải có khả năng tự hiểu mình. Đó là điều kiện tôi cần để dân tộc Annam tồn tại và phát triển.

- Buổi trò chuyện hôm nay, tôi hiểu thêm anh và xin hứa với anh tôi sẽ cố gắng hết mình để cùng với anh và bạn bè của anh, chúng ta làm được cái gì đó cho dân cho nước, khỏi phí một đời.

Nghe những lời tâm huyết của Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh tưởng chừng như được chắp thêm cánh. Sát thân để thành nhân cũng là điều tốt, nhưng trong hoàn cảnh xã hội hiện thời, cả hai người không tán thành. Và Phan Châu Trinh cũng thấy rằng, bữa nói chuyện hôm nay thật bổ ích, giúp ông sáng thêm ra nhiều điều.

-----------------------------------------------------------

Chú thích:

(1) Phan Châu Trinh - Cuộc đời và tác phẩm, sđd, trg 306-307.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #35 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2011, 08:27:52 pm »

Chương 11

Phan Châu Trinh đưa con trai đi thăm bạn bè và dạo phố, một phần để cho con mở rộng tầm nhìn, một phần có điều kiện dạy cho con những điều hơn lẽ thiệt, nhất là đừng quên gốc gác ông cha. Phan Châu Trinh nói:

- Mai này, con thành đạt, trở thành bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ gì đó cũng tốt và trở thành công dân Pháp cũng không ai nói gì, miễn sao con sống cho ra sống, cho đúng nghĩa một con người. Nhưng dù ở đâu, dù làm gì cha chỉ mong con nhớ mình là người Việt Nam, dòng máu đang luân chuyển trong người con là máu Việt Nam, máu Quảng Nam quê nhà. Trước khi con làm việc gì đó thì con phải nghĩ, làm việc này có ảnh hưởng gì đến danh dự ông cha hay không, có xấu hổ với xóm làng, với tổ tông hay không. Và nếu lấy lương tâm không cắn rứt thì làm, bằng ngược lại thì thôi. Cha mẹ chỉ sinh ra con và cho con đến trường, dạy thêm con những gì cha mẹ cho là đúng là hay, nhưng con phải đi bằng chính đôi chân của mình. Cha mẹ chỉ có mỗi mình con là con trai nhưng cha mẹ không thể cõng con đi suốt đời được. Con phải nhớ rằng, ở đẳng tuổi của con mà được cắp sách đến trường, nhất là được học ở đây là không phải ai muốn cũng được. Con may mắn hơn hàng triệu người. Lứa tuổi của con ở quê nhà đã phải vất vả, cày sâu cuốc bẫm để kiếm miếng ăn còn chưa được nói gì đến học hành. Do vậy, con phải thấy mình có trách nhiệm với họ, phải gắng học nên người, góp phần giúp cho họ có miếng ăn miếng mặc, mạnh dạn ngẩng mặt nhìn đời, nhìn người…
Hai cha con vừa đi vừa nói chuyện như những kẻ vô tư vô lự giữa phố phường hoa lệ. Khi về đến nhà thì cả hai cha con đã thấy một thanh niên ước chừng hơn hai mươi tuổi chờ sẵn trước cửa. Anh ta chờ hai người đến gần mới ngả mũ chào:

- Thưa cụ cho phép cháu được hỏi, cụ có phải cụ phó bảng Tây Hồ người Annam không ạ ?

Phan Châu Trinh nhìn kỹ, người thanh niên này dáng dấp khá tao nhã, tướng mạo cũng không xoàng. Nhưng đã vào hang hùm thì còn sợ gì hùm ăn thịt, Phan Châu Trinh trả lời rõ ràng từng tiếng.

- Đúng, đi không đổi tên, ngồi không đổi họ, Tây Hồ là tôi, Phan Châu Trinh cũng là tôi. Anh tìm tôi có việc gì ?

Nét mừng rỡ hiện lên gương mặt người trẻ tuổi, Phan Châu Trinh cũng thấy yên tâm. Người thanh niên lễ phép thưa:

- Thưa bác, cháu là Nguyễn Tất Thành, con trai cụ phó bảng Nguyễn Sinh Huy, từ quê nhà mới sang.

Phan Châu Trinh quay lại giới thiệu con trai mình với khách:

- Đây là con trai lớn của tôi, Phan Châu Dật. Em nó đang học tại trường Mondparuasse, hôm nay được phép về chơi. Sáng mai, em nó trở lại trường.

Nguyễn Tất Thành bước tới bắt tay Phan Châu Dật với lời lẽ chân tình.

- Xin chào. Luận về tuổi tác, tôi có thể xưng hô anh em được chứ ?

Phan Châu Dật vui vẻ, nắm chặt tay Nguyễn Tất Thành, nói:

- Tất nhiên, em mới vào tuổi mười lăm.

- Anh thì đã vào tuổi hai mươi mốt.

Phan Châu Trinh mời khách vào nhà, dặn con lo cơm nước.

- Cụ phó bảng với tôi là bạn đồng khoa, song lớn hơn tôi mười tuổi.

Nguyễn Tất Thành vui vẻ nói:

- Vâng, thưa bác, thân phụ cháu sinh năm Nhâm Tuất ạ.

- Nhưng anh là con thứ mấy trong nhà ?

- Thưa bác, trên cháu còn có người chị và người anh nữa ạ.

Sau vài lời dọ hỏi, Phan Châu Trinh biết chắc người thanh niên này là con trai của bạn, chẳng có chi phải nghi kỵ. Nhưng nghĩ cho cùng, cha con ông ở đây chẳng có chi phải sợ ! Mọi việc, ông đã trình bày bằng giấy trắng mực đen chẳng giấu giếm điều gì. Hồi ở trong nước, bọn sâu mọt đã không làm được gì thì bây giờ có gì phải đáng lo ? Nguyễn Sinh Huy dưới mắt ông cũng là người khí khái. Anh ta đỗ cử nhân khoa Giáp Ngọ (1894) trước ông sáu năm, nhưng đỗ phó bảng một lần và nghe đâu được bổ chân tri huyện Bình Khê. Nợ áo cơm, nợ hình hài trả rứa cũng đã được. Con cái có phần con cái và cái chí của chàng trai trẻ này không thể xem thường. Ông thấy lòng vui vui, ít ra lớp trẻ đã có người như vậy.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #36 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2011, 08:28:31 pm »

Nguyễn Tất Thành kể tiếp cho ông nghe, những tháng ngày ở Sài Gòn, rồi những ngày làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Tréville thuộc hãng Chargeurs Réunis của Pháp cho đến khi đặt chân lên đất Pháp. Cuộc sống quả có vất vả nhưng vui, bởi anh đã thấy được nhiều điều, biết được nhiều điều mà nếu ở quê nhà thì không thể nào hình dung ra nổi.

Nguyễn Tất Thành thò tay vào túi, lấy ra cuốn sách mỏng, cầm hai tay đưa Phan Châu Trinh.

- Thưa bác, hồi ở bên nhà, cháu đã nghe đến tên tuổi và những việc làm của bác. Cháu muốn gặp bác lắm, nhưng còn bận học và chưa gặp được thì bác đã vào vòng lao lý. Khi qua đây, một hôm có người đưa cho cháu cuốn sách này và dò hỏi mãi đến nay mới gặp được bác, thật là vinh hạnh.

Nhìn cuốn sách, Phan Châu Trinh biết ngay đó là cuốn "Manifestation de 1908 en Annam". Cầm cuốn sách trên tay, Phan Châu Trinh biết đã có nhiều người đọc. Phan Châu Trinh kể thêm về nội dung cuốn sách cho Nguyễn Tất Thành biết. Tựa tiếng Việt của ông là "Trung Kỳ dân biến thỉ mạt ký". Bản dịch này không ghi tên người dịch, nhưng người dịch là bạn của ông: Julles Roux, có chân trong hội nhân quyền và được trạng sư Phan Văn Trường khen dịch rất chuẩn. Bản dịch này ngoài việc phát hành rộng rãi còn được gửi cho Albert Sarraut - người sắp sang nhận chức Toàn quyền Đông Dương và gửi cho ngài Missiny, thượng thư bộ Thuộc địa Pháp.

Nguyễn Tất Thành nói:

- Thưa bác, cháu rất kính trọng bác, tán thành việc làm của bác, nhưng cháu không tin những người Pháp cai trị, kể cả người Tàu, người Nhật. Không có ai tốt với mình một khi mình không có cái gì để trao đổi với họ.

Phan Châu Trinh nhìn người trai trẻ ngồi trước mặt mình.

- Anh nói không sai. Chính vì vậy mà tôi và bạn bè mới đề cao dân trí, khởi xướng dân quyền. Chúng ta không tin vào người Pháp cai trị, nhưng chúng ta phải tin vào bản thân mình, tin vào những người Pháp chân chính, yêu tự do, yêu công bằng, bác ái.

Nguyễn Tất Thành vẫn từ tốn nói lên những suy nghĩ của mình:

- Thưa bác, chính vì những mỹ từ ấy mà cháu qua đây và hi vọng nhìn rõ mặt trái của nó. Cháu nghĩ, con đường cứu nước không phải không có, nhưng chúng ta biết chọn con đường nào đúng nhất, hiệu quả nhất mới khó. Cháu muốn đi đây đi đó thật nhiều, đọc thật nhiều mới dám trình bày cụ thể với bác để bác chỉ dạy thêm.

- Tôi rất mừng đất nước có một người trẻ tuổi như anh và cũng rất mừng cụ phó bảng nhà ta có được người con như anh. Anh còn trẻ nghĩ được như vậy là hay. Nếu anh tin tôi, thì trên đường đời có gì cần đến tôi, anh cứ hỏi, cứ trao đổi thẳng thắn trên tinh thần khoa học. Tôi là vai cha mẹ của anh thật và cũng là bậc đại khoa của nước nhà Annam chuyên chế thật, nhưng có đi ra mới biết mình chẳng là cái gì so với thiên hạ. Do vậy, ý kiến của tôi cũng là ý kiến để anh tham khảo.

Càng nói chuyện, Phan Châu Trinh càng thích chàng trai trẻ này.

Những ngày sau đó, ngoài công việc kiếm cơm, Phan Châu Trinh tiếp tục cùng Nguyễn Tất Thành đàm đạo chuyện nước nhà. Ông chống cái học cũ là vì nó quá lỗi thời trước đà tiến hóa của nhân loại, chứ không xổ toẹt những tinh hoa của nó. Phan Châu Trinh nói:

- Đối với Nho giáo, muốn trị quốc thì trước hết phải tề gia, muốn tề gia thì phải tu thân, muốn tu thân thì phải chính tâm, muốn chính tâm thì phải thành ý, muốn thành ý thì phải cách vật trí tri. Đó là cả một quá trình gian nan, khổ công tu học cả đời, anh nó ạ. Điểm này ta phải học. Phép trị nước của phương Tây lẫn phương Đông đều có cái hay cái dở riêng. Nếu chúng ta biết dụng cái hay, loại cái dở thì quốc dân được nhờ. Do vậy, tôi đồng thuận với ý tưởng đi nhiều, đọc nhiều của anh. Ở quê nhà của ta, ai ai cũng thuộc lòng câu răn dạy của ông cha: Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn, ấy mà chẳng thấy ai dụng.

Cả hai đàm luận rất tâm đắc. Rảnh rỗi, Phan Châu Trinh đưa Nguyễn Tất Thành đi giới thiệu với bạn bè người Pháp, người Việt mà ông đã quen và tin tưởng.

Những ngày bên Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành học được rất nhiều điều và càng thêm tin tưởng cho sự ra đi của mình.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #37 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2011, 04:05:21 pm »

Chương 12

Cuộc chiến châu Âu bùng nổ. Nước Pháp và nước Đức đánh nhau chí tử. Đâu đâu cũng nghe nói đến Tổ quốc, chiến tranh, hòa bình… Những người Việt Nam ở Pháp có phần vui mừng về những dòng tin ấy. Theo họ, có chiến tranh, nhân dân Pháp mới chán ghét chiến tranh và những xứ thuộc địa sẽ dễ thở hơn và có cơ hội giành độc lập. Phan Châu Trinh cho rằng, đó là những mơ tưởng hão huyền. Những người Tây đến Annam đâu chỉ có da trắng mà còn cả da màu ở những xứ thuộc địa, do vậy không khéo người Việt Nam da vàng mũi tẹt cũng sẽ bị đẩy qua đây bảo vệ mẫu quốc. Ngay cả những người Việt Nam đẳng tuổi như ông cũng bị động viên đi đánh thuê bảo vệ mẫu quốc.

Một hôm, anh em ở hội nhân quyền báo cho ông biết, ông có thể bị bắt bất cứ lúc nào, bởi vì ông đã từ chối đăng lính. Thật lòng anh em chưa biết đưa ông đi đâu và bảo vệ ông như thế nào. Phan Châu Trinh cười, cám ơn lòng tốt của anh em.

- Ba năm ở đây, tuy tôi có làm được một số việc có ích, nhưng anh em của tôi ở quê nhà vẫn còn ngồi tù chưa biết sống chết ra sao, nên tôi cũng đã coi mình như kẻ chết rồi. Tôi bảo vệ Tổ quốc tôi không xong, bảo vệ bản thân không được thì đi bảo vệ cho ai. Tù ở Côn Lôn hay tù ở Paris đối với tôi cũng thế.
Julles Roux nói:

- Ông đừng bi quan quá, ông Trinh à. Con đường đầy hoa không bao giờ đưa đến vinh quang. Chúng tôi tin
ông, thì cũng mong ông đừng làm chúng tôi mất niềm tin ấy.

Phan Châu Trinh cười cười, đưa hai ngón tay lên vê vê mấy sợi râu ngạnh trê.

- Tôi không bi quan, nhưng tôi chấp nhận sự thật. Khi tôi từ quan, vận động tân học, đề xướng dân quyền là tôi đã chấp nhận tất cả, kể cả cái chết.

Nghe Phan Châu Trinh nói vậy, mọi người cụng ly, uống hết hớp rượu vang cuối cùng. Và quả nhiên sau đó ông bị bắt giam vào ngục Santé (tháng 9-1914) cùng một lần với Phan Văn Trường vì bị nghi làm gián điệp cho Đức.

Tra hỏi nhiều lần, nhưng không có chứng cớ nào chứng minh lời buộc tội vu vơ ấy, song không ai nói gì đến sự trả tự do của ông. Ngày ngày, Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường gặp nhau… bằng mắt khi được đưa ra hóng mát độ nửa tiếng đồng hồ. Tuy là ở tù, nhưng Phan Châu Trinh cũng được đến thăm con vài lần mỗi tuần. Chính vì lý do này mà anh em ở hội nhân quyền thông qua con trai ông nói cho ông biết sẽ sớm được tự do. Cái buồn là vì ông bị vướng vào vòng lao lý mà con trai ông bị cắt học bổng.

Nhìn con ốm hơn trước, ông đau lòng lắm nhưng vẫn cười vui, động viên con:

- Hãy cố gắng con ạ. Anh Nguyễn Tất Thành đâu có thuận lợi hơn con, ấy mà vẫn tìm mọi cách để sống cùng những ước mơ cháy bỏng. Cái gương trước mặt đó chứ đâu xa. Con trai hãy ráng lên. Chính những lúc khó khăn như thế này, con người mới trưởng thành.

Phan Châu Dật cầm chặt tay cha.

- Cha yên tâm. Tuy con có kiếm việc làm thêm để trang trải việc học, nhưng sức học của con không thua ai. Con tin mình sẽ đạt kết quả tốt nhất trong kỳ thi tú tài sắp tới.

Phan Châu Trinh chịu hết xiết. Lúc này, ông như con cọp bị nhốt trong chuồng sắt. Ông muốn làm một cái gì đó rồi ra sao thì ra. Nhiều bạn tù cùng phòng thấy cặp mắt của ông, họ cũng ngại gần gũi. Thế nhưng khi bước chân ra khỏi cổng nhà tù thì lòng ông dịu lại.

Con trai của ông đang đứng phía xa, đưa tay vẫy vẫy ra chiều mừng rỡ. Ông xăm xăm bước tới, biết chắc là sẽ đón được tin vui, bởi vì không có tin gì vui thì thằng con của ông không đến đây và không có thái độ mừng rỡ như vậy.

- Cha ơi, con đậu tú tài rồi.

Phan Châu Trinh ôm chặt con vào lòng với hai hàng nước mắt mừng vui khôn tả.

- Con vừa đánh dây thép về nhà báo cho mẹ và gia đình mừng.

Phan Châu Trinh thả con ra và cùng con tản bộ như những kẻ nhàn hạ, mặc cho cuộc sống tuôn trào.

- Con phải tiết kiệm. Ở đất khách quê người, mình là kẻ ăn chực nằm nhờ. Con ráng dành dụm lo cho sức khỏe của mình, đừng lo cho cha lắm.

Phan Châu Trinh định nói những uất ức của mình, nhưng nghĩ con còn nhỏ, càng nói nó càng lo thêm nên thôi. Hai cha con tấp vào quán cóc ven đường kể về chuyện quê nhà, chuyện mai sau với những giấc mơ tươi đẹp.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #38 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2011, 04:06:10 pm »

Thấy con ho, Phan Châu Trinh cầm tay chẩn mạch với những vết hằn suy nghĩ.

- Thời gian qua, con vừa lao tâm lại vừa lao lực, nếu kéo dài tình trạng này không hay lắm đâu. Học suốt đời chứ không chỉ đôi ba bữa, vì thế con tạm nghỉ học một thời gian, chờ cha ra khỏi tù hãy tình tiếp.

Đã hết giờ, Phan Châu Trinh dặn con về sớm nghỉ ngơi đừng tiễn đưa chi và dặn:

- Con nhớ giữ ấm và gắng tập thể dục.

Nhìn dáng con đi, Phan Châu Trinh vui lắm mà cũng lo lắm.

Khi khuất bóng con, Phan Châu Trinh mới quay về phòng giam, và sự bực tức lại nổi lên.

Phan Châu Trinh lấy giấy bút viết liền một mạch một lá thư gửi cho viên chánh án tòa án binh Paris. Sự bực tức của ông đã chảy trên trang giấy:

"Quan án là một tên gian dối, thay mặt cho quân thù nghịch tôi, lấy ý riêng mà bắt tôi, giam tôi thì từ nay tôi cứ đem lời lẽ ra mà chống cự lại với việc gian dối không công bình của quan lớn" (1).

Gần một tuần sau, ông viết tiếp lá thư khác:

"Thằng Phan Châu Trinh thà chết thì nó xách cái đầu của nó, nó quăng xuống đất như chơi, nó chẳng chịu làm thân trâu ngựa cho người ta cưỡi trên đầu, trên cổ nó đâu ! Tôi thề chết tại giữa buồng giấy quan lớn. Tôi thề lấy máu tôi mà bôi đầy đầu, đầy mặt, đầy cổ, đầy mình quan lớn, tôi bôi cho đỏ cả buồng giấy gian dối, tối tăm, hôi thúi của quan lớn. Tôi chẳng chịu chết mòn, chết rục, chết vắng, chết thầm ở cái buồng giam 2-16 đâu"(2).

Viết xong, Phan Châu Trinh không cần đọc lại, đem nộp lên buồng giấy nhà giam rồi báo đúng kỳ đi thăm con.

Về đến khu xóm lao động ẩm thấp, thấy căn phòng của con khóa kỹ, ông nghĩ con đi làm chưa về, bèn ra quán cà phê đầu đường ngồi chờ.

Khi định viết gửi lại cho con mấy chữ, thì ông đã thấy dáng xiêu vẹo của con từ xa. Biết có chuyện chẳng lành, ông vội đứng lên chạy ào ra đón con.

Phan Châu Dật nhào vào người ông như cái cây trốc rễ.

Phan Châu Trinh ôm chặt con vào đôi tay, vỗ về:

- Hãy bình tĩnh, con trai. Chuyện gì rồi cũng giải quyết được, không sao đâu.

Phan Châu Trinh dìu con vào quán gọi cho con ly cà phê nóng những mong con lấy lại bình tĩnh vốn có.
Nhìn cha một thoáng, Phan Châu Dật thò tay vào túi lấy ra lá thư và ngã lên đùi cha.

Đọc lướt qua lá thư, Phan Châu Trinh cũng gục xuống người con. Mãi lúc lâu, ông mới ngồi thẳng dậy và đỡ con ngồi thẳng thớm như mình.

Hai cha con nhìn nhau rơm rớm nước mắt, chẳng ai nói với ai lời nào.

Phan Châu Trinh gói mấy thỏi đường rồi đặt tiền lên bàn, dìu con ra về.

Vào căn phòng ẩm thấp, ông bật đèn lên, khuấy một ly nước đường ép con uống cho kỳ hết rồi đặt con lên giường, khuyên:

- Sinh ký tử qui. Làm người có ai lại không chết. Mẹ con đã hết nợ trần thì trở về với tổ tiên thôi. Con đừng lo nghĩ quá, hãy ngủ một giấc, sáng mai đâu lại vào đó. Ở đây chỉ có hai cha con, nếu con vật vả kiểu này thì cha không yên tâm. Đến giờ cha phải đi đây.

Phan Châu Trinh đắp chăn cho con rồi bước ra, khép cửa lại và cầu mong sau giấc ngủ, con ông sẽ trở lại trạng thái bình thường.

Khuyên con là vậy, nhưng hôm ấy, Phan Châu Trinh cũng bỏ bữa ăn tối và nằm co ro một góc như con thú bị thương. Ông nhớ về người vợ chịu thương chịu khó, một nắng hai sương; nhớ về hai đứa con gái như đang mồ côi cả cha lẫn mẹ, nhớ về gia đình, bản quán, bạn bè, rồi lo lắng cho sức khoẻ thằng con… Tất cả cứ rối bời trong ông.

Qua ánh đèn vàng ệch bên ngoài chiếu vào, Phan Châu Trinh thấy tất cả bạn tù ngủ say như chết. Lâu lâu, có người nói mớ chuyện gì đó. Ông nghĩ và thương vợ hơn lúc nào hết. Khi nhắm mắt lìa đời không có chồng bên cạnh. Có mỗi thằng con trai cũng không thấy được nó mặt ngắn mặt dài trước khi về với tổ tiên. Chắc lúc lâm chung, vợ ông buồn lắm. Đường sá xa xôi dịu vợi và khi ông bị bắt, căn nhà cũng trả lại người ta, chủ mới nào có biết ông là ai và ông đã đi đâu nên cả năm trời hung tin mới đến tay cha con ông. Thật tội nghiệp !

Khi lòng dịu lại, Phan Châu Trinh lấy giấy ra viết tiếp lá thư khác gửi cho viên chánh án tòa án binh Paris:
"Quan lớn,

Cái thơ tôi viết hỏi quan lớn ngày 27-4 và ngày 2-5, đến bữa nay đã lâu rồi, nếu có dịch thì đã dịch rồi, quan lớn đã xem rồi sao chẳng thấy quan lớn trả lời, mà lại còn cố ý giam tôi đây, thì tôi lấy làm lạ quá, hay là người ta cho quan lớn tiền bạc gì nhiều lắm, thuê quan lớn cố ý làm hại tôi, nên đã bảo quan lớn bắt tôi thì quan lớn bắt, bảo quan lớn giam tôi thì quan lớn giam, bảo đánh khảo lôi kéo tôi, nạt nộ, giậm dọa tôi, quan lớn cứ làm theo nấy, bữa nay tôi nắm lưỡi, vặn họng quan lớn tôi hỏi lại, quan lớn cứng họng câm mồm không thể trả lời được phải không ? Vậy mà quan lớn chẳng lo bổn phận, quan lớn còn giam tôi nữa sao ?
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #39 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2011, 04:07:00 pm »

Tôi viết thư hỏi lắm cũng mỏi, tôi chỉ hỏi quan lớn một lần này thôi, tôi buộc quan lớn không trả lời cũng không được với tôi… Nếu quan lớn còn giam tôi thì quan lớn là người thù nghịch thứ nhất của tôi, thì tôi phải trở cái mũi gươm chống với kẻ thù nghịch mà chống cự lại với quan lớn"(3).

Bên ngoài, anh em ở hội nhân quyền cũng đấu tranh không mệt mỏi đòi thả tự do cho ông. Và chẳng biết có phải vì vậy và sự quyết liệt của ông hay không mà chỉ hơn một tháng sau kể từ lá thư cuối cùng ấy, ông được thả tự do.

Ngày ra tù, con trai ông và một vài người bạn đã chờ sẵn trước cổng.

Thấy con không chỉ xanh xao mà còn ho khục khặc, ông lo lắm song chỉ biết cầm chặt tay con không muốn phá vỡ niềm vui của bạn bè.

Nghỉ ngơi được một tuần, Phan Châu Trinh liên hệ tìm lại những mối làm ăn cũ cùng sự giúp đỡ chí tình của bạn bè, ông có thể kiếm tiền nuôi sống hai cha con và thuốc thang cho con. Nhưng Phan Châu Trinh không quên nhiệm vụ chính của mình. Ông tập hợp những người Việt Nam cùng chí hướng và cùng một số người Pháp tiến bộ có chân trong hội nhân quyền đấu tranh đòi ân xá toàn thể tù chính trị Việt Nam ở bên nhà cũng như đang bị giam tại Pháp qua cuộc Âu chiến; đấu tranh tự do lập hội, lập trường kể cả các trường kỹ thuật cho dân bản xứ; đòi tự do báo chí, cải cách nền pháp lý hiện nay ở Annam, v.v… Và bước chân của ông hầu như trải khắp Paris, Marseille, Bordeaux…

Những tháng ngày này, chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành từ nước Anh xa xôi cũng thường xuyên thư từ qua lại với ông. Phan Châu Trinh rất thương và qúi mến chàng trai này. Qua thư từ, ông thấy loáng thoáng Nguyễn Tất Thành đang nghiên cứu và có thích thú với cái chủ nghĩa của ông Mã Khắc Tư (Karl Marx), ông Lý Ninh (Lénine).

Hai vị này ông cũng đã nghe anh em nói, nhưng nay vì đứa con của người bạn nên ông cần phải tìm hiểu kỹ hơn. Ông nhờ anh em tìm tài liệu đọc và giảng lại cho ông nghe. Chỗ nào chưa thấu đáo thì ông mượn về nhờ thằng con ông đọc giúp rồi ông tự tìm hiểu.

Cách mạng tháng Mười Nga làm chấn động thế giới. Phan Châu Trinh cũng đã nhìn ra cuộc cách mạng này đã thức tỉnh giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vùng dậy đấu tranh. Nhưng với dân tộc Annam của ông không dễ, bởi giai cấp công nhân chưa có gì đáng kể, còn giai cấp nông dân thì còn tăm tối quá. Do đó trước mắt, công việc nâng cao dân trí, đề xướng dân quyền vẫn là công việc trọng yếu.

Cuối năm đó, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp có đến chào ông. Hai bác cháu trao đổi rất nhiều về con đường cứu dân cứu nước. Nguyễn Tất Thành nói:

- Đi mòn không biết bao nhiêu đôi giày, cháu có nhận xét chung là dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản.

Phan Châu Trinh đồng tình, nói:

- Tôi cũng thấy như vậy và cuộc Cách mạng tháng Mười Nga là minh chứng hùng hồn nhất. Song đối với dân tộc Annam của chúng ta thì chưa hội đủ điều kiện.

- Cháu tin đây là con đường đúng đắn nhất để cứu dân cứu nước, bác ạ.

- Làm người sợ nhất là không có niềm tin. Tôi ủng hộ anh và sẽ cố gắng tạo cho lớp người tuổi trẻ các anh một cái nền vững chắc nhất.

Những ngày sau đó, ngoài giờ lo kiếm miếng cơm manh áo và thuốc thang cho con, Phan Châu Trinh đưa Nguyễn Tất Thành đi gặp những bạn bè cần gặp. Phan Châu Trinh rất vui khi thấy Nguyễn Tất Thành tuy cuộc sống cũng khá chật vật nhưng lúc nào cũng lạc quan, hăng say học tập và hoạt động, không lúc nào xa rời đích ngắm của mình. Đến đâu, nói chuyện với ai, anh ta cũng tìm cách hướng sự chú ý của người nghe vào vấn đề Đông Dương.

------------------------------------------------------------------

Chú thích:

(1)+(2) Dẫn theo Phan Châu Trinh - Cuộc đời và tác phẩm, sđd, trg 64.

(3) Phan Châu Trinh - Cuộc đời và tác phẩm, sđd, trg 65.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM