Đề án 1134 “Berkut” – lớp Kresta-I
Tổng số tàu đã đóng: 4
Biến thể
+ 1134 (Kresta I) – đề án cơ sở (năm 1967)
+ 1134-A (Kresta II) – đề án tàu mới trên cơ sở đề án 1134 nhưng với thành phần vũ khí khác (năm 1969).
Trong những năm 1960, trong ngành đóng tàu Liên Xô đã diễn ra sự định hướng ưu tiên mới, theo những nguyên nhân chủ quan. Tới thời điểm đó, việc đóng tàu nổi cho Hải quân được thực hiện theo hai hướng chính: “tấn công” và “chống ngầm”. Sự triển khai ở Mỹ những năm 1960 các hệ thống “Polaris”, một cách tự nhiên, đã đưa (đặt) ra nhiệm vụ chống lại các tàu ngầm hạt nhân tuần dương mang tên lửa chiến lược của kẻ thù tiềm tàng trên tuyến đầu. Trong vấn đề này, thậm chí xa hơn là từ nhiệm vụ của Hải quân, các lãnh đạo quốc gia và chính trị, thuật ngữ “chống ngầm” đã được nhận thực với hiểu biết tích cực để gần như đảm bảo sớm hơn “phố xanh” cho chương trình bât kỳ dưới phương châm “chống ngầm”. Tới năm 1964, đã thực hiện chương trình đóng tàu tuần dương tên lửa đề án 48 (4 tàu) mà ngoài những ưu điểm rõ ràng cũng có những nhược điểm cụ thể: trong lượng choán nước và các kích thước bị “nén” rất chặt chẽ không thể thực hiện các yêu cầu tăng cường thể tích chỗ ở cho thủy thủ đoàn (Hải quân bắt đầu “trực chiến”), tăng cường khí tài chống ngầm, tăng tầm bơi xa và thời gian hoạt động. Sự hoàn thiện vũ khí tên lửa dẫn tới việc không cần thiết các thiết bị phóng quay lớn và phức tạp. Thực tế đã chỉ ra rằng việc nạp đạn của chúng – tốn thời gian, kéo dài và không thuận lợi trong các điều kiện chiến đấu. Việc đóng tạm thời trực thăng trên bãi đáp cất hạ cánh thẳng trong các điều kiển biển động mạnh nhanh chóng dẫn đến hỏng hóc.
Mệnh lệnh của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô số 1180-510 từ 30 tháng 12 năm 1961 là cơ sở chính thức cho việc thiết kế đề án mới, nhận số 1134 và mã số “Berkut”. Không lâu sau khi mệnh lệnh được đưa ra, vào tháng 12 năm 1961, Tổng cục đóng tàu Hải quân đã đặt cho Phòng thiết kế Phương Bắc thiết kế tàu phòng không – chống ngầm mới gần như ngay từ giai đoạn thiết kế kỹ thuật đã thông qua đề án sơ bộ. Tổng công trình sư tàu chống ngầm loại lớn đề án 1134 là V.F.Anikiev (trong những năm sau đó là Tổng công trình sư duy nhất thực hiện việc đóng tàu sân bay ở Liên Xô), giám sát viên từ Hải quân ban đầu là Thuyền trưởng cấp 2 A.A.Maiorov, sau đó là Thuyền trưởng cấp 2 O.T.Safronov.
Khi thiết kế các tàu mới đề án 1134 được nhắc tới ở trên, các yêu cầu trong mức độ đáng kể đã được làm rõ: theo cách thiết kế tăng cường mới cho thân tàu với thiết bị năng lượng tuabin nồi hơi (cũng như đề án 58) được bố trí tổ hợp tên lửa phòng không “Volna” thứ 2 (cơ số đạn tên lửa phòng không trong mỗi hầm phóng tăng lên gấp đôi do kết quả áp dụng thùng bảo quản tên lửa dạng băng chuyền), một số thay đổi trong thành phần trang bị vô tuyến điện (thay cho ra đa định vị “Angara” thứ hai đã lắp đài ra đa định vị mới “Kliver” và đài gây nhiễu chủ động “Gurzuf”), đảm bảo việc đóng thường xuyên ở hang ga mạn tàu trực thăng Ka-25RTs (lần đầu tiên trên các tàu lớp này). Tuy nhiên, khả năng tấn công của tàu bị giảm xuống: trên tàu chỉ còn lại 1 tổ hợp tên lửa chống tàu P-35 với 4 tên lửa 4K44 trong các thiết bị phóng đôi, không có sự dẫn bắn theo góc hướng và không có cơ số đạn thứ 2. Kế hoạch lắp tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm” như vậy không được chuẩn bị cho việc đóng dòng tàu này. Vì thế, trên “Berkut” lắp tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”. Ngoài ra, thay thiết bị pháo 76mm đã lắp các pháo phòng không 57mm AK-725 đạn yếu hơn nhưng tốc độ bắn cao hơn với sự điều khiển độc lập từ ra đa định vị “Bars”.
Bắt đầu từ tàu chống ngầm loại lớn đề án 1134 đã nhận được hệ thống tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ ngoài để bắn tổ hợp tên lửa chống tàu P-35 – “Uspekh-U”. Để điều khiển tàu và đơn vị có khí tài trang bị bảng điện tử, hệ thống trao đổi thông tin “More-U” và các khí tài cần thiết.
Theo các nguyên nhân được nhắc tới ở trên, các tàu mới được phân loại thành tàu chống ngầm lớn và liên quan với đó, thành phần vũ khí chống ngầm được tăng cường. Thay cho các thiết bị ngư lôi 3 ống phóng lắp các thiết bị ngư lôi PTA-53-1134 với các ngư lôi chống ngầm “Enot-2”, xuất hiện RBU-1000 – tầm bắn gần hơn, nhưng bom mạnh hơn. Đồng thời cơ số đạn cho RBU-6000 được tăng cường sau đó. Cũng như trong thời gian hiệu chỉnh đề án đã tiếp nhaaoj quyết định bỏ đạn dự trữ của tên lửa chống tàu. Sự thay đổi chính của vũ khí chống ngầm là đài thủy âm định vị nhìn vòng “Titan” và chỉ thị mục tiêu “Vưchegda”, đồng thời xuất hiện trực thăng chống ngầm dự kiến trang bị 5 ngư lôi PLAT-1 và 54 phao tiêu thủy âm vô tuyến (RGAB).
Mặc dù theo các thống kê đã kể trên, các tàu “Berkut” đầu tiên theo thực chất là “dậm chân tại chỗ” và mặc dù vào cuối những năm 1970, chúng được phân loại lại thành các tàu tuần dương tên lửa, theo các khả năng của chúng có thể được xem là tạm thời. Như ban đầu, hệ thống điều khiển đảm bảo điều khiển chỉ 2 tên lửa chống tàu trong loạt khi bắn theo chế độ cơ bản (chính). Chúng không đảm bảo nhiệm vụ đầu tiên – chống ngầm, đặc biệt theo nguyên nhân vũ khí chống ngầm và thủy âm yếu.
Các tàu lớp “Berkut” trở thành những tàu lớn đầu tiên trong dòng tàu chống ngầm loại lớn của Hải quân Liên Xô (sau đó đã đóng “Berkut-A” và “Berkut-B”) và trong mức độ nào đó là sự (người) kế thừa các tàu chống ngầm lớn đề án 61 đầu tiên.