Xuất - nhập khẩu sản phẩm quân sự Trung Quốc giai đoạn 2003-2012
http://lenta.ru/articles/2013/03/20/sipri/Vasili Sưchev (Василий Сычев)
Tổ hợp công nghiệp quốc phòng Trung Quốc trong những năm gần đây đã chiếm 5% trên thị trường vũ khí thế giới. Trong đó, lần đầu tiên sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc đã vào vị trí 5 nước xuất khẩu vũ khí và khí tài kỹ thuật quân sự lớn nhất thế giới, đẩy Anh ra khỏi nhóm này. Nhờ động lực tăng trưởng của ngành công nghiệp và nắm bắt các thị trường mới, Trung Quốc, trong những năm tới, sẽ có thể củng cố vị trí của mình.
Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế Stokhol, (SIPRI) hàng năm thay đổi cơ sở thông tin về chi tiêu quân sự các nước và xuất nhập khẩu vũ khí cùng khí tài kỹ thuật quân sự. Sự tính toán các chỉ số được tiến hành trên cơ sở các tài liệu mở (công khai), như là các thống kê chính thức của các quốc gia có vũ khí được giới thiệu trên thị trường thế giới, với sức bán (vũ khí) của các nước đó. Cơ sở các thông tin của SIPRI gồm có số liệu về bán vũ khí và khí tài kỹ thuật quân sự từ năm 1950. Mặc dù sự thu thập và giải mật thông tin diễn ra hàng nằm, SIPRI công bố một cách truyền thống các báo cáo về các xu hướng thương mại (buôn bán) vũ khí quốc tế bằng cách tính toán các số liệu trong giai đoạn 5 năm. Các tính toán được tiến hành dựa trên số tiền USD trong tỷ giá năm 1990.
Sự thay đổi của Trung Quốc (từ nhập khẩu sang xuất khẩu) trên thị trường vũ khí thế giới được ghi nhận vài năm trước. Vào năm 2012, khi công cố báo cáo đầu tiên, SIPRI đã nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã bắt đầu mất đi một cách nhanh chóng vị trí nhập khẩu vũ khí và khí tài kỹ thuật quân sự lớn nhất và đã chuyển sang bán sản phẩm quân sự của mình ra nước ngoài. Nếu theo các tính toàn giai đoạn 2003-2007, Trung Quốc đã mua sản phẩm quân sự trị giá 14,09 tỷ USD và là nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới thì trong giai đoạn 2008-2012, họ đã bị tụt xuống vị trí thứ 2, khối lượng mua giảm một nửa – 7,5 tỷ USD (24,75 và 13,2 tỷ USD tương ứng theo giá năm 2012; ở đây và trước đó, việc tính toán lại trong dấu ngoặc đơn thực hiện theo CPI Inflation Calculator).
Sự giam khối lượng nhập khẩu sản phẩm quân sự của Trung Quốc có thể hiểu nguyên nhân của sự tăng về chất (các sản phẩm) do tổ hợp công nghiệp quân sự nước này làm ra trong vài năm gần đây. Tới thời điểm này, chiến lược chính trong việc chế tạo khí tài kỹ thuật quân sự riêng của Trung Quốc thực tế là đi sao chép các mẫu của nước ngoài, chủ yếu là do Nga chế tạo. Trong nhiều năm thực hiện chiến lược này, các xia nghiệp/tập đoàn của Trung Quốc đã thu được kinh nghiệm nhất định, cho phép họ sản xuất một cách tượng đối chất lượng và giá rẻ hơn đáng kể các mẫu vũ khí và khí tài kỹ thuật quân sự nhằm đáp ứng sự phát triển của đất nước với ngân sách quốc phòng không ổn định. Trong khi đó, mặc dù chế tạo lại một cách cẩn thật, Trung Quốc hiện nay vẫn chưa nắm bắt được hàng loạt các công nghệ quan trọng mà trước hết – sản xuất các động cơ máy bay mạnh và đáng tin cậy.
Trong giai đoạn 2003-2007, Trung Quốc đã xuất khẩu sản phẩm quân sự tổng trị giá 2,5 tỷ USD (4,4 tỷ USD theo giá năm 2012). Để so sánh, các nước xuất khẩu quốc phòng hàng đầu – Mỹ, Nga và Đức đã bán cho nước ngoài vũ khí và khí tài kỹ thuật quân sự tương ứng trị giá 34,9, 27,6 và 10,8 tỷ USD. Theo khối lượng bán khí tài quân sự trên thị trường thế giới, Trung Quốc đứng thứ 8, sau Italia và Hà Lan. Trong 5 năm sau, Trung Quóc đã tăng đáng kể vị trí của họ - chiếm vị trí thứ 5 theo đánh giá của SIPRI. Giai đoạn 2008-2012, xuất khẩu quân sự Trung Quốc đã là 6,5 tỷ USD (11,4 tỷ USD theo giá năm 2012). Khi đó, ba vị trí dẫn đầu không thay đổi: Mỹ xuất khẩu vũ khí 40,5 tỷ USD; Nga – 35,2 tỷ; Đức – 9,9 tỷ.
Đáng chú ý là nhờ bán được sản phẩm quốc phòng trên thị trường quốc tế, Trung Quốc đã chiếm vị trí thứ 5 trong số các nước xuất khẩu vũ khí của Anh – đã giữ vị trí này trong 60 năm và theo các kết quả trong 5 năm gần đây, Anh bán ra nước ngoài sản phẩm quân sự trị giá 4,9 tỷ USD.
Trung Quốc bán vũ khí và khí tài kỹ thuật quân sự trong giai đoạn 2008-2012 cho 37 nước trên thế giới, gồm có Algeri, Argentina, Bolivia, Campuchia, Sad, Gana, Iran, Ruwanda và Zambia. Yêu cầu lớn nhất là các thiết bị bay, xe bọc thép và tàu chiến do Trung Quốc sản xuất. Tổng cộng, theo ba sản phẩm xuất khẩy này, Trung Quốc đã thu về 5,2 tỷ USD (9,2 tỷ theo giá năm 2012). Các khách hàng của tổ hợp công nghiệp quốc phòng Trung Quốc đã mua các máy bay tiêm kích F-7MG (sao chép – hoàn thiện của Mig-21) và JF-17 Thunder, các máy bay huấn luyện – chiến đấu K-8 Karakorum, trực thăng Z-9 (giấy phép sản xuất phiên bản trực thăng châu Âu AS356/AS565), máy bay vận tải Y-12, các xe tăng Type-59 (sao chép T-54A) và Type-90, các xe bọc thép WZ-501, ZFB-05 và WZ-551.