Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:32:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329799 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #540 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2012, 02:07:51 pm »

Đề án 1134 “Berkut” – lớp Kresta-I


Tổng số tàu đã đóng: 4

Biến thể

+ 1134 (Kresta I) – đề án cơ sở (năm 1967)

+ 1134-A (Kresta II) – đề án tàu mới trên cơ sở đề án 1134 nhưng với thành phần vũ khí khác (năm 1969).

Trong những năm 1960, trong ngành đóng tàu Liên Xô đã diễn ra sự định hướng ưu tiên mới, theo những nguyên nhân chủ quan. Tới thời điểm đó, việc đóng tàu nổi cho Hải quân được thực hiện theo hai hướng chính: “tấn công” và “chống ngầm”. Sự triển khai ở Mỹ những năm 1960 các hệ thống “Polaris”, một cách tự nhiên, đã đưa (đặt) ra nhiệm vụ chống lại các tàu ngầm hạt nhân tuần dương mang tên lửa chiến lược của kẻ thù tiềm tàng trên tuyến đầu. Trong vấn đề này, thậm chí xa hơn là từ nhiệm vụ của Hải quân, các lãnh đạo quốc gia và chính trị, thuật ngữ “chống ngầm” đã được nhận thực với hiểu biết tích cực để gần như đảm bảo sớm hơn “phố xanh” cho chương trình bât kỳ dưới phương châm “chống ngầm”. Tới năm 1964, đã thực hiện chương trình đóng tàu tuần dương tên lửa đề án 48 (4 tàu) mà ngoài những ưu điểm rõ ràng cũng có những nhược điểm cụ thể: trong lượng choán nước và các kích thước bị “nén” rất chặt chẽ không thể thực hiện các yêu cầu tăng cường thể tích chỗ ở cho thủy thủ đoàn (Hải quân bắt đầu “trực chiến”), tăng cường khí tài chống ngầm, tăng tầm bơi xa và thời gian hoạt động. Sự hoàn thiện vũ khí tên lửa dẫn tới việc không cần thiết các thiết bị phóng quay lớn và phức tạp. Thực tế đã chỉ ra rằng việc nạp đạn của chúng – tốn thời gian, kéo dài và không thuận lợi trong các điều kiện chiến đấu. Việc đóng tạm thời trực thăng trên bãi đáp cất hạ cánh thẳng trong các điều kiển biển động mạnh nhanh chóng dẫn đến hỏng hóc.

Mệnh lệnh của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô số 1180-510 từ 30 tháng 12 năm 1961 là cơ sở chính thức cho việc thiết kế đề án mới, nhận số 1134 và mã số “Berkut”. Không lâu sau khi mệnh lệnh được đưa ra, vào tháng 12 năm 1961, Tổng cục đóng tàu Hải quân đã đặt cho Phòng thiết kế Phương Bắc thiết kế tàu phòng không – chống ngầm mới gần như ngay từ giai đoạn thiết kế kỹ thuật đã thông qua đề án sơ bộ. Tổng công trình sư tàu chống ngầm loại lớn đề án 1134 là V.F.Anikiev (trong những năm sau đó là Tổng công trình sư duy nhất thực hiện việc đóng tàu sân bay ở Liên Xô), giám sát viên từ Hải quân ban đầu là Thuyền trưởng cấp 2 A.A.Maiorov, sau đó là Thuyền trưởng cấp 2 O.T.Safronov.

Khi thiết kế các tàu mới đề án 1134 được nhắc tới ở trên, các yêu cầu trong mức độ đáng kể đã được làm rõ: theo cách thiết kế tăng cường mới cho thân tàu với thiết bị năng lượng tuabin nồi hơi (cũng như đề án 58) được bố trí tổ hợp tên lửa phòng không “Volna” thứ 2 (cơ số đạn tên lửa phòng không trong mỗi hầm phóng tăng lên gấp đôi do kết quả áp dụng thùng bảo quản tên lửa dạng băng chuyền), một số thay đổi trong thành phần trang bị vô tuyến điện (thay cho ra đa định vị “Angara” thứ hai đã lắp đài ra đa định vị mới “Kliver” và đài gây nhiễu chủ động “Gurzuf”), đảm bảo việc đóng thường xuyên ở hang ga mạn tàu trực thăng Ka-25RTs (lần đầu tiên trên các tàu lớp này). Tuy nhiên, khả năng tấn công của tàu bị giảm xuống: trên tàu chỉ còn lại 1 tổ hợp tên lửa chống tàu P-35 với 4 tên lửa 4K44 trong các thiết bị phóng đôi, không có sự dẫn bắn theo góc hướng và không có cơ số đạn thứ 2. Kế hoạch lắp tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm” như vậy không được chuẩn bị cho việc đóng dòng tàu này. Vì thế, trên “Berkut” lắp tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”. Ngoài ra, thay thiết bị pháo 76mm đã lắp các pháo phòng không 57mm AK-725 đạn yếu hơn nhưng tốc độ bắn cao hơn với sự điều khiển độc lập từ ra đa định vị “Bars”.

Bắt đầu từ tàu chống ngầm loại lớn đề án 1134 đã nhận được hệ thống tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ ngoài để bắn tổ hợp tên lửa chống tàu P-35 – “Uspekh-U”. Để điều khiển tàu và đơn vị có khí tài trang bị bảng điện tử, hệ thống trao đổi thông tin “More-U” và các khí tài cần thiết.

Theo các nguyên nhân được nhắc tới ở trên, các tàu mới được phân loại thành tàu chống ngầm lớn và liên quan với đó, thành phần vũ khí chống ngầm được tăng cường. Thay cho các thiết bị ngư lôi 3 ống phóng lắp các thiết bị ngư lôi PTA-53-1134 với các ngư lôi chống ngầm “Enot-2”, xuất hiện RBU-1000 – tầm bắn gần hơn, nhưng bom mạnh hơn. Đồng thời cơ số đạn cho RBU-6000 được tăng cường sau đó. Cũng như trong thời gian hiệu chỉnh đề án đã tiếp nhaaoj quyết định bỏ đạn dự trữ của tên lửa chống tàu. Sự thay đổi chính của vũ khí chống ngầm là đài thủy âm định vị nhìn vòng “Titan” và chỉ thị mục tiêu “Vưchegda”, đồng thời xuất hiện trực thăng chống ngầm dự kiến trang bị 5 ngư lôi PLAT-1 và 54 phao tiêu thủy âm vô tuyến (RGAB).

Mặc dù theo các thống kê đã kể trên, các tàu “Berkut” đầu tiên theo thực chất là “dậm chân tại chỗ” và mặc dù vào cuối những năm 1970, chúng được phân loại lại thành các tàu tuần dương tên lửa, theo các khả năng của chúng có thể được xem là tạm thời. Như ban đầu, hệ thống điều khiển đảm bảo điều khiển chỉ 2 tên lửa chống tàu trong loạt khi bắn theo chế độ cơ bản (chính). Chúng không đảm bảo nhiệm vụ đầu tiên – chống ngầm, đặc biệt theo nguyên nhân vũ khí chống ngầm và thủy âm yếu.

Các tàu lớp “Berkut” trở thành những tàu lớn đầu tiên trong dòng tàu chống ngầm loại lớn của Hải quân Liên Xô (sau đó đã đóng “Berkut-A” và “Berkut-B”) và trong mức độ nào đó là sự (người) kế thừa các tàu chống ngầm lớn đề án 61 đầu tiên.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #541 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2012, 02:25:04 pm »

Các biến thể


Trong quá trình khai thác sử dụng 2 tàu đề án 1134 đã nhận những sự nâng cấp không lớn. Trong thời gian diễn ra đại tu trong những năm 1980, tàu chống ngầm lớn “Vladivotoc”, “Đô đốc Zozulia” và “Phó đô đốc Drozd” được bổ sung các pháo tự động 30mm AK-630 với đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Vưmpel”. Các thiết bị pháo được bố trí theo thành theo 2 thiết bị sau các thiết bị phóng tên lửa chống tàu. Ngoài ra trên các tàu lắp đài ra đa định vị đạo hàng “Vaigach”.

Chương trình đóng tàu


Tàu đầu tiên “Đô đốc Zozulia” được khởi công mùng 6 tháng 9 năm 1964 ở xưởng đóng tàu Leningrad mang tên A.A.Zhdanov (số 190, hiện nay là xưởng Phương Bắc), hạ thủy mùng 16 tháng 10 năm 1965, còn 30 tháng 3 năm 1967, tàu được đưa vào các thí nghiệm cấp nhà nước. Trên cơ sở quyết định của chính phủ, tiếp nhận năm 1965 về việc dừng đóng các tàu tuần dương (tàu chống ngầm lớn) đề án 1134 và bắt đầu đóng các tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A với sự tăng cường vũ khí chống ngầm. Thay cho kế hoạch ban đầu đóng 10 tàu lớp “Berkut” trong những năm 1968-1969, trong xưởng số 190 chỉ đóng 4 tàu.

Tình hình đến năm 2005


Trong biên chế Hải quân Liên Xô có 4 tàu chống ngầm lớn đề án 1134, trong số chúng 2 ở Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc (sau đó 1 chuyển tới Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương), 1 – Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương và 1 – Hạm đội Cờ đỏ Cận vệ Baltic (sau đó được đưa tới Hạm đội Phương Bắc và Thái Bình Dương). Tàu chống ngầm lớn “Đô đốc Zozulia” trong những năm 1969-70 ở trong khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập. Mùng 3 tháng 8 năm 1977 các tàu chống ngầm lớn đề án 1134 được phân loại lại thành các tàu tuần dương tên lửa. Năm 1994, tàu cuối cùng còn lại trong lớp bị loại khỏi biên chế.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #542 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2012, 02:37:42 pm »


Bố cục tàu chống ngầm loại lớn đề án 1134

1. Trực thăng Ka-25

2. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-1000

3. Thiết bị phóng Zif-102

4. Thiết bị pháo 57mm AK-725

5. Ăng ten đài ra đa định vị “Yatagan”

6. Trạm ăng ten hỗn hợp của đài ra đa định vị MR-500 và máy hỏi hội thoại nói “Nikel-KM”

7. Ăng ten đài ra đa định vị thuộc hệ thống điều khiển “Binom-1134”

8. (Buồng) bố trí cơ số đạn bổ sung của pháo AK-725

9. Thiết bị phóng KT-72

10. Thiết bị phóng nhiễu thụ động Zif-121

11. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

12. Bãi cất hạ cánh

13. Thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm PTA-53-1134

14. Xuồng cứu nạn

15. Xuồng con 6 mái chèo

16. Xuồng chỉ huy

17. Buồng thủy thủ

18. Các trạm chiến đấu

19. Khối các buồng cho chỉ huy và sĩ quan

20. Buồng dẫn (truyền) động

21. Khoang (buồng) tời

22. Kho chứa

23. Khoang mũi

24. Hốc (khoang) xích

25. Buồng thoát nước ở mũi tàu

26. Kho (hầm) chứa đạn RGB-60

27. Thùng dầu

28. Buồng máy dẫn động Zif-102

29. Kho (hầm) đạn tên lửa phòng không điều khiển V-600

30. Kho (hầm) thiết bị nâng – hạ POU-16

31. Buồng máy – nồi hơi ở mũi tàu (MKO)

32. Hầm buồng máy – nồi hơi mũi tàu

33. Buồng nồi hơi phụ và giảm lắc

34. Đài vô tuyến điện mũi tàu

35. Buồng máy – nồi hơi mạn tàu

36. Hầm buồng máy – nồi hơi mạn tàu

37. Đài vô tuyến điện mạn tàu

38. Hầm (kho) đạn RGB-100

39. Hầm đạn đường không (cho trực thăng)

40. Buồng tay lái

41. Trạm ăng ten hỗn hợp MR-310 và “Nikel-KM”.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Chín, 2012, 02:49:05 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #543 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2012, 03:14:34 pm »


Trang bị vô tuyến điện tàu chống ngầm loại lớn đề án 1134

1. Thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm PTA-53-1134

2. Thiết bị kéo tời

3. Trạm ăng ten đài ra đa vô tuyến điều khiển pháo MR-103 (Bars)

4. Đài tìm phương vô tuyến “Vizir-1”

5. Ăng ten hỗn hợp (cặp đôi)

6. Trạm ăng ten hỗn hợp của đài ra đa vô tuyến MR-500 (“Kliver”) và “Nikel-KM”

7. Bãi (khu vực) bảo dưỡng ăng ten

8. Ăng ten máy phát vô tuyến R-613

9. Trạm ăng ten của đài ra đa cảnh giới phát hiện mục tiêu tổng hợp MR-310A (Angara)

10. Trạm ăng ten hệ thống trao đổi thông tin “More-U”

11. Trạm ăng ten đài ra đa đạo hàng “Volga”

12. Trạm ăng ten “Binom-1134”

13. Trạm ăng ten MRP-11-12

14. Các trạm ăng ten đài gây nhiễu tích cực “Gurzuf”

15. Trạm ăng ten MRP-13-14

16. Trạm ăng ten hệ thống tiếp nhận chỉ thị mục tiêu từ ngoài để bắn tên lửa chống tàu P-35

17. Loa phóng thanh

18. Trạm ăng ten “Zaliv-15-16”

19. Camera truyền hình tự ổn định

20. Bè cứu nạn PSN-10

21. Xuồng chỉ huy

22. Ăng ten “Grafit”

23. Ăng ten “Tyulipan”
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Hai, 2013, 12:09:48 am gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #544 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2012, 03:51:24 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Đô đốc Zozulia” (số hiệu xưởng 791); 11 tháng 6 năm 1964 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân và 26 tháng 7 năm 1964 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 17 tháng 10 năm 1965; gia nhập biên chế 8 tháng 10 năm 1967 và gia nhập Hạm đội Phương Bắc; từ 1 tháng 12 năm 1969 đến 30 tháng 6 năm 1970 ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập; 9 tháng 10 năm 1986 được bàn giao vào biên chế Hạm đội Baltic; năm 1991-1992 trải qua sửa chữa và nâng cấp ở Kronshtadt; tháng 9 năm 1994 diễn ra nghi lễ hạ cờ trang trọng, sau đó giải thể, tháo vũ khí và bán lấy kim loại.

+ “Phó đô đốc Drozd” (số hiệu xưởng 793); 16 tháng 6 năm 1956 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân và 26 tháng 10 năm 1965 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 18 tháng 11 năm 1966; gia nhập biên chế 27 tháng 1 năm 1968 và 8 tháng 1 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 14-27 tháng 5 năm 1970 thăm Senfuegos (Cuba); tháng 2 năm 1972 tiếp nhận tham gia cứu nạn tàu ngầm nguyên tử K-19 đề án 658 ở Bắc Đại Tây Dương; 8 tháng 4 năm 1975 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; trong giai đoạn từ năm 1974 đến 8 tháng 4 năm 1975 và từ 1 tháng 10 năm 1981 đến 7 tháng 6 năm 1984 trải qua đại tu ở Leningrad; 1 tháng 7 năm 1990 tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho cơ sở khác để tháo dỡ và 1 tháng 10 năm 1990 giả thể.

+ “Vladivostoc” (số hiệu xưởng 792); 1 tháng 10 năm 1964 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân và 24 tháng 12 năm 1964 khởi công ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 1 tháng 8 năm 1969 và 11 tháng 9 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 1 tháng 10 năm 1969 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc, còn 10 tháng 2 năm 1970 sau khi hành quân vào mùa hè năm 1969 theo biển Bắc từ vịnh Kolsk tới Vladivostoc – vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 7-15 tháng 12 năm 1969 thăm Berbara, Mogadiso và Kismaia (Somali); 27-31 tháng 12 năm 1969 tới Port-Sudan (Sudan); 12-16 tháng 3 năm 1979 tới Port-Lui (Mavriki) và 16-19 tháng 10 năm 1980 tới Cochin (Ấn Độ); trong giai đoạn từi 28 tháng 9 năm 1988 đến 23 tháng 4 năm 1990 trải qua đại tu ở “Dalzavod” tài Vladivostoc; 1 tháng 1 năm 1991 tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 6 năm 1991 giải thể.

+ “Sevastopol” (số hiệu xưởng 794); 3 tháng 6 năm 1966 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân và 8 tháng 6 năm 1966 khởi công ở xưởng mang tên Zhdanov (xưởng Phương Bắc) ở Leningrad; hạ thủy 28 tháng 4 năm 1967; gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1969 và 21 tháng 10 năm 1969 ghi nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 31 tháng 10 – 9 tháng 11 năm 1971 thăm Havana (Cuba); 11 tháng 2 năm 1980 ghi tên vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 15 tháng 12 năm 1989 tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân; bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ và 19 tháng 4 năm 1990 bị giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #545 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2012, 04:04:33 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 5340

+ hoàn toàn: 7130

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 115,6 (148)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 16,8 (16,2)

+ lượng choán nước lớn nhất (trung bình): 6,2 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi KVN-98/64, 2 tổ hợp tuabin răng cưa TV-12, tổng công suất, sức ngựa, (kW): 90 000 (66 150)

+ các máy phát điện diesel ASDG-500/1, công suất, (kW): 4x500

+ các máy phát điện tuabin TD-750, công suất, (kW): 2x750

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 33

+ tiết kiệm năng lượng: 14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ 2400 (32)

+ 5000 (14)

Thời gian hoạt động: 15 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 312 (30).
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười, 2012, 09:31:46 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #546 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2012, 04:12:22 pm »

Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng KT-72 thuộc tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-35: 2x2

+ tên lửa chống tàu có cánh P-35 (SS-N-3B “Sepal”): 4

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng Zif-102 thuộc tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna”: 2x2

+ tên lửa phòng không điều khiển V-600 (SA-N-1 “Goa”): 64

Pháo

+ thiết bị pháo 57mm AK-725: 2x2

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-360 (trên 3 tàu) 4x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-1134: 2x5

+ các ngư lôi “Enot-2”: 10

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ cơ số đạn RGB-60: 192

+ RBU-1000 “Smerch-3”

+ cơ số đạn RGB-10: 48

Vũ khí đường không

+ trực thăng Ka-25RTs (“Hormone B”): 1.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #547 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2012, 04:22:32 pm »

Trang bị vô tyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planshet-1134”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1xMR-310 “Angara-A” (Head Net C)

+ 1xMR-500 “Kliver” (Big Net)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 1x”Volga” (Palm Frond)

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x”Vaigach” (Don-II) trên 1 tàu

Đài thủy âm định vị

+ MG-312 “Titan” (Bull Nose)

+ MG-311 “Vưchegda”

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Gurzuf A/B” (8 Side Globe) gây nhiễu tích cực

+ MRP-15-16 “Zaliv”

+ MRP-11-12, MRP-13-14 “Ograda” (Bell Clout; 2 Bell Slam; 2 Bell Tap;2 Bell Strike; 2 Bell Crown)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x2 thiết bị phóng PK-2

Các khí tài quang điện

+ 2xMT-45 (Tee Plinth)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x4R-44 “Binom” (Scoop Pair) cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-35

+ 2x”Uspekh-U” (Plinth Net) chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh

+ 2x4R-90 “Yatagan” (Peel Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”

+ 2xMR-104 “Bars” (Muff Cob) cho thiết bị pháo 57mm

+ 2xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho thiết bị pháo 30mm (trên 3 tàu)

Các khí tài thông tin liên lạc

+ tổ hợp các khí tài (R-613, “Grafit”, “Tyulipan”…)

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ “Nikel-KM” và “Khrom-KM” (High Pole A và B).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #548 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2012, 03:07:49 pm »

Đề án 1134-A “Berkut-A” – Lớp Kresta-II


Tổng số tàu đã đóng: 10

Biến thể: không có.

Các tàu đề án 1134 là những tàu trung gian, không được lên kế hoạch đóng trước đó do không chuẩn bị (sẵn sàng) một trong số các tổ hợp vũ khí chính – tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm”. Sau khi đóng 4 thân tàu và lên kế hoạch bắt đầu đóng tàu thứ 5 trong đề án, tổ hợp tên lửa phòng không đã nhắc ở trên cuối cùng đã được tiếp nhận vào trang bị (tới thời điểm đó, nó đã trải qua các thí nghiệm trên tàu thí nghiệm OS-24 – trang bị lại theo đề án 33-M cho tàu tuần dương Cờ đỏ đề án 26 “Voroshilov”). Tổ hợp này lần đầu tiên được chế tạo trong dạng đa năng (có khả năng tiêu diệt các mục tiêu trên không và mục tiêu nổi) và chỉ dành cho Hải quân. Trong cùng thời gian này, Phòng thiết kế trung ương “Raduga” – tham gia thiết kế tàu chống ngầm nổi đã hoàn thành việc chế tạo tổ hợp tên lửa chống ngầm nội địa đầu tiên “Metel” (RPK-3) cho các tàu nổi. Toàn bộ những sự kiện này đã dẫn đến việc ra mệnh lệnh của Trung ương Đảng Cộng sản và Hội đồng Bộ Trưởng Liên Xô về dừng đóng tàu chống ngầm lớn đề án 1134 và chuyển sang đóng tiếp theo đề án hiệu chỉnh 1134-A.

Phương án tàu này (chống ngầm loại lớn – theo phân loại mới) được thiết kế dưới sự chỉ đạo của V.F.Anikiev và sự tham gia giám sát từ Hải quân là Thuyền trưởng cấp 2 O.T.Safronov. Việc giữ số hiệu đề án đã nói rằng tàu mới đã giữ lại gần trọn vẹn so với đề án cũ, nhưng thay đổi trong thành phần trang bị vũ khí. Thay cho tổ hợp tên lửa phòng không M-1 ”Volna”, như đã lên kế hoạch ban đầu, lắp tổ hợp mới M-11 “Shtorm” nhưng với cơ số đạn giảm 25%. Việc này tự động yêu cầu thau thế hệ thống chiếu sáng tình hình trên không và cung cấp chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa phòng không. Còn tới thời điểm đó, ở Liên Xô đã chế tạo được đài ra đa định vị 3 tọa độ mạnh “Voskhod” MR-600 với khả năng chống nhiễu được tăng cường đã được lắp trên tàu.

Tổ hợp tên lửa chống tàu P-35 được thay bằng tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel” – thay cho thiết bị phóng đôi đã bố trí thiết bị phóng 4 cố định – cơ số đạn tăng gấp đôi. Rất thú vị là 2 tổ hợp – tên lửa phòng không và chống ngầm – có hệ thống điều khiển trung “Grom-M” từ các trạm ăng ten mũi và mạn tàu. Trang bị pháo của tàu chống ngầm lớn gồm có 2 thiết bị pháo nòng đôi đa năng AK-725. Nếu trên các tàu đề án 1134, các tổ hợp pháo phòng không AK-630 chỉ được lắp khi nâng cấp thì tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A đã nhận được ngay trong khi đóng. Vũ khí chống ngầm, ngoài tổ hợp tên lửa chống ngầm còn có 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phòng 533mm, 2RBU-6000 và 2 RBU-1000.

Kinh nghiệm khai thác sử dụng vũ khí đường không trên các tàu đề án 1134 đã chỉ ra rằng bãi cất hạ cánh thẳng và hang ga được bố trí rất thấp, thường dẫn tới bị văng. Vì thế trên các tàu đề án 1134-A, bãi đáp cất hạ cánh thẳng được bố trí cao hơn trên boong thứ nhất, còn hang ga được chế tạo nửa chìm với sự đưa trực thăng lên bằng thang nâng chuyên dụng. Trực thăng trinh sát và chỉ thị mục tiêu Ka-25RTs được thay bằng Ka-25PLO, cho phép tăng cường hiệu quả chống tàu ngầm.

Trên các tàu ngày lần đầu tiên trong thực tế ngành đóng tàu Liên Xô, ăng ten đài thủy âm định vị MG-332 “Titan-2” được bố trí trong buồng chụp hình cầu ở mũi. Do đó, mỏ neo được bố trí ở mũi xa hơn, sau đó các tàu đề án 1134-A đã nhận được hình dạng bên ngoài nhanh nhẹn hơn. Một cách tự nhiên rằng sự hiệu chỉnh đề án trong thành phần vũ khí là kết quả nhận được trong sự thay đổi các phần tử đóng tàu: lượng choán nước tiêu chuẩn và hoàn toàn cùng lượng mớn nước tăng lên, tầm bơi xa và tốc độ giảm. Tới thời điểm đó, thiết bị tuabin nồi hơi còn tương đồng hoàn toàn với đề án 1134.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #549 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2012, 03:25:10 pm »

Các biến thể


Trong thời gian phục vụ, trên một số tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A đã tăng cường (cải tiến) vũ khí. Cụ thể, tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm” được thay bằng “Shtorm” mạnh hơn, còn tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel” được thay bằng tổ hợp “Rastrub” với tên lửa 85-RU.

Các kinh nghiệm tích cực (mang tính khả quan) sử dụng thiết bị tuabin khí trên các tàu đề án 61, đồng thời các tiềm năng lớn của nhà sản xuất – xưởng tuabin Phương Nam (Hiệp hội khoa học sản xuất “Zaria”) – từ một phía và tới thời điểm đó, lượng quá tải của nhà sản xuất tuabin hơi nước chính cho tàu nổi – xưởng Kirov ở Leningrad – phía khác, đã ra quyết định về thêm một sự hiệ chỉnh đề án 1134-A, hiện tại đã bằng thiết bị năng lượng khác – tuabin khí. Đây là sự điển hình trong đề án sau – nhận số hiệu 1134-B.

Chương trình đóng tàu

Việc đóng tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A được thực hiện ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov (xưởng đóng tàu số 190) từ năm 1966 đến 1977. Tàu đầu tiên – “Kronshtadt” – hoàn thành tháng 9 năm 1969. Thêm 9 tàu cùng lớp đã được xưởng đóng trong 8 năm sau đó, đã được đưa tới các thí nghiệm trong một năm cho mỗi tàu chống ngầm lớn (năm 1973 – 2 tàu).


Tình hình đến năm 2006

Tàu chống ngầm lớn đề án 1134-A nằm trong biên chế Hạm đội Phương Bắc (8 tàu) và Thái Bình Dương (2). Toàn bộ các tàu này bị loại khỏi biên chế Hải quân trong những năm 1992-93. Bốn tàu trong số chúng năm 1994 được kéo tới Ấn Độ để tháo kim loại. Tàu chống ngầm lớn “Đô đốc Isakov” năm 1972 ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu theo mệnh lệnh yểm trợ quân đội Ai Cập.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Mười, 2012, 11:37:40 pm gửi bởi daibangden » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM